Qua quá trình theo dõi thu được kết quả sau: tỷ lệ sống của ấu trùng tương đối cao trung bình là 53,7%, ấu trùng tôm phát triển tốt, không xuất hiện bệnh trong suốt quá trình ương.. Nhằ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ NGÀNH: 304
TÌM HIỂU MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH ƯƠNG NUÔI TÔM SÚ
(Penaeus monodon) Ở CẦN THƠ VÀ SÓC
TRĂNG
LÊ TUẤN ANH MSSV: 0753040004 LỚP: NTTS K2
Cần Thơ, 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ NGÀNH: 304
TÌM HIỂU MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH ƯƠNG NUÔI TÔM SÚ
(Penaeus monodon) Ở CẦN THƠ VÀ
SÓC TRĂNG
LỚP: NTTS K2
Trang 3CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, Ngày 30 tháng 06 năm 2011
Ký tên
LÊ TUẤN ANH
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành đề tài này, Tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy Nguyễn Minh Hậu đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy Cô Khoa Sinh học Ứng dụng đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt 4 năm học tập tại trường cũng như giúp đỡ cho tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp này
Anh Hoàng Tuấn, anh Võ Tuấn Kiệt và anh Phạm Thiện Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập tại Cơ sở Sản xuất giống tôm sú Hậu Giang, cũng như thời gian điều tra tại Sóc Trăng
Các bạn lớp Nuôi trồng Thủy sản K2 đã đồng hành, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện thật tốt cho tôi hoàn thành chương trình học tập
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 5TÓM TẮT
Vài năm trở lại đây nghề nuôi tôm ở nước ta và đặc biệt là khu vực ĐBSCL phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, tình hình dịch bệnh gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nghề nuôi tôm thương phẩm Từ đó đề tài: “Tìm hiểu một số
bệnh thường gặp trong quá trình ương nuôi tôm Sú (Penaeus monodon) ở
Cần Thơ và Sóc Trăng” được thực hiện Nhằm tạo ra con giống chất lượng và
giảm thiểu dịch bệnh xảy ra trong quá trình nuôi Đề tài được thực hiện tại Trại giống Hậu Giang từ ngày 09/03 đến ngày 01/06/2011 đã tổng hợp được quy trình sản ương tôm Sú giống theo hệ thống lọc sinh học tuần hoàn
Đề tài gồm 2 thí nghiệm được thực hiện gồm 5 bể ương ấu trùng từ giai đoạn
Nauplius đến Postlarvae 12 Qua quá trình theo dõi thu được kết quả sau: tỷ lệ
sống của ấu trùng tương đối cao (trung bình là 53,7%), ấu trùng tôm phát triển tốt, không xuất hiện bệnh trong suốt quá trình ương
Đồng thời
Qua điều tra về tình hình nuôi và dịch bệnh trong nghề nuôi tôm Sú của 30 hộ ở huyện Vĩnh Châu và Mỹ Xuyên (tháng 05/2011) thu được kết quả như sau: tình hình nuôi tôm ở địa bàn điều tra gặp nhiều khó khăn do tình dịch bệnh bùng phát mạnh Đến thời điểm điều tra thì 100% các hộ nuôi tôm ở địa bàn khảo sát
đều bị tôm chết, ghi nhận được một số bệnh: thân đỏ, mòn phụ bộ, đốm trắng,
bệnh về mang, phân trắng và xuất hiện thêm một loại bệnh mới đó là bệnh về gan tôm chiếm tỷ lệ khá cao
Từ khóa: Tôm Sú, bệnh trên tôm Sú, ương nuôi tôm Sú
Trang 6MỤC LỤC
Trang
CAM KẾT KẾT QUẢ i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học tôm Sú 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Tập tính sống 3
2.1.3 Vòng đời phát triển của tôm Sú 4
2.1.4 Phân biệt đực cái 5
2.1.5 Kích cỡ thành thục 6
2.1.6 Tập tính giao vĩ 6
2.1.7 Sự phát triển của buồng trứng 7
2.1.8 Tập tính đẻ trứng 9
2.2 Tình hình sản xuất và nuôi tôm Sú trên thế giới 9
2.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi tôm Sú ở Việt nam và ĐBSCL 11
2.4 Các kỹ thuật liên quan đến quá trình ương tôm 15
2.4.1 Ương ấu trùng theo quy trình thay nước 15
2.4.2 Ương ấu trùng theo quy trình tuần hoàn 15
2.4.3 Một số yếu tố môi trường bể ương ấu trùng 16
2.4.4 Nguyên lý hoạt động của lọc sinh học 16
2.5 Tình hình dịch bệnh trên tôm sú 17
2.6 Một số bệnh thường gặp trong quá trình ương nuôi tôm Sú 19
Trang 72.6.1.1 Bệnh Vi-rút MBV 19
2.6.1.2 Bệnh đầu vàng (YHV) 20
2.6.1.3 Bệnh đốm trắng( WSSV) 21
2.6.1.4 Bệnh phân trắng 22
2.6.2 Bệnh vi khuẩn 23
2.6.2.1 Bệnh do vi khuẩn Vibriosis 23
2.6.2.2 Bệnh vi khuẩn dạng sợi 24
2.6.2.3 Bệnh hoại tử gan ở tôm 25
2.6.3 Bệnh nấm và động vật nguyên sinh 25
2.6.3.1 Bệnh nấm ấu trùng ở giáp xác (nấm Mycosis) 25
2.6.3.2 Bệnh do sinh vật bám 26
2.6.4 Bệnh do các nguyên nhân khác 26
2.6.4.1 Bệnh mang (mang đen, mang đỏ, phồng nấp mang) 26
2.6.4.2 Bệnh cong thân 27
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 28
3.2 Vật liệu nghiên cứu 28
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 28
3.2.2 Điều tra tình hình nuôi tôm ở Sóc Trăng 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.3.1 Theo dõi quá trình sản xuất giống 28
3.3.1.1 Cách bố trí thí nghiệm 28
3.3.1.2 Nguồn nước sử dụng 29
3.3.1.3 Chuẩn bị bể ương 29
3.3.1.4 Nuôi cấy tảo 29
3.3.1.5 Bố trí ấu trùng vào bể 30
3.3.1.6 Thức ăn và chế độ cho tôm ăn 30
3.3.1.7 Quản lý môi trường bể ương 30
3.3.1.8 Chuẩn bị bể lọc sinh học 31
3.3.1.9 Theo dõi các chỉ tiêu môi trường và ấu trùng 31
3.3.2 Điều tra tình hình dịch bệnh trong quá trình nuôi tôm Sú 32
3.3 Phương pháp phân tích số liệu 32
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
Trang 84.1 Kết quả sản xuất giống tôm Sú 33
4.1.1 Tổng quan về trại sản xuất giống Hậu Giang 33
4.1.2 Các yếu tố môi trường bể ương 33
4.1.3 Thời gian biến thái của ấu trùng 36
4.1.4 Kết quả theo dõi ấu trùng và hậu ấu trùng 37
4.1.5 Tỷ lệ sống của hậu ấu trùng 37
4.2 Kết quả điều tra tình hình nuôi tôm Sú ở Sóc Trăng 39
4.2.1 Thông tin chung về nông hộ nuôi tôm ở địa bàn điều tra 39
4.2.2 Một vài khía cạnh kỹ thuật trong các mô hình nuôi 40
4.2.3 Tình hình dịch bệnh trong các mô hình nuôi tôm 44
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đề xuất 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC -1-
Phụ lục I -1-
Phụ lục II -10-
Phụ Lục III -26-
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tuổi và kích cỡ các giai đoạn ấu trùng tôm sú 5
Bảng 2.2: Bệnh của tôm sú nuôi thương phẩm 19
Bảng 4.1: Các yếu tố môi trường bể ương 33
Bảng 4.2: Nhiệt độ của các bể ương 33
Bảng 4.3: pH của các bể ương 34
Bảng 4.4: Ammonia của các bể ương 35
Bảng 4.5: Nitrite của các bể ương 35
Bảng 4.6: Thời gian biến thái (giờ) của ấu trùng 36
Bảng 4.7: Tỷ lệ sống của hậu ấu trùng 38
Bảng 4.8: Kinh nghiệm của các hộ nuôi tôm 39
Bảng 4.9: Trình độ chuyên môn 40
Bảng 4.10: Thông tin mô hình các hộ nuôi 41
Bảng 4.11: Hóa chất sử dụng trong cải tạo ao nuôi 42
Bảng 4.12: Nguồn giống các hộ thả nuôi 43
Bảng 4.13: Một số bệnh trên tôm sú 44
Bảng 4.14: Mức độ gây hại của các loại bệnh 46
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Các giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng tôm 4
Hình 2.2: Vòng đời của tôm sú 6
Hình 2.3: Đặc điểm giao vĩ của tôm sú 7
Hình 2.4: Các giai đoạn phát triển của buồng trứng 8
Hình 2.5: Các khu vực sản xuất tôm sú 10
Hình 2.6: Các khu vực sản xuất tôm thẻ chân trắng 11
Hình 2.7: Diện tích mặt nước NTTS cả nước 13
Hình 2.8: Sản lượng tôm nuôi cả nước 13
Hình 2.9: Diện tích mặt nước NTTS khu vực ĐBSCL 14
Hình 2.10: Sản lượng tôm nuôi khu vực ĐBSCL 14
Hình 4.1: Tỷ lệ sống của hậu ấu trùng của các bể ương 38
Hình 4.2: Trình độ chuyên môn của người nuôi tôm 40
Hình 4.3: Tỷ lệ các hộ nuôi sử dụng hóa chất 42
Hình 4.4: Tỷ lệ các hộ nuôi có tôm nhiễm bệnh 44
Trang 11NN-PTNT Nông nghiệp – Phát triển nông thôn
Trang 12CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Trong vài năm trở lại đây, ngành thủy sản Việt Nam không ngừng phát triển,
đặc biệt là nghề nuôi tôm nước lợ Ở Việt Nam nghề nuôi tôm Sú phát triển từ
Bắc tới Nam, và Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng nuôi thủy sản trọng điểm của cả nước, đã góp phần quan trọng trong việc thay đổi bộ mặt vùng nông thôn ven biển Nghề nuôi tôm ở ĐBSCL trong những năm gần đây không những gia tăng về diện tích nuôi mà còn phong phú về hình thức, ngoài hình thức nuôi tôm
Sú quảng canh theo kiểu tôm rừng, nuôi tôm thâm canh ở các tỉnh ven biển thì các hình thức nuôi tôm quảng canh cải tiến, bán thâm canh và đặc biệt là mô hình luân canh tôm-lúa mang đến nhiều hứa hẹn cho con tôm Sú trong tương lai Theo thống kê của Bộ Thủy Sản (2006), thì năm 2005 sản lượng tôm nuôi khoảng 330 nghìn tấn và sản xuất gần 29 tỷ tôm giống Tính đến hết tháng 11/2009, xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 1,518 tỷ USD tăng 0,73% về giá trị
so với cùng kỳ năm 2008, năm 2010 vừa qua sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 2,82 triệu tấn, tăng 9% so với năm 2009, giá trị xuất khẩu toàn ngành
đạt 4,7 tỉ USD Trong đó, diện tích nuôi tôm Sú là 613.718 ha; diện tích nuôi
tôm thẻ chân trắng khoảng 25.397 ha, tăng 32% so năm 2009 Năm 2010 vừa qua, kim ngạch xuất khẩu tôm Sú đạt hơn 2 tỷ USD (Thanh Thúy, 2010)
ĐBSCL là vùng nuôi thủy sản trọng điểm với sản lượng tôm nuôi chiếm 80% và
30% tôm giống được sản xuất Trong giai đoạn hiện nay, nghề nuôi tôm đặc biệt
là tôm Sú đang có nhu cầu cao về con giống Theo tính toán, hàng năm các tỉnh khu vực ĐBSCL có nhu cầu thả nuôi 24-25 tỷ tôm giống, với diện tích trên 540.000 ha nhưng nguồn tôm Sú giống sản xuất tại chỗ mới chiếm khoảng 30-50%, số còn lại phải nhập từ các tỉnh khu vực Miền Trung (theo số liệu của Sở Thủy Sản các tỉnh ven biển ĐBSCL, 2009)
Việc không chủ động được nguồn tôm giống ảnh hưởng lớn đến nghề nuôi tôm thương phẩm ở các tỉnh khu vực ĐBSCL trong thời gian qua, mặt khác do chạy theo lợi nhuận và do sự quản lý thiếu chặt chẽ giữa các ngành chức năng nên chất lượng con giống trong vài năm trở lại đây giảm đi rất nhiều Mặt khác do
sự gia tăng về diện tích, mô hình nuôi một cách tự phát vượt qua khả năng quản
lý của các ngành chức năng nên vấn đề kỹ thuật nuôi và quản lý dịch bệnh chưa
đảm bảo dẫn đến sự gia tăng về ô nhiễm môi trường từ đó dịch bệnh phát sinh
Hiện nay các trại sản xuất giống tôm Sú ở Cần Thơ không ngừng phát triển về
Trang 13xuất giống tôm Sú của Trường Đại học Cần Thơ tạo được nguồn tôm giống có chất lượng đã và đang là địa chỉ tin cậy cho người nuôi tôm ở ĐBSCL Nhằm tìm hiểu quy trình sản xuất giống tôm Sú, những bất thường và dịch bệnh xảy ra trong quá trình sản xuất giống cũng như tình hình nuôi và dịch bệnh của nghề
nuôi tôm thương phẩm Từ đó đề tài: “ Tìm hiểu một số bệnh thường gặp
trong quá trình ương nuôi tôm Sú (Penaeus monodon) ở Cần Thơ và Sóc
Trăng” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu một số bệnh thường gặp trong quá trình ương tôm Sú (Penaeus monodon) ở Cần Thơ và tình hình nuôi, dịch bệnh trong nghề nuôi tôm Sú ở
tỉnh Sóc Trăng
1.3 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu quy trình sản xuất giống tôm Sú trong hệ thống lọc sinh học tuần hoàn, theo dõi những bất thường và một số bệnh thường xảy ra trong quá trình
ương ấu trùng tôm Sú ở Cần Thơ
Tổng hợp về tình hình nuôi, dịch bệnh xảy ra trong quá trình nuôi tôm Sú ở tỉnh Sóc Trăng
Trang 14CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học và sinh sản của tôm sú
Loài: Penaeus monodon Fabricus, 1798
(Trích dẫn bởi Nguyễn Văn Thường và ctv, 2009)
Tôm Sú (Penaeus monodon Fabricus, 1798) có 7-8 răng trên chủy và 3-4 răng
dưới chủy, chủy cong xuống rất ít Gờ gan dài và cong Gai đuôi có rãnh nhưng không có gai bên Phần đầu ngực và phần bụng có những băng đen ngang Chân ngực có thể có màu đỏ Tôm Sú là loài kinh tế, kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm
he, cơ thể có thể dài đến 360 mm (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
2.1.2 Tập tính sống
Tôm Sú là loài rộng muối Tuy nhiên, tùy theo giai đoạn phát triển mà tôm có khả năng thích ứng với các độ mặn khác nhau Trong điều kiện thuần hóa dần dần thì tôm có khả năng tồn tại và sinh trưởng ở độ mặn từ 1,5-40 ppt, nhưng thích hợp nhất từ 10-34 ppt (Nguyễn Văn Chung, 2000) Giai đoạn nhỏ và gần trưởng thành, tôm sống ven bờ biển vùng cửa sông hay vùng ngập mặn, nhưng khi trưởng thành chuyển ra xa bờ sống vùng nước sâu trên nền đáy bùn cát hay cát (Phạm Văn Tình, 2000) Tôm Sú có khả năng thích ứng với sự thay đổi lớn của nhiệt độ nên thuộc loài rộng nhiệt Nhiệt độ thích hợp cho tôm phát triển từ 24-34 oC, dưới 15oC và trên 35oC tôm hoạt động không bình thường và có thể chết hàng loạt (Nguyễn Văn Chung, 2004) Bãi đẻ của tôm Sú thường ở vùng có
Trang 15độ mặn trên 33 ppt, độ pH 7,5-8,2, chất đáy bùn cát và có độ sâu 10-20m
(Nguyễn Văn Chung, 2000)
2.1.3 Vòng đời phát triển của tôm Sú
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (1999), thì vòng đời của tôm Sú được chia
ra các giai đoạn: phôi, ấu trùng, hậu ấu trùng, tôm giống, tôm tiền trưởng thành
và trưởng thành
Giai đoạn phôi: giai đoạn này bắt đầu từ khi trứng thụ tinh và phân cắt thành 2,
4, 8, 16, 32, 64 tế bào, phôi dâu, phôi nang, phôi vị đến khi nở Thời gian hoàn tất giai đoạn này khoảng 12 đến 15 giờ
Giai đoạn Nauplius: chia làm 6 giai đoạn phụ (N1-N6) dinh dưỡng bằng noãn
hoàn, kéo dài 2 đến 3 ngày
Giai đoạn Zoae: chia làm 3 giai đoạn phụ (Z1-Z3) dinh dưỡng chủ yếu bằng tảo khuê (Chaetoceros sp.,), kéo dài 4-5 ngày
Giai đoạn Mysis: chia làm 3 giai đoạn phụ (M1-M3) tôm ăn chủ yếu là phiêu sinh động vật như ấu trùng Artemia, Branchionus plicatilis kéo dài 3-4 ngày
Hầu hết giai đoạn ấu trùng mất khoảng 9-10 ngày, sau đó biến thái sang giai
đoạn hậu ấu trùng (Postlarvae)
Giai đoạn hậu ấu trùng: Giai đoạn này tôm bám thành bể, sống đáy, có hình
dạng giống như tôm trưởng thành Ngoài động vật phù du tôm ăn cả mùn bã
hữu cơ, sinh vật đáy: Oligochaeta, Polychaeta, Bivalvia, 5-6 tuần sau trở
thành tôm giống
Giai đoạn tiền trưởng thành: Tôm giống sau 6-8 tháng thì đạt tiêu chuẩn tôm
trưởng thành và có thể tham gia sinh sản
Hình 2.1: Các giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng tôm (Motoh, 1981 Trích dẫn bởi Thạch Thanh và ctv, 2005)
Trang 16Bảng 2.1: Tuổi và kích cỡ các giai đoạn ấu trùng tôm Sú (P Monodon)
(Kungvankij et al., 1986 Trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương,
2009)
Giai đoạn Chiều dài trung bình (mm) Thời gian sau khi nở
2.1.4 Phân biệt đực cái
Theo Motor (1981), Dall et all., (1990) và Bray and Lawrence (1992), (trích dẫn
bởi Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
Ở tôm đực, các nhánh trong của chân bụng thứ nhất biến thành cơ quan giao vĩ
(Petasma) Cơ quan sinh dục của tôm đực bao gồm một đôi tinh sào, đôi ống dẫn tinh và đầu mút nằm ở vùng tim phía trên của gan tụy Đầu cuối của ống có túi tinh và dẫn ra gốc chân ngực 5
Ở tôm cái có Thelycum Thelycum là đĩa biến dạng của đốt ngực 7 và 8, ở tôm
Sú có dạng Thelycum kín Cơ quan sinh dục trong của tôm cái bao gồm một đôi buồng trứng và ống dẫn trứng Buồng trứng kéo dài theo chiều dài cơ thể khi tôm trưởng thành
Trang 17Hình 2.2: Vòng đời của tôm sú
(Motoh, 1981 Trích dẫn bởi Thạch Thanh và ctv, 2005)
2.1.5 Kích cỡ thành thục
Theo Motoh (1985) (trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009), cho rằng tôm đạt thành thục là lúc kích cỡ nhỏ nhất mà có thể thấy túi tinh ở đầu cơ quan giao vĩ của con đực và trong túi chứa tinh ở con cái Trong tự
nhiên thì các loài tôm thuộc giống Penaeus thường đạt tuổi thành thục sau 8-10 tháng Tôm Sú (Penaeus monodon) là loài có kích cỡ lớn, song chúng có thể
thành thục ở kích cỡ 35 g đối với con đực và 67,7 g đối với con cái Trong ao, tôm đực có thể đạt thành thục ở trọng lượng 20 g và tôm cái ở 41,3 g
2.1.6 Tập tính giao vĩ
Đối với nhóm tôm biển nói chung và tôm Sú nói riêng, con đực thành thục sớm
hơn con cái Đối với tôm Sú quá trình sinh sản tuân theo quy luật: lột xác-giao vĩ-thành thục-đẻ trứng Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009), thì quá trình giao vĩ của tôm biển diễn ra theo trình tự sau:
- Một hay nhiều con đực bị con cái hấp dẫn, tiếp cận con cái từ phía sau, con đực chạm đầu gai chủy vào dưới đuôi con cái
- Con cái bên lên mặt và chúng rượt đuổi nhau hay bơi song song, con
đực thường bơi phía dưới và sau con cái
- Con đực trở ngữa lên, đầu áp đầu, bụng áp bụng với con cái
Trang 18- Sau đó con đực quay vuông góc 90o với con cái, búng co đầu và đuôi vài lần để chuyển túi tinh vào con cái
Hình 2.3: Đặc điểm giao vĩ của tôm Sú
(Bray and Lawrence, 1992 Trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2009)
2.1.7 Sự phát triển của buồng trứng
Ở tôm cái, có 5 giai đoạn phát triển của buồng trứng dựa trên sự khác biệt về cỡ,
màu sắc trứng và độ rộng tuyến sinh dục (Primavera, 1980; Motoh, 1981; Solis,
1998; Hall et al., 2002 Trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương,
2009)
Giai đoạn I (chưa phát triển): Buồng trứng mỏng, trong suốt, không nhìn thấy
được từ bên ngoài
Giai đoạn II (giai đoạn phát triển): Buồng trứng mềm và có màu trắng hay
xanh Ô liu, dạng dãy thẳng
Giai đoạn III (giai đoạn gần chín): Buồng trứng phát triển hơi lớn, kéo dài từ
đầu ngực đến đốt bụng thứ VI, màu xanh nhạt
Giai đoạn IV (giai đoạn chín): Buồng trứng có dạng hạt kim cương, nở rộng
phủ khắp đốt bụng thứ nhất, màu xanh ô liu hay xanh rêu đậm
Trang 19Giai đoạn V (thoái hóa sau khi đẻ): Buồng trứng sau khi đẻ mềm, nhăn nheo
Bên trong chứa noãn bào còn non, follicule rỗng, một số trứng còn sót lại
Hình 2.4: Các giai đoạn phát triển của buồng trứng
(Primavera, 1983 Trích dẫn bởi Thạch Thanh và ctv, 2005)
Trang 202.1.8 Tập tính đẻ trứng
Tôm cái đẻ trứng vào ban đêm, thường từ 20:30-2:00 giờ sáng Trong điều kiện
tự nhiên, tôm thường đẻ một lần trong mỗi chu kỳ lột xác Song, trong điều kiện nuôi, tôm có thể đẻ nhiều lần (có thể đến 13 lần) (Tăng Minh Khoa, 2010) Trước khi đẻ tôm cái nằm yên trên đáy bể Khi bắt đầu đẻ trứng, tôm cái bơi tới
và thỉnh thoảng búng nhanh Sau đó, tôm bơi chậm lại và đẻ trứng rơi xuống
đáy bể Trứng đẻ ra ở chân ngực 3 qua túi tinh chạy ra phía sau thân và từ từ
chìm xuống Đôi khi, trứng không rơi đều ra mà dính lại thành đám trên đáy bể,
điều này sẽ làm trứng không nở (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải,
2004) Thời gian của một lần đẻ trứng từ 3-4 phút Các hoạt động của ánh sáng
và âm thanh có thể ảnh hưởng đến hoạt động đẻ trứng của tôm Tôm Sú có khả năng đẻ quanh năm nhưng vào hai đợt chính là tháng 3-4 và tháng 7-8 hàng năm
Sức sinh sản của tôm Sú tỷ lệ thuận với khối lượng của tôm, tôm thành thục ngoài tự nhiên có khối lượng 145 g thì sức sinh sản là 4.050 trứng/g, còn tôm thành thục trong lồng nuôi ở biển thì sức sinh sản là 3.413 trứng/g (Nguyễn Cơ Thạch và Phan Đình Phúc, 2000)
2.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi tôm biển trên thế giới
Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009), thì trong lịch sử phát triển của nghề sản xuất giống và nuôi tôm biển, một trong những mốc đầu tiên
và quan trọng nhất là thành công trong nghiên cứu sản xuất giống loài tôm he
Nhật Bản (Penaeus japonicus) trong bể lớn do Hudinaga thực hiện vào năm
1933 tại Nhật Bản Năm 1966, Cook và Murphy đã thành công trong sản xuất
giống nhân tạo loài tôm P.aztecus và P.setiferus bằng mô hình Galveston ở
Texas (Mỹ) Trong thập kỷ 60 – 70, mô hình Galveston đã được ứng dụng rộng
rãi ở Châu Á cho các loài tôm thẻ đuôi đỏ (F.indicus), tôm thẻ đuôi xanh (F.merguiensis), tôm sú (P.monodon) Trong thập kỷ 80, mô hình tuần hoàn
cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công trong sản xuất giống tôm biển
ở Tahiti và Polynesia (Pháp) (AQUACOP,1983 và 1985) Chương trình sản
xuất tôm giống sạch bệnh và tiếp theo đó là sản xuất giống miễn nhiễm một số bệnh đặc thù ở tôm biển đã được bắt đầu ở Pháp từ 1987 trên đối tượng
P.stiliferus, ở Mỹ từ 1989 trên tôm thẻ chân trắng (P.vanamei), và ở Úc từ 1995 trên tôm he Nhật Bản (P.japonicus) và 1999 trên tôm sú (P.monodon) Đến nay,
đã có 24 loài tôm thuộc giống Penaeus và 7 loài thuộc giống Metapenaeus đã
được nghiên cứu sinh sản nhân tạo, trong đó có 11 loài được ứng dụng sản xuất
giống đại trà (Primavera, 1985; Jorry and Cabrera, 2003)
Trang 21Đối với nghề nuôi tôm thương phẩm thì được hình thành từ rất sớm ở các nước Đông Nam Á với hình thức quảng canh (Primavera, 1985; Fast, 1992; Joy and
Carbrera, 2003 and Brigg et al.,2005) Tuy nhiên, nghề nuôi tôm chỉ thật sự bắt
đầu phát triển mạnh từ những năm đầu thập niên 70 Năm 1975, Ecuador đã trở
thành nước dẫn đầu thế giới về sản lượng tôm nuôi ở Tây Bán Cầu và Đài Loan, Trung Quốc dẫn đầu ở Đông Bán Cầu Năm 1988, sản lượng tôm nuôi trên thế giới đạt 450.000 tấn Tuy nhiên, nghề nuôi tôm trong những năm đó đã bắt đầu gặp trở ngại lớn về dịch bệnh Năm 1992, Thái Lan đã trở thành nước có sản lượng tôm đứng đầu thế giới và tiếp tục duy trì đến giữa thập niên 90 Sự thâm canh hóa trong nuôi tôm ở Thái Lan diễn ra rất nhanh, năm 1985 Thái Lan có 94,9% số ao nuôi tôm là quảng canh, 5,1% là thâm canh và bán thâm canh nhưng chỉ sau 10 năm (năm 1995) thì 75,8% số ao nuôi thâm canh, 7% nuôi bán thâm canh và 14,5% nuôi quảng canh Từ năm 1995, nghề nuôi tôm trên thế giới tăng trưởng chậm lại do dịch bệnh vi-rút xảy ra trên toàn cầu, mặc dù như vậy nhưng sản lượng vẫn tăng do nhiều công nghệ mới đã được áp dụng Trong thập niên 90, tôm Sú là loài quan trọng và được nuôi rộng rãi nhất
Hình 2.5: Các khu vực sản xuất tôm Sú chủ yếu trên thế giới (màu cam)
(http://www.fao.org/fishery/culturedspecies/Penaeus_monodon/en)
Từ năm 1995 đến nay, tôm thẻ chân trắng (Penaeus vanamei) đã được di nhập
và nuôi ở nhiều quốc gia và lục địa Châu Á như Đài Loan (1995), Trung Quốc
và Thái Lan (1998), Việt Nam (2000),… Đến nay, tôm thẻ chân trắng đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở các quốc gia này Sản lượng tôm thẻ chân trắng tăng lên nhanh chóng, đạt 1.340 ngàn tấn năm 2004 và trên 2.200 tấn năm 2007
Trang 22Hình 2.6: Các khu vực sản xuất tôm Thẻ chân trắng chủ yếu trên thế giới (màu cam) (http://www.fao.org/fishery/culturedspecies/Litopenaeus_vannamei/en)
Bên cạnh sự gia tăng nhanh chóng về sản lượng tôm nuôi nói chung, nghề nuôi tôm cũng đang phát triển đa dạng, từ hình thức quảng canh đến bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh, có thể đến 300-400 con/m2 (Jory and Cabrera,
2003 and Briggs et al., 2005) Nhằm phát triển bền vững nghề nuôi tôm trên thế
giới, hiện nay, nhiều tổ chức đã nổ lực trong việc phát triển các mô hình nuôi cũng như phương pháp quản lý tổng hợp đối với nghề nuôi tôm và đã bước đầu
được ứng dụng ở nhiều nơi như thực hành nuôi tốt (GAP-Good aquaculture
practice), thực hành quản lý tốt hơn (BMP-Best management practice), nuôi an toàn sinh học (Bio-security shrimp culture), nuôi tôm có trách nhiệm (responsible shrimp farming), nuôi kết hợp (integrated culture) và nuôi sinh thái (organic culture)
2.3 Tình hình sản xuất giống và nuôi tôm Sú ở Việt nam và ĐBSCL
Theo Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương (2009), thì ở nước ta, nghiên cứu sinh sản nhân tạo các loài tôm đầu tiên được tiến hành ở miền Bắc từ thập
kỷ 70 với các loài tôm Penaeus merguiensis, P.penicilatus và P.japonicus Năm
1982 trại sản xuất giống tôm biển được thành lập tại Quy Nhơn do FAO hỗ trợ
với mục tiêu ban đầu là sản xuất giống tôm thẻ P.merguiensis Từ năm
1984-1985, tôm sú (Penaeus monodon) đã được sinh sản nhân tạo thành công ở Nha
Trang và dần dần trở thành đối tượng chủ yếu trong sản xuất giống và nuôi tôm biển ở nước ta (Vu Do Quynh, 1992; Nguyen Minh Nien and Lin, 1996) Ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long, nghiên cứu sản xuất giống lần đầu tiên được tiến
hành vào những năm 1987-1988 trên đối tượng tôm thẻ Sau đó trại sản xuất giống đại trà được thành lập và được thành lập nhanh chóng ở các tỉnh ven biển trong vùng Tuy nhiên từ những năm 1994-1995 nhờ sự thành công trong kỹ thuật sản xuất giống tại địa phương, tôm sú trở thành đối tượng chủ yếu trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm ở ĐBSCL, đặc biệt từ năm 1997 (Trần
Trang 23đầu được nhập nuôi thử nghiệm ở tỉnh Bạc Liêu, sau đó được sản xuất giống và
nuôi ở các tỉnh, đặc biệt là các tỉnh miền trung như Ninh Thuận và Bình Thuận
Số trại tôm và sản lượng tôm giống sản xuất đã tăng lên nhanh chóng trong hai thập kỷ qua Từ những năm đầu thành lập, cả nước chỉ có 16 trại tôm và sản xuất được 3,3 triệu tôm giống vào năm 1986, đến năm 1990 cả nước có 215 trại
và 250 triệu tôm giống, và năm 1995 đạt 675 trại và sản xuất trên 2,3 tỷ con
Đặc biệt số lượng trại và sản lượng tăng lên nhanh chóng từ năm 2000 đến nay
Năm 2005, cả nước có trên 4.280 trại và đạt sản lượng trên 28,8 tỷ tôm bột Hiện nay, khu vực sản xuất giống tập trung nhiều nhất ở nước ta là các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Cà Mau ĐBSCL là nơi nuôi tôm chính của cả nước nhưng số trại giống chỉ là 1.261 trại và sản xuất được khoảng 11,1 tỷ tôm giống
Vì thế hàng năm ĐBSCL phải nhập thêm một lượng lớn tôm bột (trên 15 tỷ tôm giống) từ các tỉnh miền trung để đảm bảo cung cấp giống cho người nuôi trong vùng (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
Bên cạnh phát triển về số lượng trại giống và sản lượng tôm bột, nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai và ứng dụng thành công trong sản xuất Ví
dụ như nghiên cứu phát triển quy trình ương ấu trùng tôm Sú trong hệ thống
tuần hoàn (Thạch Thanh và ctv, 1999) và đã triển khai rộng rãi ở các tỉnh
ĐBSCL với tổng cộng trên 30 trại giống (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2006)
Nghiên cứu nuôi vỗ và sinh sản tôm sú bố mẹ trong hệ thống bể tuần hoàn (Nguyễn Thanh Phương, 2006), hay bước đầu ứng dụng hệ thống tuần hoàn để gia hóa tôm Sú bố mẹ qua nhiều thế hệ (Nguyễn Quốc Hưng, 2008)
Đối với nuôi tôm thương phẩm, nghề nuôi tôm ở nước ta cũng phát triển với
nhiều giai đoạn khác nhau như hình thức quảng canh từ những năm 1970, quảng canh cải tiến từ những năm 1980 và bán thâm canh và thâm canh từ những năm
1985 đến nay Ngoài ra, hiện nay còn có nhiều mô hình kết hợp rất triển vọng như mô hình tôm-rừng, tôm-lúa
Theo tổng cục thống kê Việt Nam (2009), thì diện tích mặt nước NTTS tăng nhanh ở năm 2000 (641,9 nghìn ha) đến năm 2008 là 1.052,6 nghìn ha Sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam không ngừng gia tăng, năm 2000 sản lượng tôm nuôi là 93,5 nghìn tấn đến năm 2008 là 388,4 nghìn tấn
Trang 24Hình 2.7: Diện tích mặt nước NTTS cả nước qua các năm
ĐBSCL luôn chiếm hơn 80% diện tích nuôi và tổng sản lượng tôm nuôi cả
nước Theo tổng cục thống kê Việt Nam (2009), thì diện tích mặt nước NTTS ở
ĐBSCL tăng nhanh ở năm 2000 (445,3 nghìn ha) đến năm 2008 là 752,2 nghìn
ha Sản lượng tôm nuôi ở ĐBSCL cũng không ngừng gia tăng, năm 2000 sản lượng tôm nuôi là 68,995 nghìn tấn đến năm 2008 là 307,7 nghìn tấn
Trang 25Hình 2.10: Sản lượng tôm nuôi khu vực ĐBSCL qua các năm
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2009)
Các mô hình nuôi tôm ở ĐBSCL cũng rất đa dạng gồm nuôi quảng canh cải tiến
đơn (trên 300.000 ha), tôm-lúa luân canh (hơn 100.000 ha), tôm-rừng (hơn
29.000 ha mặt nước) và mô hình nuôi tôm bán thâm canh, thâm canh đang phát triển nhanh về diện tích (Nguyễn Minh Niên, 2005)
Sơ lược về tình hình nuôi tôm sú ở Sóc Trăng
Với gần 48.000 ha nuôi tôm, hầu hết là nuôi tôm Sú (tôm thẻ chỉ chừng dưới
200 ha), Sóc Trăng được coi là “thủ phủ” tôm Sú ở ĐBSCL Nhìn chung, trong thời gian qua lĩnh vực thủy sản đặc biệt là nuôi trồng phát triển mạnh góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng mạnh từ 41.382 ha (năm 2000) lên 70.728 ha (năm 2010) Trong đó, diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh tăng từ 300 ha lên 25.776 ha (gấp 86 lần năm 2000) Năng suất nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là tôm Sú tăng từ 0,42
Trang 26tấn/ha lên 1,26 tấn/ha Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng từ 14.800 tấn lên 125.681 tấn, gấp 8,5 lần năm 2000, trong đó, sản lượng tôm tăng từ 12.303 tấn lên 61.598 tấn (gấp 5,01 lần) Giá trị xuất khẩu thủy sản tăng từ 160 triệu USD năm 2000 lên 394,44 triệu USD năm 2010 (sản lượng thủy sản xuất khẩu 46.360 tấn), gấp 2,46 lần Doanh thu bình quân/ha diện tích nuôi thủy sản nước
lợ (tôm sú) đạt trên 100 triệu đồng/ha Tính đến quý I/2011 tổng diện tích nuôi thủy sản của tỉnh là 16.500 ha, đạt 22,92% kế hoạch, tăng 4,15% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, diện tích thả nuôi tôm Sú là 14.500 ha, đạt 30,2% kế hoạch, tăng 0,93% Tuy đã thông báo thời gian nhập giống, thả nuôi tôm sú trên
địa bàn tỉnh kể từ ngày 01/3/2011, nhưng một số nơi vẫn có hiện tượng thả nuôi
sớm, không đúng lịch thời vụ (khoảng 2.434 ha) Tổng diện tích tôm sú thiệt hại
đến cuối tháng 3/2011 khoảng 1.450 ha (chiếm 10% diện tích thả nuôi) Nguyên
nhân thiệt hại do con giống chất lượng kém, thời tiết, môi trường bất lợi… làm phát sinh nhiều mầm bệnh Theo Sở NN-PTNT Sóc Trăng, đến đầu tháng 5/2011, toàn tỉnh đã thả nuôi 25.000 ha tôm sú thì có tới 13.000 ha bị mất trắng
do dịch bệnh Như vậy, chỉ trong vòng nửa tháng qua, diện tích tôm bị thiệt hại
ở Sóc Trăng đã lên gần gấp đôi (tháng 4/2011, diện tích tôm bệnh là 7.000 ha)
Với diện tích bị bệnh quá lớn như trên, ước tính người nuôi tôm ở Sóc Trăng bị thiệt hại trên dưới 1.000 tỷ đồng
2.4 Các kỹ thuật liên quan đến quá trình ương tôm
Trên thế giới hiện có nhiều quy trình sản xuất giống tôm biển khác nhau Nhưng nhìn chung, vẫn chủ yếu ở hai quy trình thay nước và tuần hoàn nước
2.4.1 Ương ấu trùng theo quy trình thay nước
Trên thế giới quy trình này được áp dụng từ rất sớm trong nghề sản xuất giống tôm biển với các quy trình nước xanh quy mô lớn và quy trình Galveston Ở Việt Nam trại tôm giống đầu tiên được thành lập tại Quy Nhơn với sự hợp tác của FAO vào năm 1982 Quy trình này được hoàn thiện dần và trong quá trình thay nước thì các yếu tố môi trường được đặc biệt quan tâm để không xảy ra hiện tượng sốc cho tôm ương Theo Phạm Văn Tình (2004), chỉ nên thay 20%
nước ương ở giai đoạn Zoae 3 và từ giai đoạn Mysis 1 đến Mysis 3 thì thay 40% nước hàng ngày Đến giai đoạn Postlarvae thì lượng nước thay tăng dần từ
30-40-70% tùy theo giai đoạn phát triển
2.4.2 Ương ấu trùng theo quy trình tuần hoàn
Trong thập kỷ 80, quy trình ương tôm nước tuần hoàn đã được nghiên cứu ứng dụng thành công trong sản xuất tôm biển ở Tahiti và Polynesia (Pháp) (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004) Ở Việt Nam thì quy trình ương ấu
Trang 27công ở Đại học Cần Thơ năm 1999 (Thạch Thanh và ctv, 1999) Đến nay quy
trình này đã được ứng dụng cho nhiều trại sản xuất ở ĐBSCL mà chủ yếu là vùng xa biển như tại Thành phố Cần Thơ
Theo kết quả nghiên cứu của Tăng Minh Khoa (2001), cho thấy rằng ứng dụng lọc sinh học vào sản xuất giống tôm Sú gồm lọc ngầm và lọc khô với giá thể cho lọc ngầm là đá 1x2 và cho lọc khô là nhựa có hiệu quả lọc cao, hàm lượng
đạm trong hệ thống ương thấp, tỷ lệ sống của ấu trùng cao, tuy kích thước nhỏ
song tôm giống có chất lượng rất cao Theo Thạch Thanh và ctv (1999), thì tăng trưởng về chiều dài cũng như tỷ lệ sống của Postlarvae 7 trong hệ thống lọc
sinh học tốt hơn (49,35%) hệ thống thay nước (40,93%) Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Quyết (2000), cho rằng chất lượng tôm bột ương trong hệ thống tuần hoàn sử dụng lọc sinh học tốt hơn hệ thống thay nước Ngoài ra, hệ thống lọc sinh học luôn được nghiên cứu cải tiến với hệ thống tách đạm nhằm tạo môi trường tốt trong suốt quá trình ương từ đó có thể nâng mật độ ương lên cao (210
ấu trùng/lít) nhưng vẫn đạt được tỷ lệ sống cao, tăng trưởng tốt về chiều dài và
khối lượng (Trần Anh Thư, 2003) Sử dụng Ozon trong xử lý nước và diệt khuẩn trên ấu trùng tôm cũng được nghiên cứu áp dụng cho quy trình tuần hoàn Theo kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Phương (2006), cho rằng xử lý Ozon trên
ấu trùng Nauplius với nồng độ 0,10 ppm làm giảm 84%, và ở nồng độ 0,15 ppm
86% tổng vi khuẩn
2.4.3 Một số yếu tố môi trường bể ương ấu trùng
Môi trường nước ương là một yếu tố quan trọng quyết định đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ấu trùng tôm Nhiệt độ, pH, nồng độ kiềm, các chất khí (NH4+,
NH3, NO2-…) là các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến ấu trùng
Theo Tăng Minh Khoa (2010), thì môi trường bể ương tôm sú cần đảm bảo các
điều kiện sau độ mặn từ 28-30 ppt, nhiệt độ nước 28-30oC, pH 7,5-8,5 , nồng độ kiềm 100-120 ppm, hàm lượng NO2- từ 0-0,1 ppm và NH4+ từ 0-1 ppm
2.4.4 Nguyên lý hoạt động của lọc sinh học
Nguyên lý hoạt động của lọc sinh học là nước từ các bể ương nói chung được thay liên tục đi qua các bể lọc Tại đó các tác nhân sinh học (vi khuẩn) sẽ biến
đổi hợp chất chứa ammonia (NH3 độc) thành nitrate (NO3- không độc) và quay lại bể ương Như vậy chỉ cần một lượng nước nhất định trong suốt chu kì ương nuôi
Lọc sinh học là một hệ thống bao gồm một số quá trình sinh hóa quan trọng xảy
ra trong bể lọc Theo Lê Trình, 1997 (trích dẫn bởi Võ Tuấn Kiệt, 2005) các
Trang 28phản ứng chuyển đổi ammonia và nitrite thành nitrate dưới tác dụng của vi khuẩn như sau:
Nitrosomonas
2NH4+ + O2 2NO2- + 4H+ + 2H2O + năng lượng
Nitrobacter
NO2- + O2 2NO3-+ năng lượng
Theo Tăng Minh Khoa (2001), thì ứng dụng lọc sinh học vào sản xuất giống tôm sú, lọc sinh học gồm lọc ngầm và lọc khô cho hiệu quả lọc cao, hàm lượng
đạm trong hệ thống ương thấp, tỷ lệ sống của ấu trùng cao, tuy kích thước ấu
trùng nhỏ song tôm giống có chất lượng rất cao Ngoài ra thiết kế lọc sinh học với giá thể lọc ngầm là đá 1x2 và giá thể lọc khô là nhựa còn rút ngắn được thời gian cấy vi khuẩn
10, trích dẫn bởi Nguyễn Minh Hậu, 2006) Theo báo cáo của Các chi cục bảo
vệ nguồn lợi các tỉnh phía Nam và một số tỉnh phía Bắc thì trong các năm
1996-1998 tôm Sú thường chết vào mùa khô (tháng 12 năm trước đến tháng 3 hay tháng 4 năm sau) (Bùi Quang Tề, 2003)
Theo Mai Phương và ctv, 2003 (trích dẫn bởi Hoàng Tuấn, 2007) đầu năm
2001, tôm Sú chết hàng loạt trên diện rộng ở khu vực ĐBSCL được coi là “đại dịch tôm Sú” với dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi nhất là những vùng mới chuyển
đổi đã có 20.854 ha bị thiệt hại như Bạc Liêu 5.000 ha, Sóc Trăng 300 ha, Đồng
Nai từ những tháng đầu năm 2001 cũng điêu đứng do tôm chết hàng loạt khi mới 30-40 ngày tuổi, một số vùng ở Cà Mau thiệt hại do bệnh tôm lên đến 80% Năm 2003, cả nước có 546.757 ha nuôi tôm nước lợ thương phẩm trong đó diện tích tôm nuôi bị bệnh và chết là 30.083 ha, riêng các tỉnh từ Đà Nẵng đến Kiên Giang có tới 29.200 ha tôm bị chết chiếm 97,06% diện tích tôm nuôi bị chết cả nước Giữa tháng 4/2003 tỉnh Sóc Trăng thả nuôi tôm Sú 35.000 ha đã có 4000
ha tôm bị bệnh, Bạc Liêu có 200 ha bị thiệt hại trên 50% Đến hết tháng 9/2003,
Trang 29là miền trung thất bại nặng nề khi Khánh Hòa, Quảng Nam, Phú Yên, Ninh Thuận có hàng nghìn ha tôm bị nhiễm bệnh Riêng thiệt hại của Khánh Hòa ước tính 26,6 tỷ đồng, Bình Định 40 tỷ Đặc biệt ngoài bệnh MBV, Đốm trắng, HPV… từ những năm trước, đến thời điểm năm 2005 xuất hiện thêm một số bệnh mới như teo gan, phân trắng đã làm cho các tỉnh miền Trung và Sóc Trăng một phen khốn đốn (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2005)
Theo Cục Nuôi trồng thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn PTNT) năm 2008 có gần cả trăm ngàn ha nuôi tôm sú ở các tỉnh ĐBSCL như:
(NN-Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng bị thiệt hại, ước tổng giá trị hàng trăm tỷ đồng Một trong những nguyên nhân chính là tình trạng buông lỏng quản lý khiến một số đàn tôm giống không qua kiểm dịch, phần lớn là tôm kém chất lượng, bị nhiễm bệnh, trong khi năng lực sản xuất tôm giống trong nước không đáp ứng được nhu cầu
Ngay từ những tháng đầu năm 2010, nhiệt độ cao và biên độ nhiệt độ giữa ngày
và đêm lớn, mặn xâm nhập… đã làm thiệt hại rất nhiều diện tích nuôi tôm Sú ở vùng ĐBSCL Ngoài ra, điều kiện cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm chưa hoàn chỉnh, chưa có kênh cấp và kênh xả riêng biệt, hệ thống thủy lợi hiện đang sử dụng trong tiêu thoát nước nuôi tôm là hệ thống thủy lợi phục vụ cho canh tác nông nghiệp đã bị bồi lắng, ý thức người dân trong việc phòng chống dịch bệnh, dập dịch, ý thức nuôi tôm cộng đồng chưa cao, đây cũng là những nguyên nhân làm cho diện tích tôm bệnh tăng
Tính đến tháng 03/2010 tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi tại Long An đã xảy ra trầm trọng, diện tích thiệt hại trên toàn tỉnh Long An đã trên 255,95 ha, tập trung chủ yếu ở xã Tân Chánh, huyện Cần Đước.Theo nhận định ban đầu của các nhà chuyên môn, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu vẫn là vi-rút đốm trắng tồn lưu trong môi trường (Văn Dũng và Hồng Điệp, 2010)
Tháng 07/2010 một bệnh mới xuất hiện làm gây chết hàng loạt tôm Sú nuôi ở các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu với biểu hiện bệnh lý trên cơ quan gan tụy Đây là một trong những bệnh lạ mới xuất hiện gây hoang mang cho người nuôi Bệnh gan tụy trên tôm được tìm thấy trên cả tôm Sú và tôm thẻ chân trắng Các dấu hiệu bệnh lý bao gồm tôm chậm lớn và phân đàn, gan sưng, nhũn, màu nhạt so với bình thường có trường hợp gan tụy teo nhỏ và dai (Lê Hồng Phước và Nguyễn Văn Hảo, 2011)
Theo báo cáo của ngành nông nghiệp Bạc Liêu, đến đầu tháng 9/2010, người dân đã thả gần 116.000 ha tôm, trong đó nuôi theo mô hình công nghiệp và bán công nghiệp hơn 7.600 ha, diện tích còn lại nuôi theo mô hình quảng canh, quảng canh cải tiến kết hợp với nhiều loại thủy sản khác Nhưng do nhiễm vi-rút
Trang 30vi bào tử xâm nhập, cộng thêm thời tiết bất lợi nên số diện tích bị thiệt hại khá lớn, đã có gần 20.000 ha tôm nuôi bị chết, gây thiệt hại kinh tế hàng tỷ đồng Theo Tổng cục Thú y (Bộ NN-PTNT), tính đến ngày 2/6/2011, diện tích tôm nuôi bị thiệt hại của 7 tỉnh khu vực ĐBSCL đã là 52.470 ha, chiếm hơn 98% diện tích tổng thiệt hại của cả nước.Trong đó, Sóc Trăng là tỉnh thiệt hại nặng
nề nhất với trên 19.800 ha tôm chết, chiếm 76% diện tích thả nuôi; Bạc Liêu có 8.586 ha thiệt hại, chiếm 7,6% diện tích; Trà Vinh có 6.546 ha, chiếm 30% diện tích đã thả… Tôm chết chủ yếu ở giai đoạn từ 20-30 ngày sau khi thả, tập trung
ở khu vực nuôi thâm canh và bán thâm canh
2.6 Một số bệnh thường gặp trong quá trình ương nuôi tôm Sú
Khi nuôi trồng thủy sản phát triển, mức độ thâm canh cao, năng suất tăng nhanh thì cũng kéo theo dịch bệnh bùng phát và ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng
Bệnh do Vi-rút monodon Baculovirus (gọi tắt là MBV), là vi-rút có dạng hình
que, kích thước 75 x 300 nm, cấu trúc axít nhân chuỗi đôi DNA MBV ký sinh ở
Trang 31tế bào biểu mô hình ống của gan tụy và trước ruột giữa Nhiễm bệnh tất cả các giai đoạn phát triển của tôm Nhưng biểu hiện chủ yếu từ giai đoạn giống
Cơ thể tôm bị nhiễm bệnh có màu xanh sẫm, mang có màu đen, tôm trở nên lờ
đờ Gan tụy teo lại có màu vàng, tôm giảm ăn nên ruột không đầy có khi rỗng,
tôm chậm lớn và bị còi, mang và vỏ có nhiều sinh vật bám Tôm chết dần từ 3-7
ngày (tỷ lệ chết có thể lên đến 70-100%) (Từ Thanh Dung và ctv, 2005)
Theo Đỗ Thị Hòa và ctv (2004), thì khi nghiên cứu về đặc điểm lan truyền của
MBV, Paynter và nhiều tác giả khác đã khẳng định rằng vi-rút này có thể lây nhiễm theo 2 trục, trục dọc và trục ngang Mầm bệnh có thể từ phân tôm mẹ vào môi trường bể đẻ và sẽ lây nhiễm cho ấu trùng tôm khi ấu trùng sử dụng thức ăn
bên ngoài, bắt đầu từ giai đoạn Zoae Ngoài ra MBV cũng lây nhiễm theo trục
ngang rất mạnh MBV có thể nằm trong các thể ẩn (occlusion bodies) theo phân tôm bị nhiễm ra môi trường, nằm ở đáy ao trong nhiều năm và gây bệnh cho tôm khỏe theo trục ngang
Chẩn đoán bệnh có thể dựa vào những dấu hiệu đã mô tả ở trên, ngoài ra còn có thể sử dụng phương pháp mô học để phát hiện các thể ẩn hoặc dùng phương pháp PCR để nhận biết DNA đặc trưng của MBV
Trong trại giống để có đàn tôm Postlarvae của tôm Sú có chất lượng cao, ít
nhiễm MBV cần chú ý đến việc cách ly mầm bệnh, vệ sinh bồn bể và dụng cụ
thật kỹ trước khi ương Dùng kỹ thuật rửa Nauplius hay trứng qua Formol
100-200 ppm trong 30 giây, Iodine 1-2 ppm trong 1-2 phút hoặc rửa bằng nước biển sạch trong 3-5 phút
Để phòng bệnh cho tôm thịt cần lựa chọn đàn tôm giống không hoặc ít nhiễm
MBV Cũng có thể sử dụng biện pháp sốc Formol 100-200 ppm trong 30 giây-1 phút để loại bỏ bớt nhưng con tôm mang mầm bệnh Tẩy dọn và vệ sinh ao nuôi cẩn thận trước vụ nuôi và không được nuôi tôm ở mật độ quá cao (khuyến khích 25-30 con/m2)
2.6.1.2 Bệnh đầu vàng (YHV)
Vi-rút gây bệnh đầu vàng trên tôm được phát hiện đầu tiên ở Thái Lan (Fleget et al., 1995; Lightner et al., 1997) Bệnh đầu vàng được xem là một trong những
tác nhân gây bệnh đặc biệt nguy hiểm cho các vùng nuôi thâm canh trước đây ở
Thái Lan (Flegel, 1997; Flegel et al., 1995) Sau đó mầm bệnh được phát hiện ở nhiều nước khác thuộc khu vực Châu Á (Albaladejo et al., 1998) Theo Bùi
Quang Tề (2003), thì ở Việt Nam, bệnh đầu vàng thường gặp nhất là từ 50-70 ngày tuổi ở các ao nuôi thâm canh, ngoài ra bệnh còn gặp ở một số loài tôm nuôi tự nhiên khác như tôm thẻ, tôm bạc và tôm rảo