Bố trí hệ thống cây trồng thíchhợp trong một khu vực hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp ởmỗi vùng sinh thái là nhằm khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất cácnguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã
Trang 1Mục lục
Mở đầu 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 3
Chơng 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài 7
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 7
1.1.1 Phơng pháp tiếp cận trong nghiên cứu 7
1.1.2 Những yếu tố chi phối hệ thống canh tác 8
1.1.3 Các lý luận về hệ thống canh tác 13
1.1.4 Hình thành nền nông nghiệp phát triển bền vững 16 1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nớc có liên quan đến đề tài 18
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 18
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nớc 23
1.2.3 Đặc điểm hệ thống canh tác vùng nhiệt đới và những vấn đề cần nghiên cứu ở vùng đất ven sông Hồng 31
Chơng 2: Vật liệu, nội dung và phơng pháp nghiên cứu 36
2.1 Địa điểm, nội dung, vật liệu nghiên cứu 36
2.2 Phơng pháp nghiên cứu 36
Chơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 38
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của các hệ thống canh tác 38
3.1.1 Tài nguyên khí hậu 38
3.1.2 Tài nguyên đất đai 41
3.1.3 Các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 51
3.1.4 Các tiểu vùng kinh tế - sinh thái vùng ngoại thành Hà nội 52
3.1.5 Các điều kiện về vật chất, kinh tế, kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp của Hà nội 61
Trang 23.2 Mô tả, đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trờng của một số hệ thống
canh tác 62
3.2.1 Hệ thống cây bởi Diễn 62
3.2.2 Hệ thống cây Cam Canh 69
3.2.3 Hệ thống cây Hồng xiêm Xuân Đỉnh 75
3.2.4 Hệ thống cây hồng quả 79
3.2.5 Hệ thống cây Vải thiều 81
3.2.6 Hệ thống cây Na dai 84
3.3 Đề xuất định hớng phát triển sản xuất các hệ thống canh tác đã đ-ợc nghiên cứu để nhân rộng ra địa bàn 87
3.3.1 Thị trờng tiêu thụ sản phẩm 87
3.3.2 Tiềm năng phát triển sản xuất 93
3.3.3 Phân hạng đất thích hợp 94
3.3.4 Định hớng phát triển sản xuất 96
Kết luận và kiến nghị 109
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế ngành nôngnghiệp Thành phố Hà nội nói chung và các huyện ngoại thànhnói riêng đã có thay đổi quan trọng và chuyển dần sang sảnxuất hàng hoá Trong những năm qua, nhiều chơng trình, dự
án có liên quan đến sản xuất nông nghiệp đã đợc triển khai ởcác huyện ngoại thành, đặc biệt các huyện có vùng đất vensông Hồng nh chơng trình 773, khuyến nông, khuyến lâm…
Vùng đất ven sông Hồng trên địa bàn thành phố Hà nội làmột trong những vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, là cáinôi của nền văn minh lúa nớc, là vùng đồng bằng với địa hìnhtơng đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu đa dạng rấtthuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng nông nghiệpnuôi sống con ngời
Thực trạng các hệ thống canh tác của Vùng đất ven sôngHồng còn manh mún, cha hình thành các vùng sản xuất với quymô tập trung lớn với các loại cây chiến lợc Việc hoàn thiện hệthống canh tác cha đợc đầu t, chú trọng đúng mức, hiệu quả
kinh tế cha cao
Đại bộ phận ngời nông dân ở vùng đất này đều sống dựavào nông nghiệp, mà thu nhập từ sản xuất nông nghiệp lạikhông cao Do đó đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khókhăn Một trong những nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấpcủa bà con nông dân vùng đất ven sông Hồng trên địa bànthành phố Hà nội là cha tìm ra (hoặc cha học hỏi đợc) các hệ
Trang 4thống canh tác cây trồng có hiệu quả kinh tế cao để áp dụngvào sản xuất.
Hệ thống nông nghiệp là một hệ thống kết hợp đan xengiữa các nhóm quy luật: quy luật sinh học, quy luật kinh tế - xã
hội Giữa các nhóm có vai trò quyết định nh nhau, vì vậynghiên cứu phát triển hệ thống canh tác nói riêng và hệ thốngnông nghiệp nói chung cần có sự tham gia của một nhóm cán
bộ liên ngành, ở từng ngành giải quyết các tồn tại của mìnhtheo quan điểm tiếp cận hệ thống Hệ thống canh tác câytrồng đợc coi là hợp phần quan trọng nhất của hệ thống nôngnghiệp ở các vùng sinh thái Bố trí hệ thống cây trồng thíchhợp trong một khu vực hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp ởmỗi vùng sinh thái là nhằm khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất cácnguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội của các vùng sinh thái, tạocho hệ thống một sức sản xuất cao, bền vững và bảo vệ môitrờng
Phát triển hệ thống nông nghiệp là một giải pháp tốt nhấtcho việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, phát triển sảnxuất một cách lâu dài, ổn định, phù hợp với nền nông nghiệpnớc ta
Từ những cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn sản xuất
đang diễn ra ở vùng đất ven sông Hồng, việc nghiên cứu hệthống canh tác để từ đó xác định hệ thống cây trồng thíchhợp là một đòi hỏi cấp bách, có cơ sở khoa học để phát triểnnông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trờng Do đó trên cơ sởtổng kết, đa ra hệ thống cây trồng thích hợp cho từng vùngsinh thái để sử dụng tốt nhất nguồn nhiệt, nguồn nớc, đất đai,lao động…và bảo vệ môi trờng, tránh đợc tối đa những điềukiện bất lợi xảy ra là hết sức cần thiết Từ những nghiên cứu hệ
Trang 5thống canh tác và bài học đợc rút ra tác giả hình thành luận án
mang tên: “Nghiên cứu một số hệ thống canh tác ở vùng
đất ven sông Hồng thuộc địa bàn Thành phố Hà nội và
định hớng phát triển bền vững”.
Đề tài nghiên cứu một số hệ thống canh tác có hiệu quả
nhằm khuyến cáo cho bà con nông dân vùng Đồng bằng sôngHồng nói chung và nông dân vùng ven sông Hồng thuộc địabàn thành phố Hà nội nói riêng nhân rộng các hệ thống canhtác có hiệu quả đó ra địa bàn, góp phần nâng cao thu nhập,xoá đói giảm nghèo tiến tới làm giầu cho ngời dân, giải quyếtmột phần tính bức xúc của vấn đề nêu ra ở trên
2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp cơ sở khoahọc trong việc xác định hệ thống canh tác chính trên vùng đấtven sông Hồng trên quan điểm nghiên cứu hệ thống, quan
điểm sinh thái, quan điểm về hiệu quả kinh tế xã hội và hớngtới sự phát triển bền vững
ý nghĩa thực tiễn của đề tài là đề xuất một số hệ thốngcanh tác thích hợp trên vùng đất vừa đem lại hiệu quả kinh tếcao theo hớng sản xuất hàng hoá, vừa phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội của vùng, giúp cho ngời sản xuất đạt hiệu quả kinh
tế cao trên một đơn vị diện tích, nâng cao đời sống cho
ng-ời dân trong huyện
Hệ thống canh tác thích hợp còn có ý nghĩa trong việcbảo vệ môi trờng, sử dụng quỹ đất hiện có một cách hợp lý,phát huy cao nhất tiềm năng và lợi thế về đất đai, khí hậu, …trên cơ sở phù hợp với môi trờng sinh thái
Những giải pháp và đề xuất góp phần phát triển hệthống canh tác không chỉ đúng với vùng ven sông Hồng mà còn
Trang 6có ý nghĩa cho những địa phơng khác có các điều kiện tơngtự.
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đánh giá thực trạng sản xuất, thị trờng tiêuthụ, hiệu quả kinh tế và môi trờng của một số hệ thống canhtác cây ăn quả có hiệu quả hiện có trong vùng đồng bằng sôngHồng
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hởng đến sự pháttriển hệ thống canh tác cây ăn quả vùng Đồng bằng sông Hồng
Nghiên cứu mô tả chi tiết một số hệ thống canh tác cây
ăn quả trong vùng với các nội dung:
+ Thực trạng sản xuất+ Đặc điểm về giống, sự sinh trởng và phát triển+ Tình hình chăm sóc, bón phân
+ Chất lợng sản phẩm+ Hiệu quả kinh tế và môi trờng+ Thị trờng tiêu thụ
+ Tiềm năng phát triển sản xuất+ Định hớng sản xuất theo hớng phát triển bền vữngNghiên cứu đề xuất một số định hớng và những giải phápchủ yếu nhằm phát triển các hệ thống canh tác thích hợp trênquan điểm sinh thái và phát triển bền vững nhằm tăng hiệuquả sử dụng đất, bảo đảm an toàn lơng thực, giải quyết thựcphẩm, tăng các loại cây trồng có giá trị hàng hoá cao, tăng thunhập, nâng cao đời sống cho nông dân vùng đất ven sôngHồng
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu
Trang 7Đối tợng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các hệ thống canhtác cây ăn quả do hộ nông dân thực hiện, trên cơ sở phát triểnkinh tế hộ tăng thu nhập cho nông dân.
Phạm vi nghiên cứuPhạm vi nghiên cứu là vùng đất ven sông Hồng thuộc địa bànthành phố Hà nội
Trang 8Chơng 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề
tài 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Phơng pháp tiếp cận trong nghiên cứu
Khi nghiên cứu một hệ thống, điều quan tâm đầu tiên làtìm hiểu mục tiêu của hệ thống cần đạt đợc là gì ? và hệthống đang hoạt động để đạt tới mục tiêu gì
Triết học duy vật biện chứng đã chỉ ra rằng, để nghiêncứu một hiện tợng tự nhiên hoặc xã hội ta phải xem xét nótrong mối quan hệ với các hiện tợng khác vì mọi hiện tợng đều
có mối quan hệ hữu cơ với nhau Mặt khác mỗi hiện tợng đềuluôn luôn nằm trong trạng thái biến đổi và phát triển mànguồn lực và động lực chủ yếu của hiện tợng đó nằm trongbản thân sự vật, vì vậy việc nghiên cứu một sự vật phải xemxét lý thuyết hệ thống là nền tảng của phơng pháp luận (PhạmChí Thành, 1996) [32]
Lý thuyết hệ thống đợc ứng dụng ngày càng rộng rãi trongnhiều ngành khoa học giúp cho sự hiểu biết và giải thích cácmối quan hệ tơng hỗ Cơ sở lý thuyết hệ thống đợc L
Vonbertanlanfy đề xớng vào đầu thế kỷ này đã đợc sử dụng
nh một cơ sở giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp
Trong thời gian gần đây, quan điểm này rất phát triển trongsinh học cũng nh trong nông nghiệp
Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khácnhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể đợcxác định nh một tập hợp các đối tợng hoặc các thuộc tính, đợcliên kết bằng nhiều mối tơng tác
Trang 9Quan điểm hệ thống là sự khám phá đặc điểm của hệthống đối tợng bằng cách nghiên cứu bản chất và đặc tính củacác mối tác động qua lại giữa các yếu tố (Phạm Chí Thành,1996) [32]
Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhautạo nên một chỉnh thể thống nhất và vận động, nhờ đó xuấthiện những thuộc tính mới đợc gọi là “tính trồi” Hệ thốngkhông phải là một phép cộng đơn giản các yếu tố, các đối t-ợng, chúng có tác động qua lại lẫn nhau và có mối quan hệ ràngbuộc chặt chẽ với nhau
Ngoài những yếu tố bên trong của hệ thống, các yếu tốbên ngoài của hệ thống không nằm trong hệ thống, nhng có tác
động tơng tác với hệ thống gọi là yếu tố môi trờng Những yếu
tố môi trờng tác động nên hệ thống là yếu tố “đầu vào”, cònnhững yếu tố môi trờng chịu sự tác động trở lại của hệ thống
là các yếu tố “đầu ra” Phép biến đổi của hệ thống là khả
năng thực tế khách quan của hệ thống trong việc biến đổi
“đầu vào” thành “đầu ra” Trạng thái của hệ thống là khả
năng kết hợp giữa các “đầu ra” và các “đầu vào” của hệ thống
ở một thời điểm nhất định Độ đa dạng của hệ thống là mức
độ khác nhau giữa các trạng thái hoặc giữa các phần tử của hệthống Mục tiêu của hệ thống là trạng thái mà hệ thống mongmuốn và cần đạt tới Hành vi của hệ thống là tập hợp các “đầura” của hệ thống có thể đợc trên cơ sở các giải pháp thích hợp,
đem lại hiệu quả cao cho cả hệ thống Cấu trúc của hệ thống
là hình thức cấu tạo bên trong của hệ thống, bao gồm sự sắpxếp vị trí giữa các phần tử cùng các mối quan hệ giữa chúng(Phạm Chí Thành, 1996) [32]
Trang 101.1.2 Những yếu tố chi phối hệ thống canh tác
Lịch sử phát triển của nông nghiệp gắn liền với lịch sửhình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống cây trồng chotừng vùng khí hậu nông nghiệp và thổ nhỡng đặc thù
Hệ thống canh tác là một trong những nội dung quantrọng của hệ thống nông nghiệp Bố trí hệ thống canh tác hợp
lý có ý nghĩa làm tăng sản lợng sản phẩm trên một đơn vịdiện tích và bảo vệ độ phì nhiêu của đất
Trong quá trình nghiên cứu hệ thống canh tác cần chú ý
đến mối quan hệ giữa cây trồng và khí hậu, đất đai, phơngthức canh tác và quần thể sinh vật Sự thay đổi hệ thống câytrồng trong hệ canh tác có ý nghĩa rất lớn trong việc tăng sản l-ợng lơng thực, thực phẩm và nâng cao độ phì nhiêu, bảo vệ
Trong các tiêu chuẩn đánh giá điều kiện tự nhiên của vùng
đã có rất nhiều tác giả đa vào các điều kiện sinh thái đểphân tích và đa ra các hệ thống cây trồng khác nhau cho các
hệ thống canh tác
Nghiên cứu các tài liệu liên quan về phơng pháp nghiêncứu xác định hệ thống cây trồng hợp lý cho hệ thống canh tác,các tác giả đề cập đến các yếu tố cơ bản sau đây:
- Khí hậu
- Đất đai
- Giống cây trồng
Trang 11- Loại cây trồng
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Thị trờng
- Môi trờng và sự phát triển bền vững
1.1.2.1 Điều kiện khí hậu
Khi nghiên cứu hệ thống canh tác cần chú ý đến các yếu
tố khí hậu vì cây trồng là yếu tố quan trọng của hệ thốngcanh tác, mà cây trồng là sinh vật sống phụ thuộc vào điềukiện tự nhiên, đặc biệt là điều kiện khí hậu Khí hậu cungcấp năng lợng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, tạonăng suất cây trồng Cơ cấu cây trồng tận dụng cao nhất
điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm cao nhất và kinh tếnhất Vì vậy có thể nói khí hậu là yếu tố quan trọng nhấttrong việc nghiên cứu hệ thống canh tác Nghiên cứu hệ thốngcanh tác là phải làm sao chống chịu đợc các hiện tợng nh bão,lụt, úng, hạn…
1.1.2.2 Điều kiện về đất đai
Đất đai là một thành phần quan trọng trong hệ thống sinhthái nói chung và sinh thái nông nghiệp nói riêng Đất là nền tựacho cây trồng tồn tại và sinh trởng, trong đó mọi hoạt độngtrao đổi dinh dỡng và nớc của cây trồng phần lớn đợc thực hiện
từ đất Mặt khác mỗi loại cây trồng đều có đặc điểm làthích hợp với chỉ một hoặc vài loại đất có địa hình và tínhchất lý hoá nhất định, trong điều kiện khí hậu vùng không cósai khác lớn, thì tính chất đặc điểm đất đai cùng chế độ nớc
có vai trò quyết định sự sai khác của hệ thống canh tác(Hoàng Văn Đức, 1980) [12], (Đỗ Văn Hoà, 1996) [20]
Bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/ 1.000.000 đã phân biệt có
14 nhóm và 31 loại đất
Trang 12ở nớc ta trớc đây, vùng Đồng Bằng Sông Hồng vẫn thờngtrồng một năm hai vụ lúa: Vụ lúa chiêm (từ tháng 12 đến tháng5) và vụ lúa mùa với các giống cảm quang mạnh (từ tháng 7 đếntháng 11) ở những chân ruộng có nớc quanh năm Với nhữngthành tựu của cuộc cách mạng xanh chúng ta đã thay vụ lúachiêm (12 - 5) bằng vụ lúa xuân (2 - 6), thay vụ lúa mùa với cácgiống lúa cảm quang mạnh (7 - 11) bằng vụ lúa mùa sớm với cácgiống lúa phản ứng nhiệt độ (7 - 10) và đa thêm một vụ đôngvới các cây nh cà chua, su hào, bắp cải, khoai tây… vào cơ
cấu cây trồng (Phùng Văn Chinh, Lý Nhạc, 1987) [2]
Do đó cơ cấu cây trồng vùng Đồng Bằng Sông Hồng trongnhững năm 60 - 70 đã có sự chuyển đổi, góp phần làm tăngsản lợng lơng thực và sản phẩm trên một hecta đất canh tác
Trên đất hai vụ lúa chủ động nớc đã thay hệ thống câytrồng lúa chiêm - lúa mùa bằng hệ thống cây trồng lúa xuân -lúa mùa sớm - vụ đông
Trên đất một vụ lúa - một vụ màu đã thay hệ thống câytrồng lúa mùa - mùa đông xuân (ngô, khoai lang, thuốc lá, lạc…)bằng hệ thống cây trồng lúa mùa - cây vụ đông - màu vụxuân
1.1.2.3 Điều kiện về giống cây trồng
Nớc ta nằm trong vùng nhiệt đới do đó cây trồng đa dạng
và phong phú Các loại cây trồng lơng thực chủ yếu có lúa,ngô, khoai, sắn…Các loại cây ăn quả có chuối, cam, quýt, vải,nhãn, xoài, dứa…Các loại rau thực phẩm có cải bắp, xu hào, càchua…Các loại cây công nghiệp lâu năm có cao su, chè, cà phê,
điều, tiêu…
Xu thế thâm canh, tăng vụ đòi hỏi có những giống câytrồng vừa có khả năng chịu đợc thâm canh để cho năng suất
Trang 13cao, vừa có thời gian sinh trởng ngắn để đáp ứng cho các cơ
cấu gieo trồng đã đợc xác lập Trên những vùng sinh thái có
điều kiện địa hình và đất đai khó khăn đòi hỏi các giốngcây trồng phải có đặc điểm thích ứng và chống chịu với các
1.1.2.4 Loại cây trồng
Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ thống canh tác
Nghiên cứu hệ thống canh tác là bố trí hệ thống cây trồng nhthế nào để lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và đất
đai Muốn bố trí hệ thống canh tác thích hợp, chúng ta cầnnắm vững yêu cầu các loại và giống cây trồng đối với các kiểukhí hậu, đất đai và khả năng của chúng sử dụng điều kiện ấy(Nguyễn Vy, 1982) [49]
Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con ngời ít
có khả năng thay đổi đối với cây trồng, con ngời có thể lựachọn và di thực chúng và với trình độ hiểu biết sinh học hiện
đại, con ngời có khả năng thay đổi bản chất của chúng theo ớng mà mình mong muốn
h-1.1.2.5 Điều kiện kinh tế - xã hội
Nhìn chung trình độ dân trí và tập quán sản xuất củangời dân có ảnh đến việc xác định hệ thống canh tác trongvùng Đồng bào dân tộc thiểu số vốn trình độ dân trí thấp lại
có tập quán canh tác lạc hậu chủ yếu là tự cấp, tự túc, họ quen
Trang 14với hệ canh tác nơng rẫy, chọc lỗ, bỏ hạt, không chú trọng đếnthâm canh cây trồng và sản xuất hàng hoá Bởi vậy, xác định
hệ thống canh tác cho cộng đồng dân c này phải tính tới khả
năng thực tế và trong tơng lai phải trên khả năng của họ một
b-ớc, đồng thời phù hợp với tập quán sản xuất của họ
Đối với đồng bào Kinh, việc lựa chọn hệ thống canh tác cóchiều hớng thuận lợi và đa dạng hơn vì họ đã có trình độcanh tác cao hơn, có khả năng áp dụng những tiến bộ kỹ thuậtvào sản xuất để đạt đợc hiệu quả kinh tế cao hơn Hệ thốngcanh tác đối với nhóm ngời này theo hớng thâm canh cao đòihỏi trình độ kỹ thuật tiên tiến và không những tự cung tự cấp
đủ lơng thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những nông sản
có tính chất hàng hoá
Cơ sở hạ tầng cũng liên quan đến việc xác định hệthống canh tác Nơi có cơ sở hạ tầng phát triển (đờng giaothông, thuỷ lợi,…) thì bố trí hệ thống canh tác có tính đếnviệc thuận cho việc chăm sóc, thâm canh, thu hoạch sản phẩm
và vận chuyển đến cơ sở chế biến hoặc thị trờng tiêu thụ…
1.1.2.6 Điều kiện thị trờng
Nhu cầu thị trờng và định hớng kinh tế - xã hội trong từngthời kỳ cũng cần đợc xem xét kỹ khi xác định hệ thống canhtác Nhu cầu thị trờng sẽ là một trong những yếu tố quyết
định cho hộ gia đình dự tính canh tác gì, số lợng bao nhiêu,vào thời điểm nào để đem lại hiệu quả cao nhất về mặt kinh
tế và yếu tố này trở nên quan trọng khi sản xuất hàng hoá
trong nông nghiệp phát triển Do vậy, xác định hệ thống canhtác phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từngvùng (Đào Trọng Hải, 1997) [18]
1.1.2.7 Điều kiện môi trờng
Trang 15Hệ sinh thái nông nghiệp nói chung và hệ sinh thái đồngruộng nói riêng là một trong những hợp phần chủ yếu của toàn
bộ hệ sinh thái môi trờng Việc xác định hệ thống canh tácmục đích không những thu đợc hiệu quả kinh tế cao nhất,hiệu quả về mặt xã hội mà còn phải tính đến hiệu quả vềmặt môi trờng
Tác động trở lại của hệ thống canh tác đó đối với môi ờng xung quanh là tích cực hay tiêu cực để đảm bảo cho việcphát triển bền vững Vì vậy hệ thống canh tác đợc xác địnhphải có tác động bảo vệ môi trờng ở các khía cạnh sau:
tr Bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất
- Giảm đợc xói mòn đất nh việc sử dụng hệ thống canh tácnông lâm kết hợp
- Sử dụng tiết kiệm các loại phân vô cơ và thuốc trừ sâu,trừ cỏ dại…
ở các tỉnh vùng cao và miền núi, hệ thống nông nghiệp
cổ truyền là hệ thống mang nhiều tính chất địa phơng, baogồm các tập quán canh tác của các dân tộc đã sống lâu đời ở
địa phơng mà điển hình nhất là hệ thống nơng rẫy du canh
đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế nh khai thác cạn kiệt các nguồntài nguyên sẵn có của đất, không trả lại độ phì nhiêu cho
đất, gây ảnh hởng xấu tới môi trờng xung quanh Mặt khác khisản xuất hàng hoá trong nông nghiệp phát triển, do nhu cầuthị trờng ngời nông dân tập trung mọi nguồn lực để bóc lột
đất, bắt đầu sản xuất ra nhiều nhất sản phẩm nông nghiệp
để đáp ứng nhu cầu thị trờng, và họ không còn để ý đếnbảo vệ môi trờng, làm cho môi trờng xung quanh ngày càng bịsuy giảm theo chiều hớng xấu đi Do đó việc xác định hệthống canh tác cần quan tâm đến cả hai khía cạnh: vừa đảm
Trang 16bảo đợc lợi ích kinh tế của ngời sản xuất, vừa bảo vệ đợc môitrờng cũng nh sự cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên.
Các hệ sinh thái tự nhiên luôn có sự cân bằng về năng lợng
và vật chất Thông thờng ngời ta phá các quần thể tự nhiên vàthay thế bằng các quần thể nhân tạo, thì sự cần bằng vốn cócủa nó bị phá vỡ và phải tạo lại bằng các biện pháp kỹ thuật
Muốn đạt đợc hệ sinh thái nhân tạo có hiệu quả cao cần thiếtphải nghiên cứu quy luật của hệ sinh thái tự nhiên ở cùng điềukiện
Mặt khác con ngời phải nghiên cứu cấu trúc của hệ sinhthái nhân tạo cho phù hợp, trong vòng tròn đó là giải quyết mốiquan hệ giữa cây trồng với hệ sinh thái đồng ruộng, giữa hệsinh thái đồng ruộng với môi trờng xung quanh Hệ sinh thái
đồng ruộng là tập hợp có trật tự bên trong hay bên ngoài củacác yếu tố có liên quan đến nhau (hay tác động lẫn nhau)
Thành phần của hệ sinh thái đồng ruộng là các yếu tố, đó làphần không biến đổi của hệ sinh thái, giữa các yếu tố có mốitác động qua lại với nhau, các mối quan hệ và tác động giữacác yếu tố bên trong mạnh hơn so với các yếu tố bên ngoài hệsinh thái, tạo nên trật tự của hệ sinh thái (Đào Trọng Hải, 1997)[18]
Trang 17tiêu, mong muốn và nguồn lực của nông hộ…[63] Do đấy kháiniệm hệ thống nông trại (Farming Systems) gần giống với kháiniệm hệ thống sản xuất (Production Systems) coi nông trại nhmột phối hợp của các hệ thống trồng trọt, đồng cỏ, chăn nuôi,quản lý tài chính (Chombart de Lauwe, 1963 Dẫn theo PhạmChí Thành và Trần Văn Diễn …[32]
Các tác giả ở Viện lúa Quốc tế thì cho rằng hệ thốngcanh tác là tập hợp các đơn vị chức năng riêng biệt của cáchoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị Các đơn vị đó cómối quan hệ qua lại với nhau vì cùng dùng chung nguồn nhânlực từ môi trờng Khái niệm này thờng đợc dùng với những giớihạn vợt khỏi ranh giới cụ thể của từng nông trại, để nói lênnhững đơn vị nông trại có hình thức tơng tự (IRRI, 1980 Dẫntheo Phạm Chí Thành và công sự [34]
Cũng có tác giả cho rằng hệ thống canh tác là hình thứctập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại ởmột môi trờng nhất định, là những phơng pháp công nghệsản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp Định nghĩanày không bao gồm hoạt động chế biến, vốn thờng vợt quá
hình thức phổ biến của nông trại, thờng chỉ sản xuất ra cácsản phẩm trồng trọt và chăn nuôi Nhng nó bao gồm nhữngnguồn lực của nông trại đợc sử dụng cho việc tiếp thị nhữngsản phẩm đó (IRRI, 1989 Dẫn theo Phạm Chí Thành và cộng
sự [34]
Theo Nguyễn Văn Luật: Hệ thống canh tác là tổ hợp câytrồng bố trí theo không gian và thời gian với biện pháp kỹ thuật
đợc thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao
độ phì của đất đai [24]
Trang 18Các cách hiểu trên của các tác giả cho chúng ta nhận thứcchung nhất về khái niệm hệ thống canh tác, đó là một hệthống đợc giới hạn trong một nông trại, mà chứa đựng trong nó
là các hệ phụ: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lýkinh tế đợc bố trí một cách có hệ thống và tơng đối ổn định,phù hợp với mục tiêu của từng nông trại
Theo Nguyễn Duy Tính [40] cho rằng, hệ thống trồng trọt
là hệ phụ trung tâm của hệ thống Nông nghiệp, cấu trúc của
nó quyết định sự hoạt động của các hệ phụ khác nh chăn nuôi,chế biến, ngành nghề… Với khái niệm về hệ thống canh tác
nh đã nêu ở phần trên thì hệ thống trồng trọt là bộ phận chủyếu của hệ thống canh tác
Nói đến trồng trọt nghĩa là nói đến cây trồng Câytrồng đợc trồng với các mục đích khác và ngợc lại với mục đíchkhác nhau ngời ta sẽ trồng các loại cây trồng khác nhau Nh vậycây trồng nông nghiệp có nhiều chức năng khác nhau: có thể
là cây cung cấp lơng thực, thực phẩm có thể chỉ làm chứcnăng bảo vệ cho con ngời, gia súc hoặc cây trồng khác, hoặccũng có thể chỉ là phục vụ giải trí, cải tạo đất… Nhìn chungcây trồng nông nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ cho mụctiêu lơng thực, thực phẩm trực tiếp phục vụ cho con ngời, chophát triển chăn nuôi và làm nguyên liệu cho các ngành Côngnghiệp chế biến
Nghiên cứu hệ thống canh tác nói chung và nghiên cứu hệthống trồng trọt nói riêng cho đến nay vẫn đợc coi là rất phứctạp vì nó liên quan và có mối quan hệ chặt chẽ tới nhiều nguồntài nguyên (đất, khí hậu…) và các lĩnh vực khác nh sâu bệnh,trình độ ngời lao động, vấn đề đầu t, tác động qua lại của
hệ thống cây trồng [58] Tuy nhiên tất cả các vấn đề nghiên
Trang 19cứu trên đều nhằm mục đích sử dụng hợp lý và có hiệu quả tàinguyên đất, tài nguyên khí hậu nhằm nâng cao năng suất câytrồng.
Tơng tự nh vậy cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về hệthống trồng trọt Zandstra [65]; Dufumier [16] cho rằng: Hệthống trồng trọt (Cropping Systems) là hoạt động sản xuất củacây trồng trong nông trại nó bao gồm tất cả các hợp phần cầnthiết để sản xuất một tổ hợp của các cây trồng nông trại vàmối quan hệ của chúng với môi trờng Các hợp phần này baogồm cả các yếu tố tự nhiên, sinh học cần thiết cũng nh kỹthuật, lao động và các yếu tố quản lý
Đào Thế Tuấn [43], [45] cho rằng: Cơ cấu cây trồng là
“thành phần các giống và loài cây đợc bố trí theo không gian
và thời gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tậndụng hợp lý nhất nguồn tự nhiên, kinh tế, xã hội của nó” Ôngcũng cho rằng bố trí cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuậttổng hợp, nhằm sắp xếp lại hoạt động của hệ sinh thái và mộtcơ cấu cây trồng hợp lý, khi nó lợi dụng tốt nhất điều kiện khíhậu và né tránh thiên tai, lợi dụng đặc tính sinh học của câytrồng, tránh sâu bệnh và cỏ dại, đảm bảo sản lợng cao và tỷ lệhàng hoá lớn, đảm bảo tốt chăn nuôi và ngành kinh tế hỗ trợ, sửdụng hợp lý lao động và vật t
Từ các khái niệm trên cho thấy: Hệ thống trồng trọt là mộtthể thống nhất trong mối quan hệ tơng tác giữa các loại câytrồng đợc bố trí hợp lý trong không gian và thời gian, tức là mốiquan hệ giữa các loại cây trồng, giống cây trồng trong từng vụ
và giữa các vụ khác nhau trên một mảnh đất Vì vậy đối tợngnghiên cứu của hệ thống trồng trọt là:
- Công thức luân canh và hình thức đa canh
Trang 20- Cơ cấu cây trồng, giống cây trồng trong từng mùa vụnhất định
- Kỹ thuật canh tác cho hệ thống trồng trọt đóTuy nhiên mỗi hệ thống trồng trọt lại có quan hệ hữu cơ
với môi trờng bên ngoài gồm các điều kiện tự nhiên, điều kiệnkinh tế - xã hội, trình độ canh tác, quản lý của ngời lao động
và nh vậy với những môi trờng khác nhau sẽ quyết định sự tồntại của hệ thống cây trồng khác nhau
Theo Nguyễn Duy Tính [40] Nghiên cứu hệ thống câytrồng trong một hệ thống nông nghiệp nhằm bố trí lại hoặcchuyển đổi chúng để tăng hệ số sử dụng ruộng đất, sử dụng
có hiệu quả tiềm năng đất đai, và lợi thế so sánh của từngvùng sinh thái nông nghiệp cũng nh sử dụng có hiệu quả tiềnvốn, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động, nhằm thu đợc lợinhuận cao trên một đơn vị diện tích đất canh tác
Nội dung chủ yếu trong nghiên cứu phát triển hệ thốngcây trồng là mở rộng diện tích canh tác trên cơ sở khai thácnhững vùng sinh thái không thuận lợi bằng những hệ thống câytrồng thích ứng với các điều kiện bất thuận (hạn hán, únglụt…) Tăng vụ ở các vùng thuận lợi và tơng đối thuận lợi nếu xétthấy hệ số quay vòng của đất còn thấp Thâm canh trênnhững vùng sinh thái có hệ số sử dụng đất cao
Nh vậy nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác tức lànghiên cứu để bố trí lại hoặc chuyển đổi hệ thống cây trồngthích ứng với các điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn nớc, lao
động, tiền vốn…Cùng với quá trình chuyển đổi hệ thống câytrồng cần có những giải pháp kinh tế - kỹ thuật và quản lý chotoàn bộ hệ thống phù hợp với mỗi vùng sinh thái [12], [34]
Trang 211.1.4 Hình thành nền nông nghiệp phát triển bền vững
Để duy trì sự sống con ngời hiện nay phải giải quyếtnhững vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn đó là: bùng nổdân số, ô nhiễm môi trờng, mất cân bằng sinh thái Nhiều nớctrên thế giới đã xây dựng và phát triển nền nông nghiệp theoquan điểm nông nghiệp bền vững (Permalculture hoặcSustainable Agriculture)
Các nhà khoa học đã nêu lên những nguyên tắc chínhtrong việc xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững:
- Mỗi yếu tố thực hiện nhiều chức năng
- Mỗi chức năng quan trọng đợc nhiều yếu tố hỗ trợ
- u tiên sử dụng tài nguyên sinh học
- Tái chu kỳ năng lợng tại chỗ
- Đa canh và đa dạng hoá các loài cây có lợi để tăng sản ợng và tăng mức độ tơng tác trong hệ thống
l Tìm cách sử dụng không gian và mô hình tự nhiên có lợinhất
Năm 1993 uỷ ban thế giới về môi trờng và phát triển(WCED) của Liên hợp quốc đã đa ra khái niệm của sự bền vững
là sự đáp ứng đợc các nhu cầu hiện nay của con ngời nhngkhông làm tổn hại đến nhu cầu riêng của thế hệ tơng lai
Nhóm cố vấn nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế (CGIAR 1989) định nghĩa nông nghiệp bền vững là quản lý thànhcông các nguồn tài nguyên đối với nông nghiệp để đảm bảothoả mãn các nhu cầu thay đổi của con ngời nhng vẫn duy trì
-là tăng cờng chất lợng của môi trờng (Lê Đình Thắng, 1993)[37]
Trang 22Mục đích của các hệ thống canh tác là phải đạt đợc cácyêu cầu về hiệu quả kinh tế, sự ổn định về xã hội và sự bềnvững về mặt môi trờng Hiệu quả kinh tế cao bao giờ cũng là
động lực phát triển sản xuất, nhất là trong điều kiện nền kinh
tế thị trờng nh ở nớc ta hiện nay, đây là một trong những cơ
chế tự điều khiển các hoạt động sản xuất Một loại cây trồnghoặc vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao, đợc thị trờng đòi hỏi sẽ
đợc phát triển rộng rãi, không cần có các khuyến cáo hoặc cácchỉ thị phải phát triển nh trớc đây Tuy nhiên nếu chỉ theohiệu quả kinh tế cao nhất mà không chú ý đến các điều kiệnrằng buộc khác nh điều kiện tự nhiên và đất đai, tình hìnhnhân lực và vốn đầu t, các tiến bộ khoa học và công nghệ sảnxuất thì sẽ bị thất bại hoặc gây hậu quả xấu cho môi trờngthì cũng sẽ bị loại trừ Do đó hiệu quả kinh tế của các hệthống nông nghiệp nói chung, hệ thống canh tác nói riêng phải
đợc đặt trong các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Hiệu quả
kinh tế phải gắn liền với hiệu quả về xã hội và môi trờng thì
sản xuất mới bền vững, đó mới là nền nông nghiệp bền vững
Phát triển kinh tế và sản xuất nông nghiệp bền vững cóquan hệ chặt chẽ, sản xuất nông nghiệp bền vững đợc coi nhmột phần của quá trình phát triển, hỗ trợ và tăng cờng chất lợng
đời sống của nhân dân và liên quan đến toàn bộ xã hội
Nh vậy nông nghiệp bền vững là tiền đề cho sự định c
Nếu không thiết lập đợc hệ thống sản xuất nông nghiệp ổn
định và vững vàng, tồn tại lâu dài, đáp ứng đợc các nhu cầucủa nông dân về thức ăn, ở, mặc, vật liệu xây dựng và hệsinh thái tốt thì ngời nông dân phải bỏ đi nơi khác Điều này
có ý nghĩa đặc biệt trong việc nghiên cứu xây dựng các mô
hình sản xuất nông nghiệp ở vùng cao và miền núi để có thể
Trang 23ổn định đợc đời sống cho đồng bào dân tộc và xoá bỏ tìnhtrạng du canh, du c Một trong những giải pháp cho sự pháttriển bền vững là cần quan tâm đến việc quản lý và sử dụng
đất nông nghiệp lâu bền Việc quản lý sử dụng đất nôngnghiệp lâu bền bao hàm các quy trình công nghệ, chính sách
và các hoạt động nhằm hội nhập những nguyên lý kinh tế, xã
hội với các yêu cầu bảo vệ môi trờng
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nớc có liên quan đến đề tài
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới các nhà khoa học nông nghiệp đã và đangtập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hoàn thiện hệ thốngcanh tác bằng cách đa thêm một số loại cây trồng và hệ thốngcanh tác nhằm tăng sản lợng lơng thực, thực phẩm trên một
đơn vị diện tích trong một năm
Trong lịch sử của chủ nghĩa t bản, Anh là nớc tiến hànhcông nghiệp hoá sớm nhất Khi đó ngời ta suy nghĩ một cáchgiản đơn rằng trong nền kinh tế hàng hoá, nông nghiệp cũngphải xây dựng nh công nghiệp theo hớng tập trung quy mô lớn
mà quên mất một đặc điểm cơ bản của nông nghiệp khác vớicông nghiệp là nó tác động vào sinh vật (cây trồng, vật nuôi)
và điều đó không phù hợp với hình thức sản xuất tập trung quymô lớn
Chính C Mác lúc đầu cũng có những suy nghĩ sai lầm
nh vậy, nhng về cuối đời cũng chính C Mác đã phải nhận
định lại: Ngay ở nớc Anh với nền Công nghiệp phát triển, hìnhthức sản xuất Nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí
Trang 24nghiệp nông nghiệp với quy mô lớn mà là các trang trại gia
đình không dùng lao động làm thuê
Theo nghiên cứu của FAO, [58] cho biết quá trình biến
đổi của các hệ thống nông nghiệp đợc bắt đầu từ khi con
ng-ời biết khai thác thiên nhiên bằng các biện pháp canh tác và đợcthực hiện vào khoảng thời đại đồ đá mới Từ đó các ngànhtrồng trọt, chăn nuôi đã phát triển lan ra khắp các lục địanhằm giải quyết nhu cầu sống cơ bản của con ngời Hệ thốngnông nghiệp đốt rẫy và du mục ở vùng tiểu á có từ cách đây
7000 năm, ở lục địa Trung Hoa và Trung Mỹ từ 3000 - 4000năm, sau đó lan ra Địa Trung Hải và các lục địa khác(Dufumier [16], Đào Thế Tuấn [45] Với hình thức này con ngờitrồng trọt hoa màu, ngũ cốc trong 2 - 3 năm, sau đó bỏ hoá
cho rừng tái sinh từ 10 - 30 năm, đất đợc tái tạo lại độ phì, vớiphơng thức canh tác này đủ nuôi sống 20 - 30 ngời/ km2
Hệ thống nông nghiệp luân canh có cày xới bắt đầu từkhi xã hội có khả năng sản xuất ra các phơng tiện làm đất, phá
vỡ các thảm cỏ, đào bới gốc rễ cây rừng (Thời kỳ đồ sắt) Thờigian này vòng canh tác ngắn: 2 - 4 năm trồng hoa màu lơngthực, sau đó bỏ hoá để cỏ mọc 10 - 15 năm (Dufumier [16],Shaner và cộng sự [63]
Hệ thống nông nghiệp dùng sức kéo, kết hợp giữa trồngtrọt và chăn nuôi, trong đó chăn nuôi giữ vai trò cung cấp thựcphẩm và sức kéo đã làm tăng năng suất lao động lên gấp 2 - 3lần Với hệ thống canh tác này đất đợc khai thác và phục hồi
độ màu mỡ trở lại nhờ đợc bón phân chuồng nên năng suất câytrồng đạt khá cao (Hải Đạt, [7]
Trang 25Đan Mạch thực hiện hệ thống 6 khu: củ quả - ngũ cốcxuân - cây phân xanh - ngũ cốc đông - khoai tây - để nghỉmùa đông (Bùi Huy Đáp, 1996), [6].
Từ những năm 60, các nhà sinh lý thực vật đã phát hiệnrằng: trong tự nhiên, không có một cây nào có khả năng sửdụng toàn thể tài nguyên thiên nhiên ở một vùng, đặc biệt ởvùng nhiệt đới Do vậy hiện nay trên đất đang sản xuất nôngnghiệp, ánh sáng, đất đai, nguồn nớc còn cha đợc sử dụng
đúng mức, còn nhiều khả năng tăng vụ, phát triển sản xuất
ở Châu á vào cuối thập kỷ 60, các nhà nghiên cứu ViệnLúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rằng giống lúa mới thấp cây,
đứng lá tiềm năng sản lợng cao chỉ có thể giải quyết vấn đềlơng thực trong một phạm vi hạn chế Do đó từ những năm
đầu của thập kỷ 70 các nhà khoa học của các nớc châu á đã đisâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theohớng lấy lúa làm nền, tăng cờng phát triển các loại cây hoa màutrồng cạn Các chế độ trồng xen, trồng gối, trồng nối tiếp ngàycàng đợc chú ý nghiên cứu Theo hớng này ở châu á đã hìnhthành “Mạng lới hệ thống canh tác châu á”, một tổ chức hợp tácnghiên cứu giữa Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc Tế (IRRI) và nhiềuquốc gia trong vùng Nhìn chung các nghiên cứu hệ thống câytrồng mới rất đa dạng phong phú và tập trung giải quyết cácvấn đề sau:
- Tăng vụ ngắn ngày để thu hoạch trớc mùa ma lũ
- Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xencanh, luân canh tăng vụ
- Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh,tìm và khắc phục các yếu tố hạn chế để phát triển côngthức đạt hiệu quả cao
Trang 26Chơng trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ
1960 - 1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ một năm làm ớng chiến lợc phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: “Hệcanh tác dành u tiên cho cây lơng thực, chu kỳ một năm hai vụngũ cốc (hai vụ lúa nớc, hoặc một vụ lúa và một vụ lúa mì), đathêm vào một vụ đậu đỗ và đáp ứng đợc 3 mục tiêu: khai tháctối u tiềm năng của đất đai, ảnh hởng tích cực đến độ phì
h-nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của ngời nông dân”
(Hoàng Văn Đức, 1992) [12]
ở Đài Loan để nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng bốtrí hệ thống canh tác hợp lý, ngời ta đã nghiên cứu đa ra cácgiống cây trồng hoa màu chịu rợp trồng xen trong mía (mía làcây công nghiệp chiếm diện tích lớn nhất ở Đài Loan), nghiêncứu cây hoa màu chịu hạn trồng mùa khô để đa vào trồng saukhi thu hoạch lúa mùa (IRRI, 1982) [61]
Kết quả nghiên cứu của các nhà Lâm học trên Thế giớikhẳng định ở những vùng đất nông nghiệp nếu có xây dựngcác đai rừng chắn gió thì tốc độ gió giảm từ 30 - 50% tronggiới hạn 20H và độ ẩm không khí tăng lên từ 7 - 15%, do đấylàm tăng độ ẩm đất, điều hoà đợc chế độ nhiệt theo hớng cólợi cho cây trồng (Phạm Chí Thành, [33])
Nhiều chuyên gia phát triển nông thôn chủ trơng xâydựng hệ thống Nông Lâm Ng kết hợp ở vùng trũng nhằm nângcao hiệu quả của hệ thống canh tác và tính ổn định củachúng Rất nhiều nông dân Philippin đã trồng Chuối tiêu trên bờruộng Lúa - Cá và Chuối đã cho họ một nguồn thu lớn NgoàiChuối một số cây ăn quả bản địa cũng đợc khuyến khích pháttriển nh Chôm Chôm, Landzon, Soursop, Mít…(InternationalInstitute of Rural Reconstruction), [62]
Trang 27ở Trung Quốc, từ những năm 1980, ở khu vực phía Nam
đã thí nghiệm xây dựng nền nông nghiệp sinh thái ởXiaoliang, một vùng đồi của Quảng Đông bị sa mạc hoá, xói mònmạnh, nhiệt độ mặt đất cao, trớc đây ngời ta trồng bạch đànnhng đều không thành công Cuối cùng đã chọn hệ thống canhtác theo hớng đa dạng hoá hệ thống cây trồng và trồng nhiềutầng Theo Triệu Quốc Kỳ (1994) [22] trên đất lúa 2 vụ thuộcvùng núi phía Nam thờng đợc canh tác 2 hoặc 3 vụ với hệ thốngcây trồng là: Lúa - Lúa mì - khoai tây (hoặc lạc - đậu tơng -lúa mì) Trên đất lúa một vụ thuộc vùng cao nguyên (gồm tỉnhVân Nam, Quế Châu, Tứ Xuyên, Tây Tạng), thờng đợc canh tácvới hệ thống cây trồng là lúa luân canh với cây trồng cạn(Triệu Quốc Kỳ, 1994) [22]
ở Thái Lan trong điều kiện thiếu nớc, một hệ thống canhtác lúa xuân - lúa mùa ít mang lại hiệu quả và chi phí tiền nớcquá lớn, cộng thêm sự độc canh cây lúa làm ảnh hởng xấu đếnchế độ đất Bằng việc chuyển dịch cây lúa xuân sang cây
đậu tơng giá trị tổng sản phẩm tăng lên đáng kể, diện tíchtăng gấp rỡi, hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi, độ phì đất đợcnâng lên rõ rệt Đã mang lại một thành công lớn trong chuyểndịch cơ cấu cây trồng ở Thái Lan (Tejwani, V.L - Chun K LaiIndonesia 1992) [64]
Ví dụ: Tại Chiềng Mai (Bắc Thái Lan) trong những năm
1971 - 1976 đã thí nghiệm 6 công thức hệ thống cây trồngtrong canh tác nh sau:
- Lúa + lúa mì + ngô
- Lúa + cà chua + lạc
- Lúa + đậu + đậu tơng
- Lúa + khoai lang + bắp cải
Trang 28- Lúa + cà chua + đỗ xanh
- Lúa + lạc + bắp cải (hoặc ngô non)Kết quả điều tra ở Chiềng Mai cho thấy hệ canh tác 2 vụlúa + 1 vụ màu hoặc lúa cạn là phổ biến nhất Cây màu thờng
là đậu tơng, thuốc lá, tỏi, hành, đậu đỗ, rau xanh Tỷ lệ trồng
3 vụ trong năm (lúa - màu - lúa cạn) còn ít
ở Indonexia đã nghiên cứu mối quan hệ giữa khí hậu ởcác vùng sinh thái khác nhau và hệ canh tác hiện có cho thấy
nh sau:
- Tại tỉnh Bago có một mùa ớt liên tục, một khoảng đứtquãng ngắn thờng ở giữa tháng 6 và tháng 8, lúa thu hoạch suốtnăm, đỉnh cao thu hoạch tháng 5, 6 trong mùa ớt, lạc thu hoạchsuốt năm, một đỉnh nhỏ ở tháng 6
- Tại Banuma có mùa khô ngắn, mùa ớt dài Hai đỉnh thuhoạch lúa khoảng (tháng 9, 10) chứng tỏ đa số nông dân trồnghai vụ lúa trên một diện tích Ngô thu hoạch vào đỉnh mùa ma,
đậu tơng thu hoạch vào cuối mùa khô (tháng 10) hoặc vào cuốimùa ma (tháng 5), lạc thu hoạch quanh năm (Nguyễn Điền - Trần
Đức, 1993), [10]; (Bùi Thị Xô, 1994) [50]
ở những khu vực đất bằng, nông dân châu á đã sử dụngnhiều hệ canh tác Những hệ thống này gồm các hệ thống câytrồng khác nhau (lúa, rau, khoai lang, ngô, đậu…) nói chung hệthống cây trồng luân canh giữa chế độ cây trồng nớc và chế
độ cây trồng cạn, giữa cây lơng thực và cây họ đậu, hệthống luân canh giữa không gian và thời gian đã đợc nhiềunhà nghiên cứu đề cập và kết luận có hiệu quả (Hoàng Văn
Đức, 1992) [13]; (Triệu Quốc Kỳ, 1994) [22]
Vấn đề hiệu quả kinh tế của các công thức luân canhtrên đất lúa cũng đợc nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc
Trang 29biệt ở ấn Độ và Pakistang Nghiên cứu về vấn đề này các tácgiả đã đề cập đến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý, phụthuộc vào điều kiện canh tác và giá cả nông sản hàng hoá trênthị trờng Tại vùng Dandkadi, năm 1981 có 13 công thức luâncanh khác nhau đợc áp dụng, năm 1982 có 18 công thức luâncanh, năm 1983 có 16 công thức luân canh, trong đó phổbiến nhất là cơ cấu 2 vụ Tại vùng Mirrapur và Tangril có cáccông thức luân canh đáng chú ý là lúa - lúa hè, đảm bảo nềncho việc tăng thêm vụ đông cho một đơn vị diện tích với cáccây trồng là lúa mì, cải canh, khoai tây, ớt, kê…Công thứcluân canh này đợc nông dân áp dụng rộng rãi vì nó đảm bảolơng thực quanh năm và có hiệu quả kinh tế cao (Bùi Thị Xô,1994) [50]
Chơng trình SALT của Philippines đã khảo nghiệm có kếtquả với hệ thống cây trồng và biện pháp canh tác nh sau: cáccây hằng năm và cây lâu năm đợc trồng thành băng xen kẽrộng từ 4 - 5m, các loại cây họ đậu cố định đạm đợc trồngthành 2 hàng dầy theo đờng đồng mức để tạo thành hàngrào Khi những cây hàng rào cao 1,5 - 2m ngời ta đốn, để lại40cm gốc, cành lá dùng để rải lên băng tạo lớp che phủ và giữ
ẩm, chống xói mòn Cây lâu năm thờng là cây cà phê, cao su,cam…Điểm trình diễn từ năm 1978 trên đất có độ dốc 200,thực tế thu nhập bình quân hàng năm trên 1ha áp dụng SALTcao gấp 3 lần so với hệ thống độc canh cổ truyền Mô hìnhnày cũng đợc B T Kang (IITA) mang áp dụng ở Nigiêria gọi làcanh tác theo băng (Alley Cropping) (Hoàng Văn Đức, 1992) [13]
Nh vậy, ở nớc ngoài, các nghiên cứu về hệ thống canh tác,
hệ thống cây trồng, các biện pháp trồng xen, trồng gối, trồngnối tiếp, thâm canh, tăng vụ đợc tiến hành từ rất sớm Việc đa
Trang 30các cây ăn quả, cây họ đậu vào hệ thống canh tác đợc đánhgiá rất cao trong việc cải tạo, bồi dỡng đất đai, tăng tính ổn
định của hệ thống và góp phần làm tăng hiệu quả, tăng năngsuất và sản lợng của toàn bộ hệ thống canh tác Những nghiêncứu này đã đợc ứng dụng có hiệu quả trong sản xuất nôngnghiệp và góp phần phát triển khoa học hệ thống nôngnghiệp, góp phần tăng năng suất cây trồng và nâng cao đờisống của nhân dân lao động
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nớc
Tình hình nghiên cứu hệ thống nông nghiệp nói chung
và hệ thống canh tác nói riêng ở nớc ta đã đợc bắt đầu từ rấtlâu
Trong bài “ Nghiên cứu hệ thống canh tác ở miền Bắc ViệtNam” Phạm Chí Thành đã nêu chủ trơng xây dựng chế độcanh tác theo các biến sinh thái với hệ thống phân cấp củaValenza (1982) thay thế cho cách làm hiện tại là xây dựng chế
độ canh tác cho từng thửa ruộng cụ thể và chế độ canh táccho từng hợp tác xã
Chia chế độ canh tác ra thành phần cứng và phần mềm
Phần cứng gồm các biện pháp bắt buộc phải làm vì nó phục
vụ cho những cái chung của cả hệ thống Còn phần mềm gồmcác biện pháp kỹ thuật có thể thay đổi theo thị trờng, theo
điều kiện kinh tế, phong tục và kỹ năng lao động của từngnông dân
Cuộc cách mạng đầu tiên trong nông nghiệp diễn ra ởTây âu vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đã làm thay đổichế độ độc canh bằng chế độ luân canh với 4 khu luânchuyển trong 4 năm giữa ngũ cốc và cỏ 3 lá Trớc đó nông dânvùng này độc canh lúa mỳ 2 năm rồi bỏ hoá 1 năm Cuộc cách
Trang 31mạng về hệ thống canh tác đã làm thay đổi cơ cấu câytrồng, đa cây thức ăn gia súc và cây họ đậu vào công thứcluân canh, nhờ đó năng suất cây trồng tăng lên đáng kể, đất
đai đợc bồi dỡng cải tạo (Phùng Đăng Chinh và cộng sự, [2];
(Phạm Bình Quyền và cộng sự, [29] Giai đoạn của Nôngnghiệp gắn với công nghiệp, cơ giới hoá, hoá học hoá, thuỷ lợihoá…đã tạo ra nhiều nông sản hàng hoá và cũng xuất hiệnnhững mặt trái của nền Nông nghiệp theo hớng Công nghiệp
Giai đoạn 3 của cuộc cách mạng trong Nông nghiệp theo hớngtrí tuệ, con ngời sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, vừa đạt năngsuất cao vừa bảo vệ đợc môi trờng (Cao Liêm - Trần Đức Viên,[23]
Khi tiến hành nghiên cứu ở Sóc Sơn, Phạm Chí Thành [31]
đã đa vào dạng địa hình, chế độ ma, hiện trạng thuỷ lợi đểchia ra các nhóm biến sinh thái Sau đó ở mỗi nhóm biến sinhthái, dựa vào tiêu chuẩn phân vị loại đất (địa hình, độ dầytầng đất, thành phần cơ giới, pH, lân dễ tiêu, mùn) để chiathành các biến sinh thái Trên từng biến sinh thái tiến hànhnghiên cứu hệ thống canh tác truyền thống, từ đó rút ra cácmặt hạn chế và đề xuất hệ thống canh tác mới cho từng biếnsinh thái có kèm theo các biện pháp kỹ thuật thích ứng
Vào những năm đầu của thập kỷ 60, Đào Thế Tuấn cùngvới các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệpViệt Nam trên cơ sở vận dụng những căn cứ cơ sở khoa học xác
định hệ thống cây trồng hợp lý và theo yêu cầu của thực tếsản xuất đòi hỏi, đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu về cơ
cấu cây trồng ở vùng Châu thổ Sông Hồng và đã đa ra nhữngnhận định về những yêu cầu cần đạt đợc của một cơ cấucây trồng nh sau:
Trang 32- Lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và tránh đợcnhững tác hại của thiên tai.
- Lợi dụng tốt nhất các điều kiện đất đai, bảo vệ và bồi ỡng độ màu mỡ của đất
d Lợi dụng tốt nhất các đặc tính sinh học của cây trồng(khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt, ngắn ngày,tính thích ứng rộng, tính chống chịu bất lợi của điềukiện ngoại cảnh)
- Tránh đợc tác hại của sâu bệnh, cỏ dại với việc sử dụng ítnhất các biện pháp hoá học
- Đảm bảo tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao, đảm bảo hiệu quả
kinh tế cao
- Đảm bảo hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triểnchăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên (Đào Thế Tuấn,1987) [47]
Các tác giả cũng đã đa ra nhận xét: “Trên đất lúa 2 vụ,
đa cơ cấu vụ lúa xuân với các giống lúa ngắn ngày đã để lạimột khoảng thời gian trống giữa hai vụ lúa (từ sau thu hoạch lúamùa sớm và lúa mùa chính vụ đến khi cấy lúa xuân) tạo điềukiện để xây dựng một hệ thống cây trồng có hiệu quả trên
đất 2 vụ lúa”
Từ những kết quả nghiên cứu của mình, các tác giả đã
đ-a rđ-a một số hệ thống cây trồng cụ thể cho vùng Đồng BằngSông Hồng nh sau:
- Trên đất 2 vụ lúa chủ động nớc tới:
+ Lúa Mùa - màu vụ Đông (khoai tây, khoai lang, ngô) - lúaXuân
+ Lúa Mùa - rau vụ Đông (cà chua, xu hào, bắp cải) - lúaXuân
Trang 33- Trên đất 2 vụ lúa thấp ngập nớc:
+ Lúa Mùa - bèo dâu - lúa Xuân+ Lúa Mùa - bèo dâu - lúa Xuân - điền thanh (Đào Thế Tuấn,1989) [44]
Chế độ canh tác trên đất 2 vụ lúa với các hệ thống trồngtrọt nh trên từng bớc đợc áp dụng rộng rãi ở châu thổ sôngHồng và các vùng khác trong cả nớc đã tạo nên những chuyểnbiến khá rõ nét về sản xuất lơng thực, thực phẩm ở từng vùngtrong cả nớc
Nghiên cứu về hệ thống cây trồng trên đất canh tác chủyếu nhờ nớc trời, Bùi Huy Đáp đã có nhận xét: hai vụ màu Đông
và Xuân, lúa mùa tiếp chân, sử dụng những loại màu Xuân cóthời gian sinh trởng dài, ngắn khác nhau, tuỳ theo sau màu sẽtrồng lúa Mùa sớm hay lúa Mùa chính vụ Đây là chế độ canh táckhai thác đợc khá triệt để tiềm lực của các loại đất cao cấymột vụ lúa mùa nhờ nớc trời Trên chân đất chuyên trồng màu ởcác vùng đất bãi ven sông, hệ thống cây trồng có hiệu quả
ngay sau nớc rút, trồng ngô thu đông (hoặc rau, đậu sớm), sau
đó trồng ngô xuân (hoặc đậu tơng, đậu đỗ khác vụ xuân)(Bùi Huy Đáp, 1996) [6]
Một số tác giả cho rằng, ở nớc ta có 3 loại hình luân canhtăng vụ:
- Luân canh giữa cây trồng cạn với nhau
- Luân canh giữa cây trồng cạn với cây trồng nớc
- Luân canh giữa cây trồng nớc với nhau
Trang 34hệ thống cây trồng luân canh giữa cây dợc liệu (bạc hà, địahoàng, bạch chỉ…) với cây lơng thực hoặc cây công nghiệpngắn ngày (Phùng Văn Chinh, Lý Nhạc, 1987) [2]
Hệ thống canh tác là tổ hợp cây trồng bố trí theo khônggian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật đợc thực hiệnnhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì của
đất đai, Nguyễn Duy Tính (1995), [40]
Phạm Chí Thành (1993), [32] cho rằng để xây dựng hệthống canh tác phải đợc làm từng biến sinh thái của từng vùng
và hệ thống canh tác phải đợc xây dựng theo quan điểm lịch
sử, theo một trật tự từ thấp lên cao, vì vậy nó là yếu tố độngtheo thời gian và không gian
Phạm Chí Thành (1994), [34] khi nghiên cứu chuyển đổi
hệ thống canh tác vùng kinh tế sinh thái và du lịch ven đờng
21 tỉnh Hà Tây cho rằng: nớc ta cũng nh nhiều nớc đang pháttriển khác đã áp dụng một chiến lợc phát triển chủ yếu dựa trênthành tựu của cuộc “cách mạng xanh”, nhằm vào một số sảnphẩm nông nghiệp quan trọng nhất nh lúa nớc, lúa mỳ, ngô…
bằng cách tập trung đầu t vào một số nhân tố phát triển quantrọng nhất và cũng dễ cải tiến nh năng suất cao, thuỷ lợi, phânbón hoá học và thuốc phòng trừ dịch hại Cách phát triển nàychỉ thực hiện đợc ở một số vùng có điều kiện sinh thái thuậnlợi, còn ở các vùng đất “có vấn đề” nh hạn, úng, mặn, phèn, cát,
đất trọc…các tiến bộ kỹ thuật này tỏ ra cha thích ứng Ngayvới các vùng thuận lợi, năng suất đã gần đạt tới giới hạn cao, giá cả
vật t nông nghiệp tăng lên làm cho hiệu quả đầu t giảm, giảmtốc độ phát triển
Muốn đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp trong thờigian tới, phải tìm một số chiến lợc phát triển khác thích ứng với
Trang 35các điều kiện sinh thái khó khăn, không đòi hỏi đầu t lớn, cóhiệu quả kinh tế cao.
Mâu thuẫn chủ yếu của sự phát triển về kinh tế nớc ta làcần có một tốc độ phát triển nhanh nhng khả năng đầu t lạihạn chế Giải quyết vấn đề này không chỉ trông mong vào
đầu t nớc ngoài mà phải phát hiện và huy động chủ yếu cácnguồn lực bên trong hệ thống Các nguồn lực đó là:
- Đất đai: chủ yếu không phải là phát triển theo chiều rộng(mở thêm diện tích) mà theo chiều sâu (thâm canh, tăngvụ)
- Lao động: là nguồn lợi lớn nhất (theo kinh nghiệm của cácnớc Đông á) mà hiện ta đang coi là khó khăn
- Nguồn vốn của dân, hiện nay ta vẫn cha huy động đợcnhiều do thiếu chính sách vốn, nhiều lao động, tiết kiệmnăng lợng
Trần An Phong (1995), [26] khi nghiên cứu cơ sở khoa họccủa cải thiện hệ thống cây trồng trên quan điểm sinh thái vàphát triển lâu bền, cho rằng: các hệ thống sử dụng đất và hệthống cây trồng đợc chọn phải phù hợp với điều kiện sinh thái,vừa có giá trị sản lợng, thu nhập cao, nâng cao độ phì nhiêucủa đất vừa tạo nhiều việc làm cho các nông hộ theo hớng đadạng hoá cho các cây trồng
Trần An Phong (1993), [27] trong nghiên cứu cơ sở khoahọc sử dụng đất Đồng Bằng Sông Cửu Long đã nhấn mạnh khả
năng thâm canh tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng ở vùng phù
sa chủ động nớc, đồng thời chú ý tăng vụ và đổi mới giống ởvùng đất phèn mặt và sản xuất chủ yếu dựa vào nớc ma
Lê Thanh Hà (1993), [17] nghiên cứu hệ thống canh táctrên đất dốc Văn Yên - Yên Bái cho thấy các hệ thống canh tác
Trang 36có hiệu quả trên đất dốc Văn Yên là: quế rừng; sắn mía rừng; cây ăn quả - mơ; gừng - rừng.
-Phạm Chí Thành - Trần Đức Viên (1994), [35] nghiên cứuchuyển đổi hệ thống canh tác vùng trũng Đồng Bằng SôngHồng cho thấy những hệ thống canh tác mới (cây ăn quả - nuôicá - cấy lúa), (cá - vịt) tăng thu nhập thuần từ 2 - 5 lần so với hệthống canh tác cũ
Phạm Chí Thành (1994), [34] nghiên cứu sử dụng vùng đất
đồi gò tỉnh Hà Tây cho thấy chúng ta có đủ điều kiện đểkiến tạo những hệ thống canh tác có hiệu quả kinh tế, sinh tháicao thay thế diện tích đất trống, đồi núi trọc
Võ Tòng Xuân (1993), [52] nghiên cứu mô hình canh táclúa - tôm ở xã Đại Thành, huyện Phụng Hiệp - Cần Thơ cho thấytổng lợi nhuận tăng đáng kể, tác giả cũng chỉ ra mật độ nuôithích hợp là 1,4 con/m2
Mai Văn Quyền (1992), [30] trong tài liệu đánh giá hiệntrạng hệ thống trồng trọt trên vùng đất xám huyện Đức Hoà -Long An chỉ ra hệ thống trồng trọt tối u và mối quan hệ tơngtác giữa trồng trọt và chăn nuôi ở từng môi trờng sinh thái cụthể
Tào Quốc Tuấn (1994), [48] nghiên cứu xác định cơ cấucây trồng hợp lý vùng phù sa ngọt đồng bằng Sông Cửu Long,nêu lên 28 mô hình cho vùng, định hớng phát triển và các giảipháp tổ chức trong đó có giải pháp về chính sách
Để giải quyết tình trạng phá rừng và thoái hoá đất docanh tác nơng rẫy, ở nhiều nớc đã sử dụng hệ canh tác NôngLâm kết hợp nhằm phối hợp hai mục đích mẫu thuẫn với nhautrong một hệ sinh thái (Roche, 1974) Nội dung của phơng pháp
là giao đất cho nông dân trồng rừng và kết hợp trồng cây
Trang 37l-ơng thực giữa các hàng cây còn non Cây ll-ơng thực đợc trồng
là Ngô, Khoai, Lạc, Đậu…Lúc rừng đã khép tán, giao lại cho cơ
quan lâm nghiệp và lĩnh tiền thởng Phơng pháp này áp dụng
ở Nigeria có kết quả tốt ở các vùng rừng nhiệt đới, ngời ta cóthể dùng các cây lâu năm nh Cao su, Cà phê, Dừa,…thay chocác cây trồng lơng thực hàng năm
Đào Thế Tuấn, [45] nghiên cứu các cây lâm nghiệp lâunăm trên đất dốc đã nhận xét: hệ sinh thái cây lâu năm cóchu trình dinh dỡng gần giống với hệ sinh thái rừng về mặt bảo
vệ độ màu mỡ của đất và hút các chất dinh dỡng ở tầng sâu
Mỗi năm từ hệ sinh thái cây lâu năm bị lấy đi một lợng chấtdinh dỡng nhng chúng đợc hoàn trả bằng một lợng phân bón màcon ngời đa vào Hệ sinh thái cây lâu năm có nhợc điểm đơn
điệu về thành phần loài, có thể dẫn tới giảm tính chống chịuvới sâu bệnh và các tác nhân phá hoại, sẽ đợc con ngời hỗ trợbằng việc phòng trừ sâu bệnh và một loạt các biện pháp bổxung khác Để phát triển hệ sinh thái này phải phối hợp câytrồng và cây rừng tốt nhất, kết hợp cả trồng trọt và chăn nuôi
Đào Châu Thu, [38]; Bùi Quang Toản, [42] khi nghiên cứu
về đất dốc ở Tây Bắc đã rút ra kết luận: có thể xây dựng
đ-ợc những mô hình sản xuất nông nghiệp ổn định trên đấtdốc trên cơ sở một hệ thống phân loại sử dụng đất hợp lý theoquan điểm sinh thái Nông Lâm kết hợp
Trần Nh ý đề xuất các hệ thống canh tác trên đất dốc ởmột số vùng thuộc miền núi phía Bắc, đã đa ra các hệ thốngcây ăn quả thay thế cho cây lơng thực tạo thu nhập cao vàbảo vệ đợc môi trờng, hạn chế việc phá rừng đốt nơng trànlan, giúp dân định canh, định c
Trang 38Lê Thành Đờng (1992), [9] nghiên cứu hiệu quả kinh tế củacác loại hoa màu trồng tại Phú Châu - An Giang đã chọn ra 2 loạicây cho lãi cao gần 4 triệu đồng/ha/vụ là bắp và đậu trắng.
Nguyễn Ngọc Trâm (1994), [41] nghiên cứu cơ cấu câytrồng và hệ thống luân canh cây trồng vùng đất cát ven biểnThừa Thiên - Huế, rút ra kết luận công thức: ớt - lúa cho giá trịgia tăng cao nhất và hiệu quả chi phí đầu t cao nhất
Lê Hng Quốc (1994), [28] trong nghiên cứu chuyển đổi cơ
cấu cây trồng vùng gò đồi tỉnh Hà Tây cho thấy một số hệthống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao vùng gò đồi Hà Tây:
- Trên đất đỏ vàng trồng lúa: là hệ thống canh tác 3 vụ,trong đó 2 lúa và 1 rau (hoặc khoai tây - đậu tơng)hoặc 2 màu 1 lúa (lạc Xuân - lúa Mùa - đậu tơng hoặckhoai tây)
- Trên đất phù sa đợc bồi (bãi bồi): công thức 2 màu (ngô
Thu Đông - ngô Xuân Hè - cũng cho hiệu quả khá cao
- Trên đất phù sa không đợc bồi: công thức 3 vụ cho hiệuquả cao Trong đó vụ Xuân có thể trồng lúa Xuân hoặclạc Xuân, ngô Xuân Vụ Mùa trồng lúa Mùa và vụ Đôngtrồng rau, khoai lang, đậu tơng
Đây là hệ thống cây trồng trên vùng đất phù sa có giá trịsản phẩm và có thu nhập cao
ở cùng một điều kiện sinh thái, chế độ luân canh 3 vụmang lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập thuần và tỷ suất lợinhuận cao, làm tăng độ phì của đất, đặc biệt là các cây họ
đậu tham gia Cây trồng vụ đông có vai trò quan trọng, làmtăng độ ẩm đất và làm tăng năng suất cây trồng vụ sau
Trần An Phong (1993), [26] khi nghiên cứu bớc đầu cơ sởkhoa học cải thiện hệ thống cây trồng trên quan điểm sinh
Trang 39thái và phát triển lâu bền cho rằng: muốn tạo lập một nềnnông nghiệp theo quan điểm sinh thái phải nhận thức và tổchức thực hiện có kết quả rõ ràng việc sử dụng đất hợp lý vớicải thiện hệ thống cây trồng và đa canh trong nông nghiệp,xem đó là một bộ phận hợp thành “chiến lợc sử dụng đất hợplý” theo quan điểm sinh thái và “phát triển lâu bền” với mụctiêu quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, định hớng sựthay đổi công nghệ và tổ chức thực hiện nhằm đảm bảoviệc thoả mãn nhu cầu liên tục của con ngời thuộc các thế hệhôm nay và cả mai sau
Để đáp ứng những mục tiêu đồng thời của việc tăng cácsản lợng và giảm bớt rủi ro môi trờng, việc thâm canh có thểdiễn ra theo cả hai hớng không gian và thời gian, trên cả hai h-ớng trên, sự thâm canh thông qua đa dạng hoá có liên quan tớilựa chọn cây trồng, vật nuôi, đầu t và các hoạt động quản lý
mà chúng thúc đẩy các mối quan hệ sinh thái tích cực và cácquá trình sinh học trong tổng thể hệ sinh thái nông nghiệp
Hiệu quả hệ sinh thái nông nghiệp đợc cải tiến đôi khi thểhiện thông qua hệ thống cây trồng hỗn hợp, trong khi đó mọitài nguyên bên trong đợc quản lý tốt để nâng cao hiệu quả
sản lợng
Tóm lại: Nhiều công trình nghiên cứu trong nớc tổng hợp
và chuyên đề về hệ thống canh tác đã đợc tiến hành ở nhiềunơi và đã có những kết quả nhất định Phần lớn các tác giả
nghiên cứu theo hớng chọn các hệ thống canh tác có các hệthống cây trồng phù hợp trên các loại đất với các loại cây trồng(lâu năm hoặc hàng năm) vừa đảm bảo có hiệu quả kinh tếcao, hiệu quả xã hội lớn, vừa bảo vệ đất Tuy nhiên trong nhữngnghiên cứu trớc đây, các tác giả còn ít đề cập về những tiến
Trang 40bộ khoa học và kỹ thuật công nghệ sinh học mới, do yếu tố thịtrờng và các hạn chế khác nên các mô hình canh tác không mở
ra diện rộng đợc… Đây là những vấn đề cần đợc đa vàotrong nghiên cứu hệ thống canh tác nói riêng và hệ thống nôngnghiệp nói chung hiện nay
1.2.3 Đặc điểm hệ thống canh tác vùng nhiệt đới và những vấn đề cần nghiên cứu ở vùng đất ven sông Hồng
1.2.3.1 Đặc điểm hệ thống canh tác ở vùng nhiệt đới ẩm
- Vùng nhiệt đới có tiềm năng quang hợp caoNguyên lý cơ bản của sản xuất Nông nghiệp là biến nănglợng ánh sáng mặt trời thành lơng thực và các sản phẩm khác
Tuy vậy tiềm năng của ánh sáng chỉ có thể phát huy đợc khi có
đủ nớc và dinh dỡng
ở vùng Nhiệt đới năng lợng ánh sáng đạt đợc 130 - 220Kcal/cm3/năm, trong khi ở các nớc Ôn đới chỉ có 80 - 120Kcal/cm3/năm Nhng những điều kiện khác ngoài ánh sáng thì
ở các nớc Nhiệt đới lại không đủ: Trong mùa khô năng lợng ánhsáng nhiều nhng lại thiếu ẩm, ngợc lại vào mùa ma lại ít ánh sáng(Kassan - 1973), (Chang - 1968)
ở vùng Nhiệt đới có thể trồng trọt quanh năm nhng mới chỉ
sử dụng đợc 80% mùa sinh trởng Trong khi ở Đài Loan nhờ biệnpháp tăng vụ đã sử dụng đợc 93% mùa sinh trởng (Holliday -1976) Mùa cây trồng sinh trởng đợc xác định bằng chiều dàimùa ma Nh vậy ở vùng Nhiệt đới mùa ma thờng kéo dài hơn ởvùng Ôn đới, chính vì vậy ở những vùng Nhiệt đới ẩm câytrồng hầu nh có bộ lá xanh quanh năm Nếu trồng các loại câytheo chu trình C4 (Chu trình axit dicacboxylic) nh Ngô, Mía,Cao lơng sẽ có khả năng đồng hoá năng lợng ánh sáng mặt trời