Điều tra tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở Vị Thủy - Hậu Giang
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LÓC
THƯƠNG PHẨM Ở VỊ THỦY - HẬU GIANG
Sinh viên thực hiện
HUỲNH THỊ THÚY NGUYỆT
MSSV: 06803026
LỚP: NTTS K1
Cần Thơ, 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NUÔI CÁ LÓC
THƯƠNG PHẨM Ở VỊ THỦY - HẬU GIANG
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS TRẦN NGỌC TUYỀN HUỲNH THỊ THÚY NGUYỆT
MSSV: 06803026 LỚP: NTTS K1
Cần Thơ, 2010
Trang 3XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Luận văn: Điều tra tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở Vị Thủy - Hậu Giang
Sinh viên thực hiện: HUỲNH THỊ THÚY NGUYỆT
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K1
Đề tài đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo
vệ luận văn đại học Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Đại Học Tây Đô
Trang 4Kết quả cho thấy, khoảng 3 - 4 năm gần đây mô hình nuôi cá lóc thương phẩm ở huyện tập trung nhiều bằng hình thức nuôi cá trong vèo trên sông Các hộ chủ yếu tận dụng diên tích mặt nước sông sẵn có, vèo thể tích trung bình là 18,1±5,64 m3, sản lượng đạt 1.396±657 kg với mật độ thả trung bình 206±35,2 con/m3 Nguồn thức ăn chủ yếu là cá tạp, ốc, xương cá tra Thời gian thả nuôi khoảng 4-5 tháng thì thu hoạch với kích cỡ trung bình khoảng 539 g/con, tỷ lệ sống đạt 66,8% Lợi nhuận bình quân mỗi vèo là 6.667.000±4.054.000 đồng/vèo
Tóm lại, cá lóc là đối tượng dễ nuôi và được nuôi với nhiều mô hình khác nhau, phù hợp với nhiều vùng đất Tuy nhiên nếu chọn nuôi theo hình thức vèo trên sông thì khâu quản lý nguồn nước là khó khăn nhất Vì vậy muốn phát triển mô hình này cần phải căn nhắc rất nhiều và sự vào cuộc của chính quyền địa phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG I 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu đề tài 1
1.3 Nội dung đề tài 2
CHƯƠNG II 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc 3
2.1.1 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi của cá lóc 3
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng của cá lóc 4
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng của cá lóc 5
2.1.4 Đặc điểm sinh sản của cá lóc 5
2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở Việt Nam và ĐBSCL 5
2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang 6
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 6
2.3.2 Tình hình phát triển và nuôi thủy sản ở Hậu Giang 8
2.4 Tổng quan về huyện Vị Thủy 8
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.4.2 Tình hình phát triển và nuôi thủy sản ở huyện Vị Thủy 9
CHƯƠNG III 11
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11
3.2 Phương pháp nghiên cứu 11
3.2.1 Phương pháp thu số liệu thứ cấp 11
3.2.2 Phương pháp thu số liệu sơ cấp 11
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 12
CHƯƠNG IV 13
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Những thông tin về tình hình nuôi cá lóc trong vèo ở Vị Thủy 13
4.2 Thông tin chung về nông hộ 14
Trang 64.2.1 Tỷ lệ giới tính và trình độ văn hóa 14
4.2.2 Kiến thức về nuôi trồng thủy sản 15
4.2.3 Kinh nghiệm về nuôi trồng thủy sản 15
4.2.4 Các hoạt động kinh tế chủ yếu của nông hộ 16
4.3 Những thông tin về kỹ thuật 16
4.3.1 Chuẩn bị vèo và mùa vụ thả nuôi 16
4.3.2 Thể tích vèo, con giống, mật độ và thức ăn 18
4.3.3 Chăm sóc và quản lý dịch bệnh 21
4.3.4 Thu hoạch, năng suất và kích cỡ cá 22
4.4 Hiệu quả kinh tế 23
4.4.1 Các khoản chi phí để thực hiện vèo nuôi 23
4.4.2 Hạch toán kinh tế 24
4.5 Thị trường tiêu thụ 25
4.6 Những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi cá lóc trong vèo 25
4.6.1 Thuận lợi 25
4.6.2 Khó khăn 25
CHƯƠNG V 26
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 26
5.1 Kết luận 26
5.2 Đề xuất 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 PHỤ LỤC A 1 Phụ lục A: Phiếu phỏng vấn A 1 Phụ lục B: Bảng số liệu điều tra thực tế và đã xử lý B 1 Phụ lục C: Tỷ lệ sống, năng suất cá thu hoạch của các hộ khảo sát C 1 Phụ lục D: Tổng chi, tổng thu và lợi nhuận của các hộ khảo sát D 1
Trang 7CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Hậu Giang có diện tích tự nhiên là 160.059 ha, chiếm khoảng 4% diện tích ĐBSCL Đây là một vùng đất có khí hậu điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh, có nguồn thủy sản khá phong phú, chủ yếu là những giống loài tôm, cá nước ngọt Năm 2006 diện tích nuôi thủy sản là 9.984 ha các đối tượng thả nuôi chủ yếu như: cá lóc, cá thát lát, tôm sú, tôm càng xanh…Sản lượng thủy sản cả năm ước đạt 32.878 tấn (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007) Vị Thủy là một huyện thuộc Hậu Giang, với địa hình thuận lợi, hàng năm đã đóng góp một phần không nhỏ vào sản lượng thủy sản chung của toàn tỉnh Hậu Giang, năm 2008 thủy sản của huyện đạt gần 4.060 tấn (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009)
Nuôi thủy sản nước ngọt là ngành sản xuất nông nghiệp quan trọng ở Hậu Giang Trong những năm qua, nhờ sự phấn đấu nổ lực và sáng tạo của nhân dân, sự quan tâm của chính quyền và sự hỗ trợ của các viện nghiên cứu, các trường đại học…nghề thủy sản đã gặt hái được nhiều kết quả khả quan Một trong những đối tượng nuôi nước ngọt mang lại hiệu quả kinh tế là cá lóc Cá lóc có kích thước lớn, giá trị thương phẩm cao, tăng trưởng nhanh, có khả năng thích ứng với những biến đổi lớn của điều kiện môi trường và được phân bố ở nhiều loại hình thủy vực khác nhau như ao, hồ, kênh, ruộng (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Hiện nay nghề nuôi cá lóc
đã phát triển khá nhanh ở Vị Thủy - Hậu Giang Tuy nhiên, mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông hiện nay đang gặp không ít những khó khăn như: không quản lý được nguồn nước dẫn đến dịch bệnh phát sinh, ô nhiễm môi trường, việc áp dụng trình độ khoa học - kỹ thuật vào mô hình nuôi con hạn chế, vốn, thức ăn… những khó khăn trên đã gây ra không ít trở ngại cho nghề nuôi cá lóc ở huyện, từ
đó dẫn tới hiệu quả nuôi chưa cao
Vì vậy, một trong những hướng nghiên cứu cho mục tiêu này là thu thập và tổng kết những kinh nghiệm đã có được đồng thời xác định nhu cầu tiêu thụ nguồn thực phẩm hiện có để tránh tình trạng nuôi một cách tự phát và cuối cùng không có thị trường
tiêu thụ Đề tài “Điều tra tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở Vị Thủy - Hậu
Giang” sẽ góp phần cho nghề nuôi cá lóc ngày càng đạt hiệu quả hơn.
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài thực hiện nhằm thu thập và tổng kết kinh nghiệm nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông ở Vị Thủy - Hậu Giang, từ đó làm cơ sở khoa học xây dựng và hoàn thiện quy trình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông, giúp người dân địa
Trang 8phương có định hướng phát triển và ứng dụng các biện pháp khoa học - kỹ thuật vào thực tiễn của mô hình nuôi nhằm đạt được hiệu quả sản xuất
1.3 Nội dung đề tài
Khảo sát hiện trạng, kỹ thuật và hiệu quả của mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông ở huyện Vị Thủy - Hậu Giang Từ đó phân tích những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi Đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông ở huyện Vị Thủy - Hậu Giang
Trang 9CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc
Hệ thống phân loại (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
2.1.1 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi của cá lóc
Cá lóc sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh rạch, ao hồ, đầm, sông, thích nghi được cả với môi trường nước đục, tù, nước lợ, có thể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 30 0C Tính thích nghi với môi trường xung quanh của cá rất mạnh, nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên cá có thể hít thở được O2 trong không khí, ở vùng nước có hàm lượng O2 thấp
cá vẫn sống được, có khi không cần nước chỉ cần da và mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá lâu Đây cũng là ưu thế để phát triển các mô hình nuôi thâm canh trong bè, trong ao (Dương Nhựt Long, 2005)
Cá thích sống nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dễ ẩn mình rình mồi Vào mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt Mùa đông khi nhiệt độ
Trang 10dưới 8 0C cá thường xuống sâu hơn, ở nhiệt độ 6 0C cá ít hoạt động (Dương Nhựt Long, 2005)
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng của cá lóc
Cá lóc là loài cá dữ có kích thước lớn Lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn Dạ dày to hình chữ Y (Hình 2.2 và Hình 2.3) Quan sát thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá cho thấy cá chiếm 63%; tép 35,9%; ếch nhái 1,03% và 0,07% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ Cá nhỏ ăn: giáp xác, chân chèo, ấu trùng bọ gậy, ấu trùng côn trùng, tôm con, nòng nọc, các loại cá nhỏ khác Cá trưởng thành ăn tạp: cá, ếch, nhái, tôm Chúng ăn mạnh vào mùa hè, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12 0C cá ngừng kiếm ăn Hàm lượng chất béo của cá cao vào trước mùa đẻ, cá ở vùng nước lợ béo hơn ở vùng nước ngọt (Dương Nhựt Long, 2005)
Giai đoạn ấu trùng mới nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong khoảng 3-4 ngày Sau khi hết noãn hoàng, cá bắt mồi xung quanh như các loài động vật phù du (luân trùng, giáp xác chân chèo…) vừa cỡ miệng Khi cá dài khoảng 5-6 cm đã có thể bắt các loài cá, tép nhỏ Trong giai đoạn ương cá bột thì Moina là thức ăn tốt trong 3 tuần
lễ đầu, đối với cá giống thức ăn ưa thích là sâu gạo và dòi (Dương Nhựt Long, 2005)
Hình 2.2: Lược mang dạng hình núm Hình 2.3: Dạ dày to hình chữ Y (Ảnh: Dương Nhựt Long, 2005) (Ảnh: Dương Nhựt Long, 2005)
Theo Nguyễn Thị Ngọc Lan (2004), khi nghiên cứu hiệu quả sử dụng các loại thức ăn khác nhau để ương cá lóc bông giai đoạn 0,2-3,0g cho kết quả: ở các nghiệm thức cá
đã được cho ăn hoàn toàn trùn chỉ, hoàn toàn thức ăn chế biến (TACB) và kết hợp TACB với trùn chỉ có tỷ lệ sống đạt 97,0-97,5% và khác biệt có ý nghĩa so với
nghiệm thức cho cá ăn hoàn toàn cá xay và nghiệm thức kết hợp TACB với cá xay
Trang 112.1.3 Đặc điểm sinh trưởng của cá lóc
Cá lóc là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh Trong điều kiện nuôi với nguồn thức ăn thích hợp và có chế độ chăm sóc tốt cá sẽ lớn nhanh, sau 6 tháng nuôi cá có thể đạt khối lượng từ 0,8-1,2 kg/con, tỷ lệ sống từ 75-85% và năng suất cá nuôi có thể đạt từ 30-60 tấn/ha Cá lớn nhanh từ tháng nuôi thứ tư, thứ năm (khi cá đạt trọng lượng trên
100 g/con) lúc này cá ăn rất mạnh Cá ăn nhiều, hoạt động mạnh và lớn nhanh vào mùa xuân - hè Và đây cũng là giai đoạn cá béo nhất trước khi bước vào mùa sinh sản vào đầu mùa mưa Trong cùng giai đoạn phát triển của cá lóc thì cá đực có chiều dài dài hơn so với cá cái nhưng ngược lại cá cái lại có khối lượng nặng hơn cá đực (Dương Nhựt Long, 2005)
Cá lóc 1 tuổi dài 19-39 cm, nặng 100-750 g Cá hai tuổi thân dài 38-45 cm, nặng 600-
1400 g Cá ba tuổi dài 45-59 cm, nặng 1.200-2.000 g Cá có thể sống trên 10 năm dài 67-85 cm, nặng 7000-8000 g (Dương Nhựt Long, 2005)
Theo Phạm Văn Khánh (2000), cá lóc bông là loài có kích thước lớn nhất trong họ cá lóc Kích thước tối đa dài trên 1m và nặng trên 20 kg Trong điều kiện tự nhiên do sự cạnh tranh thức ăn nên cá lớn không đều và tỷ lệ hao hụt lớn Trong điều kiện nuôi, cá
có thể đạt 1,0-1,5 kg/con/năm Theo Mai Đình Yên (1983), cá lóc bông 3 tuổi có thể
đạt khối lượng 3-4 kg
2.1.4 Đặc điểm sinh sản của cá lóc
Cá lóc 1-2 năm tuổi bắt đầu đẻ trứng, có thể đẻ 5 lần/năm, số lượng trứng tùy theo kích thước cơ thể và tuổi của cá cái Sức sinh sản của cá cái có kích cỡ 0,5 kg đạt khoảng 8.000-10.000 trứng Trước lúc đẻ, cá làm tổ hình tròn, đường kính tổ khoảng
40 - 50 cm Sau khi đẻ xong cả cá cái và đực không rời khỏi ổ mà nằm phục dưới đáy bảo vệ trứng cho đến khi nở thành con mới rời ổ và dẫn đàn con đi tìm thức ăn Mùa
vụ sinh sản của cá từ tháng 4-8, tập trung vào tháng 4-5 Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào, nơi yên tĩnh có nhiều thực vật thủy sinh Nhiệt độ 20-35 0C, sau 3 ngày trứng nở thành cá bột và khoảng 72 giờ sau cá tiêu hết noãn hoàng lúc này
cá bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài (Dương Nhựt Long, 2005)
2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở Việt Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) trong tháng 01/2010 ước tính đạt 151.000 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó sản lượng cá đạt 112.000 tấn, tăng 3,7%; sản lượng tôm đạt 20.000 tấn, tăng 5,3%; sản lượng thủy hải sản và trồng rong biển đạt 19.000 tấn Sản lượng NTTS tăng nhanh, chủ yếu do các địa phương tiếp tục phát triển mạnh mô hình nuôi đa canh, đa con cho năng suất và hiệu quả cao (Thông tin thống kê, 2010)
Trang 12Theo ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, năm 2010, ĐBSCL phấn đấu đưa diện tích NTTS lên
Thông tin thủy sản, 2009)
Nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) trong lồng bè đã được bắt đầu từ 1960s trong khi nuôi cá lóc đen (Channa striatus) được áp dụng từ thập kỷ 90 cùng thế kỷ và hiện trở nên phổ biến ở ĐBSCL (Lê Xuân Sinh và ctv, 2009)
Tỉnh Đồng Tháp, phong trào nuôi cá lóc thương phẩm rất phát triển, tổng sản lượng cá lóc thu hoạch của toàn tỉnh năm 2008 đạt 4.981 tấn (Nguyễn Đặng Thùy, 2009) Bên cạnh đó ở An Giang, Hậu Giang nghề nuôi cá lóc thương phẩm cũng không kém phần phát triển
Hiện nay các mô hình nuôi cá lóc thương phẩm phổ biến như: nuôi trong ao đất, vèo/giai trong ao, vèo/giai trên sông, lồng bè và ao nổi (nylon hoặc xi măng) Riêng ở Hậu Giang mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông được xem là phổ biến nhất Ở ĐBSCL, cá lóc bông có thể nuôi thâm canh cả trong ao lẫn trong bè và đều đạt năng suất cao, dao động từ 42,5-116 kg/m3 (Nguyễn Đình Chiến, 2003)
Hầu hết nuôi cá lóc thương phẩm đều sử dụng nguồn cá tạp nước ngọt làm thức ăn (tập trung nhiều trong mùa lũ từ tháng 9-12) và chiếm 37,8% lượng thức ăn hàng năm Theo thông tin một số hộ nuôi cá lóc cho biết để thu được 1 kg cá lóc cần tiêu tốn
4,0-4,5 kg cá tạp (Lê Xuân Sinh và ctv, 2009)
Các mô hình nuôi cá lóc thương phẩm hiện nay đang gặp một số khó khăn như: thiếu vốn, ô nhiễm khu vực nuôi, biến động lớn về giá cả thương phẩm, nguồn thức ăn
không ổn định (Lê Xuân Sinh và ctv, 2009)
2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Hậu Giang được tách ra từ tỉnh Cần Thơ để trở thành một tỉnh mới trực thuộc Trung Ương theo Nghị quyết 22/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa 11 và Nghị định số 05/2004/NĐ - CP ngày 02/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ Hậu Giang là một trong mười ba đơn vị hành chính cấp tỉnh thành của vùng ĐBSCL, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.608 km2 (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
Tỉnh có 07 đơn vị hành chính là: Thị xã Vị Thanh, Thị xã Ngã Bảy và các huyện Long
Mỹ, Vị Thủy, Phụng Hiệp, Châu Thành và Châu Thành A
Trang 13Hình 2.4: Bản đồ hành chánh tỉnh Hậu Giang
(Ảnh: Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
2.3.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Khí hậu, thời tiết: tỉnh Hậu Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão,
quanh năm nóng ẩm không có mùa lạnh Mùa mưa từ tháng 5-11, mùa khô từ tháng 12-4 (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
Chế độ thủy văn: địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của 2 hệ thống dòng chảy: hệ thống
sông Hậu và hệ thống sông Cái Lớn (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
Đất đai: trên địa bàn tỉnh có ba nhóm đất chính là đất phù sa (chiếm 42% diện tích tự
nhiên); đất phèn (chiếm 41% diện tích tự nhiên) và đất ngập nước (chiếm 17% diện tích tự nhiên) (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
2.3.1.2 Xã hội:
Năm 2006 dân số toàn tỉnh đạt 799.114 người, mật độ 497 người/km2 Mức tăng từ 1,07-1,11%/năm Dân thành thị là 132.406 người, chiếm 17% Đa phần dân số sống dựa chủ yếu vào canh tác nông nghiệp chiếm 41,4%, phi nông nghiệp chiếm 58,6% (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
Thành phần dân tộc: gồm 4 dân tộc là Kinh, Khmer, Hoa, Chăm Dân tộc Kinh chiếm 96,5%; dân tộc Khmer chiếm 2,33%; dân tộc Hoa chiếm 1,14%; dân tộc Chăm chiếm 0,03% (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
Nhìn chung, Hậu Giang có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để phát triển nông nghiệp, kinh tế vườn phát triển sẽ giúp người dân Hậu Giang sớm đạt được mục tiêu thu nhập 50.000 đồng/ha Nằm ở vị trí trung tâm miền Tây Sông Hậu là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và giao lưu phát triển kinh tế với
Trang 14vùng Tây Sông Hậu, bán đảo Cà Mau và cả vùng ĐBSCL (Sở NN và PTNT tỉnh Hậu Giang, 2007)
2.3.2 Tình hình phát triển và nuôi thủy sản ở Hậu Giang
Hiện nay trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội thì NTTS là thế mạnh thứ hai sau cây lúa của tỉnh Hậu Giang (Quyết định số 01/QĐ - UBND, 2008)
Vừa qua Ủy Ban Nhân Dân (UBND) tỉnh đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2020 Theo đó, mục tiêu năm 2010 diện tích NTTS là 11.000
ha, đến năm 2015 là 16.000 ha và đến năm 2020 là 20.000 ha Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2008-2010 đạt 34,7%/năm; giai đoạn 2011-2015 là 7,8%/năm và
Quan điểm và định hướng phát triển là khai thác nguồn lợi thủy sản và sử dụng hiệu quả tiềm năng diện tích đất, mặt nước và các nguồn lực để phát triển ngành thủy sản
ổn định, bền vững phù hợp với quy hoạch của tỉnh, quy hoạch phát triển thủy sản của ĐBSCL và chiến lược phát triển thủy sản chung của cả nước (Quyết định số 01/QĐ -UBND, 2008)
Về NTTS tỉnh phát triển theo 3 loại hình nuôi: nuôi chuyên, nuôi kết hợp và nuôi lồng, vèo Phát triển sản xuất giống thủy sản nước ngọt để chủ động cung cấp cho nhu cầu nuôi trong tỉnh Chuyển dần nuôi sử dụng thức ăn tự chế sang sử dụng thức ăn công nghiệp Chuyển đổi dần những đối tượng có hiệu quả sản xuất thấp, thị trường tiêu thụ khó khăn sang nuôi những loài đặc sản có giá trị kinh tế cao hơn (Quyết định
số 01/QĐ - UBND, 2008)
Bảng 2.1: Sản lượng thủy sản tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2005-2009
Sản lượng thủy sản (tấn) 21.810 25.570 31.851 38.659 40.767
Nguồn: Cục thống kê Hậu Giang hàng năm
Qua Bảng 2.1 cho thấy sản lượng thủy sản của tỉnh trong 5 năm trở lại đây đều không ngừng tăng, do dó cùng với những quy hoạch tổng thể trên hy vọng thủy sản của Hậu Giang không lâu sau có thể trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh nhà
2.4 Tổng quan về huyện Vị Thủy
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
Vị Thủy là một huyện của tỉnh Hậu Giang được tách ra từ huyện Vị Thanh vào năm
1999 theo nghị định 45/1999/NĐ - CP ngày 01/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ Trung tâm huyện là Thị trấn Nàng Mau Tổng diện tích của huyện là 230 km2 với tổng dân số là 96.500 người (Hoàng Chí Hùng, 2008)
Trang 15Hình 2.5: Địa điểm điều tra (Bản đồ hành chánh tỉnh Hậu Giang)
Ở Vị Thủy nông nghiệp phát triển chủ yếu bằng nghề trồng lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản Sau 10 năm thành lập, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của huyện đạt khoảng 11,1% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ (Hoàng Chí Hùng, 2008)
2.4.2 Tình hình phát triển và nuôi thủy sản ở huyện Vị Thủy
Thế mạnh thứ hai sau cây lúa của huyện là mô hình NTTS (Phạm Thanh Vũ - Trạm Khuyến Nông Vị Thủy, 2008) Tổng diện tích NTTS của huyện tăng nhanh vào năm
2008, với sản lượng thu hoạch đạt gần 4.060 tấn (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009) Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản huyện Vị Thủy giai đoạn 2005-2009
Nguồn: Cục thống kê Hậu Giang hàng năm
Nhìn chung, từ năm 2008 phong trào nuôi thủy sản của toàn huyện phát triển khá nhanh, sản lượng đã tăng lên so với năm 2007 (từ 2.413 tấn lên 4.060 tấn), đây là ngành có tiềm năng mang lại thu nhập cho nông dân khá lớn trong phát triển kinh tế gia đình Năm 2009, diện tích thả nuôi thủy sản của toàn huyện khoảng 432 ha, tăng gấp 3 lần so với năm 1999 (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009) Sản lượng thủy sản
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 Sản lượng thủy sản (tấn) 2.030 2.879 2.413 4.060 4.995
Địa điểm
điều tra:
huyện
Vị Thủy
Trang 16rằn, thát lát, cá lóc, theo hình thức công nghiệp Ông Nguyễn Văn Vui, Phó Chủ tịch UBND huyện Vị Thủy, phân tích: “Tiềm năng thủy sản trên địa bàn huyện còn rất lớn (khoảng 20.000 ha mặt nước chưa được khai thác) Trong thời gian qua, diện tích, sản lượng thủy sản tăng nhanh nhờ sự góp sức của công tác chuyển giao kỹ thuật từ trường Đại Học Cần Thơ và các sở, ngành, tỉnh, sự tìm tòi học hỏi của bà con nông dân, rồi từng bước mở rộng quy mô, tăng dần diện tích” Tuy nhiên, nếu nuôi thâm canh ồ ạt, sẽ kéo theo ô nhiễm môi trường nước Vì vậy, cần phải có quy hoạch vùng nuôi bền vững mà UBND huyện đã và đang tính đến (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009) Ngoài các mô hình sản xuất như: 2 vụ lúa xen 1 vụ cá; vườn ao chuồng (VAC) thì hiện nay huyện còn có các mô hình nuôi chuyên canh theo quy trình nuôi bán công nghiệp - công nghiệp, cá lồng, bè rãi rác ở các xã, thị trấn Đặc biệt trong thời gian gần đây, mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông đang là hướng phát triển mới của huyện Tuy nhiên, các mô hình nuôi còn khá đơn giản, chưa có quy hoạch cụ thể, nuôi trong vèo trên sông là chủ yếu và chưa được đầu tư đúng mức, với diện tích chiếm khoảng 5% tổng diện tích các đối tượng thủy sản nuôi của huyện (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009)
Nhìn chung, cho đến nay các đối tượng cá đồng như cá lóc, cá rô đồng…được nuôi với hình thức thương phẩm khá nhiều Tuy nhiên những số liệu điều tra về các đối tượng này còn hạn chế Do đó cần có những nghiên cứu sâu hơn, tổng thể hơn nhằm phát triển nghề nuôi các đối tượng cá đồng Đó cũng là một trong những lý do để thực hiện đề tài này
Trang 17CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài:
Đề tài đã được thực hiện từ tháng 03-06/2010
Địa điểm thực hiện đề tài:
Các số liệu về tình hình nuôi cá lóc thương phẩm được phỏng vấn trực tiếp từ các hộ dân nuôi cá lóc trong vèo trên sông ở huyện Vị Thủy - Hậu Giang
Nhập, xử lý, phân tích số liệu đã được tiến hành tại Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Tây Đô
Chọn ngẫu nhiên 31 hộ dân nuôi cá lóc trong vèo ở huyện Vị Thủy - Hậu Giang để phỏng vấn trực tiếp
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Số hộ điều tra ở 5 xã được trình bày cụ thể qua Bảng 3.1
Bảng 3.1: Số hộ điều tra ở các xã của huyện Vị Thủy
STT Xã được điều tra Số hộ (hộ)
1 Vị Bình 2
2 Vị Đông 6
3 Vị Trung 5
4 Vĩnh Trung 12
5 Vĩnh Tường 6
Tổng 31
3.2.1 Phương pháp thu số liệu thứ cấp Số liệu thứ cấp đã được ghi nhận từ các nghiên cứu trước đây, các báo cáo của cục thống kê ở tỉnh, huyện cùng với các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, thư viện, website, báo chí, tạp chí
3.2.2 Phương pháp thu số liệu sơ cấp Số liệu sơ cấp đã được ghi nhận thông qua phiếu điều tra được soạn sẵn với những nội dung chính như sau: Thông tin tổng quát: thông tin về chủ hộ như: tên, tuổi, địa chỉ, số năm kinh nghiệm, trình độ văn hóa, số lao động trong gia đình; lý do chọn đối tượng nuôi là cá lóc;