Về khởi kiện, thụ lý, bản tự bảo vệ và quyền kiện lại của bị đơn 1.1 Thông báo đơn khởi kiện: Theo Pháp lệnh về trọng tài thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH11 năm 2003 tại khoản 5 Điều 20,
Trang 1A MỞ ĐẦU
Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam và các nước trên thế giới, đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới(WTO) thì các vụ tranh chấp thương mại càng trở nên phổ biến Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp thương mại là vấn đề vô cùng phức tạp do tham gia vào các quan hệ này có nhiều chủ thể với những địa vị pháp lý không giống nhau, thuộc những hệ thống pháp luật khác nhau Do đó, việc lựa chọn được một phương thức giải quyết tranh chấp hợp lí là một vấn đề có ư nghĩa quyết định trong việc đảm bảo và thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế phát triển thuận lợi.
Trên thực tế, toà án là cơ quan có đủ chức năng để thực hiện những cơ
sở pháp lí trong việc giải quyết tranh chấp nói chung Song các đặc tính gay gắt, phức tạp và sòng phẳng của các hoạt động thương mại thì bên cạnh toà án cũng có những biện pháp giải quyết tranh chấp khác có hiệu quả hơn nhiều Một trong những biện pháp đó là "Trọng tài thương mại" Ở Việt Nam, từ khi Pháp lệnh trọng tài năm 2003 ra đời cho đến nay đã được
9 năm thực hiện nhưng việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là chưa thực sự phổ biến do có những vấn đề khi áp dụng nó trong thực tế để giải quyết tranh chấp thương mại Luật trọng tài thương mại năm 2010 ra đời
đã cải biến được phần nào thực trạng đó Để tìm hiểu rõ hơn về những điểm mới này, nhóm em xin chọn đề tài: “ Phân tích những điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo Luật trọng tài thương mại ”.
B NỘI DUNG
I Một số lý luận về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Trang 21 Khái niệm trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng chủ yếu trên 2 phương diện đó là: Cơ quan giải quyết tranh chấp và
là phương thức giải tranh chấp Với tư cách là cơ quan giải quyết tranh chấp,trọng tài được hiểu “ là cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho xét xử ” Với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thì LTTTM 2010 đã quy đinh: “ Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của luật này ”
2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp phát
sinh trong hoạt động thương mại “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối, đại diện, đại lý thương mại; ký gửi, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn;kỹ thuật; li-xăng;
đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyểnhàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và cáchành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”
(Điều 2 Khoản 3 Pháp lệnh Trọng tài thương mại ngày 25/02/2003)
Như vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại là các
vụ tranh chấp mà trong đó các bên tranh chấp là những cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh (các bên tranh chấp đều có đăng ký kinh doanh) và trước hoặc sau khi xảy ra tranhchấp các bên có thỏa thuận trọng tài.
3 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Trang 3- Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận
đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.
- Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.
- Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình.
- Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Phán quyết trọng tài là chung thẩm.
4 Trình tự giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại Trình tự giải quyết tranh chấp tại hội đồng trọng tài của trung tâm trọng
tài
- Đơn kiện và thụ lý đơn kiện
- Tự bảo vệ của bị đơn.
- Thành lập hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài.
- Chuẩn bị giải quyết
- Hoà giải
- Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài.
Trình tự giải quyết tranh chấp tại hội đồng trọng tài do các bên thành lập
- Đơn kiện
- Bản tự bảo vệ của bị đơn
- Thành lập hội đồng trọng tài
Trang 4II Những điểm mới trong quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại theo luật trọng tài thương mại
1 Về khởi kiện, thụ lý, bản tự bảo vệ và quyền kiện lại của bị đơn
1.1 Thông báo đơn khởi kiện:
Theo Pháp lệnh về trọng tài thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH11 năm
2003 tại khoản 5 Điều 20, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định tại khoản 3 Điều này
Theo Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 năm 2010, tại Điều
32 về việc thông báo đơn khởi kiện, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không có quy định khác, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của Luật này Ở đây, Luật đã tăng thời hạn từ 5 ngày lên 10 ngày
1.2 Phí trọng tài:
Luật Trọng tài thương mại 2010 nêu cụ thể hơn về phí trọng tài, gồm có:
+ Thù lao Trọng tài viên, chi phí đi lại và các chi phí khác cho Trọng tài viên;
+ Phí tham vấn chuyên gia và các trợ giúp khác theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài;
+ Phí hành chính;
Trang 5+ Phí chỉ định Trọng tài viên vụ việc của Trung tâm trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp;
+ Phí sử dụng các dịch vụ tiện ích khác được cung cấp bởi Trung tâm trọng tài.
1.3 Bản tự bảo vệ:
Điều 35 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về nội dung của bản
tự bảo vệ là cần phải có tên và địa chỉ của người được bị đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định Trọng tài viên Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ.
Về việc gửi bản tự bảo vệ, trường hợp bị đơn không nộp bản tự bảo vệ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì quá trình giải quyết tranh chấp vẫn được tiến hành.
1.4 Rút đơn khởi kiện, đơn kiện lại; sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn kiện lại hoặc bản tự bảo vệ:
Điều 37 Luật Trọng tài thương mại quy định: Trước khi Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài, các bên có quyền rút đơn khởi kiện, đơn kiện lại Ngoài ra, so với Pháp lệnh năm 2003, Luật Trọng tài thương mại 2010 còn bổ sung thêm điều khoản: “Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên
có thể sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn kiện lại hoặc bản tự bảo vệ Hội đồng trọng tài có quyền không chấp nhận các sửa đổi, bổ sung này nếu thấy rằng việc đó có thể bị lạm dụng nhằm gây khó khăn, trì hoãn việc ra phán quyết trọng tài hoặc vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài áp dụng cho vụ tranh chấp”.
Trang 62 Thành lập Hội đồng trọng tài
2.1 Tiêu chuẩn trọng tài viên Luật Trọng tài thương mại vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín
xã hội Theo đó cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên có thể là Trọng tài viên.
Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn Trọng tài viên phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật có quy định tại khoản 1c Điều 20: “Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên”.
Hay như tại khoản 3 Điều 20: “Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này đối với Trọng tài viên của tổ chức mình”.
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm
2003, Luật Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2 Thay đổi trọng tài viên Điểm mới của luật trọng tài thương mại quốc tế năm 2010 so với năm
2003 trong việc thay đổi trọng tài viên có những điểm sau:
Trang 7Thứ nhất: So với năm 2003 lý do thay đổi trọng tài viên đã được mở rộng hơn, ngoài 3 mục
- Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên;
- Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp;
- Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan; nếu trọng tài viên đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản Nhằm đem lại sự công bằng cho 2 bên khi có tranh chấp thương mại xảy ra.
Thứ hai : Trong trường hợp Trọng tài viên vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể tiếp tục tham gia giải quyết tranh chấp hoặc bị thay đổi thì việc chọn, chỉ định Trọng tài viên thay thế được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Luật này.
3 Chuẩn bị xét xử của hội đồng trọng tài:
Luật trọng tài thương mại năm 2010 không chỉ có những đổi mới hơn so với pháp lệnh về trọng tài thương mại năm 2003 về vấn đê khởi kiện, thự
lý, bản tự bảo vệ và quyền khiếu nại của bị đơn; về việc thành lập Hội đồng trọng tài mà còn có những điểm mới về việc chuẩn bị xét xử của Hội đồng trọng tài Và trong vấn đề về chuẩn bị xét xử của Hổi đồng trọng tài có hai vấn đề chính Đó là: cung cấp, thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng cho vụ tranh chấp và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
3.1 Cung cấp, thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng cho vụ tranh chấp:
Trang 8Thứ nhất, về vấn đề cung cấp và thu thập chứng cứ thì được pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 quy định tại Điều 32 và được luật trọng tại thương mại 2010 quy định tại Điều 46.
Nhìn chung, pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 không quy định rõ ràng và chặt chẽ như luật trọng tài thương mại 2010 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 chỉ nêu ra hai khoản ngắn gọn về cung cấp, thu thập chứng cứ cho vụ tranh chấp: khoản 1 là nghĩa vụ của các bên và khoản 2 là thẩm quyền của Hội đồng nhân dân như có thể tự mình thu thập chứng cứ, mời giám định theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thông qua việc thông báo cho các bên… Nhưng trong luật trọng tài thương mại thì được quy định một cách rõ ràng tại 6 khoản của Điều 46 về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thương mại về thu thập chứng cứ Trong đó quy định rõ ràng và chi tiết hơn về nghĩa vụ của các bên trong việc thu thập chứng cứ (khoản 1), trách nhiệm, nghĩa vụ của Hội đồng trọng tài trong việc thu thập chứng
cứ (khoản 2, 3, 4) hoặc một số quy định khác về việc đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ và trách nhiệm của các cơ quan có giữ chứng cứ (khoản 5,6).
Từ đó cho thấy luật trọng tài thương mại 2010 có những quy định cụ thể, rõ ràng và chi tiết hơn so với pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 để
từ đó giúp cho công việc giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại sẽ hạn chế được nhiều tranh cãi và công bằng hơn
Thứ hai, bên cạnh vấn đề cung cấp, thu thập chứng cứ thì còn có vấn đề triệu tập nhân chứng Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 không quy định về việc triệu tập nhân chứng Nhưng tại luật trọng tài thương mại
2010 thì việc triệu tập nhân chứng lại được quy định rõ tại Điều 47 Tại điều này, luật quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của Hội đồng trọng tài trong việc triệu tập người làm chứng để giải quyết vụ việc tranh chấp
Trang 9Tóm lại những điểm mới trong việc cung cấp, thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng tại luật trọng tài 2010 có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao vị thế của trọng tài thương mại Hơn thế tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp hạn chế nhiều tranh cãi, công bằng và chặt chẽ
3.2 Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004 có một chương riêng với 28 điều quy định về biện pháp KCTT (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126) Về bản chất, các quy định mới của các Điều từ 48 đến 53 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (LTT 2010) là luật riêng so với các quy định chung của BLTTDS 2004 Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của LTT 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.
Chương VII LTTTM 2010 các Điều từ 48 đến 53 về biện pháp KCTT là một quy trình, quy định quyền yêu cầu, thẩm quyền xem xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và yêu cầu đền bù thiệt hại nếu có.
LTTTM 2010 của Việt Nam quy định rất uyển chuyển, và có vẻ như rất thận trọng rằng các bên có thể nhờ cậy đến tòa án (sau khi nộp đơn kiện tới trọng tài – Điều 53.1) hoặc trọng tài (sau khi lập HĐTT – các Điều 48, 49) yêu cầu ban hành các lệnh KCTT Nếu yêu cầu được gửi tới cả hai nơi, thì có thể hiểu rằng cơ quan tài phán nào nhận trước sẽ thụ lý, cơ quan nhận sau phải từ chối (theo khoản 3,điều 49 LTTTM 2010, HĐTT phải từ chối yêu cầu, nếu đương sự đã yêu cầu tòa án; ngược lại theo khoản 5,điều
53 LTT 2010, tòa án phải từ chối, nếu đương sự đã yêu cầu HĐTT).
Trang 10LTT 2010 là một thành tựu lập pháp quan trọng Các quy định về biện pháp KCTT trong Luật này được thiết kế uyển chuyển và hợp lý, hiệu quả của chúng có thể cần phải chờ đợi sự phán xét từ thực tiễn và nên được đánh giá chung trong tổng thể hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
4 Phiên họp giải quyết tranh chấp thương mại
Thứ nhất, Phiên họp giải quyết tranh chấp thương mại được quy định trong Pháp Lệnh Trọng Tài Thương Mại 2003 tại các điều từ điều 37 đến điều 41, điều 43 và điều 47 trong chương V Tố Tụng Trọng Tài Nhưng đến Luật Trọng Tài thương mại 2010 các quy định đó đã được điều chỉnh, sắp xếp vào một chương riêng biệt ( chương VIII Phiên họp giải quyết tranh chấp thương mại với 6 điều luật từ điều 54 đến điều 59)
Thứ hai, Luật Trọng Tài thương mại 2010 nêu được thời hạn giải quyết cũng như quy trình hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp một cách chi tiết, đầy đủ, dễ hiểu tại điều 57, trong khi điều 41 của Pháp lệnh còn khá sơ sài
và mơ hồ.
Thứ ba, việc đình chỉ giải quyết tranh chấp được quy định trong Luật trọng tài thương mại (điều 59) cũng khắc phục được sự thiếu sót về các trường hợp đình chỉ giải quyết tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, trường hợp không có quyền khởi kiện v v của Pháp lệnh TTTM 2003 Quả thật,
sự ra đời của Luật trọng tài thương mại 2010 đã kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quy định mới, hoàn chỉnh hơn so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
5 Phán quyết trọng tài
Các điều khoản về phán quyết trọng tài trong Luật trọng tài năm 2010 được quy định tại điều 61 đến điều 74: