BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH:NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÃ SỐ NGÀNH: 304 ƯƠNG CÁ RÔ PHI ĐỎ Oreochromis spp VỚI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH:NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ NGÀNH: 304
ƯƠNG CÁ RÔ PHI ĐỎ (Oreochromis spp) VỚI CÁC
MẬT ĐỘ KHÁC NHAU Ở TRONG GIAI
Sinh viên thực hiện
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH:NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ NGÀNH: 304
ƯƠNG CÁ RÔ PHI ĐỎ (Oreochromis spp) VỚI CÁC
MẬT ĐỘ KHÁC NHAU Ở TRONG GIAI
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
LÊ MINH TUẤN MSSV: 06803055
LỚP: NTTS K1
Cần thơ, 2010
ThS TRỊNH QUỐC TRỌNG
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Sau 3 tháng thực tập từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010 tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, trực thuộc Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, áp dụng những kiến thức đã học và kinh nghiệm thực tế, nay luận văn đã được chỉnh sửa và hoàn thành
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Trịnh Quốc Trọng - Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ và cô Trần Ngọc Tuyền – Khoa Sinh Học
Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình chỉ dạy cho em suốt thời gian làm
đề tài
Em xin chân thành cảm ơn quí Thầy Cô – Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý báo trong những năm học vừa qua, tạo dựng hành trang để em bước vào cuộc sống sau này
Xin cảm ơn tất cả các anh chị trong Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến bổ ích để hoàn thành thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng em xin chúc quí Thầy Cô – Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô vui, khoẻ, công tác tốt và không ngừng con đường cống hiến cho sự nghiệp giáo dục
Với sự hiểu biết còn hạn hẹp và thu thập tài liệu còn hạn chế nên báo cáo tốt nghiệp không tránh khỏi những sai sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của quí Thầy Cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!
LÊ MINH TUẤN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH CÁC BẢNG iv
DANH SÁCH CÁC HÌNH v
CHƯƠNG 1 8
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
CHƯƠNG 2 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Phân loại 2
2.2 Đặc điểm sinh học 2
2.2.1 Đặc điểm hình thái 2
2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 2
2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng 3
2.2.4 Đặc điểm sinh sản 3
2.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá rô phi đỏ trên thế giới 4
2.4 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá rô phi đỏ ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 3 7
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 7
3.2 Đối tượng nghiên cứu 7
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 7
3.3.1 Vật liệu 7
3.3.2 Phương pháp 8
3.4 Ghi nhận các chỉ tiêu 10
3.4.1 Các chỉ tiêu môi trường 10
3.4.2 Các chỉ tiêu ương nuôi 10
Trang 53.5 Xử lý số liệu 10
CHƯƠNG 4 11
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 11
4.1 Chỉ tiêu môi trường ấp 11
4.2 Chỉ tiêu môi trường ương 11
4.3 Các chỉ tiêu về ương nuôi 13
4.3.1 Tăng trưởng về trọng lượng 13
4.3.2 Tăng trưởng về chiều dài 14
4.3.3 Tỷ lệ sống 15
CHƯƠNG 5 16
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 4.1: Chỉ tiêu môi trường ương 11 Bảng 4.2: Tăng trưởng khối lượng của cá rô phi đỏ trong giai ương 13 Bảng 4.3: Tăng trưởng chiều dài của cá rô phi đỏ trong giai ương 14
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 3.1: Thu trứng 8
Hình 3.2: Hệ thống ấp 8
Hình 3.3: Hệ thống giai ương 9
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của cá ương qua các đợt 15
Trang 8CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Cá rô phi đỏ (Oreochromis spp) hay còn được gọi là cá điêu hồng được nhập vào nước ta
năm 1985 từ Malaysia (http://www.nongnghiep.vn/nongnghiepvn/viVN/61/158/2/79/7 9/22649/Default.aspx), là loài cá dễ nuôi, lớn nhanh, chất lượng thịt ngon và rất được giới tiêu dùng ưa chuộng (Nguyễn Văn Kiểm, 2004), thịt cá có hàm lượng đạm cao, giá thành tương đối thấp, phù hợp cho người dân lao động có mức thu nhập thấp, được đánh giá là loài thủy sản sẽ phát triển mạnh về thị trường tiêu thụ và khả năng sẽ là đối tượng xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới (Bộ thuỷ sản, 2005)
Ở nước ta cá sống nhiều và thích hợp với điều kiện nước ngọt vùng châu thổ sông Mê
Kông Hiện nay giống cá này được sản xuất giống nhân tạo ở hầu hết các cơ sở sản xuất
cá giống trong vùng (http://www.nongnghiep.vn/nongnghiepvn/viVN/61/158/2/79/79/22 649/Default.aspx) Tuy nhiên nghề nuôi cá rô phi đỏ hiện đang gặp khó khăn về chất lượng con giống như tăng trưởng kém, sức sống thấp, tỉ lệ hao hụt cao (Trịnh Quốc Trọng, 2009)
Đề tài “ Ương cá rô phi đỏ với các mật độ khác nhau ” với mong muốn đáp ứng nhu
cầu con giống có chất lượng (tăng trưởng nhanh, tỉ lệ sống cao, sức khỏe tốt) là một đòi hỏi cấp thiết của nghề nuôi cá rô phi đỏ ở nước ta
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định mật độ ương thích hợp để đạt hiệu quả cao hơn trong quá trình ương nuôi
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Cho sinh sản tự nhiên cá rô phi đỏ
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương khác nhau lên sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của
cá từ giai đoạn cá bột đến 30 ngày
Trang 9CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
thể có màu vàng, màu hồng xen lẫn những
đám vẫy màu đen nhạt (Dương Nhựt Long,
2004) Thân cao, hình hơi bầu dục, dẹp bên
Đầu ngắn miệng rộng hướng ngang Hai hàm
dài bằng nhau Lỗ mũi gần mắt hơn mõm
Mắt tròn ở nữa trước và phía trên đầu, khoãng cách giữa hai mắt rộng Khởi điểm vây lưng ngang với khởi điểm vây ngực, trước khởi điểm vây bụng Vây ngực nhọn, dài, mềm Vây bụng to, cứng, chưa tới lỗ hậu môn Miệng cá bằng 1/9 chiều dài thân, có nhiều hàng răng nhỏ sắc (Trần Văn Huỳnh, 1980)
2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá rô phi đỏ ăn tạp thiên về thực vật, có thể ăn mùn bả hữu cơ Do đó nguồn thức ăn cho
cá rất đa dạng, bao gồm các loại cám thực phẩm, khoai củ, ngũ cốc, v.v ngoài ra có thể tận dụng các nguyên liệu phụ phẩm từ các nhà máy chế biến khả năng chịu phèn kém
