Phần 1 của giáo trình Tài chính doanh nghiệp cung cấp cho học viên những kiến thức về: tổng quan tài chính doanh nghiệp; các công cụ chủ yếu trong quản trị tài chính doanh nghiệp; báo cáo tài chính doanh nghiệp và các hệ số tài chính cơ bản; quyết định đầu tư vốn của doanh nghiệp;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1HỌC VIỆN TẢI CHÍNH
CHINH DOANH NGHIEP
Đồng chủ biên: TS Bùi Van Van
TS Va Van Ninh
HA NOI - 2013
Trang 3Lời nói đầu
LOI NOI DAU
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những biến đổi nhanh chóng
và sâu sắc Một mặt, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán đã tạo kênh
huy động vốn và đầu tư vốn đa dạng hơn cho các doanh nghiệp; mặt khác, những biến động thăng trầm của kinh tế thế giới và Việt Nam trong thời gian qua, đã làm cho nhiều
doanh nghiệp nước ta làm ăn thua lễ, không ít doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình Đó là do vai trò của công tác quản trị tài chính chưa được coi trọng và phát huy đúng mức Trước bối cảnh đó, việc đổi mới nội
dung giảng dạy bậc đại học môn học Tài chính doanh nghiệp để phù hợp và đáp ứng
những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, cũng như của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Việc biên soạn cuốn giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” lần này nhằm mục đích đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế
của đất nước, vừa phù hợp với việc đổi mới nội dung và chương trình đào tạo của Học viện Tài chính nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ tài chính - kế toán cho nền
Với việc cập nhật kịp thời những kiến thức mới về quản trị tài chính doanh nghiệp của thế giới, gắn với điều kiện và đặc điểm phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, cuốn giáo trình được biên soạn hết sức cơ bản, xuyên suốt có tính hệ thống từ vai trò của nhà quản trị tài chính, các công cụ quản trị tài chính đến việc ra các quyết định tài chính như quyết định đầu tư vốn, quyết định huy động vốn, quyết định phân phối lợi nhuận và lập
kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp
Để thuận tiện cho việc giảng dạy và học tập theo hệ thống tín chỉ, cuốn giáo trình
được chia thành 7 phần với 20 chương, có nội dung chủ yếu như sau:
- Phần thứ nhất: Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
Trong phần này, sinh viên được trang bị những kiến thức cơ bản về tài chính
doanh nghiệp, về mục tiêu và vai trò của quản trị tài chính trong doarz-®ghiệp; nhận
- _ diện và hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị tài chính của một doanh nghiệp Đây là tiền đề để nghiên cứu các nghiệp vụ quản trị tài chính ở các phần sau
Học viện Tỏi chính 3
Trang 4GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
- Phần thứ hải: Các công cụ quản trị tài chính doanh nghiệp
Trong phần này, người đọc sẽ được tiếp cận các nguyên lý cơ bản của tải chính
và các công cụ chủ yếu để đưa ra các quyết định tài chính đó là giá trị thời gian của tiền,
rủi ro và tỷ suất sinh lời, các hệ số tài chính và các công cụ quản trị rủi ro tài chính Đây
là các công cụ sẽ được ứng dụng xuyên suốt trong việc phân tích, đánh giá và đưa ra
các quyết định tài chính của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp
- Phần thứ ba: Quyết định đầu tư vốn của doanh nghiệp
Quyết định đầu tư vốn là quyết định tài chính quan trọng bậc nhất của doanh nghiệp trong việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp của chủ sở hữu Để lựa chọn được một
quyết định đầu tư hợp lý đòi hỏi phải đánh giá và phân tích hiệu quả tài chính của dự án
Do đó, trong phần này sẽ trang bị các kiến thức về cách xác định dòng tiền của dự án, các phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính của dự án đầu tư trong điều kiện thông
thường và trong điều kiện có rủi ro, đánh giá hiệu quả của khoản đầu tư tài chính để nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định đầu tư tối ưu
- Phân thứ tu Quyết định huy đồng vốn của doanh nghiệp
Trong điều kiện kinh tế thị trường, nhất là khi thị trường chứng khoán ra đời và
phát triển, các nguồn vốn có thể huy động cho hoạt động của doanh nghiệp ngày càng
đa dạng và phong phú Tuy nhiên, với mỗi nguồn vốn và công cụ huy động vốn đều có những điểm lợi, bất lợi và phù hợp trong những điều kiện nhất định của doanh nghiệp
Do vậy, để giúp cho việc lựa chọn nguồn vốn và công cụ huy động vốn thích hợp, phần
này sẽ trang bị kiến thức về đặc điểm của từng nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi khi
doanh nghiệp sử dụng từng nguồn vốn và từng hình thức huy động vốn, cách ước lượng chỉ phí sử dụng vốn và lựa chọn chính sách vay nợ của doanh nghiệp
- Phần thú năm: Quyết định phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
Quyết định phân phối lợi nhuận cũng là một quyết định tài chính chiến lược, nó tác động không nhỏ đến nguồn vốn cho đầu tư tăng trưởng của doanh nghiệp Nhà quần trị tài chính phải quyết định việc phân chia lợi nhuận vừa đảm bảo lợi ích trước mắt cho chủ sở hữu, vừa đảm bảo cho sự phát triển của công ty trong tương lai Do vay, trong phần này sẽ trang bị kiến thức về các chính sách phân phối lợi nhuận, chính sách
cổ tức, các hình thức chỉ trả cổ tức cho cổ đông, các chỉ tiêu tài chính để đánh giá và lựa chọn chính sách cổ tức
Trang 5
Lời nói đầu
- Phần thứ sáu: Quản trị vốn và kế hoạch tải chính của doanh nghiệp Quan tri vốn trong quá trình hoạt động là một yêu cầu đặt ra đối với nhà quản trị tài chính nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và bảo toàn vốn Bên cạnh đó, công tác lập kế hoạch tài chính sẽ giúp cho doanh nghiệp cân đối được nguồn lực tài
chính với nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp, qua đó giúp công tác quản trị tài chính
được hiệu quả hơn Do vậy, ở phần này sẽ trang bị kiến thức về nội dung và các biện pháp
để quản trị vốn trong quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp, hướng dẫn phương pháp
lập kế hoạch tài chính, các phương pháp dự báo nhu cầu tài chính cho doanh nghiệp
- Phần thứ bây: Các vấn để tài chính đặc biệt — -
Phần này trang bị các kiến thức về quản trị tài chính với các tình huống đặc biệt, như trong quá trình sáp nhập, hợp nhất, phá sản doanh nghiệp Đặc biệt còn chỉ ra cơ
sở hình thành giá trị doanh nghiệp để nhà quản trị tài chính đưa ra được các biện pháp
-_ nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp |
Tóm lại, với cách tiếp cận như vậy, tập thể tác giả hy vọng rằng cuốn giáo trình
Tài chính doanh nghiệp biên soạn lần này sẽ giúp cho giáo viên, nghiên cứu viên, sinh viên và các nhà quản lý gặp thuận lợi trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu, học tập và
Giáo trình Tài chính doanh nghiệp là công trình nghiên cứu tập thể do các giảng viên của Bộ môn Tài chính doanh nghiệp thuộc Học viện Tài chính tham gia nghiên cứu, biên soạn và được phân công như sau:
- T8 Bùi Văn Vần - Phó Trưởng Khoa, Trưởng Bộ môn TCDN, đồng chủ biên,
trực tiếp biên soạn các chương 6, 7, 8 và tham gia biên soạn chương †; |
- T8 Vũ Văn Ninh- Phó Trưởng Khoa, Phó Trưởng Bộ môn TCDN, đồng chủ biên, biên soạn các chương 9, 14, 15 và tham gia biên soạn các chương † và 18;
- PGS.,TS Vũ Công Ty, Trưởng khoa TCDN, biên soạn-chương 4 và tham gia
- PGS.,TS Nguyễn Đăng Nam biên soạn các chương 16 và 19;
- TS Đoàn Hương Quỳnh, Phó trưởng Bộ môn TCDN biên soạn các chương
12 và 13;
- Thề Vũ Thị Hoa tham gia biên soạn chương 2 và 3;
Học viện Tỏi chính 5
Trang 6GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
- TS Pham Thị Vân Anh tham gia biên soạn chương 2 và 3;
- TS Nguyễn Thị Hà tham gia biên soạn chương 10 và 11;
- TS Pham Thị Thanh Hòa tham gia biên soạn chương 5 và 20;
- Th.S Đặng Phương Mai tham gia biên soạn chương 20;
- Th.S Diêm Thị Thanh Hải biên soạn chương 17 và tham gia biên soạn chương 5;
- Th.S Nguyễn Tuấn Dương tham gia biên soạn các chương 4 và 19;
- Th.S Bạch Thị Thanh Hà tham gia biên soạn các chương 10 và 11
Học viện Tài chính chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài học viện: GS.TS Ngô Thế Chỉ; TS Bạch Đức Hiển; TS Nguyễn Minh Hoàng; PGS.TS Hoàng Văn Quỳnh, TS Vũ Xuân Dũng đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình đánh giá, nghiệm thu và hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng khoa học của giáo trình này
Hà Nội, tháng 09 năm 2013
BAN QUAN LY KHOA HOC
HOC VIEN TAI CHINH
6 Học viện Tòi chính
Trang 7Phần 1: Tổng quan vé tdi chính doanh nghiệp
PHAN 1: TONG QUAN VE TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
sok ak
Chương Ï
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ QUẦN TRỊ
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 TÀI CHÍNH D0ANH NGHIỆP VÀ BÁC QUYET DINH TAI CHINH DOANH NGHIEP 1.1.1 Khai niém Tai chinh doanh nghiép
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động san xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm
mục đích sinh lời Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu và sức lao động để tạo ra yếu tế đầu ra là hàng hóa
và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn tiền tệ nhất định Với từng loại hình
pháp lý tổ chức, doanh nghiệp có phương thức thích hợp tạo lập số
vốn tiển tệ ban đầu, từ số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp mua sắm máy
móc thiết bị, nguyên vật liệu Sau khi sản xuất xong, doanh nghiệp
thực hiện bán hàng hóa và thu được tiền bán hàng Từ số tiền bán hàng, doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các khoản chi phi vat chat da
tiêu hao, trả tiển công cho người lao động, các khoản chi phí khác,
nộp thuế cho Nhà nước và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế Từ số lợi nhuận sau thuế này, doanh nghiệp tiếp tục phân phối cho các mục đích có tính chất tích lũy và tiêu dùng Như vậy, quá trình hoạt động
Học viện Tỏi chính q
Trang 8_ GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng
quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình đó đã làm phát sinh, tạo ra sự vận động của các dòng tiền
(cash flows) bao hàm dòng tiển vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt
động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên hàng ngày của doanh nghiệp
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh
nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu sau:
- Quan hé tai chinh giita doanh nghiép voi Nha nuéc
Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, như nộp các khoản thuế, lệ phí Vào ngân sách
- Quan hệ tòi chính giữa doanh nghiệp uới các chủ thể binh tế
uò các tổ chức xã hội khác
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp
hàng hóa, dịch vụ cho nhau (bao hàm cả các dịch vụ tài chính)
Ngoài quan hệ tài chính với các chủ thể kinh tế khác, doanh
nghiệp có thể có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác, như
doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội
Quan hề tai chính giữa doanh nghiệp uới người lao động trong
doanh nghiệp
Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán
trả tiền công, thực hiện thưởng, phạt vật chất với người lao động
trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh
8 Học viện Tỏi chính
Trang 9Phan 1: Tong quan về tời chinh doanh nghiép
việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh
nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử
dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả
kinh doanh và thực hiện hạch toán nội bộ doanh nghiệp
` ~ at s A ^ Z x + A ^“ ^ Z
Từ những vấn đề nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
"1% Xét về bản chat, £ời chính doanh nghiệp là các quan hệ hình
tế dưới hình thức giá trị nay sinh gan liên uới uiệc tạo lập, sử dụng
các quỹ tiên tệ của doanh nghiệp trong qua trinh hoạt động của
doanh nghiệp
- Xét về hình thức, tai chinh doanh nghiệp là cúc quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dung va van động gắn liên uới
hoạt động của doanh nghiệp `
Sự hình thành, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp luôn gắn liển với sự chuyển dịch của các dòng tiền; vì vậy, có ý kiến cho rằng: Tài chính doanh nghiệp là các dòng tiển phát sinh
trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn với các hoạt động của doanh nghiệp Nhận thức như vậy là đã đồng nhất giữa nội
dung bên trong (bản chất) với biểu hiện bề ngoài (hình thức) của phạm
trù tài chính doanh nghiệp Ấn phía sau các dòng tiền phát sinh trong
quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp chính là
các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong việc phân phối các nguồn tài chính - các quan hệ tài chính của doanh nghiệp Có ý kiến khác lại cho rằng: Tòi chính doanh
nghiệp là phương thức huy động, phân bổ uà sử dụng các nguồn lực tời
Học viện Tòi chính 9
Trang 10GIÁO TRÌNH TẢI CHÍNH DOANH NGHIỆP chính của các doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu trong hoạt
động kính dodnh Tuy nhiên, theo chúng tôi, ý kiến này đã đồng nhất
“tài chính doanh nghiệp” - phạm trù kinh tế khách quan - với hoạt động tài chính (hay công tác quản trị tài chính doanh nghiệp), một
hoạt động mang tính chất chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp
Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đều diễn
ra trên cơ sở các quyết định chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp
Việc nhận thức đúng đắn quan niệm về tài chính doanh nghiệp và bản chất tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng về lý luận và
thực tiễn Điều đó tạo cơ sở cho việc vận dụng các quan hệ tài chính tồn
tại khách quan trong công tác quản lý tài chính để đưa ra quyết định tài chính đúng đắn nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.2 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp
Mặc dù chưa hoàn toàn thống nhất trong khái niệm tài chính
doanh nghiệp về mặt ngôn từ; tuy nhiên, có sự đổng thuận khi các
quan niệm khác nhau về tài chính doanh nghiệp đều cho rằng: Tài
chính doanh nghiệp thực chất quan tâm nghiên cứu ba quyết định chủ yếu, đó là quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận
* Quyết định đầu tư: Là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản cố định và tải sản lưu động) Quyết định đầu tư ảnh hưởng đến bên trái (phần tài sản) của bảng cân đối kế toán Các quyết định đầu tư chủ yếu của
doanh nghiệp bao gồm:
- Quyết định đầu tư tài sản lưu động: Quyết định tôn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán hàng, quyết định đầu tư tài
chính ngắn hạn
10 Học viện Tòi chính
Trang 11Phổn 1: Tổng quơn về tôi chính doanh nghiệp
- Quyết định đầu tư tài sản cố định: Quyết định mua sắm tài sản
cố định, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn
- Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và đầu tư tài sản cố định: Quyết định sử dụng đòn bẩy kinh doanh, quyết định điểm hòa vốn
Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất
trong các quyết định của tài chính doanh nghiệp bởi nó tạo ra gia tri
cho doanh nghiệp Một quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần làm tăng giá trị doanh nghiệp, qua đó làm gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở
hữu, ngược lại một quyết định đầu tư sai sẽ làm tổn thất giá trị
doanh nghiệp dẫn tới thiệt hại tài sản cho chủ sở hữu doanh nghiệp
* Quyết định huy động vốn (quyết định nguồn vốn): Là những quyết định liên quan đến việc nên lựa chọn nguồn vốn nào để cung cấp cho các quyết định đầu tư Quyết định nguồn vốn tác động đến bên phải bảng cân đối kế toán (phần Nguồn vốn) Các quyết định huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:
- Quyết định huy động vốn ngắn hạn: Quyết định vay ngắn hạn
hay sử dụng tín dụng thương mại
- Quyết định huy động vốn dài hạn: Quyết định sử dụng nợ dài
hạn thông qua vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công
ty; quyết định phát hành vốn cổ phần (cổ phần phổ thông hay là cổ phần ưu đãi); quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính); quyết định vay để mua, hay thuê tài sản, Các quyết định huy động vốn là một thách thức không nhỏ đối
với các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp Để có các quyết
định huy động vốn đúng đắn, các nhà quản trị tài chính phải có sự nắm vững những điểm lợi, bất lợi của việc sử dụng các công cụ huy
động vốn; đánh giá chính xác tình hình hiện tại và dự báo đúng đắn
diễn biến thị trường - giá cả trong tương lai trước khi đưa ra quyết định huy động vốn
Học viện Tỏi chính 11
Trang 12GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
* Quyết định phân chia lợi nhuận: Gắn liền với quyết định
về phân chia cổ tức hay chính sách cổ tức của doanh nghiệp Các nhà
quản trị tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức, hay là giữ lại để tái đầu tư Những
quyết định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theo đuổi một
chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức có tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp hay giá cổ phiếu của công ty
trên thị trưởng hay không
Ngoài ba loại quyết định chủ yếu trong tài chính doanh nghiệp như trên đã đưa ra còn có rất nhiều loại quyết định khác có liên quan
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như quyết định mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, quyết định phòng ngừa rủi ro tài chính
trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
Căn cứ vào thời gian thực hiện có thể chia các quyết định tài
chính của doanh nghiệp ra thành 2 nhóm là quyết định tài chính dài
hạn và quyết định tài chính ngắn hạn
* Quyết định tài chính đài hạn
Đây là những quyết định có tính chất chiến lược, có tầm ảnh hưởng lâu dài đến sự tổn tại và phát triển doanh nghiệp Mỗi quyết
định này doi hoi nhà quản trị phải cân nhắc kỹ lưỡng, phân tích một
cách bài bản và khoa học để đảm bảo hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra Thuộc quyết định tài chính đài hạn bao gồm: Quyết định đầu tư dài hạn, quyết định huy động vốn dài hạn (quyết định nguồn vốn dài hạn) và quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận của
doanh nghiệp
+ Quyết định đầu tư dài hạn: Là quyết định lựa chọn doanh
nghiệp nên đầu tư vào những cơ hội, hay những dự án đầu tư nào trong điều kiện nguồn lực tài chính có giới hạn để tối đa hóa giá trị
cho chủ sở hữu
Thông thường, các cơ hội đầu tư có nguy cơ rủi ro cao thường
mang lại tỷ suất sinh lời cao và ngược lại Giá trị doanh nghiệp là
12 Học viện Tdi chinh
Trang 13Phổn 1: Tổng quơn về tời chính doơnh nghiệp
tổng giá trị hiện tại của dòng tiển trong tương lai được chiết khấu
theo tỷ suất sinh lời đòi hổi của nhà đầu tư Nếu nhà quản trị lựa chọn cơ hội đầu tư có tỷ suất sinh lời cao để tối đa hóa dòng tiền cho
chủ sở hữu, nhưng kéo theo đó tỷ suất sinh lời đòi hỏi cũng bị day lên
cao đo rủi ro cao Vì vậy, chưa chắc giá trị doanh nghiệp sẽ đạt được
mục tiêu tối đa hóa
+ Quyết định huy động uốn đài hạn: Là quyết định lựa chọn nên huy động vốn dài hạn từ những nguồn nào, với quy mô bao nhiêu
để tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu
Xét về tổng thể, nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành 2
nguồn là nguồn vốn nợ (hay nợ phải trả) và nguồn vốn chủ sở hữu Trong trường hợp tỷ suất sinh lời kinh tế của vốn cao hơn lãi suất vay vốn, nếu doanh nghiệp gia tăng sử dụng nguồn vốn vay sẽ làm tăng thêm dòng tiền mà chủ sở hữu nhận được, vì nhận được nhiều
thu nhập hơn từ vốn vay tạo ra, đồng thời cũng làm tăng nguy co rủi
ro võ nợ dẫn đến tổn thất cho chủ sở hữu Ngược lại, nếu như doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu thì mặc dù nguy cơ rủi ro võ nợ
sẽ thấp hơn, nhưng thu nhập cho chủ sở hữu sẽ ít hơn so với việc sử
dụng vốn vay Khi đó, việc sử dụng vốn vay một mặt sẽ làm tăng giá
trị cho chủ sở hữu, vì nó làm tăng dòng tiển của chủ sở hữu; tuy nhiên, việc vay nợ quá mức sẽ làm tăng rủi ro khiến cho chủ sở hữu
đòi hỏi mức sinh lời cao hơn làm cho giá trị doanh nghiệp bị sụt
giảm Vì vậy, nhà quản trị tài chính phải đưa ra quyết định lựa chọn nguồn vốn nào, đặc biệt phải quyết định quy mô của từng nguồn vốn tài trợ cho dự án đầu tư, cũng như cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp |
+ Quyét dinh vé chinh séch phân phốt lợi nhuận của doanh nghiệp: Là quyết định lựa chọn nên dành bao nhiêu lợi nhuận
để chia cho chủ sở hữu, dành bao nhiêu lợi nhuận để tái đầu tư trỏ lại }
doanh nghiệp nhằm tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu
Hoc vién Tdi chính 13
Trang 14GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Ỹ
Về cơ bản lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ được chia thành 2 phần, một phần dành để chia cho chủ sở hữu (chia lãi hay chia cổ tức), một phần dành để tái đầu tư trở lại doanh nghiệp Việc
quyết định chia lợi nhuận hay giữ lại lợi nhuận không làm thay đổi số
lợi nhuận của doanh nghiệp đã tạo ra cho chủ sở hữu, nhưng nó lại tác động đến rủi ro và mức tăng trưởng thu nhập cho chủ sở hữu trong tương lai Nếu doanh nghiệp chia hết lợi nhuận sau thuế cho chủ sổ _ hữu thì chủ sở hữu sẽ ăn chắc số lợi nhuận này, nhưng do chia hết lợi nhuận nên nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận là thấp, dẫn đến tốc độ tăng trưởng thu nhập cho chủ sở hữu trong tương lai sẽ không cao Ngược lại, nếu như để lại toàn bộ lợi nhuận tái đầu tư thì tốc độ tăng trưởng thu nhập của chủ sở hữu sẽ tăng cao, nhưng kéo theo đó là sự gia tăng về rủi ro đối với khoản lợi nhuận giữ lại ở doanh nghiệp, từ đó
sẽ tác động đến giá trị doanh nghiệp Vì vậy, nhà quản trị tài chính
phải quyết định lựa chọn phân chia bao nhiêu lợi nhuận cho chủ sở
hữu, giữ lại bao nhiêu lợi nhuận để tái đầu tư là phù hợp và đạt được
mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, phù hợp với chiến lược phát
triển và giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của doanh nghiệp
* Quyết định tài chính ngắn hạn
Đây là những quyết định có tính chất tác nghiệp, ảnh hưởng
không lớn sự tổn tại và phát triển doanh nghiệp; vì vậy, người ta còn
gọi là các quyết định tài chính chiến thuật Thuộc quyết định tài chính ngắn hạn bao gồm: Quyết định dự trữ vốn bằng tiền, quyết định về nợ phải thu, quyết định về việc thực hiện chiết khấu thanh toán, quyết định về dự trữ vốn tồn kho, quyết định về việc khấu hao TSĐCĐ, Tính hợp lý và đúng đắn của các quyết định này có ảnh hưởng nhất định đến rủi ro và lợi ích cho doanh nghiệp, cũng như
cho chủ sở hữu doanh nghiệp Điều này được thể hiện như sau:
+ Quyết định dự trữ uốn bằng tiền: Khi doanh nghiệp dự trữ vốn bằng tiển sẽ đảm bảo cho hoạt động thanh toán, chi trả nhằm
thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp với các chủ thể khác
14 | Hoc vién Tdi chinh
Trang 15Phổn 1: Tổng quơn về tời chính doanh nghiệp
được thuận lợi, hạn chế rủi ro trong quá trình hoạt động Tuy nhiên,
việc dự trữ vốn bằng tiển sẽ làm tăng chi phí cơ hội của vốn và tăng
nguy cơ rủi ro do tiền có thể bị mất giá do lạm phát, hay thay đổi tỷ giá gây ra
+ Quyết định uề nợ phải thu: Khi doanh nghiệp bán chịu sé làm tăng khả năng cạnh tranh dẫn đến làm tăng doanh thu và lợi
nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, bán chịu sẽ gia tăng nợ phải
thu, dẫn đến ứ đọng vốn và doanh nghiệp có thể gặp rủi ro không thu
hồi được công nợ
+ Quyết định uề chiết khấu thanh toán: Việc ấp dụng chiết khấu thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi nhanh tiền bán hàng, giảm nhu cầu vốn dẫn đến giảm bớt chi phí sử dụng vốn Tuy vậy, do thực hiện chiết khấu cho khách hàng nên lợi nhuận bán hàng của doanh nghiệp có thể sụt giảm
+ Quyết định uề dự trữ uốn tồn kho: Việc duy trì tồn kho du trữ sẽ giảm thiểu rủi ro gián đoạn hoạt động SXKD; nhưng nó lại làm tăng chi phí cơ hội của vốn, tăng chỉ phí bảo quản, cất trữ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Các quyết định tài chính ngắn hạn khác: Như quyết định
về khấu hao TSŒĐ, quyết định về trích lập dự phòng, quyết định về
việc thanh toán cũng luôn tạo ra mối quan hệ giữa lợi ích và rủi ro
cho doanh nghiệp nói chung và cho chủ sở hữu doanh nghiệp nói riêng
Từ những phân tích trên đây, cho thấy nhà quản trị tài chính
phải cân nhắc đưa ra quyết định tài chính ngắn hạn hợp lý đảm bảo tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa dòng tiền cho chủ sở hữu, khi đó sẽ tối đa hóa được giá trị của doanh nghiệp cho chủ sở hữu
Tóm lại, nhà quản trị tài chính phải đưa ra các quyết định tài
chính nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Với mỗi quyết định tài
chính, nhà quản trị phải luôn luôn đối mặt với sự mâu thuẫn giữa rủi
ro và sinh lời Một quyết định tài chính khôn ngoan là quyết định có
Học viện Tỏi chính 1ỗ
Trang 16GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP thể tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp, muốn vậy quyết định tài
chính phải đảm bảo tối thiểu hóa được rủi ro và tối đa hóa được tỷ
suất sinh lời cho chủ sở hữu Đây là điều rất khó cho các nhà quản trị
tài chính trong quá trình phân tích và ra quyết định lựa chọn các
quyết định tài chính phù hợp
1.2 QUAN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIEP
1.2.1 Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra quyết
định và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các
mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Do các quyết định tài chính
của doanh nghiệp đều gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng
các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp; vì vậy, quản trị tài chính doanh nghiệp còn được nhìn nhận là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo
lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động của
người quản lý (nhà quản trị) liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài
trợ và quản lý tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu
đề ra Có thể thấy rằng quản trị tài chính doanh nghiệp liên quan
đến ba loại quyết định chính: Quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn và quyết định phân phối lợi nhuận làm ra, sao cho có lợi nhất cho các chủ sở hữu doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận, là nội dung
quan trọng hàng đầu của quản trị doanh nghiệp, nó có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng tới tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp Hầu hết các quyết định quản trị doanh nghiệp đều dựa trên cơ sở những kết quả rút ra từ việc đánh giá về mặt tài chính của hoạt động quản
trị tài chính doanh nghiệp Điều này xuất phát từ vai trò của công tác
quản trị tài chính đối với doanh nghiệp
Trang 17
Phổn 1: Tổng quen về tời chính doơnh nghiệp 1.2.2 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Vai trò của quản trị tài chính trong doanh nghiệp có sự thay đổi
lớn qua các thời kỳ
Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kinh tế:-kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1986), nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ này chỉ bao gồm 2 thành phần kinh tế chủ yếu là thành phần kinh tế quốc doanh
và thành phần kinh tế tập thể với 2 loại hình doanh nghiệp tương
ứng là các công ty, xí nghiệp quốc doanh (gọi chung là doanh nghiệp Nhà nước) và các doanh nghiệp tập thể: Các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, (gọi chung là hợp tác xã)
Hoạt động của các hợp tác xã chủ yếu mang tính chất tự cung, tự cấp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ, tỷ trọng hàng hóa rất thấp Các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu tiến hành sản xuất, cung cấp
` các sản phẩm hàng hóa theo chỉ tiêu kế hoạch của nền kinh tế quốc dân, được Nhà nước đảm bảo các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra Vì
vậy, trong giai đoạn này, vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
rất mờ nhạt, chủ yếu dừng lại ở việc là đi tìm kiếm các nguồn tài trợ
cho nhu cầu vốn của doanh nghiệp, thông qua việc xác định quy mô
vốn xin ngân sách cấp và số vốn vay ngân hàng Nhà nước
Hiện nay, với việc chuyển đổi sang nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải thực hiện tự chủ hoàn toàn về sản xuất kinh doanh và về tài chính; hoạt động của các doanh nghiệp phải đương đầu với nhiều thách thức do
sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác cùng với sự biến động khó
lường của thị trường Trong điều kiện đó, hoạt động của các doanh
nghiệp phải được đặt trên cơ sở công tác hoạch định cả về chiến lược (dài hạn) và chiến thuật (ngắn hạn)
Về mặt chiến lược, các doanh nghiệp cẩn xác định được kế
hoạch, mục tiêu kinh doanh dài hạn Ví dụ, việc doanh nghiệp dự định phát triển một sản phẩm mới, hay thực hiện một dự án mở rộng hoạt động kinh doanh, việc góp vốn liên doanh đài hạn, việc phát
Học viện Tỏi chính 17
Trang 18GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
hành thêm cổ phiếu mới để huy động thêm vốn góp đều là các quyết định có tính chất chiến lược đối với doanh nghiệp
Bên cạnh các quyết định có tính chất chiến lược, các nhà quản trị doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến các quyết định có tính chất
chiến thuật (ngắn hạn) Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong thời hạn ngắn (quý, tháng, tuần, ) luôn gắn liền với việc phát sinh các quyết định cụ thể, như thay thế một thiết bị đang dùng bằng
một thiết bị khác tốt hơn, việc lựa chọn giữa thuê hay mua nhà làm
văn phòng đại diện, việc điểu chỉnh tỷ lệ chiết khấu thanh toán
nhằm đẩy nhanh quá trình thu hồi tiền hàng, là những quyết định
có tính chất chiến thuật
Tất cả các quyết định chiến lược và chiến thuật của doanh nghiệp đều được lựa chọn chủ yếu dựa trên sự phân tích, đánh giá về
mặt tài chính Tớm lại, ngày nay vai trò của quản trị tài chính doanh
nghiệp ngày càng trở nên hết sức quan trọng hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp, bởi vì:
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp
- Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh
nghiệp ngày càng lớn Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính thì các công cụ tài chính để huy động vốn ngày càng phong phú và đa
_dạng hơn Vì vậy các quyết định huy động vốn, quyết định đầu tư của nhà quản trị tài chính ảnh hưởng ảnh hưởng lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp _
- Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối
với các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc kiểm soát và chỉ đạo các
hoạt động của doanh nghiệp
Vai trò của quản trị tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau:
18 Học viện Tỏi chính
Trang 19Phổn 1: Tổng quơœn về tài chính doanh nghiệp
các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh
thường xuyên, cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nếu không huy động kịp thời và đủ vốn sẽ khiến cho các hoạt động
của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được Do vậy,
việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành
bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn
của tài chính doanh nghiệp
Nhà quản trị tài chính trên cơ sở xem xét tình hình thị trường tài chính, nhu cầu vốn và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định tối ưu nhất trong việc tổ chức huy động các nguồn vốn (bên trong, bên ngoài) đáp ứng nhu cầu cho các hoạt động của
doanh nghiệp Một chính sách tài trợ đúng đắn không những giúp
doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro tài chính, mà còn tác động rất lớn đến việc thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
b Tổ chức sử dụng uốn tiết biệm, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hình doanh của doanh nghiệp
Với việc lựa chọn các dự án đầu tư tối ưu trên cơ sở cân nhắc, so sánh giữa tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức độ rủi ro của
dự án đầu tư nhà quản trị tài chính đã tạo tiển đề cho việc sử dụng
vốn tiết kiệm và đạt hiệu quả cao
Việc tổ chức huy động vốn kịp thời, đẩy đủ sẽ giúp cho doanh
nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp Việc lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động
vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, góp phần tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Học viện Tời chính 19
Trang 20GIÁO TRÌNH TẢI CHÍNH DOANH NGHIỆP Mặt khác, với việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động
kinh doanh có thể giúp doanh nghiệp tránh được thiệt hại do ứ đọng
vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền
trả lãi vay, góp phần tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
c Kiém tra, gidm sót một cách toàn diện cóc mặt hoạt động sản xuất bình doanh của doanh nghiệp
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá
trình vận động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ Vì vậy, thông qua việc xem xót tình hình thu, chỉ tiền tệ hàng ngày, và nhất là thông qua
việc phân tích đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp và việc thực
hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản trị tài chính có thể kiểm soát
kịp thời và toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó chỉ ra
những tổn tại và những tiểm năng chưa được khai thác để đưa ra các
quyết định thích hợp, điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu
đề ra của doanh nghiệp
1.2.3 Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao hàm các nội dung chủ
yếu sau:
ơ Thơm gia uiệc đánh giá, lựa chọn quyết định đầu tư
Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc
rất lớn vào quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết định đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm mới Để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân hhắc trên nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật
và tài chính Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chỉ tiêu vốn cho đầu tư và dự tính thu nhập do đầu tư đưa lại; nói cách khác là*xem xét dòng tiển ra và dòng tiển vào liên quan đến khoản
đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài chính Đó là quá trình
hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư
20: Học viện Tỏi chính
Trang 21Phồn 1: Tổng quơn về tời chính doanh nghiệp
b Xác định nhu cầu uốn uà tổ chức huy động uốn đáp ứng
kịp thời, đủ nhu cầu uốn do các hoạt động của doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn Nhà quản trị tài chính phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ (bao gồm: vốn dài hạn và vốn ngắn hạn); tiếp theo, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Để
đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: Kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn ˆ
c Sử dụng có hiệu quả số uốn hiện có, quản lý chặt chế các khoửn thu, chi va dam bảo bhú năng thanh toán của
doanh nghiệp
Nhà quản trị tài chính phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa
số vốn hiện có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chỉ phát sinh trong quá trình hoạt động
của doanh nghiệp; thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng
giữa thu và chi vốn bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn
d Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập va sử dung cóc quỹ của doanh nghiệp
Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế, cũng như trích
lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển doanh nghiệp, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp, giải quyết hài hòa giữa lợi ích trước mắt của chủ sở hữu với lợi ích lâu dài - sự phát triển của
doanh nghiệp
Học viện Tỏi chính 21
Trang 22GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
việc định kỳ tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh
nghiệp để đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn, những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý, dự báo trước tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp kịp thời đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh
doanh và tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ tới
8g Thực hiện bế hoạch hóa tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính, có kế hoạch tài chính tốt
thì doanh nghiệp mới có thể đưa ra các quyết định tài chính thích
hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ động đưa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trường có sự biến động
1.2.4 Giá trị doanh nghiệp và mục tiêu của quản trị tài
1.2.4.1 Giá trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Trong
nền kinh tế thị trường, việc đầu tư vốn vào doanh nghiệp hay thực hiện hoạt động mua bán, sắp nhập doanh nghiệp được diễn ra thường
xuyên, liên tục; do đó việc coi doanh nghiệp như là một tài sản, một
hàng hóa có khả năng sinh lời và đem lại lợi ích cho người đầu tư là
một quan điểm đang ngày càng trở lên phổ biến Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp, cũng như các nhà đầu tư cần thiết hiểu được
22 Học viện Tỏi chính
Trang 23Phan 1: Tổng quơn về tời chính doanh nghiệp
giá trị của doanh nghiệp và cơ sở hình thành giá trị của doanh nghiệp để có những quyết định tài chính đúng đắn Quá trình hình thành giá trị và giá cả doanh nghiệp cũng chịu sự tác động của quy
luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu giống như các hàng hóa thông thường
Theo học thuyết giá trị của C Mác thì mọi hàng hóa đều có 2
thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng; trong đó, giá trị hàng hóa
phan ánh mức hao phí lao động xã hội kết tỉnh trong hàng hóa, còn giá trị sử dụng của hàng hóa thể hiện công năng, tác dụng của hàng hóa mang lại cho người sử dụng
Theo quan điểm đầu tư hiện đại, giá trị của hàng hóa không phải dựa trên cơ sở các hao phí đã phát sinh để hình thành nên hàng
hóa, mà phải dựa trên cơ sở lợi ích mà hàng hóa đó mang lại trong tương lai cho người sở hữu nó
Có thể thấy rằng, theo góc độ xem xét khác nhau thì quan niệm
về giá trị hàng hóa cũng không giống nhau; tuy nhiên, có hai vấn đề được đề cập đến trong phạm trù giá trị của hàng hóa đó là: @) Cac hao
phí đã phát sinh để hình thành nên hàng hóa; (1) Những lợi ích mà
hàng hóa đó mang lại trong tương lai cho người ¡mua - sở hữu chúng
Doanh nghiệp là một hàng hóa, vì vậy nó cũng có giá trị Khi một nhà đầu tư cân nhắc việc bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp, hay khi nhà quản trị doanh nghiệp cân nhắc việc đưa ra các quyết định
đầu tư, quyết định tài chính phù hợp và hiệu quả đều cần phải xác định được giá trị của doanh nghiệp
Dưới góc độ quản trị tài chính doanh nghiệp, lợi ích mà nhà đầu tư
nhận được từ doanh nghiệp thể hiện qua dòng tiền mà doanh nghiệp đó mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai Các nhà quản trị doanh
nghiệp hiểu rằng tiển có giá trị theo thời gian; vì vậy khi bỏ vốn đầu tư vào một doanh nghiệp, các nhà đầu tư yêu cầu khoản đầu tự đó phải đạt được tỷ suất sinh lời bằng với chi phí cơ hội của vốn Với quan điểm
Trang 24
GIÁO TRÌNH TẢI CHÍNH DOANH NGHIỆP
đầu tư nhằm mục đích sinh lời thì cách xác định giá trị doanh nghiệp phổ biến nhất là chiết khấu dòng tiền thu nhập mà doanh nghiệp mang
lại trong tương lai về thời điểm hiện tại theo tỷ suất sinh lời đòi hỏi của
nhà đầu tư Do dé, gid tri doanh nghiệp chính là tổng giá trị hiện tại
của dòng tiền mà nhà đâu tư nhận được trong tương li do doanh
nghiép mang lai
Công thức tổng quát xác định giá trị của doanh nghiệp:
_ n CF
iat (1+r)!
Trong đó: V: Là giá trị doanh nghiệp
CF,: La dong tiền doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư
r: Là tỷ suất chiết khấu (à tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư
Từ công thức trên cho thấy: Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào
các yếu tố: Dòng tiền, tỷ lệ tăng trưởng của dòng tiển trong tương lai
và tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư Trong đó, dòng tiền và tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư thường có quan hệ biến thiên cùng chiều Bởi vì, một khi dòng tiển có khả năng tăng trưởng cao cũng đồng thời sẽ đưa lại rủi ro cao, khi đó tỷ suất sinh lời đồi hỏi của nhà đầu tư cũng sẽ tăng lên để đánh đổi lấy rủi ro Do vậy, giá trị doanh nghiệp sẽ biến thiên cùng chiều với sự gia tăng của dòng tiền,
nhưng lại biến thiên ngược chiều với sự gia tăng của rủi ro đưa lại
1.2.4.2 Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp
Kï¡nh tế chính trị học và kinh tế học vi mô cho rằng mục tiêu
của một doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động kinh doanh là
nhằm tối đa hóa lợi nhuận Tối đa hóa lợi nhuận hàm ý nhấn mạnh việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra nhiều của cải vật
chất hơn cho doanh nghiệp Để đạt được điều này, các nhà quản lý
thường cố gắng để tăng giá bán hoặc tiết kiệm chỉ phí Tuy nhiên, mục tiêu này được xem xét trong điều kiện giản đơn, đặt trong bối
24 Học viện Tời chính
Trang 25
Phồn 1: Tổng quan vé tai chính doanh nghiệp
cảnh thế giới tĩnh, tức là chưa xem xét đến các yếu tố phức tạp khác như thời gian, sự rủi ro, sự tăng trưởng trong tương lai Trong thế giới hiện thực sống động, các nhà quản trị tài chính đang phải đối mặt với việc xử lý hai vấn đề lớn mà mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã
bỏ qua không xem xét tới là thời gian và rủi ro trong tương lai khi
đưa ra các quyết định của mình
Tối đa hóa lợi nhuận có thể là một tiêu chuẩn để ra quyết định
khi xem xét lợi nhuận được tạo ra tại một thời điểm, nhưng lại không thể áp dụng để xem xét lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời
kỳ, tức là không giải quyết vấn đề thời gian sinh lời của dự án
Chẳng hạn có hai dự án đầu tư cùng đem lại tổng lợi nhuận trong
suốt đời hoạt động là như nhau, nhưng nếu như dự án có số lợi
nhuận phát sinh lớn trong những năm đầu sẽ tốt hơn so với dự án có lợi nhuận phát sinh lớn trong các năm về sau Điều đó có nghĩa là
thời điểm phát sinh dòng tiền là yếu tố phải được tính đến trong các quyết định tài chính nhằm tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu Thực ra,
ai cũng muốn có lợi nhuận càng sớm càng tốt, nhưng yếu tố thực tế
về thời gian buộc chúng ta phải có cái nhìn xa hơn mục tiêu đơn giản
là tối đa hóa lợi nhuận
Vấn để rủi ro trong các quyết định đầu tư cũng phải được xem xét trong các quyết định tài chính Chẳng hạn, nếu như hai dự án đều
mang lại lợi nhuận như nhau, nhưng mức độ rủi ro lại khác nhau, thì
dự án có mức độ rủi ro thấp hơn sẽ được lựa chọn Thậm chí, ngay cả khi dự án có thể thu được lợi nhuận cao hơn, nhưng nếu mức độ rủi ro lớn hơn thì chưa chắc dự án đã được lựa chọn |
Như vậy, nhìn ở góc độ sản xuất kinh doanh thì tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu phù hợp, nhưng ở góc độ tài chính thì lợi ích đạt được cho chủ sở hữu phải là tối đa hóa giá trị, nghĩa là phải tính tới
giá trị thời gian của tiền và mức độ rủi ro của khoản đầu tư Khi một
công ty đầu tư vốn vào một dự án có thể thu được 10 đồng lợi nhuận
trên 100 đồng vốn đầu tư Liệu đó có phải là quyết định tối ưu không
Học viện Tời chính 25
Trang 26GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
khi mà doanh nghiệp có thể đạt được 12 đồng lợi nhuận nếu đem số
tiền đó đầu tư vào dự án khác có cùng mức độ rủi ro Khi đó công ty
có cố gắng tối đa hóa lợi nhuận để đạt được 10 đồng thì cũng không tối đa hóa lợi ích cho chủ sở hữu
Các quyết định tài chính được so sánh và lựa chọn thông qua việc xác định giá trị dự kiến của chúng Tuy nhiên, với mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận, mức độ rủi ro đã không được tính đến Trên thực
tế, các quyết định tài chính có mức độ rủi ro rất khác nhau và việc coi
nhẹ sự khác biệt này trong thực tiễn quản trị tài chính có thể dẫn tới những quyết định tài chính thiếu chính xác
Từ lập luận trên cho thấy, đứng ở góc độ tài chính doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng trong quản trị tài chính là ra quyết định tài chính nhằm tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu, hay cổ đông trong công ty Để làm rõ mục tiêu này, chúng ta cần đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kết hợp với việc xử lý yếu tố thời gian và rủi ro trong môi trường kinh doanh đầy sự biến động
Đối với công ty cổ phần, tối đa hóa giá trị của cổ đông đồng
nghĩa với việc tối đa hóa giá trị thị trường của số cổ phiếu thường mà các cổ đông đang nắm giữ, bởi nó bao gồm những tác động của các quyết định tài chính như: Quyết định đầu tư vốn, quyết định huy động vốn và quyết định chia cổ tức Nếu như các nhà đầu tư nhận thấy các quyết định đầu tư, hay quyết định chia cổ tức của công ty là không hợp lý thì họ sẽ phản ứng tiêu cực đối với cổ phiếu của công ty, hậu quả là giá cổ phiếu sẽ bị sụt giảm Ngược lại, họ sẽ phân ứng tích cực trước các quyết định đầu tư, tài trợ vốn hay chia cổ tức hợp lý từ
Ban lãnh đạo công ty và điều đó sẽ góp phần đẩy giá cổ phiếu lên cao
Tóm lại, việc lựa chọn những quyết định tài chính đúng đắn là cơ sở tạo ra giá trị cho các cổ đông của công ty
Giá cổ phiếu của một công ty cổ phần phụ thuộc vào nhiều yếu
tố thuộc về khách quan và chủ quan; vì vậy, rất khó xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới giá cổ phiếu trên thị
26 Học viện Tỏi chính
Trang 27Phần 1: Tổng quơn về tời chính doanh nghiệp
trường Tuy nhiên, xét trong dài hạn và trong điều kiện thị trường
tài chính hoàn hảo, giá của cổ phiếu tương đương với giá trị của công
ty Khi đó, giá cổ phiếu của công ty trên thị trường phản ánh giá trị công ty theo đánh giá của các chủ sở hữu và có xem xét đến những phức tạp của yếu tố thời gian và rủi ro trong thực tế,
Tóm lại: Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp là nhằm tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu, hay tối đa hóa giá cổ phiếu của công
ty trên thị trường
Có thể thấy rằng, khi mà giá trị doanh nghiệp hay cổ phiếu đạt
được mức tối đa cũng đồng nghĩa với việc đã tối đa hóa lợi ích của nhà đầu tư là chủ sở hữu của công ty Đây chính là mục tiêu cho các
nhà quản trị tài chính khi tham gia vào việc phân tích, đánh giá và
lựa chọn các quyết định tài chính của doanh nghiệp
1.9.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị tài chính
doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp trong các doanh nghiệp là không
giống nhau Sự khác biệt đó chịu sự chi phối của các nhân tố cơ bản là
hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của ngành kinh doanh và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
1.9.5.1 Hình thức pháp lý tổ chúc doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều tổn tại dưới những hình thức pháp lý nhất định về tổ chức doanh nghiệp Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có 4 hình thức pháp lý cơ bản của doanh nghiệp bao
gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức tài chính doanh nghiệp như: Phương thức hình thành và
huy động vốn, việc tổ chức quản lý sử dụng vốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với khoản nợ của doanh nghiệp
Học viện Tỏi chính 27
Trang 28GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Những ảnh hưởng của hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp đến quản trị tài chính của các loại hình doanh nghiệp thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
* Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân
làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
- Chủ doanh nghiệp là người đầu tư bằng vốn của mình và cũng
có thể huy động thêm vốn từ bên ngoài qua các hình thức đi vay Tuy
nhiên, việc huy động vốn từ bên ngoài là rất hạn hẹp và loại hình
doanh nghiệp này không được phép phát hành bất kỳ loại chứng
khoán nào để huy động vốn trên thị trường Qua đó, cho thấy nguồn
vốn của doanh nghiệp tư nhân là rất hạn chế; vì vậy loại hình doanh
nghiệp này thường thích hợp với việc kinh doanh quy mô nhỏ
- Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, có quyền
cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình, có quyền bán doanh nghiệp
của mình cho người khác hoặc có quyền tạm ngừng hoạt động kinh
doanh Việc thực hiện cho thuê hay bán doanh nghiệp hoặc tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải tuân thủ các yêu
cầu của pháp luật hiện hành
- Lợi nhuận sau thuế là tài sản hoàn toàn thuộc quyền sở hữu
và sử dụng của chủ doanh nghiệp
- Trong hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
Điều đó cũng có nghĩa là về mặt tài chính, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, Đây
cũng là một điều bất lợi của hình thức doanh nghiệp này
* Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn
28 Học viện Tỏi chính
Trang 29Phần 1: Tổng quen về tòi chính doanh nghiệp
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn
và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vì số vốn đã góp vào công ty
- Trong công ty hợp danh, các thành viên hợp danh có quyển quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công
ty Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ
của công ty Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ
lệ được quy định tại điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản
lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty
- Ngoài vốn điều lệ, công ty hợp danh có quyền lựa chọn hình
thức huy động vốn theo quy định của pháp luật, nhưng không được
phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn
- Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với
khoản nợ của công ty còn thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về _ khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty
* Công ty trách nhiệm hữu hạn
Theo Luật Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam, có hai dạng
công ty trách nhiệm hữu hạn: Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành uiên trở lên:
Là doanh nghiệp, trong đó:
- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ
tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp `
vào doanh nghiệp
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật
Học viện Tòi chính 29
Trang 30GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên
không vượt quá năm mươi
- Thành viên của công ty có quyền biểu quyết tương ứng với phần vốn góp Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết Ngoài phần vốn góp của thành viên, công ty có quyền lựa
chọn hình thức và cách thức huy động vốn theo quy định của pháp
luật, nhưng công ty không được quyển phát hành cổ phiếu
- Trong quá trình hoạt động, theo quyết định của Hội đồng
thành viên, công ty có thể tăng hoặc giảm vốn điều lệ theo quy định của pháp luật
- Lợi nhuận sau thuế thuộc về các thành viên của công ty, việc
phân phối lợi nhuận do các thành viên quyết định, số lợi nhuận mỗi thành viên được hưởng tương ứng với phần vốn góp công ty
+ Công ty trách nhiệm hữu han mét thanh vién: La doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi
là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
- Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ
ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Đối với công ty TNHH một thành viên, phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của công ty: Chủ sở hữu
công ty là cá nhân phải tách biệt các chi tiêu của cá nhân và gia đình
mình với các chỉ tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc
- Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành
cổ phiếu
* Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
30 Hoc vién Tdi chinh
Trang 31Phồn 1: Tổng quơn về tời chính doanh nghiệp
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho
người khác, trừ trường hợp có quy định của pháp luật
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu
là ba và không hạn chế số lượng tối đa
- Ngoài các hình thức huy động vốn thông thường, công ty cổ
phần có thể phát hành các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) ra
công chúng để huy động vốn nếu đủ tiêu chuẩn theo luật định
- Việc phân phối lợi nhuận sau thuế thuộc quyền quyết định của
Đại hội đồng cổ đông công ty
Trong nền kinh tế thị trường, loại hình công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp chủ yếu, có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân do những ưu thế của nó Cụ thể:
+ Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn lớn: Loại hình này
có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn trực tiếp trên thị trường tài chính
+ Khả năng tự giám sát rất cao trong các hoạt động của công ty: Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp đa sở hữu; vì vậy tất yếu các chủ sở hữu phải xác lập sự giám sát của mình đối với các hoạt động của công ty, đặc biệt là đối với hoạt động tài chính Điều này
góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, ổn định và minh bạch
của công ty cổ phần
+ Cổ đông có thể chuyển nhượng khoản đầu tư dễ dàng, điểu
này tạo tính thanh khoản, linh hoạt và hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư Đối với công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với tài sản của công ty nên các cổ đông của công ty được tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác (trừ cổ đông sáng lập có thể bị hạn chế) |
+ Ngoài ra, thu nhập của cổ đông bao gồm cổ tức được chia từ
lợi nhuận sau thuế và chênh lệch giá cổ phần Chính điều này đã làm
Học viện Tời chính 31
Trang 32GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
cho các quyết định tài chính trở nên quan trọng, có tác động không
chỉ đến lợi nhuận của doanh nghiệp, mà xa hơn là tác động tới giá cổ phiếu của công ty trên thị trường Khi đó, lợi ích của chủ sở hữu bị
tác động bởi sự thay đổi giá cổ phiếu trên thị trường
Tom lợi, khi phân tích đánh giá và lựa chọn các quyết định tài chính thì nhà quản trị tài chính không thể bỏ qua hình thức pháp lý của doanh nghiệp, bởi với mỗi hình thức pháp lý doanh nghiệp sẽ có những đặc điểm khác nhau trong việc lựa chọn các quyết định tài
chính, chẳng hạn như quyết định về huy động vốn hay quyết định về việc phân phối lợi nhuận
Trong các chương tiếp theo chủ yếu chú trọng vào các quyết định
tài chính của loại hình công ty cổ phần Mặc dù ở Việt Nam hình thức pháp lý này không phải là duy nhất, nhưng xét về lâu dài thì công ty
cổ phần là sự lựa chọn hợp lý nhất cho công ty có quy mô lớn và đang
trên đà phát triển, trong điều kiện nền kinh tế thị trường
1.2.5.2 Dade điểm binh tế - kỹ thuật của ngành hình doanh
Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thưởng được thực hiện trong một hoặc một số ngành kinh doanh nhất định Mỗi ngành
kinh doanh có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng có ảnh hưởng
không nhỏ tới việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp
- Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch
vụ thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của
vốn lưu động cũng nhanh hơn so với các ngành nông nghiệp, công
nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng Ở các ngành này, vốn cố định thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưu động, thời gian thu hổi vốn cũng
chậm hơn
- Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiển bán hàng, nhờ đó có thể dễ dang bao
32 : Hoc vién Tai chinh
Trang 33Phổn 1: Tổng quœn về tời chính doanh nghiệp
đảm cân đối giữa thu và chi bằng tiển, cũng như bảo đảm nguồn
vốn cho nhu cầu kinh doanh Ngược lại, những doanh nghiệp sản
xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu về vốn lưu động
giữa các thời kỳ trong năm chênh lệch nhau rất lớn, giữa thu và chi
bằng tiền thường có sự không ăn khớp nhau về thời gian Đó là điều phải tính đến trong việc tổ chức tài chính, nhằm bảo đảm vốn kịp thời, đầy đủ cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như bảo đảm cân đối giữa thu và chi bằng tién
1.2.ð.3 Môi trường binh doarth
Doanh nghiệp tổn tại và phát triển trong môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều
kiện bên trong và bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp: Môi trường kinh tế - tài chính, môi trường chính trị, môi
trường luật pháp, môi trường công nghệ, môi trường văn hóa - xã
hội Dưới đây, xem xét tác động của môi trường kinh tế tài chính
đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp
- Cơ sở hạ tầng của nền khinh tế: Nếu cơ sở hạ tầng phát triển (hệ thống giao thông thông tin liên lạc, điện, nước ) thì sẽ giảm bót được nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện
cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh
- Tình trạng của nên binh tế: Một nền kinh tế đang trong quá trình tăng trưởng thì có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư phát
triển, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực áp dụng các biện pháp
huy động vốn để đáp ứng yêu cầu đầu tư Ngược lại, nền kinh tế đang
trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp khó có thể tìm được cơ
hội tốt để đầu tư
- Lai suất thị trường: Lãi suất thị trường là yếu tố tác động rất lớn đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Lãi suất thị trường _ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư, đến chi phí sử dụng vốn và cơ hội huy
Học viện Tỏi chính 33
Trang 34GIAO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
động vốn của doanh nghiệp Mặt khác, lãi suất thị trường còn ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi lãi suất thị trường tăng cao, thì người ta có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng, điều đó hạn chế đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
- Lam phát: Khi nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao thì việc
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp căng thẳng Nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích cực thì có thể còn bị thất thoát vốn
"kinh doanh Lạm phát cũng làm cho nhu cầu vốn kinh doanh tăng lên và tình hình tài chính doanh nghiệp không ổn định
- Chính sách binh tế uò tòi chính của Nhà nước đốt uới doanh
nghiệp: Như các chính sách khuyến khích đầu tư; chính sách thuế;
chính sách xuất khẩu, nhập khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định đây là yếu tố tác động lớn đến các vấn đề đề tài chính của
doanh nghiệp
- Mức độ cạnh tranh: Nếu doanh nghiệp hoạt động trong những
ngành nghề, lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp
phải đầu tư nhiều hơn cho việc đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng _eao chất lượng sản phẩm, cho quảng cáo, tiếp thị và tiêu thụ sản
phẩm
- Thị trường tời chính uò hệ thống các trung gian tòi chính:
Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi mà
doanh nghiệp có thể huy động gia tăng vốn, đồng thời có thể đầu tư
các khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi để tăng thêm mức sinh lời của
vốn hoặc có thể dễ dàng hơn thực hiện đầu tư dài hạn gián tiếp Sự
phát triển của thị trường làm đa dạng hóa các công cụ và các hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như sự xuất hiện và phát triển các hình thức thuê tài chính, sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
34 Hoc vién Tdi chinh
Trang 35Phổn 1: Tổng quơn về tài chính doanh nghiệp
Hoạt động của các trung gian tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Sự phát triển lớn mạnh
của các trung gian tài chính sẽ cung cấp các dịch vụ tài chính ngày
càng phong phú, đa dạng hơn cho các doanh nghiệp, như sự phát triển của các ngân hàng thương mại đã làm đa dạng hóa các hình thức thanh toán như thanh toán qua chuyển khoản, thẻ tín dụng và chuyển tiền điện tử Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trung gian
tài chính tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng nguồn vốn tín dụng với chi phí thấp hơn
Khi xem xét tác động của môi trường kinh tế - tài chính không
chỉ xem xét ở phạm vi trong nước mà còn cần phải xem xét đánh giá
môi trường kinh tế tài chính trong khu vực và trên thế giới Hiện
nay, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, những biến động lớn về kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giới ảnh hưởng mau lẹ đến nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của một quốc gia
1.3 §IÁM ĐỐC TÀI PHÍNH D0ANH NGHIỆP
Gidm déc tai chinh (tiéng Anh: Chief Financial Officer, viét tat
là CFO) là thuật ngữ chỉ một chức danh, một vị trí hết sức quan trọng trong bộ máy quản lý doanh nghiệp Giám đốc tài chính - CFO
có thể được hiểu như người đứng đầu bộ máy quản lý tài chính của doanh nghiệp, là người chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về tổ chức công tác quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Công việc của một CFO có thể gói gọn lại trong việc chịu trách
nhiệm đưa ra ba quyết định chủ yếu: Quyết định về chính sách đầu
tư, quyết định về chính sách huy động vốn và quyết định về chính“ sách phân phối lợi nhuận Cụ thể, CFO phải chịu trách nhiệm chính
trong việc tổ chức thực hiện quản trị tài chính trong doanh nghiệp,
bao gồm các nội dung như nghiên cứu, phân tích và xử lý các vấn đề
thuộc lĩnh vực tài chính trong doanh nghiệp Họ cũng là người xây
Học viện Tời chính 95
Trang 36GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
dựng các kế hoạch về tài chính, khai thác, sử dụng các nguồn vốn sao
cho có hiệu quả, đồng thời đưa ra các dự báo hay nguy cơ đối với doanh nghiệp của mình Giám đốc tài chính cũng đồng thời kiểm soát
việc sử dụng tài sản trong công ty, tránh xảy ra thất thoát, lãng phí
và không đúng mục đích
Vai trò của giám đốc tài chính hoàn toàn khác với kế toán
trưởng Rất nhiều nhiệm vụ của giám đốc tài chính mà kế toán
trưởng không thể thực hiện được Ở các nước phát triển, giám đốc tài
chính là vị trí không thể thiếu trong các doanh nghiệp
Trong xu thế phát triển của kinh tế thị trường, cùng với sự phát
triển của thị trường tài chính ngày càng mạnh mẽ, đối với những
công ty có quy mô lớn, do các nghiệp vụ tài chính khá đa dạng, hoạt
động đầu tư, hoạt động tài chính diễn ra thường xuyên, nên các công
ty này thường bổ nhiệm một nhà quản trị tài chính chuyên trách được gọi là Giớm đốc tài chính để quản trị các công việc của bộ phận kế toán và công việc của bộ phận tài chính Giám đốc tài chính
tham gia sâu vào việc xây dựng các chính sách tài chính, các chiến
lược và kế hoạch tài chính cho hoạt động của công ty Giám đốc tài chính là một thành viên trong Ban giám đốc của công ty và chịu trách nhiệm toàn bộ các vấn đề về tài chính của doanh nghiệp
Cơ cấu bộ máy tổ chức của doanh nghiệp có xác lập chức danh
giám đốc tài chính có thể được thiết lập theo sơ đồ sau:
36 Học viện Tỏi chính
Trang 37Phển 1: Tổng quan vé tdi chinh doanh nghiệp
Chủ tịch Hội đồng quản trị
Ỷ Tổng giám đốc (CEO)
Chủ tịch HĐQT cũng có thể là Tổng giám đốc, nhưng các công ty lớn
thường tách độc lập giữa chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc để đảm
bảo điều hành khách quan và độc lập với lợi ích của các cổ đông Các
giám đốc phụ trách chuyên môn gồm có giám đốc phụ trách về hoạt
động kinh doanh, giám đốc phụ trách về hoạt động sản xuất (Giám
đốc kỹ thuật), giám đốc phụ trách về hoạt động quản trị tài chính, có
Học viện Tời chính 37
Trang 38
GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
một số công ty với số lượng lao động lớn cũng có thể có thêm vị trí giám đốc phụ trách về nhân sự
Qua sơ đồ trên, có thể phân biệt Giám đốc tài chính (CFO) và
Kế toán trưởng trên những điểm chính như sau: |
Kế toán trưởng quản lý tác nghiệp trong khi CEO quản lý nguồn lực tài chính Nhiệm vụ của Kế toán trưởng được quy định rõ trong Luật Kế toán Kế toán trưởng điều hành Bộ máy kế toán, thực hiện các quy trình tác nghiệp kế toán nhằm đảm bảo việc bảo vệ tài sản của doanh nghiệp trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan đến công tác kế toán và thống kê Trong khi đó, Giám đốc tài chính
thoát khỏi việc điều hành tác nghiệp để tiến tới một mức độ cao hơn, đó
là vận dụng các công cụ tài chính nhằm thực hiện tối ưu hóa hiệu quả
sử dụng vốn trong doanh nghiệp Ví dụ: Kế toán trưởng quản lý bộ máy
kế toán hướng đến việc tiết kiệm tối đa chi phí thông qua quy trình
kiểm soát chặt chẽ chi phí theo kế hoạch hoặc định mức, tránh thất thoát và lãng phí; còn CFO thì thực hiện tiết kiệm chi phí thông qua xác định chi phí đó có hiệu quả hay không Trong quyết định của CFO, một số loại chi phí cần cắt giảm, trong khi đó một số loại khác thì cần tăng lên Ví dụ: Theo CFO, những khoản chi phí nào tăng 2 lần mà làm
doanh thu tăng 3 lần thì không nên tiết kiệm làm gì
Kế toán trưởng chủ yếu lo về việc hạch toán, lập báo cáo, phân
bổ ngân sách cho sản xuất - kinh doanh Trong khi đó, các giám đốc tài chính lại dựa trên các báo cáo của kế toán để đưa ra các phương
án sản xuất - kinh doanh tối ưu, phân tích tình hình thị trường để quyết định mức đầu tư hợp lý Chính sự tương hỗ lẫn nhau của cả hai
trong công việc này sẽ giúp bộ máy tài chính doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả và trơn tru hơn
Trong cơ cấu bộ máy của công ty có CEO, giám đốc tài chính phụ trách quản lý 2 mảng là Kế toán và Tài chính Bộ phận kế toán
thực hiện nhiệm vu phan ánh và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế đã
phát sinh để cung cấp thông tin kế toán về tình hình nguồn lực tài chính hiện hành và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ kế
Trang 39
Phổn 1: Tổng quơn về tòi chính doanh nghiệp
toán đã qua Giám đốc tài chính đảm nhận nhiệm vụ phân tích, đánh giá và tư vấn lựa chọn các quyết định về chiến lược tài chính trong tương lai và lập kế hoạch đảm bảo cân đối các nguồn lực tài chính
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp ở tương lai
Do việc phân tích và đánh giá để tư vấn lựa chọn các quyết định
tài chính trong tương lai nên giám đốc tài chính phải luôn tính đến yếu tố thời gian và sự rủi ro trong việc quản trị tài chính Do vậy, giám đốc tài chính thường sử dụng các công cụ chủ yếu như báo cáo tài chính và các hệ số tài chính, phương pháp đòng tiền chiết khấu để tính đến yếu tố giá trị thời gian của tiền tệ, mô hình ước lượng rủi ro
và tỷ suất sinh lời, các mô hình dự báo nhu cầu tài chính và các quyền chọn để phòng ngừa rủi ro trong tương lai
Qua phân tích ở trên cho thấy, công việc của giám đốc tài chính có
thể tóm gọn lại trong việc chịu trách nhiệm tư vấn để lựa chọn ba quyết
định chủ yếu: Quyết định về chính sách đầu tư, quyết định về chính sách huy động vốn và quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận Mục tiêu của giám đốc tài chính là tư vấn ra quyết định nhằm tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu (cổ đông), nghĩa là các quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn, quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận phải dẫn đến kết quả là làm gia tăng giá trị tài sản cho cổ đông Để thực hiện được vai trò của mình, Giám đốc tài chính đồi hỏi phải có
trình độ rất cao và phải am hiểu rất nhiều lĩnh vực như: Thị trường tài
chính, Ngân hàng, Kế toán, Thuế, Luật kinh tế - tài chính , nắm vững được các chính sách kinh tế của quốc gia, các vấn đề về tài chính quốc tế
để có khả năng đưa ra các dự báo hợp lý cho việc đánh giá hiệu quả của
các chính sách tài chính để tư vấn lựa chọn và ra quyết định
Vai trò của giám đốc tài chính hiện nay ở nước ta hiện chưa được
coi trọng đúng mức Có khá nhiều doanh nghiệp không có chức danh
giám đốc tài chính mà chỉ có chức danh Kế toán trưởng, đồng thời bộ - phận tài chính thường được ghép vào bộ phận kế toán gọi chung là
phòng Tài chính - Kế toán Nhiệm vụ của Kế toán trưởng chủ yếu thể
hiện ở việc tổ chức công tác kế toán, kế toán thuế, quản lý quỹ, quan
Học viện Tời chính 39
Trang 40GIÁO TRÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
hệ với ngân hàng Các nghiệp vụ đánh giá hiệu quả chính sách huy động vốn, hiệu quả chính sách đầu tư vốn, đánh giá hiệu quả chính sách phân phối lợi nhuận, quản trị dòng tiền, lập kế hoạch tài chính
của doanh nghiệp được thực hiện không bài bản, thiếu khoa học và
thiên về cảm tính Đây là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
trong thời gian qua có khá nhiều doanh nghiệp hoạt động kém hiệu
quả, khả năng kiểm soát rủi ro hoạt động và rủi ro tài chính rất yếu - nhất là đối với các doanh nghiệp Nhà nước
Hiện nay, chỉ có rất ít doanh nghiệp Việt Nam có chức danh
giám đốc tài chính theo đúng nghĩa khoa học của vị trí này, nhưng hầu hết các CFO đều chưa được đào tạo bài bản Mặt khác, thị trường tài chính ở nước ta mới ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành và
phát triển, nên các giám đốc tài chính cũng chưa có điều kiện để phát
huy hết khả năng của mình Tại nhiều doanh nghiệp còn có sự nhầm lẫn giữa chức danh giám đốc tài chính với chức danh kế toán
trưởng Do đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 90% số
lượng doanh nghiệp, nên trong cơ cấu bộ máy tổ chức của phần lớn các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không xác lập chức danh Giám đốc tài chính Vai trò của giám đốc tài chính được đặt lên vai của giám đốc
và kế toán trưởng của doanh nghiệp Tình trạng thiếu giám đốc tài
chính đồng nghĩa với việc thiếu một cán bộ quản lý chuyên nghiệp nhằm thường xuyên đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp có
thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Trong nhiều trường
hợp, Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị hoàn toàn không nắm được
thực trạng tài chính của doanh nghiệp, khi phát hiện ra những dấu hiệu xấu như nợ khó đòi tăng lên quá mức cho phép, nợ phải trả cộng
dồn quá cao, hiệu quả kinh doanh thấp thì đã trở nên quá muộn
Với xu thế hội nhập kinh tế - tài chính ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ với các quốc gia trên thế giới, cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính thì vị trí, vai trò của giám đốc
tài chính doanh nghiệp trong tương lai không xa nữa sẽ được khẳng định và coi trọng đúng mức trong bộ máy quản trị doanh nghiệp
40 Học viện Tòi chính '