1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu bản chất con người thông qua quan niệm về bản chất con người của triết học mac lênin

12 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu bản chất con người thông qua quan niệm về bản chất con người của triết học Mac-Lênin
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết học Xã hội
Thể loại Bài tập lớn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 291,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập lớn Bài tập lớn 1 MỤC LỤC VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI I Quan niệm về con người trong triết học 4 1 Quan niệm về con người trong triết học phi Mác xít 4 2 Quan niệm của triết học Mac – Lênin về bản c.

Trang 1

MỤC LỤC

VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

I Quan niệm về con người trong triết học 4

1 Quan niệm về con người trong triết học phi Mác -xít 4

2 Quan niệm của triết học Mac – Lênin về bản chất con người 5

II Tìm hiểu bản chất con người thông qua quan niệm về bản chất con người của triết học Mac-Lênin 5

1 Con người – thực thể thống nhất giữa phương diện sinh học và xã hội 5

1.1 Phương diện sinh học hay bản tính tự nhiên của con người 5

1.2 Phương diện hay bản tính xã hội trong con người 6

1.3.Sự thống nhất biện chứng giữa phương diện sinh học và phương diện xã hội trong con người 7

2 Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội 8

3 Con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của lịch sử 10

4 Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người 11

5 Ý nghĩa phương pháp luận 12

III Vận dụng trong thực tiễn 16

IV Kết luận 16

Tài liệu tham khảo 17

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Con người là một vấn đề muôn thuở, một đề tài tưởng chừng đã cũ nhưng luôn luôn mới, một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mà như Mác

đã dự báo, trong tương lai mọi khoa học đều gặp nhau ở một khoa học cao nhất –

đó là khoa học về con người Càng tiến về phía trước để chinh phục giới tự nhiên bao nhiêu, con người càng cảm thấy sự nghèo nàn, thiếu hụt, hời hợt của mình bấy nhiêu trong giải thích, tìm hiểu, trong nghiên cứu và khám phá bản thân mình Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ thì vấn đề con người càng nổi lên cấp bách, mang tính thời sự, tính nhân loại, toàn cầu, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc, nhận thức đúng, đầy đủ về vấn đề con người

Con người là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các môn khoa học, đặc biệt là các khoa học xã hội và nhân văn Mặc dù phương pháp nghiên cứu và tiếp cận vấn

đề của các môn khoa học riêng biệt có khác nhau, song phải thừa nhận rằng, đối tượng và chức năng nghiên cứu của các môn khoa học đó không có gì khác ngoài con người và nhằm phục vụ con người Khác với những môn khoa học khác, nghiên cứu con người ở những góc độ riêng, triết học nghiên cứu con người ở góc

độ chung nhất, khái quát nhất Triết học cũng như các ngành khoa học nhân văn đều có trách nhiệm vươn tới hoàn thiện sự hiểu biết về con người, và những gì liên quan tới cuộc sống con người Khoa học kĩ thuật càng phát triển, loài người với điều kiện hiểu biết về mình càng rõ hơn Con người là chủ thể sáng tạo của mọi sáng tạo, của phát triển và tiến bộ Vì vậy, hơn bao giờ hết, việc nghiên cứu con người hoặc chăm lo lợi ích con người phát huy yếu tố con người có ý nghĩa lớn lao trong sự đổi mới toàn diện đất nước

Luận điểm của Mác về con người trong tác phẩm “Luận cương về Phơ bách”

(1845): “ Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của

cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” là định nghĩa về con người, cho đến nay, nó còn nguyên

giá trị về lí luận và tư tưởng, soi sáng về phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu về con người – vấn đề trọng tâm của mọi khoa học, để đi tới mục tiêu giải

Trang 3

phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng nhân loại Thời gian gần đây, những biến động lớn lao trên các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng làm cho vấn

đề con người trở nên sôi động và bức xúc Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới hướng mục tiêu vào chiến lược con người ở nước ta, việc nghiên cứu bản chất con người trong vấn đề giáo dục nhân cách có ý nghĩa thời sự

Trang 4

VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

I Quan niệm về con người trong triết học

1 Quan niệm về con người trong triết học phi Mác -xít

*Vấn đề con người trong triết học Ấn Độ cổ đại

Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại đều tập trung khai thác thế giới nội tâm và đời sống tâm linh con người, theo họ con người bao chứa nhiều điều bí ẩn Nhiệm

vụ của triết học là khám phá và giải thích chúng Để tiếp cận thế giới nội tâm con người, theo họ cần phải hiểu bản ngã, phải thấu hiểu nhân tình thế thái trong đó con người sống và hành động, phải tìm ra động cơ và mục đích của đời sống con người Theo truyền thuyết của Đạo Bà La Môn, con người sinh ra từ thân thể của Thần sáng tạo Brahman Từ miệng thần sinh ra đẳng cấp Bà La Môn, từ hai cánh tay sinh

ra đẳng cấp Võ Sỹ, từ hai đùi sinh ra đẳng cấp bình dân, từ hai gót chân sinh ra đẳng cấp Nô lệ Do số trời đã định như vậy, nên mỗi người cần an phận, không nên hiềm khích, đấu tranh

Phật giáo nhìn đời người như là bể khổ, là quá trình sinh – lão – bệnh – tử triền miên Nỗi khổ của con người rất đa dạng, nhưng tựu trung trong tám loại gọi là “bát khổ” Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt ly khổ (yêu nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống chung), sở cầu bất đắc khổ (mong muốn mà không đạt), ngũ thụ uẩn khổ (năm yếu tố nhóm họp sinh ra con người, buộc

nó phải có mặt ở đời là khổ)

Nguyên nhân của nỗi khổ được Phật giáo khái quát trong “thập nhị nhân duyên”, trong đó có hai nguyên nhân cơ bản là ái dục (lòng tham) và vô minh (sự ngu dốt)

Để thoát khỏi nỗi khổ của cuộc đời, con người phải dập tắt ái dục, loại trừ vô minh bằng cách tu nhân, tích đức và thiền đình đạt đến trạng thái niết bàn Lúc đó sẽ thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, sống thanh thản, định tâm, vô tư trước mọi sự biến đổi của cuộc đời

*Vấn đề con người trong triết học cổ điển Đức:

Triết học cổ điển Đức nhìn nhận con người theo hai quan điểm đối lập: Hêghen coi con người như là sự hóa thân của “ý niệm tuyệt đối” Phoiobach coi con người như là sản phẩm tiến hóa của giới tự nhiên, cũng như mọi sinh vật khác, con người

Trang 5

có khát vọng sống, cần các điều kiện vật chất để sinh tồn như nước, không khí, thức ăn

Nhìn chung, tất cả các hệ thống triết học phi Mac xit đều nhìn nhận con người một cách thiên lệch Do chịu ảnh hưởng của lịch sử, của tầm nhìn cá nhân hay ít nhiều chịu áp lực của tư tưởng chính trị, họ đã vô tình hay cố ý bóp méo bản chất đích thực của con người

2 Quan niệm của triết học Mac – Lênin về bản chất con người

Tiếp thu những thành tựu trong Thuyết tiến hóa của Đác-uyn, khảo cổ học của Morgan, Nhân bản học của Phoiobach, Mac và Ăngghen nhận định rằng, con người

là sản phẩm tiến hóa cao nhất của giới tự nhiên, biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, con người là một thực thể thống nhất giữa phương diện sinh học và phương diện xã hội

II Tìm hiểu bản chất con người thông qua quan niệm về bản chất con người của triết học Mac-Lênin

1 Con người – thực thể thống nhất giữa phương diện sinh học và xã hội

1.1 Phương diện sinh học hay bản tính tự nhiên của con người

Xét về nguồn gốc, con người là sản phẩm tiến hóa của tự nhiên, lịch sử tiến hóa

đó kéo dài khoảng hơn hai triệu năm Con người có nguồn gốc từ loài linh Trưởng (Gorilla) được tiến hóa theo lộ trình: Gorilla (linh trưởng) – Homo Habilis (người khéo léo) – Homo Erectus (người đi thẳng) – Homo Sapiens (người khôn ngoan) Xét về giải phẫu sinh lý, hình thể con người có cấu trúc tuân theo nguyên lý “cấu trúc – chức năng” Mỗi bộ phận sinh học của con người được sinh ra và tiến hóa trong lịch sử nhằm hướng tới thực hiện những chức năng nhất định Mặc dù đã trải qua hàng triệu năm tiến hóa, song cấu trúc cơ thể con người vẫn còn những nét khá giống với tổ tiên của nó

Xét về nhu cầu sinh tồn và tập tính loài, để sinh tồn con người cần thực hiện các nhu cầu như ăn, uống, ngủ, nghỉ, có quần áo để mặc, nhà cửa để ở Con người cũng phải thực hiện các hành vi giới tính nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì nòi giống Để tồn tại bên cạnh đồng loại, con người cần có bản năng tự vệ, bản năng quyền lực, thói quen bảo vệ không gian sinh tồn

Trang 6

Con người phải tuân thủ các quy luật tất yếu của tự nhiên như: sinh – lão – bệnh – tử, di truyền, biến dị, tiến hóa Sống trong môi trường tự nhiên, con người buộc phải trao đổi, tương tác với giới tự nhiên và tuân thủ các quy luật tự nhiên

Những yếu tố thuộc phương diện sinh học hình thành bẩm sinh dựa trên cơ chế

di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ăngghen viết: “Nhưng bản thân cái sự kiện

là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật, thành thử bao giờ cũng chỉ có thể nói đến việc những đặc tính ấy có nhiều hay ít đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà thôi”

1.2 Phương diện hay bản tính xã hội trong con người

Là một sinh vật có lý trí, con người không một chiều tuân theo quy luật tất yếu,

mà con người còn có tự do, sự tự do tạo nên bản tính xã hội của con người Để sinh tồn mà không phụ thuộc tuyệt đối vào giới tự nhiên như các loài vật khác, con người phải tiến hành lao động Trong lao động, các yếu tố thuộc phương diện xã hội hình thành và hoàn thiện dần từ đó, đó là:

Tư duy, ý thức, ngôn ngữ: là những hiện tượng đặc trưng ở con người, đánh dấu

sự khác biệt giữa người và động vật Nguồn gốc hình thành của chúng là lao động, song cơ sở tồn tại của chúng là bộ óc và các cơ quan sinh lý, còn nội dung phản ánh mang tính xã hội

Các quan hệ kinh tế - xã hội như quan hệ sản xuất, quan hệ đạo đức, chính trị,

pháp luật, tôn giáo, quan hệ thẩm mĩ, là sản phẩm tác động giữa người và người đồng thời tác động trở lại làm hoàn thiện nhân cách con người

Các nhu cầu xã hội: nhu cầu giao tiếp cộng đồng, vui chơi giải trí, học tập, nhu

cầu tâm linh, nhu cầu thẩm mỹ, thể hiện lòng cao thượng

Các yếu tố xã hội kể trên hình thành thông qua lao động, giáo dục, giao tiếp, chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác nhờ có truyền thống Do vậy, giữ gìn và phát huy truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển giao bản tính xã hội của con người, đánh mất truyền thống là làm phai nhạt giá trị con người

Ví dụ điển hình: Tarzan đời thực

Ông Hồ Văn Lang, 51 tuổi, đã cùng cha là Hồ Văn Thanh - một cựu chiến binh, chạy trốn năm 1972 khi Mỹ ném bom ngôi làng của họ khiến nhiều người thân thiệt

Trang 7

mạng- sống 41 năm ở rừng xanh Quảng Ngãi Hai cha con sống bằng cách săn bắn,

tự kiếm ăn và sinh sống tại những ngôi nhà trên cây, di chuyển sâu hơn vào rừng mỗi khi ngôi làng lân cận mở rộng diện tích Ông Thanh tin rằng chiến tranh Việt Nam vẫn còn xảy ra, vì vậy ông luôn tránh xa người dân và chạy trốn mỗi khi gặp họ Khi

đó, HVL chưa có tính xã hội và chưa có khả năng lao động sản xuất

Bây giờ Lang sống trong làng, đã tở nên quen thuộc với mọi thứ Hàng ngày ông lên rẫy trồng lúa, trồng chuối, thu hoạch sản vật từ rừng Khác với mọi người trong làng, ông không uống rượu, không hút thuốc mà ông chỉ “nghiện” trầu .Có thể nói lúc này ông đã trở thành một thực thể xã hội

1.3.Sự thống nhất biện chứng giữa phương diện sinh học và phương diện xã hội trong con người

Hai phương diện sinh học và xã hội thống nhất trong con người, tạo nên thể xác

và nhân cách, làm cho con người trở thành một thực thể sinh học – xã hội Trong mỗi người, phương diện sinh học và phương diện xã hội không tách biệt, phân đôi, mà tồn tại trong sự thống nhất biện chứng Khó có thể phân định bộ phận nào, thuộc tính

gì thuộc phương diện sinh học hay xã hội Sự thống nhất biện chứng đó thể hiện cụ thể:

Các cấu trúc sinh học là tiền đề cơ bản, là cơ sở sinh lý để trên đó con người thực hiện các chức năng xã hội của mình Do vậy, nếu cá nhân khiếm khuyết về cấu trúc sinh học thì sẽ ảnh hưởng lớn đến chức năng xã hội Sinh lý học hiện đại chứng minh hoocmon có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định sự trưởng thành và bản tính con người, trong việc quy định giới tính, cảm xúc, sự phát triển trí tuệ

Các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội tác động lẫn nhau tạo nên trong con người những khát vọng vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội như khát vọng quyền lực, tình yêu đôi lứa, sự nuôi dưỡng bảo vệ, che chở cho con cái và tình cảm đồng loại

Các yếu tố xã hội có tác động trở lại kiềm chế, định hướng các hoạt động sinh học của con người, làm cho các hành vi này diễn ra một cách có văn hóa người Do vậy, ngày nay đã hình thành một số loại hình văn hóa đan xen giữa sinh học và xã hội như: văn hóa ẩm thực, văn hóa tình dục, văn hóa môi trường Với nghĩa đó, Mac cho rằng, mọi hoạt động của con người đều diễn ra theo quy luật cái đẹp Theo thống

Trang 8

kê xã hội học thì môi trường xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sinh học như hình thể, sức khỏe, hoạt động tâm – sinh lý

2 Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội

Con người khi mới sinh ra chỉ là con người dự bị, con người sinh học, con người chỉ trở thành người theo đúng nghĩa thật của từ này khi nó sống hòa đồng trong cộng đồng xã hội Chỉ có khi đó, con người mới được “học ăn, học nói, học gói, học mở”

và “đi một ngày đàng học một sàng khôn” Bởi vì:

Khi gia nhập và sống trong cộng đồng, con người tự trải nghiệm, con người sau

đó giao tiếp với đồng loại của mình Ban đầu con người học qua gia đình, sau đó đến nhà trường và rộng hơn là gia nhập cộng đồng dân cư và xã hội Từ đó con người có

bề dày kinh nghiệm, tạo nên những hiểu biết về thế giới xung quanh Những hiểu biết này kết tinh trong con người tạo thành chất liệu làm nên bản chất xã hội của con người

Sống trong môi trường xã hội, con người luôn chịu áp lực từ hai phía: phía truyền thống (những giá trị lịch sử của gia tộc, dân tộc như phong tục tập quán) và phía hiện đại (những quan niệm sống và lối sông đang hiện hành) Những yếu tố trên gấy áp lực, buộc con người phải suy nghĩ và hành động theo một khuân phép nhất định mà không thể làm khác được

Mac và Angghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những nhà triết học đi trước cho rằng: con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã hội Nhưng khác với họ, Mac và Angghen xem xét mặt tự nhiên của con người như ăn, ngủ, đi lại, yêu thích… không hoàn toàn mang tính tự nhiên như ở con vật mà đã đc

xã hội hóa, Mac viết: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”

Hiện thực trong từ điển triết học: là đang thực tế tồn tại và phát triển chứa đựng bản chất của chính nó và quy luật trong bản thân nó, và cũng bao hàm những kết quả của sự vận động và phát triển của chính nó Thực tại khách quan với tất cả tính cụ thể của nó chính là hiện thực đó Với ý nghĩa đó hiện thực không những khác với tất

cả cái bề ngoài, cái tưởng tượng mà còn khác với tất cả chỉ là cái logic (tư duy), còn khác với tất cả chỉ là cái khả năng cái có thể có nhưng chưa tồn tại

Trang 9

Bản chất của con người luôn được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực, cụ thể trong những điều kiện lịch sử cụ thể Các quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người, nhưng không phải là sự kết hợp giản đơn hoặc tổng cộng chúng lại với nhau mà mà là sự tổng hòa chúng: mỗi quan hệ xã hội có vị trí, vai trò khác nhau, tác động qua lại, không tách rời nhau Các quan hệ xã hội có nhiều loại: quan

hệ quá khứ, quan hệ hiện tại, quan hệ vật chất, quan hệ tinh thần, quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên hoặc ngẫu nhiên, bản chất hoặc hiện tượng, quan hệ kinh tế, quan

hệ phi kinh tế Tất cả quan hệ đó đều góp phần hình thành lên bản chất của con người Các quan hệ xã hội thay đổi thì ít hoặc nhiều, sớm hoặc muộn, bản chất con người cũng sẽ thay đổi theo Trong các quan hệ xã hội cụ thể, con người mới có thể bộc lộ được bản chất thực sự của mình, và cũng trong những quan hệ xã hội đó thì bản chất người của con người mới thực sự phát triển

Luận đề của Mac khẳng định không có con người thoát ly khỏi giai cấp, khỏi bối cảnh xã hội, khỏi quê hương, gia đình Con người là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên

và mặt xã hội nên Mac đã nhiều lần so sánh con người với con vật, so sánh con người với con vật có bản năng gần giống với con người Và để tìm ra sự khác biệt Mac đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ có con người mới làm ra tư liệu sản xuất cho mình, con người biến đổi tự nhiên theo quy luật của tự nhiên, con người là thước đo của vạn vật, con người sản xuất ra công cụ sản xuất Luận điểm xem con người là sinh vật biết chế tạo ra công cụ sản xuất được xem là luận điểm tiêu biểu của chủ nghĩa Mac về con người

Luận điểm của Mac nói: “Bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”

nhưng Mac hoàn toàn không có ý phủ nhận vai trò của các yếu tố và đặc điểm sinh học của con người, ông chỉ đối lập luận điểm coi con người đơn thuần như một phần của giới tự nhiên, và bỏ qua không nói gì đến mặt xã hội của con người Sau thì nói đến: Sự định hướng hợp lý của mặt sinh học, Lenin cung chỉ bác bỏ các yếu tố xã hội thường xuyên tác động và ảnh hưởng to lớn đối với bản chất và sự phát triển của con người Chính Lenin cũng không tán thành quan điểm cho rằng mọi người đều ngang nhau về mặt sinh học Ông viết: “thực hiện một sự bình đẳng về sức lực và tài năng con người thì đó là một điều ngu xuẩn… Nói đến bình đẳng thì, đó luôn luôn

Trang 10

là sự bình đẳng về xã hội, bình đẳng về địa vị chứ ko phải là bình đẳng về thể lực và trí lực của cá nhân”

3 Con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của lịch sử

Chủ nhân của lịch sử xã hội không ai khác là ngoài con người Chỉ có con người mới làm nên lịch sử của mình bằng lao động làm ra của cải vật chất, bằng sáng tạo

ra khoa học công nghệ và các giá trị văn hóa tinh thần Được định hướng bởi ý thức, bằng sức mạnh cơ bắp của mình, con người đắp đập, khơi mương, khai sơn phá thạch, quai đê, lấn biển để tạo nên những cánh đồng phì nhiêu,với năng lực sáng tạo của bản thân con người tạo ra các công cụ lạo động từ đó tạo ra những bước thay đổi trong lịch sử phát triển con người Cũng chính con người đã xây dựng nên các công trình kiến trúc trên mặt đất, kiến tạo một thiên nhiên thứ hai để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống Ăngghen viết: “Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do

ý muốn của chúng Ngược lại, con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”

Trong quá trình lao động sản xuất, con người đã kiến tạo nên các quan hệ xã hội Đến lượt mình, các quan hệ xã hội như quan hệ sản xuất, quan hệ đạo đức, quan

hệ pháp luật, chính trị, tôn giáo lại tác động lên con người, làm cho nó phải suy nghĩ và hành động tuần theo những chuẩn mực, quy tắc chung, những quy luật của

tự nhiên

Trong quá trình lao động sản xuất, chống chọi với thiên nhiên, làm ra lịch sử của chính mình, bản thân con người cũng được trưởng thành, học được những bài học từ thiên nhiên và xã hội Mac viết: “Các học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng, con người là sản phẩm của những hoàn cảnh giáo dục và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”

Do con người là sản phẩm phát triển của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, nên trong mỗi thời đại khác nhau có những mẫu người với những nhân cách khác nhau, tạo nên những cá nhân mang dấu ấn thời đại VD: Bác Hồ

Con người là một thực thể bao hàm trong mình khả năng sáng tạo Khả năng sáng tạo đó bắt nguồn từ năng lực tư duy, từ trí tưởng tượng Nhấn mạnh vai trò sáng

Ngày đăng: 18/10/2022, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w