Trang 10nhưng có thể phát triển tốt ở vùng nước lợ mặn 25 ppt, thủy sản (như vỏ tôm, râu mực,
đầu cá, v.v ) hay các phụ phẩm lò giết mổ gia súc để chế biến thành các nguồn thức ăn
phụ cung cấp cho cá nuôi Mặt khác có thể chọn loài ốc bươu vàng làm nguồn thức ăn tươi sống để cho cá ăn (http://vietlinh.com.vn/kithuat/ca/carophi/tech_carophi/dacdiem sinhlysinhhoc.htm)
Nhu cầu protein ở cá rô phi đỏ cũng khá cao từ 28-35% (Lê Thanh Hùng, 2008) Ở giai
đoạn cá hương chúng ăn sinh vật phù du chủ yếu là động vật phù du Giai đoạn cá giống đến cá trưởng thành chúng ăn mùn bã hữu cơ, thực vật phù du
2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng
Sau một tháng tuổi cá có thể đạt trọng lượng 2 – 3 g/con và sau khoảng 2 tháng tuổi có thể đạt 10 – 12 g/con Cá cái sẽ lớn chậm hơn sau khi tham gia sinh sản trong khi đó cá
đực vẫn lớn bình thường vì vậy trong đàn cá rô phi cá đực bao giờ cũng có kích thước
lớn hơn cá cái Sau khoảng 5 – 6 tháng nuôi cá rô phi có thể đạt 200 – 250 g/con và con cái có thể đạt 150 – 200 g/con (Dương Nhựt Long, 2004)
Tốc độ lớn của cá rô phi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật độ thả và kỹ thuật chăm sóc Khi nuôi thâm canh cá lớn nhanh hơn khi nuôi bán thâm canh hay là nuôi ghép (Http://www.vietnamgateway.org/vanhoaxa/faq/index.php?action=article&cat_id=
30 0&id=1031)
2.2.4 Đặc điểm sinh sản
Sau 4 – 5 tháng tuổi cá rô phi có thể tham gia sinh sản Những loài rô phi nuôi ở nước ta
đều có tập tính làm tổ đẻ ở đáy ao Khi sinh sản, làm tổ bằng cách dùng đuôi quậy bùn và đào hố dưới đáy ao, đường kính tổ đẻ phụ thuộc vào kích cỡ con đực Sau khi tổ làm
xong cá tự ghép đôi và tiến hành đẻ trứng Hầu hết các loài rô phi đều đẻ nhiều lần trong năm Số trứng trong một lần đẻ phụ thuộc vào kích cỡ cá cái, trung bình mỗi lần cá đẻ từ
1000 – 2000 trứng (Dương Nhựt Long, 2004)
Sau khi đẻ xong cá cái ngậm trứng và cá con mới nở trong miệng (cá con được giữ trong miệng đến khi hết noãn hoàng) Trong thời gian ngậm trứng và nuôi con, cá cái không bắt mồi vì vậy cá không lớn, cá chỉ bắt mồi trở lại khi đã giải phóng hết con trong miệng
Cá mẹ lại bắt mồi và chuẩn bị cho chu kỳ sinh sản mới Thời gian giữa hai lứa đẻ tùy thuộc vào thức ăn, tuổi cá, nhiệt độ,…(Dương Nhựt Long, 2004)
Trứng thụ tinh được cá cái nhặt ấp trong miệng, sau 3-5 ngày trứng nở, cá mẹ tiếp tục
chăm sóc 9-10 ngày, sau đó cá con rời khỏi mẹ và sống độc lập (Phương và ctv, 1994)
Trang 112.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá rô phi đỏ trên thế giới
Từ sau thế chiến thứ 2, cá rô phi trở thành loài cá nuôi quan trọng Người Nhật đã giúp
phát triển loài này ở Indonexia, Malayxia, và các nước châu Á khác Hiện nay, cá rô phi
được nuôi ở khắp nơi trên thế giới (Phạm Anh Tuấn, 1996)
* Ở Đài Loan được coi là đi đầu về nuôi cá rô phi ở khu vực (từ 1946) và đạt sản lượng
cao nhất thế giới 80.000 tấn năm 1982 Năm 1999 chỉ còn 57.269 tấn (54 triệu USD),
năm 2000 khoảng 50.000 tấn (60 triệu USD) và chiếm 24% sản lượng cá nuôi ở Đài
Loan Diện tích nuôi trên 8.300 ha (2000), có 1921 ha nuôi đơn trong ao, 5830 ha nuôi
ghép trong ao Phương thức nuôi cá rô phi đỏ ở Đài Loan: nuôi đơn trong bể ximent hình
bát giác (tám cạnh) 100 m2, với nước tuần hoàn và sục khí Cỡ cá thả 100 – 200 gam, mật
độ 50 – 100 con/ m2
Dùng thức ăn công nghiệp 3 – 4 lần/ngày Sau 3– 4 tháng nuôi thu hoạch được 3– 4 tấn/bể, cỡ cá trung bình 600 gam, tỉ lệ sống 90% và hệ số thức ăn 1,2 –
1,4 Ngoài ra còn nuôi trong bè 7 × 7 × 2,5 m, cỡ mắt lưới bao quanh bè 1 cm Cá thả 20
– 30 gam/ con, mật độ 4.000 – 5.000 con/ bè Dùng thức ăn viên cho ăn 3 lần một ngày
Cá đạt cỡ thương phẩm 600 gam sau 4–5 tháng nuôi Sản lượng 1 bè 4,3–5,4 tấn/2 vòng
nuôi một năm Tuy sản lượng giảm nhưng sản phẩm rô phi Đài Loan có chất lượng rất
cao (http://www.sonongnghiep.binhthuan.gov.vn/pages/home.asp?p=xem&g=1&m=4&n
=1&j=42)
* Ở Indonesia cá rô phi đỏ được nuôi ghép với các loài như cá chép, cá mè vinh, tai
tượng trong mô hình nuôi kết hợp, cho cá ăn thức ăn hoặc dùng phân bón Nuôi cá bè
phát triển trên sông, kênh thủy lợi, hồ chứa Bè có kích thước 7 x 7 x 2 m, thả 100 – 150
kg cá giống, cho cá ăn thức ăn công nghiệp, sau 60 – 120 ngày thu được 626 – 1.200 kg
cá cỡ 250 – 300 gam cho một bè nuôi Với cá đơn tính đực thả 2.500 con/ bè (cỡ cá
50gam, cho ăn thức ăn công nghiệp) Sau 120 ngày thu được 1.000 kg cá/bè với hệ số
thức ăn 1,2 Nuôi trong ao nước lợ (15 ppt) diện tích 4.000m2 cỡ cá 3 – 5 cm thả 10.000
con/ao, cho cá ăn thức ăn công nghiệp Thu hoạch cá sau 110 ngày đạt cỡ 200 gam năng
suất 1,7–2 tấn/ao, tỉ lệ sống 80–85% (http://www.sonongnghiep.binhthuan.gov.vn/pages/
home.asp?p=xem&g=1&m= 4&n=1&j=42)
* Ở Thái Lan đã hoàn thiện công nghiệp tạo cá rô phi đơn tính đực và ứng dụng phổ biến
trong thập niên 90 thế kỷ trước, từ kỹ thuật của AIT Có trại sản xuất giống được xây
dựng năm 1994, đến nay mỗi năm sản xuất 10 – 20 triệu cá giống đơn tính (99% đực)
Về nuôi: ước tính 80% nuôi trong ao nước ngọt và 20% trong ruộng lúa (cả rô phi đỏ và
rô phi vằn) Nuôi ghép với cá khác như chép, mè vinh, mè trắng, mè hoa và một số loài
cá bản địa khác Nuôi kết hợp trên là chuồng nuôi gà, dưới là ao cá (nuôi thâm canh), khá
Trang 12phát triển và năng xuất tương đối cao (20-30 tấn/ha) Hiện nay tổng sản lượng cá rô phi của Thái Lan khoảng 150 ngàn tấn/năm (1998: 147.522 tấn) (http://www.sonongnghiep Binhthuan.gov.vn/pages/home.asp?p=xem&g=1&m=4&n=1&j=42)
* Ở Malaysia được nhập công nghệ nuôi thâm canh cá rô phi đỏ trong bè từ Singapore trong thập niên 1980 Cá giống 25–125 gam/con được thả nuôi trong bể ximent tam giác (33 × 14 × 15 m) với 250 – 1.000 kg cá giống /bể Cho ăn thức ăn công nghiệp và thay nước Sau 4 tháng nuôi thu hoạch 4 – 6 tấn/ bể, cỡ cá 550 – 750 gam, hệ số thức ăn 1,9 và
tỷ lệ sống 84% Nuôi thâm canh trong bè đặt trong sông, hồ chứa Bè kích thước 4 × 3 ×
2 m thả 2.000 cá (cỡ 0,7 kg), nuôi sau 2 tháng thì giảm số lượng cá trong bè còn 600 con/bè, nuôi tiếp 2 tháng để đạt cỡ1 kg/con và đưa xuất khẩu Tỷ lệ sống thường đạt 90%, hệ số thức ăn 1,7
Ngoài các nước trên, nuôi rô phi đỏ còn phát triển ở các nước như Singapore (trong bè ngoài biển), Myamar (ao nước ngọt) (http://www.sonongnghiep.binhthuan.gov.vn/pages /home.asp?p=xem&g=1&m=4&n=1&j=42)
2.4 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá rô phi đỏ ở Việt Nam
Có thể áp dụng các phương pháp cho cá đẻ và thu cá bột như sau :
- Phương pháp nuôi cá bố mẹ trong ao và cho đẻ tự nhiên: Cá bố mẹ được nuôi trong ao
và cho ăn thức ăn đầy đủ, với thức ăn hỗn hợp chế biến hoặc thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm từ 25-28%, khẩu phần ăn 1-1,5%/ngày Sau khi cá đẻ thì chuyển cá bố
mẹ sang ao nuôi vỗ khác để cho đẻ lứa tiếp theo và dùng ao cá đã đẻ làm ao ương cá bột thành cá giống Cách này dễ áp dụng cho các gia đình để tạo nguồn cá giống thả bù cho các lần đánh tỉa cá thịt Với cách này thì khó có thể sản xuất được số lượng lớn cá giống
để bán (http://www.sonongnghiep.binhthuan.gov.vn/pages/home.asp?p=xem&g=1&m=4
&n=1&j=42)
- Phương pháp thứ hai : Thả cá bố mẹ vào ao để cá đẻ tự nhiên, nuôi vỗ và chăm sóc cá như ở phương pháp trên Sau khi cá đẻ thì ương nuôi cá bột và thu hoạch cá hương, cá giống đã được ương lớn trong ao Biện pháp này cũng cho năng suất thấp vì khi ương nhiều thế hệ trong ao, cá bột sẽ hao hụt nhiều do bị cạnh tranh thức ăn và có tình trạng cá
ăn thịt lẫn nhau ở các cỡ cá (http://www.sonongnghiep.binhthuan.gov.vn/pages/home
asp?p=xem&g=1&m=4&n=1&j=42)
- Phương pháp thứ ba: Thả cá bố mẹ vào ao đẻ, nuôi vỗ sau khoảng 2 tuần (ở nhiệt độ trung bình 300 C và phương pháp chăm sóc như trên), thì cá bố mẹ sẽ bắt đầu đẻ trứng Khi cá đẻ xong, dùng vợt vớt hết cá bột chuyển sang ương ở một ao riêng biệt Lúc này
Trang 13cá bột thường có tập tính bơi quanh bờ ao nên dễ dàng dùng vợt để vớt chúng Cách thứ
ba này tuy năng suất có thể cao hơn nhưng vẫn không thu được hết cá bột trong lứa đẻ (http://www.sonongnghiep.binhthuan.gov.vn/pages/home.asp?p=xem&g=1&m=4&n=1&j=42)
- Phương pháp thứ tư thì chủ động thu trứng hoặc cá bột rô phi đỏ để ương ấp nhân tạo Chọn cá bố mẹ có trọng lượng từ 400-500 gam, với tỷ lệ cá đực/ cá cái là 1/1 Cá bố mẹ
có thể nuôi vỗ trong ao đất hoặc bể xi măng hay trong giai với mật độ thả từ 4-5 con/m2 Cho ăn đầy đủ chất lượng và khẩu phần để cá thành thục và đẻ tốt Khi cá bố mẹ đã thành thục và sẵn sàng đẻ trứng thì ta chuyển cá vào giai cho đẻ Khi cá bố mẹ đã đưa vào giai cho đẻ thì cứ 3-5 ngày thu trứng một lần, tùy theo nhiệt độ nước Trứng sau khi thu thì
được phân chia theo giai đoạn phát triển, làm sạch và ấp riêng từng lứa Sau khi nở, các
lứa tuổi cá bột khác nhau cũng được ương riêng (http://www.sonongnghiep.binhthuan gov.vn/pages/home.asp?p=xem&g=1&m=4&n=1&j=42)
Từ năm 1994 đến nay, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1 tiếp nhận nhiều dòng
cá rô phi vằn, rô phi đỏ thuần chủng của Ai Cập, Thái Lan, Đài Loan và đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để cho ra được những giống cá có những tính năng vượt trội Những việc làm này đã và đang tạo ra bước chuyển mới về nuôi cá rô phi ở nước ta vươn lên ngang tầm với các nước lân cận trong khu vực Đông Nam Á (Bộ Thuỷ Sản, 2004)
Từ năm 1997 rô phi đỏ được nhập về để nuôi thương phẩm Hiện chúng đã phát triển tốt
trong điều kiện khí hậu của nước ta và là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế