Vũ Thị Phương Anh, viết xong 10:00 ngày 14/11/2018 Thế giới toàn cầu hóa ngày nay đòi hỏi tất cả mọi người lao động phải có một trình độ tiếng Anh nhất định để đáp ứng yêu cầu của thị t
Trang 1Đánh giá năng lực tiếng Anh: “Chuẩn” Việt Nam hay “chuẩn” quốc tế?
Vũ Thị Phương Anh, viết xong 10:00 ngày 14/11/2018
Thế giới toàn cầu hóa ngày nay đòi hỏi tất cả mọi người lao động phải có một trình độ tiếng Anh nhất định để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động; vì vậy việc chuẩn hóa công tác đánh giá năng lực tiếng Anh của mọi đối tượng là điều cần thiết
Nhưng chuẩn hóa ở đây là dựa vào chuẩn mực nào?
Còn nhớ cách đây vài năm, trong khuôn khổ của Đề án 2020, một số bài thi quốc tế có uy tín được xây dựng dựa trên Khung quy chiếu trình độ ngoại ngữ chung châu Âu (CEFR) đã được đưa vào Việt Nam để khảo sát năng lực giáo viên tiếng Anh, với kết quả có thể đoán trước được là không mấy khả quan Lúc ấy, đã có nhiều người lên tiếng phản đối rằng sao lại bắt giáo viên Việt Nam đạt chuẩn châu Âu Đào tạo ở Việt Nam, dạy học ở Việt Nam, trả lương theo kiểu Việt Nam, thì phải theo chuẩn Việt Nam mới hợp lý chứ?
Rất may là các nhà chính sách vẫn kiên trì cho rằng chuẩn tiếng Anh của Việt Nam phải có chung một hệ quy chiếu với thế giới, chứ không thể một mình một chợ, không thèm chơi với ai
và cũng không ai thèm chơi với mình được
Với quan điểm ấy, Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, cũng được xây dựng
dựa trên CEFR như xu thế hiện nay ở nhiều nơi trên thế giới, đã Bộ Giáo dục ban hành và dần được đưa vào áp dụng trên toàn quốc, tạo cơ sở cho việc so sánh kết quả của các bài thi năng
lực tiếng Anh của Việt Nam với các bài thi khác trên thế giới
Cần phải mở ngoặc ở đây để lưu ý rằng, như tên gọi của CEFR đã chỉ rõ, đó chỉ là một hệ quy chiếu chung về các mức năng lực ngoại ngữ, để từ đó mọi người có hiểu nhau vì nói chung cùng ngôn ngữ Chẳng hạn, khi ở Việt Nam ta nói đến năng lực ngoại ngữ ở bậc 3, tương đương với trình độ B1 của Khung quy chiếu chung châu Âu, thì bất cứ ai cũng hiểu rằng đó là trình độ ngoại ngữ tối thiểu cần có để một người có thể bắt đầu giao tiếp độc lập trong những tình huống thông thường hàng ngày Còn các bài thi cụ thể để đo năng lực thí sinh dựa trên khung quy chiếu chung ấy vẫn cần phải được xây dựng, hoặc bởi các tổ chức khảo thí quốc tế
có uy tín và độ phủ rộng trên toàn thế giới như Cambridge của Anh hoặc ETS của Mỹ, hoặc bởi các tổ chức khảo thí nhỏ, chỉ hoạt động trên phạm vi quốc gia hoặc thậm chí chỉ trong phạm vi
một cơ sở giáo dục cụ thể, và hoàn toàn không/chưa có tên tuổi trên trường quốc tế, như trong trường hợp của Việt Nam
Sẽ có nhiều người đặt câu hỏi, rằng các bài thi năng lực tiếng Anh chuẩn hóa của Việt Nam
liệu có thực sự cần thiết không? Tại sao không sử dụng ngay những bài thi quốc tế đã có sẵn, được xây dựng đúng với chuẩn mực quốc tế và được quốc tế công nhận rộng rãi, mà phải mất công mày mò xây dựng những bài thi của riêng mình, kết quả thi cũng chỉ sử dụng được ở Việt Nam chứ không có sự công nhận của thế giới?
Câu trả lời thật đơn giản: Nếu tiếng Anh ngày nay đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu mà ai cũng phải học, và ngay lúc này đây chúng ta vẫn chưa bắt đầu, thì phải chăng chúng ta muốn tự biến mình thành một “thuộc địa giáo dục”, mãi mãi phụ thuộc vào các bài thi tiếng Anh của các tổ chức quốc tế (thường được bán với giá rất cao so
Trang 2với thu nhập trung bình của người Việt Nam), mới có thể biết được năng lực tiếng Anh của
từng người, hoặc hiệu quả giảng dạy tiếng Anh của từng trường, từng địa phương, hoặc cả
nền giáo dục quốc gia là ở đâu, hay chăng?
Vậy nên, câu hỏi cần đặt ra ở đây không nên là “chuẩn” quốc tế hay “chuẩn” Việt Nam (chuẩn
ở đây nên hiểu là “kết quả đo năng lực tiếng Anh”), mà phải là: khi nào “chuẩn” Việt Nam có thể
tiệm cận và thực sự tương đương với “chuẩn” quốc tế! Và để trả lời câu hỏi ấy, các nhà chính sách, các nhà lãnh đạo giáo dục, các nhà chuyên mộn trong lĩnh vực giáo dục và khảo thí ngôn
ĐƯỢC, miễn là chúng ta chân thành học hỏi những kinh nghiệm của thế giới, và quyết tâm áp
dụng cho Việt Nam