1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau

37 659 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng
Người hướng dẫn Th.s Tăng Minh Khoa
Trường học Trường Đại Học Tây Đô
Chuyên ngành Khoa học Ứng dụng thủy sản
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 458,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

MÃ SỐ NGÀNH: 304

THỰC NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG CUA BIỂN THEO HAI GIAI ĐOẠN (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5

Sinh viên thực hiện

NGUYỄN THANH HÙNG

MSSV: 06803014

LỚP: NTTS K1

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

MÃ SỐ NGÀNH: 304

THỰC NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG CUA BIỂN THEO HAI GIAI ĐOẠN (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5

Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện

Th.s TĂNG MINH KHOA NGUYỄN THANH HÙNG

MSSV: 06803014

LỚP: NTTS K1

Cần Thơ – 2010

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Trong quá trình thực hiện đề cương khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Nuôi trồng thủy sản em xin chân thành bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Tăng Minh Khoa cùng với quí Thầy Cô- Khoa Sinh Học Ứng Dụng đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho

em những kiến thức vô cùng quí báu trong những năm học vừa qua và thời gian em thực hiện đề tài tốt nghiệp Em mong rằng trong cuộc sống quí Thầy Cô mãi là tấm gương sáng để dìu dắt chúng em trên bước đường sự nghiệp

Em xin bài tỏ lòng biết ơn đối với tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K1 và gia đình đã động viên an ủi và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều thiếu xót kính mong được sự góp ý của quí Thầy Cô em xin chân thành cảm ơn

Cuối cùng em xin chúc quí Thầy Cô - Khoa Sinh Học ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô được nhiều sức khõe để tiếp tục triền đạt nhiều hơn nữa những kiến thức vô cùng quí báu cho thế hệ trẻ

Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ

NGUYỄN THANH HÙNG

Trang 4

TÓM TẮT

Cua biển (Scylla paramamosain) là đối tượng có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên việc sản

xuất ra con giống còn gặp nhiều khó khăn nhất là tỷ lệ sống Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định ảnh hưởng của mật độ ương lên sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của

ấu trùng cua Trong giai đoạn từ Zoae1-Zoae5 (thí nghiệm 1) được tiến hành ương ở các mật độ 300 con/L, 400 con/L và 500 con/L và từ Zoae5- Cua1 (thí nghiệm 2) với mật độ ương 30 con/L, 40 con/L và 50 con/L Kết quả thí nghiệm 1 cho thấy mật độ ương 500 con/L cho tỷ lệ sống (14.7±10.88%) cao hơn mật độ 400 con/L (10,1±1,9%)

có ý nghĩa thống kê và cao hơn nghiệm thức mật độ 300 con/L (12,5±2,78) không có

ý nghĩa thống kê (p>0,05) Qua đó cho thấy khi ương ấu trùng Cua từ giai đoạn Zoae1-Zoae5 ở mật độ 500 con/L sẽ cho tỷ lệ sống cao hơn từ đó giúp tiết kiệm thể tích ương đồng thời tiết kiệm được lượng thức ăn dẫn đến làm giảm chi phí sản xuất góp phần tăng thêm lợi nhuận cho nhà sản xuất giống Ở thí nghiệm 2 mặt dù tỷ lệ sống ở nghiệm thức mật độ 30 con/L (11,8±1,56%) cao hơn so với nghiệm thức mật

độ 40 con/L (9±2,05%) và nghiệm thức mật độ 50 con/L (7,37±2,06) nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Do đó trong tương lai cần phải có định hướng ương Cua ở giai đoạn Megalopa-Cua1 ở mật độ cao hơn nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận cho các nhà sản xuất

Trang 5

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Trong nghề nuôi thủy sản nước lợ thì nghề nuôi giáp xác là một trong những đối tượng quan trọng, mặc dù số lượng loài nuôi không nhiều so với thủy sản nước ngọt, nhưng sản lượng và giá trị kinh tế thì không kém gì so với các đối tượng nước ngọt Với sự bấp bênh của con tôm dẫn đến nghề nuôi cua biển lại phát triển rầm rộ trong những năm gần đây Nhất là ở các tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Vũng Tàu, Khánh Hoà, Thừa Thiên - Huế, Thanh Hoá, Hải Phòng… với diện tích 124.268 ha

(Nguyễn Cơ Thạch, 2003) Cua biển (Scylla paramamosain) còn gọi là cua xanh là

đối tượng từ lâu đã quen thuộc với nhiều người dân ở vùng ven biển, chúng được nhiều người ưa thích bởi có kích thước lớn, tăng trọng nhanh, là nguồn thực phẩm thơm ngon, giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế Tuy nhiên, nguồn giống chủ yếu khai thác từ tự nhiên và phụ thuộc vào mùa vụ nên không đáp ứng đủ nhu cầu con giống cho người dân

Nghề nuôi cua biển được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như nuôi cua con thành cua thịt trong các đầm quảng canh hay nuôi trong đăng quầng ở các bãi triều, nuôi cua gạch trong ao và lồng, nuôi cua lột và nuôi cua ốp thành cua chắc trong ao

(Trần Ngọc Hải và csv., 2006)

Tuy nhiên, nguồn cua giống hiện nay cung cấp cho nuôi thương phẩm chủ yếu từ tự nhiên, nhưng sản lượng cua tự nhiên đang giảm dần do đánh bắt quá mức (khai thác tiêu thụ trực tiếp, khai thác nguồn giống cho nuôi ao) và do diện tích rừng ngập mặn

đã và đang bị thu hẹp đáng kể do các hoạt động nuôi tôm làm mất đi môi trường sinh sống và làm bãi đẻ cho cua Để đảm bảo nguồn giống cho ương nuôi và giảm bớt áp lực khai thác cua tự nhiên, vấn đề sản xuất giống nhân tạo cua biển phải được quan tâm và phát triển (Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005) Một trong những khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống và sự phát triển của ấu trùng là ảnh hưởng của mật độ ương lên tỷ lệ sống và sự phát triển của ấu trùng

Cua biển từ giai đoạn Megalopa xuất hiện cặp càng nên dễ dàng ăn lẩn nhau ở mật độ dầy do đó ương ấu trùng cua hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với mật độ

giảm dần nhằm giảm bớt tỷ lệ hao hụt

Xuất phát từ vấn đề trên đề tài “Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai

giai đoạn (Zoea 1 – Zoea 5 và Zoea 5 – Cua 1 ) với các mật độ khác nhau” được tiến

hành nhằm xác định mật độ ương tốt nhất để tăng tỷ lệ sống của ấu trùng cua, sẽ góp phần vào việc phát triển kỹ thuật ương cua biển ngày càng hiệu quả hơn

Trang 6

Xác định mật độ ương thích hợp nhằm nâng cao tỷ lệ sống của cua giống

Giúp chủ động được nguồn giống nuôi Góp phần hoàn thiện quy trình ương ngày một tốt hơn

Nội dung đề tài

Đánh giá ảnh hưởng của mật độ ương lên tỷ lệ sống của hai giai đoạn (Zoea 1 – Zoea 5

và Zoea 5 – Cua 1 ) để đưa ra mật độ ương tốt nhất, từ đó góp phần nâng cao năng xuất

và hiệu quả kinh tế trong ương nuôi ấu trùng cua biển

Ương ấu trùng cua Scylla paramamosain giai đoạn (Zoea1 – Zoea5) với các mật độ khác nhau (300con/L; 400con/L; 500con/L)

Ương ấu trùng cua Scylla paramamosain giai đoạn (Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau (30con/L; 40con/L; 50con/L)

Trang 7

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cua biển

2.1.1 Hình thái cấu tạo và phân loại

Theo Estampador (1949) loài Scylla paramanosain được phân loại theo hệ thống phân

loại của như sau:

Loài: Scylla paramamosain

Hình 2.1: Hình dạng loài cua biển Scylla paramamosain

Trang 8

paramanosain (cua sen) và loài Scylla olivacea (cua lửa) Cua có thân hình dẹp theo

hướng lưng bụng Toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp vỏ kitin dày và có màu xanh lục hay vàng sậm Cơ thể cua được chia thành hai phần: phần đầu ngực và phần bụng

2.1.2 Phân bố

Theo Keenan et al (1998), Gopurenko et al (1999), loài Scylla paramamosain được

phân bố khắp khu vực biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, từ Nam Phi đến Biển

Đỏ, từ Okinnawa đến Tahiti và xuống tận miền Bắc nước Úc, Nhật Bản, Nam Trung Quốc: Xiamen, Hong Kong, Singapore, Cambodia…Ở Trung Java: Indonesia và ở Việt Nam chủ yếu là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

Ở Việt Nam, Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long theo Keenan et al (1998) có hai loài chủ

yếu là Scylla paramamosain (cua sen) và Scylla olivacea (cua lửa), trước đây bị nhầm lẫn là Scylla serrata (Hoàng Đức Đạt, 1992; Nguyễn Anh Tuấn và csv., 1996) Nhưng thực sự loài Scylla serrata không được tìm thấy ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cũng như ở Việt Nam Theo Le Vay et al (2001), loài Sylla paramamosain chiếm trên 95% trong quần thể Scylla, và loài Scylla olivacea chỉ chiếm khoảng 5%

2.1.3 Vòng đời

Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) Vòng đời cua biển trải qua nhiều giai đoạn và có tập tính sống cư trú khác nhau The Ong (1964) lần đầu tiên đã mô tả

các giai đoạn của ấu trùng cua biển Scylla spp Theo Sivasubramaniam and Angell

(1992), trứng cua nở thành ấu trùng Zoea1 mất 16 − 17 ngày ở nhiệt độ 23 − 25 oC

Ấu trùng cua sau khi nở là Zoea1 trải qua 4 lần lột xác để biến thái thành Zoea5 trong thời gian 17 − 20 ngày, mỗi giai đoạn mất 2 − 3 ngày Từ Zoea5 biến thái thành Megalopa kéo dài trong khoảng thời gian 8 − 11 ngày Ấu trùng Zoea có tính hướng quang và sống phù du Giai đoạn Megalopa chỉ lột xác một lần và mất 7 − 8 ngày để biến thành Cua1 (cua con) Cua con tiếp tục trải qua 16 − 18 lần lột xác nữa để trở thành cua trưởng thành và thành thục thời gian này ít nhất khoảng 338 − 523 ngày Trước mùa sinh sản, cua di cư ra vùng biển ven bờ lột xác tiền giao vĩ rồi di cư ra biển, trong quá trình di cư, trứng sẽ phát triển và chín dần Cua ấp trứng trong khoang bụng, cho đến khi nở thành ấu trùng Zoea1 rồi tiếp tục lặp lại vòng đời

Nhìn chung, chu kỳ sống của các loài cua biển theo Heasman (1980) Trích dẩn: Lee, (1992) gồm 4 giai đoạn: giai đoạn ấu trùng, giai đoạn cua con (chiều rộng mai 20 − 80 mm), giai đoạn tiền trưởng thành (chiều rộng mai 70 − 150 mm) và giai đoạn trưởng thành (chiều rộng mai 150 mm trở lên)

Trang 9

Hình 2.2: Vòng đời của cua biển Scylla sp

Hình chụp: David Mann; Sắp sếp lại: Williams et al, 1999.

Eyespot eggs: trứng xuất hiện điểm mắt; Zoea 1 : ấu trùng Zoea 1 ;

Zoea 5 : ấu trùng Zoea 5 ; Megalopa: ấu trùng Megalopa; Crab 1 : giai đoạn cua con

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Hill (1979) đã phân tích và quan sát thấy rằng trong ống tiêu hóa của cua gồm nhiều thành phần khoảng 50% nhuyễn thể, 21% giáp xác, 29% các mảnh vụn hữu cơ, ít khi

có cá trong ống tiêu hóa của cua Sheen (2000) cũng cho rằng nhu cầu về thành phần

cholesterol trong thức ăn nhằm cải thiện tỷ lệ sống và tăng trưởng đối với cua Scylla

serrata, vì thế nhu cầu cholesterol trong khẩu phần ăn tối ưu là 0,5%.Tuy nhiên tính

ăn của cua sẽ thay đổi tuỳ từng giai đoạn phát triển của chúng:

Giai đoạn ấu trùng cua thích ăn các loài động vật phù du Trong đều kiện nuôi cho ăn

với nhiều loại thức ăn khác nhau như: tảo, luân trùng, Artemia và cả thức ăn viên có

kích thước nhỏ Theo Brick (1974) cho rằng nếu chỉ cấp tảo mà không bổ sung động vật phù du thì ấu trùng Zoea1 không chuyển sang giai đoạn Zoea2

Hill (1984) cho rằng ở giai đoạn Megalopa thì mới ăn nhau bởi vì lúc này chúng có cặp càng

Giai đoạn cua con (kích thước khoảng 2 − 7 cm), tiền trưởng thành và trưởng thành:

ăn cua nhỏ, cá, xác động vật chết, nhuyễn thể Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và

Trang 10

kiếm ăn vào ban đêm Nhu cầu thức ăn của chúng khá lớn nhưng chúng lại có khả năng nhịn đói 10 – 15 ngày ở trên cạn trong đều kiện ẩm ướt (Hill, 1976)

Trong đều kiện nuôi, nhiệt độ và độ mặn là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tính ăn và hoạt động của cua (Manjulatha and Babu, 1998)

Nhu cầu dinh dưỡng của cua rất lớn, vì thế khi sản xuất hoặc nuôi thương phẩm nên cung cấp đủ thức ăn cho cua để hạn chế ăn nhau, hạn chế sự hao hụt nâng cao tỷ lệ sống cho cua

2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, (2004) thì tuổi thọ trung bình của cua từ 2–

4 năm Qua mỗi lần lột xác, khối lượng cua sẽ tăng lên 20–50%, và kích thước tối đa

mà cua có thể đạt được là 19 − 28 cm, với khối lượng 1 − 3 kg/con

Cua biển là loài sinh trưởng không liên tục Trước khi lột xác, cua phải tích lũy thật nhiều dinh dưỡng để quá trình lột xác được thuận lợi Quá trình phát triển của cua trải qua nhiều lần lột xác và biến thái Đường tăng trưởng của cua theo dạng bậc thang, cua tăng trưởng về kích thước và khối lượng đột ngột sau mỗi lần lột xác Ở từng giai đoạn thì thời gian giữa các lần lột xác cũng khác nhau Cua lột xác để tăng kích thước

và quá trình này phụ thuộc rất lớn vào đều kiện dinh dưỡng, môi trường và giai đoạn

phát triển của cơ thể Theo Manganapa et al, (1987) cho rằng cua đực tăng trưởng

nhanh hơn cua cái và tốc độ tăng trưởng của cua đực khoảng 1,3 g/ngày, trong khi đó cua cái tăng trưởng 0,9 g/ngày Quá trình lột xác của cua mang tính đặc trưng riêng biệt từng loài, thông thường 2 − 3 ngày/lần Cua càng lớn thì chu kỳ lột xác càng kéo dài từ 15 − 30 ngày/lần Nơi ẩn náo rất quan trọng trong thời gian lột xác của cua, trước khi lột xác cua thường tìm đến những nơi bụi rậm, gốc cây kính đáo để trú ẩn và lẩn tránh kẻ thù Khi mới lột xác cua rất yếu vỏ mềm, nên biện pháp sinh tồn là tìm nơi an toàn để lột xác Đặc biệt, trong quá trình lột xác, cơ thể của chúng có thể tái sinh những phần phụ bộ đã mất Ðối với những con cua bị tổn thương, khi mất phần

phụ bộ thì cua có khuynh hướng lột xác sớm hơn (Trần Ngọc Hải và csv, 1999)

Quá trình tăng trưởng của cua biển còn chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ Lee (1992) cho rằng sự tăng trưởng của cua biển ngừng vào mùa đông, khi nhiệt độ giảm xuống 20 0C Theo Manjulatha and Babu (1998) cho rằng nhiệt độ và nồng độ muối có ảnh hưởng rất lớn đến sự lột xác và tăng trưởng của Cua Nhiệt độ nước thấp hơn 24 oC hoặc trên

34 oC làm cua giảm ăn và kéo dài thời gian lột xác Ở nhiệt độ từ 26 − 31 oC, hoạt

động bắt mồi và lột xác của cua trong tình trạng bình thường Loài S paramamosain

có thể chịu đựng sự chênh lệch bất thường của nồng độ muối

Trang 11

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

2.1.6.1 Tuổi thành thục

Cua biển thành thục sinh dục vào khoảng 1 − 1,5 tuổi Lúc này chiều rộng của vỏ khoảng 10 cm và khối lượng thân trên dưới 150 gam (Nguyễn Thanh Phương và Trần

Ngọc Hải, 2004) Theo Prasad (1989), cua Scylla paramamosain chỉ tham gia sinh sản

khi chiều rộng mai đạt từ 120 − 180 mm Thêm vào đó, không như cua đực, cua cái không bao giờ đạt đến 100% độ thành thục ở bất cứ kích cỡ nào Theo Le Vay (2001)

sự thành thục của cua biển tuỳ theo từng loài khác nhau

Hình 2.3: Sự thay đổi hình dạng của cua biển ở giai đoạn thành thục

(Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005) Theo Fielder and Heasman (1978), nhiệt độ có ảnh hưởng đến sự thành thục của cua Nếu nhiệt độ nước cao sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng, do đó sẽ rút ngắn thời gian thành thục của cua

GĐ4

Trang 12

Bảng 2.1 Các giai đoạn thành thục của cua cái

2.1.6.2 Tập tính bắt cặp, đẻ và ấp trứng

Đối với vùng nhiệt đới cua đẻ quanh năm Ở Việt Nam, mùa vụ sinh sản chính của cua từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau (Hoàng Đức Đạt, 2004) Cua biển là loài có tập tính di cư sinh sản Tới mùa sinh sản, cua di cư ra vùng biển ven bờ, lột xác tiền giao

vĩ Hill (1976) cho rằng, sở vĩ cua di cư ra biển là cốt lỗi để tìm đều kiện tốt cho sự phát triển tốt cho ấu trùng Zoea Trước khi giao vĩ cua cái tiết ra một loại Hormon để quyến rũ cua đực Cua đực thường lớn hơn cua cái, khi giao vĩ cua đực dùng các chân

bò và càng ôm chặt lấy cua cái trên mặt lưng nó mang cua cái đi quanh có khi kéo dài

3 − 4 ngày, sau đó cua cái lột xác và bắt đầu giao vĩ, thời gian giao phối có thể kéo dài

từ 7 giờ đến 12 giờ (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2004) Cua đực ôm cua cái áp sát mặt bụng vào nhau và gỡ yếm cua cái ra để giao phối Túi tinh của con đực được đưa vào túi chứa tinh của con cái ở giữa gốc chân thứ tư và thứ năm Túi tinh này được giữ trong nhiều tuần để thụ tinh qua nhiều lần sinh sản, tức là một lần giao phối có thể thụ tinh cho cua cái từ 1 − 3 lần đẻ trứng Sau đó, khi con cái đẻ trứng thì cùng lúc tinh trùng được giải phóng để thụ tinh cho trứng Cua đẻ rất khỏe Một con cái có thể đẻ từ vài trăm ngàn đến 2 − 3 triệu trứng mỗi năm Trong một năm cua

đẻ từ 2 − 3 lần Khi đẻ trứng cua cái nằm ở đáy dùng các chân bám vào nền đáy, phần đầu ngực được nâng lên phần bụng (yếm Cua) được mở ra các chân bụng được dựng đứng lên Trứng chín qua ống dẫn trứng thụ tinh với tinh trùng từ túi chứa tinh trùng Phần lớn trứng đẻ ra được ấp trong khoang bụng của cua mẹ cho đến khi nở Trứng cua được ấp ở nơi nước biển có độ mặn cao khoảng 29-32‰, nhiệt độ ổn định Thời gian ấp trứng dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ nước Nhiệt độ càng cao thời gian

ấp trứng càng nhanh Trong đều kiện thuận lợi, trứng có thể nở đồng loạt khoảng 3 −

6 giờ

tam giác Đường kính trứng 0,01− 0,06 mm

chiếm 1/4 gan tụy Đường kính trứng 0,1 − 0,3mm

tụy noãn sào màu trắng Đường kính trứng 0,4 − 0,9 mm

hết diện tích gan tụy và cả khoang rột có thể nhìn thấy màu vàng từ phía sau giữa giáp đầu ngực và yếm Đường kính trứng 0,7 − 1,3

mm

Trang 13

Hình 2.4: Hình dạng buồng trứng khác nhau từ giai đoạn 1 − 4

(Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005)

2.1.6.3 Sự phát triển phôi và các giai đoạn ấu trùng

Trứng cua mới đẻ có đường kính trung bình 0,3 mm và có màu vàng tươi Sự phát triển của trứng được phân biệt theo màu sắc: từ vàng tươi sang vàng đậm, chuyển sang xám, cuối cùng chuyển sang đen, lúc này là lúc xuất hiện mầm chân và mắt, sau

đó tim bắt đầu đập và các cơ quan khác cũng bắt đầu hình thành, khi tim đập khoảng

200 − 240 lần/phút phôi sẽ phá vỡ vỏ và chui ra ngoài, đây là ấu trùng Zoea Khoảng thời gian từ lúc cua cái đẻ cho đến lúc nở ra ấu trùng Zoea là 17 ngày (Trương Trọng Nghĩa, 2004) Theo Hoàng Đức Đạt (2004) ấu trùng Zoea mới nở là Zoea1 ấu trùng bắt đầu bơi lội được ngay do có đôi mắt kép và sắc tố đen Ấu trùng Zoea hầu hết phải trải qua 5 giai đoạn: từ Zoea1 đến Zoea4 mỗi giai đoạn 2 − 3 ngày, riêng giai đoạn Zoea5 từ 3 − 4 ngày Ấu trùng có tính hướng quang, chúng sống phù du, hoạt động nhờ chân hàm 1 và sự co giãn của phần bụng Sau giai đoạn Zoea5, ấu trùng lột xác biến thái thành giai đoạn Megalopa Khi chuyển sang Megalopa ấu trùng có khuynh hướng chuyển sang sống bám vào vật thể, do đó ở giai đoạn này nền đáy đối với chúng là rất quan trọng vì chúng hoạt động tích cực và ăn tạp Từ giai đoạn này chúng mất 7 − 11 ngày để biến thái thành cua con (Cua1)

GĐ1

GĐ2

Trang 14

Bảng 2.2 Các giai đoạn ấu trùng cua biển (Scylla sp)

khi nở (ngày)

Kích cỡ (mm)

Đặc điểm phân biệt quan trọng

lông tơ trên nhánh ngoài Có 5 đốt bụng

mang 6 lông tơ Có 5 đốt bụng

Nhánh ngoài của chuân hàm I mang 11 lông dài, 1

− 4 lông ngắn, nhánh ngoài của chân hàm II mang

12 lông dài và 2 − 3 lông ngắn Chân bụng trên đốt bụng 2-6 rất phát triển, nhánh ngoài của chân bụng

có thể mang 1 − 2 lông tơ

Mất gai lưng Gai trán rất ngắn Mắt to Telson không còn chẻ 2 mà dạng bầu và có nhiều lông trên các nhánh

- Giai đoạn ấu trùng Zoea và Megalopa: Theo Warner (1977) ấu trùng sống trôi nổi

và nhờ dòng nước đưa vào ven bờ, sau đó biến thái thành cua con

- Giai đoạn cua con, cua tiền trưởng thành và cua trưởng thành: Theo Sivasubramaniam and Angell (1992) trong chu kỳ sống, chúng sống trong vùng rừng

Trang 15

nước mặn, cửa sông, nơi có đáy bùn hoặc đất thịt, sống vùi trong bùn vào ban ngày và

di chuyển đến vùng triều thấp vào ban đêm để kiếm ăn

- Giai đoạn thành thục: Lúc này cua có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển để sinh sản

Nhìn chung, ấu trùng Zoea thích hợp với độ mặn từ 25 − 30‰ Giai đoạn cua con và cua trưởng thành phát triển tốt trong phạm vi 2 − 38‰ Tuy nhiên trong giai đoạn đẻ trứng, độ mặn cần được duy trì ở 22 − 32‰ Theo báo cáo của Hyland (1984), cua phân bố trong tự nhiên có liên quan đến dòng chảy với vận tốc 0,06 − 1,6 m/s

2.1.7.2 Ðịch hại của cua

Theo Warner (1997) được trích dẫn bởi Hoàng Ðức Ðạt (2004), trong tự nhiên tỷ lệ

tử vong của cua rất cao và xảy ra trong suốt chu kỳ sống, nguyên nhân là do tập tính

ăn lẫn nhau Giá thể là yếu tố quan trọng, có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ sống của quần đàn, nhất là trong đều kiện ương nuôi

2.2 Các nghiên cứu sản xuất giống và nuôi cua biển

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ

Zeng and Li (1992) làm thí nghiệm về ảnh hưởng của số lượng và chất lượng trong

khẩu phần ăn lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển (Scylla serrata) nhận thấy rằng luân trùng (Brachionus plicatilis) là khẩu phần ăn thích hợp cho sự

phát triển của ấu trùng cua biển ở giai đoạn đầu, ở mật độ luân trùng 60 cá thể/ml cho

tỷ lệ sống ấu trùng cao nhất ở giai đoạn Zoea3 Khi ấu trùng ở giai đoạn Zoea5, nếu chỉ cho ăn luân trùng đơn độc sẽ có hiện tượng chậm lột xác và dẫn đến tử vong Như vậy, luân trùng không thể dùng cho ương nuôi cho tất cả các giai đoạn ấu trùng cua biển Mặt khác, ấu trùng cua biển ở giai đoạn Zoea1 được cho ăn ấu trùng Artemia thì cho tỷ

lệ sống thấp, nhưng ở giai đoạn Zoea5, việc cung cấp ấu trùng Artemia sẽ cho kết quả

tốt Khi so sánh khẩu phần ăn kết hợp, Zeng and Li (1992) nhận thấy rằng, ấu trùng cua biển ở giai đoạn đầu được cho ăn bằng luân trùng mật độ cao, đến giai đoạn Zoea2hoặc Zoea3 thay bằng Artemia, hoặc hỗn hợp ở Zoea3 thì cho tỷ lệ sống tốt nhất Tình trạng thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ Zoea có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống ở giai đoạn Megalopa

Mann and Palato (1995) đã làm thí nghiệm không cho ấu trùng Zoea1 của S serrata

ăn và ấu trùng có thể sống đến 142 giờ nhưng không thể chuyển sang Zoea2 được

Ngược lại với Mann and Palato thì Djunaidah et al (2003) đã nói rằng, ấu trùng

không được cho ăn trong vòng 48 giờ sau khi nở sẽ dẫn đến tỷ lệ chết rất cao Thức ăn

Trang 16

Khi thực hiện thí nghiệm ương ấu trùng cua biển bằng thức ăn luân trùng, Yunus (1992) đã làm thí nghiệm sử dụng luân trùng với mật độ của luân trùng cho ăn 60 cá thể/L bổ sung vào giai đoạn Zoea1 và Zoea2 sẽ nâng cao tỷ lệ sống cao hơn 55% Mardjono and Arifin (1993) cho rằng, luân trùng di chuyển chậm thích hợp cho ấu trùng cua giai đoạn Zoea1 và Zoea2 Từ Zoea3 trở đi, ấu trùng cua biển tìm kiếm thức

ăn và chúng có thể ăn ấu trùng Artemia Ngay ở giai đoạn Megalopa, ấu trùng cua có thể ăn Artemia 2 ngày tuổi (Basyar, 1994)

Một nghiên cứu khác của Yunus and et al (1994) nhằm cải thiện tỷ lệ sống của ấu

trùng cua biển, đặc biệt là giai đoạn Zoea1 và Zoea2 thông qua việc giàu hóa luân trùng bằng hỗn hợp 10 g dầu gan cá tuyết, 20 g lòng đỏ trứng gà và 5 g men hòa tan trong 100 lít nước, luân trùng được nuôi khoảng 2 giờ Ấu trùng cua được cho ăn luân trùng sau khi giàu hoá với mật độ 15 − 20 cá thể/ml nước ương Kết quả cho tỷ lệ sống của Zoea1 (sau 5 ngày thả) là 74,1%

Marichamy and Rajapackiam (2001) cho rằng nếu cho ăn thức ăn nghèo dinh dưỡng thì ấu trùng có thể xảy ra hiện tượng bẩy lột xác, tỷ lệ chết cao trong suốt quá trình lột xác hoặc lột xác chuyển tiếp từ Zoea5 sang Megalopa Kanazawa and Koshio, (1994)

đã cải thiện chất lượng dinh dưỡng của luân trùng và Artemia bằng cách giàu hóa

Suprayudi et al (2002) (Trích bởi Phạm Văn Quyết, 2008) đã ghi nhận sự cải thiện có

ý nghĩa đối với tỷ lệ sống của ấu trùng S serata sau khi giàu hóa lượng acid béo cao

phân tử không no (n-3) cho luân trùng ở mức 3 − 8 mg/L

Tuy nhiên, việc giàu hóa cũng gây ra không ít khó khăn Hamasaki et al (2004) (Trích bởi Phạm Văn Quyết, 2008) cho rằng sở vĩ tỷ lệ tử vong cao của ấu trùng S

serata từ Zoea5 biến thái sang Megalopa là kết quả của quá trình giàu hóa n-3 HUFA trên 6 mg/L, làm cho ấu trùng Zoea5 phát triển bất thường Ở Việt Nam, việc giàu hóa luân trùng bằng nhũ tương chứa 30% của tổng n-3 HUFA làm gia tăng tốc độ tăng

trưởng của ấu trùng S paramamosain Từ các kết quả nghiên cứu trên, các tác giả đã

khẳng định rằng nhu cầu của tổng n-3 HUFA có thể khác nhau giữa các loài

Mật độ: Zeng (1998), đã làm thí nghiệm ương ấu trùng cua biển với thể tích thí

nghiệm là 0.1 − 5 L tới giai đoạn Megalopa đạt 60 − 90% Fukunaga and Uzumaki (1982) cho rằng, các bể composite có thể tích lớn 1 − 20 m3 hình chóp có kết hợp với

hệ thống lọc, nên ương ở mật độ 30 − 100 con/L, Nghĩa (2004) cũng đưa ra kết luận như vậy

Yunus et al, (1994) đã thí nghiệm ở mật độ ương 25 con/L; 50 con/L; 75 con/L;100 con/L Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của ấu trùng cua giảm khi tăng mật độ ương, tương ứng là 18,9%; 13,7%; 9,7%; 8,9% (Trích bởi Phạm Văn Quyết, 2008)

Djunaidah et al, (2001) Nhận thấy tỷ lệ sống đến giai đoạn Zoea5 cao nhất khi ương

ở mật độ 100 con/L là 63%, trong khi ương ở mật độ 50 con/L thì tỷ lệ sống chỉ đạt

Trang 17

27%, còn ương ở mật độ 75 con/L thì tỷ lệ sống 39% (Trích bởi Trương Trọng Nghĩa, 2005)

2.2.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

*Nhiệt độ và độ mặn

Nhiệt độ được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng cua

Tỷ lệ bắt mồi của ấu trùng giảm khi nhiệt độ thấp dưới 20 oC Ở nhiệt độ 19 − 23 oC tất cả các ấu trùng đều chết ở giai đoạn Zoea3, chúng chỉ sống được 15 ngày (Heasman,1993) Ở nhiệt độ 2 − 224 oC ấu trùng chỉ còn sống rất ít sau 18 ngày, tỷ lệ chết của ấu trùng Zoea4 rất cao Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng mà còn ảnh hưởng đến thời gian biến thái của ấu trùng Giai đoạn ấu trùng cua

có thể kéo dài 28-35 ngày khi nhiệt độ 25 − 27 oC trong khi nhiệt độ 28 − 30 oC chỉ có

26 − 30 ngày (Marichamy,1992)

Ngoài nhiệt độ thì độ mặn cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và phát triển của ấu trùng Ở Việt Nam, nồng độ muối trong các trại ương ấu trùng cua biển được duy trì ở mức 30‰, nhiệt độ khoảng 29oC, pH = 7,5 − 8,0 (Trương Trọng Nghĩa và csv,1995).

Ngoài ra, theo Marichami and Rajackiam (1991) ương ấu trùng Zoea ở nhiệt độ 27 −

300C và độ mặn từ 25 − 30‰ đạt kết quả tốt so với các đều kiện nhiệt độ và độ mặn khác Zeng and Li (1992) cho biết, khoảng nhiệt độ từ 25 − 30 0C là tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng Zoea, tuy nhiên ở giai đoạn đầu ấu trùng chịu đựng tốt ở nhiệt độ thấp hơn, trong khi Megalopa có thể sống tốt ở nhiệt độ cao khoảng 32 0C

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn

Thí nghiệm nghiên cứu trên ấu trùng cua biển (Scylla paramamosain) cho biết, tảo

Chaetoceros không là thức ăn tươi sống thích hợp cho Zoea1 trong khi luân trùng có khả năng làm tăng tỷ lệ sống và được xem là loại thức ăn tươi sống đầu tiên Ấu trùng cua biển bắt đầu dùng đến ấu trùng Artemia giai đoạn 1 từ Zoea2 Khi so sánh giữa

thức ăn là Artermia giai đoạn 1 chết nhiệt ( ở nhiệt độ nước 800C) hoặc đông lạnh với

Artermia bung dù tươi sống (chưa tách vỏ), tác giả thấy rằng, tỷ lệ sống giai đoạn

Zoea5 − Cua1 đều thấp, và thức ăn Artemia bung dù tươi sống (chưa tách vỏ) được

xem thích hợp nhất vì chúng ở tính trạng lơ lửng và ít gây sự nhiễm bẩn nước trong trường hợp thiếu luân trùng, có thể cho ấu trùng cua biển ăn luân trùng chỉ một vài

ngày (ngày đầu tiên đến ngày thứ 3), sau đó thay thế bằng Artemia Lượng luân trùng

cần cung cấp ở giai đoạn Zoea1 là ( 100 cá thể/ml), thức ăn Artermia cần gia tăng mật

độ tới 20 cá thể/ml (Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005)

Trang 18

2.2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thể tích và mật độ

Cũng như tôm sú, ấu trùng cua biển sau khi nở được khử trùng bằng formaline 100 ppm trong một phút hoặc 200 ppm trong 30 giây, rồi mang bố trí vào hệ thống nuôi Ở nhiều nước khác nhau thì hệ thống ương cũng khác nhau Đài Loan dùng bể 500 L để ương ở giai đoạn Zoea và bể 1 − 10 m3 khi chuyển Megalopa, mật độ ương là 10 con/L (Phạm Văn Quyết, (2008) Nhưng ở Ấn Độ thì lấy bể 300 L để ương, mật độ 25

− 75 con/L, Theo Trần Ngọc Hải (2001), ở Úc ương với mật độ 30 − 100 con/L, Nhật

Bản 10 − 50 con/L và Malaysia 25-30 con/L Nguyễn Cơ Thạch và csv (1998), đã bố

trí thí nghiệm ương ấu trùng cua ở các mật độ khác nhau từ 10 − 50 con/L Qua thí nghiệm hai ông kết luận rằng mật độ ương 10 con/L đạt tỷ lệ sống 72% là cao nhất Nhưng mật độ 30 con/L tỷ lệ sống đạt 70% lại cho hiệu quả kinh tế cao hơn mật độ 10

con/L Trương Trọng Nghĩa (2004) khi ương ấu trùng cua Scylla paramamosain ở mật

độ 50 − 200 con/L cho thấy đến ngày thứ 15 sau khi ương thì tỷ lệ sống của ấu trùng ở nghiệm thức mật độ 100 con/L (45 ± 8%) cao hơn so với các nghiệm thức mật độ 200 con/L (30 ± 5%), 150 con/L (28 ± 10%) và 50 con/L (28 ± 12%)

2.2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

Khi nghiên cứu ảnh hưởng độ mặn lên ấu trùng cua, Trần Ngọc Hải (1997) cho rằng độ mặn tốt nhất cho quá trình lột xác, tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cua nên nằm trong khoảng từ 28 − 30‰ Đồng thời cường độ ánh sáng 4500 – 6000 lux cho kích cỡ và tỷ

lệ sống của ấu trùng cua biển là tốt nhất

Khi nghiên cứu về các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sự phát triển trong ương ấu trùng cua biển (Hoàng Đức Đạt, 1995) cho rằng độ mặn 30‰, nhiệt độ là 28 0C, pH từ 7,5 – 8,0 thì thời gian biến thái ấu trùng từ Zoea1 đến Megalopa là 17 ngày Ông cho rằng độ mặn càng cao thì thời gian biến thái của ấu trùng càng chậm

Ngày đăng: 13/03/2014, 20:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Hình dạng loài cua biển Scylla paramamosain  Cua biển có tên tiếng Anh là mud crab, green crab, hay mangrove crab, tên tiếng việt - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Hình 2.1 Hình dạng loài cua biển Scylla paramamosain Cua biển có tên tiếng Anh là mud crab, green crab, hay mangrove crab, tên tiếng việt (Trang 7)
2.1.1. Hình thái cấu tạo và phân loại - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
2.1.1. Hình thái cấu tạo và phân loại (Trang 7)
Hình 2.2: Vòng đời của cua biển Scylla sp. - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Hình 2.2 Vòng đời của cua biển Scylla sp (Trang 9)
Hình 2.3: Sự thay đổi hình dạng của cua biển ở giai đoạn thành thục - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Hình 2.3 Sự thay đổi hình dạng của cua biển ở giai đoạn thành thục (Trang 11)
Hình 2.4: Hình dạng buồng trứng khác nhau từ giai đoạn 1  −  4 - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Hình 2.4 Hình dạng buồng trứng khác nhau từ giai đoạn 1 − 4 (Trang 13)
Bảng 3.2:Thức ăn cho ấu trùng Cua  S. paramamosain ở thí nghiệm thứ hai - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Bảng 3.2 Thức ăn cho ấu trùng Cua S. paramamosain ở thí nghiệm thứ hai (Trang 22)
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường thủy lý hóa trong thí nghiệm - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường thủy lý hóa trong thí nghiệm (Trang 25)
Bảng 4.2 Tỷ lệ biến thái ở các giai đoạn ấu trùng của thí nghiệm 1 - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Bảng 4.2 Tỷ lệ biến thái ở các giai đoạn ấu trùng của thí nghiệm 1 (Trang 27)
Hình 4.1 Tỷ lệ sống giai đoạn Zoea 5  các nghiệm thức ở thí nghiệm 1 - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Hình 4.1 Tỷ lệ sống giai đoạn Zoea 5 các nghiệm thức ở thí nghiệm 1 (Trang 29)
Bảng 4.4 Các yếu tố môi trường thủy lý hóa trong thí nghiệm - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Bảng 4.4 Các yếu tố môi trường thủy lý hóa trong thí nghiệm (Trang 30)
Bảng 4.5 Tỷ lệ biến thái ở giai đoạn Megalopa và Cua 1  của thí nghiệm 2 - Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau
Bảng 4.5 Tỷ lệ biến thái ở giai đoạn Megalopa và Cua 1 của thí nghiệm 2 (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm