Tuy nhiên không thể phủ nhận được rằng một số hệ tư tưởng và ý thức xã hội của nước ta đang bị lạc hậu hơn so với những tồn tại xã hội hiện hữu trên đất nước ta.. Theo nội dung và lĩnh v
Trang 1LỚP TC LLCT K92
*
Đắk Nông, ngày 03 tháng 12 năm 2021
BÀI VIẾT THU HOẠCH
Phần: A I Nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng
A II Nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Lớp: Trung cấp LLCT-HC khóa 92
-Họ và tên: Nguyễn Đức Hoàng Lớp: Trung cấp LLCT khóa 92
Câu hỏi: Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội Liên
hệ trong việc ngăn ngừa, khắc phục các tập tục, tập quán lạc hậu ở Việt Nam hiện nay
1 MỞ ĐẦU Trong giai đoạn nước ta đang tích cực hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực
về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội như hiện nay Nhiều thành tựu của nước
ta trong thời gian qua đã tạo ra thế và lực mới cả bên trong và bên ngoài để chúng ta bước vào một thời kỳ phát triển mới Mối quan hệ của nước ta với các nước khác trên thế giới được mở rộng hơn bao giờ hết Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới tăng thêm Cùng với sự phát triển nhanh của cách mạng khoa học và công nghệ với trình độ ngày càng cao thì sự phát triển về nhận thức sẽ làm cho nước ta không bị tụt hậu so vơí thế giới bên ngoài Và điều đó khiến cho chúng ta có cơ hội phát triển hơn
Trước tình hình đó cùng với xu thế phát triển của thời đại Đảng và Nhà nước ta cần liên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới và toàn diện đất nước, trong đó đổi mới xã hội chính trị đóng vai trò then chốt và chủ đạo mang tính cấp bách bởi đất nước phát triển thì cần phải có một nền chính trị và xã hội
Trang 2ổn định thì công cuộc đó mới có khả năng thành công Tuy nhiên không thể phủ nhận được rằng một số hệ tư tưởng và ý thức xã hội của nước ta đang bị lạc hậu hơn so với những tồn tại xã hội hiện hữu trên đất nước ta Nhiều tập tục, tập quán đã không còn phù hợp cũng làm hạn chế sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của nước ta Nhưng để đổi mới xã hội thì việc quan trọng là phải nâng cao tầng nhận thức của người dân Chính vì vậy tìm hiểu mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội sẽ cho phép ta vận dụng vào thực tiễn của xã hội đất nước ta để cho công cuộc đổi mới của đất nước ta thành công
Do vậy tôi quyết định chọn nội dung “Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội Liên hệ trong việc ngăn ngừa, khắc phục các tập tục, tập quán lạc hậu ở Việt Nam hiện nay’’ làm bài thu hoạch
2 NỘI DUNG 2.1 Ý thức xã hội có thể lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội 2.1.1 Khái niệm tồn tại xã hội
Tồn tại xã hội là đời sống vật chất cùng những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Những điều kiện đó là hoàn cảnh địa lý, dân số và phương tức sản xuất vật chất của xã hội; trong đó, phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất
2.1.2 Khái niệm ý thức xã hội:
Ý thức xã hội là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống về chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, thẩm
mỹ, tôn giáo và khoa học của một cộng đồng người, phản ánh tồn tại xã hội của
họ
Ý thức xã hội không bao quát toàn bộ những hiện tượng tinh thần được bao quát trong phạm trù ý thức mà chỉ là ý thức về chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học, thẩm mỹ, tôn giáo và khoa học; đó là những biểu hiện khác nhau được gọi là các hình thái ý thức xã hội
Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội qua những giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 3Tồn tại xã hội là đời sống vật chất cùng những điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội Những yếu tố cơ bản thuộc tồn tại xã hội gồm phương thức sản xuất vật chất của xã hội, điều kiện địa lý - tự nhiên, dân số (số lượng dân số, mật độ dân
số, chất lượng dân số) Các yếu tố này tác động lẫn nhau, tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó, phương thức sản xuất vật chất là yếu
tố cơ bản nhất
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những trạng thái tâm lý xã hội, những quan điểm chính trị, tư tưởng triết học, pháp quyền, thẩm mỹ, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v v Như vậy, chính tồn tại xã hội là nguồn gốc của ý thức xã hội
2.1.3 Cấu trúc của ý thức xã hội 2.1.3.1 Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội bao gồm:
Ý thức chính trị là hình thái của ý thức xã hội, phản ánh những quan hệ kinh
tế, chính trị, xã hội, lợi ích giai cấp, địa vị giữa các giai cấp, các dân tộc hay giữa các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước trong
xã hội
Ý thức pháp quyền ra đời gắn liền với xã hội có giai cấp và nhà nước Ý thức
pháp quyền là hệ thống các quan điểm của một giai cấp về bản chất, vai trò của pháp luật; về quyền hạn, nghĩa vụ của các thành viên trong xã hội, của nhà nước, các tổ chức xã hội trên cơ sở những nguyên tắc đã được pháp luật và xã hội thừa nhận, thể hiện về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con người;
cùng những nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi luật pháp
Ý thức đạo đức là mặt tinh thần của đời sống xã hội, nó hình thành rất sớm
cùng với tồn tại xã hội loài người Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, tri thức và các trạng thái xúc cảm tâm lý chung của các cộng đồng người về thiện
- ác; lương tâm - trách nhiệm; hạnh phúc, công bằng, v.v và về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội
Trang 4và cá nhân với cá nhân trong xã hội
Ý thức tôn giáo là những tình cảm, tâm trạng, quan niệm, tư tưởng, tín điều
tôn giáo, v.v phản ánh hoang đường, hư ảo đời sống hiện thực khách quan tồn tại xã hội phù hợp với những nhu cầu tinh thần của con người trong những điều kiện lịch sử nhất định
Ý thức thẩm mỹ là toàn bộ những xúc cảm, rung động, thị hiếu, quan điểm,
lý tưởng phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ của con người với đời sống hiện thực khách quan Nghệ thuật được coi là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mỹ Nói khác đi, ý thức thẩm mỹ là cái chủ yếu trong hoạt động nghệ thuật Trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật cũng mang tính giai cấp
2.1.3.2 Theo trình độ phản ánh Theo trình độ phản ánh, ý thức xã hội được chia thành ý thức thông thường
và ý thức lý luận
Ý thức thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm, v.v của những cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày của họ, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành
lý luận
Ý thức lý luận là những tư tưởng quan điểm của một cộng đồng xã hội, một giai cấp, tầng lớp xã hội đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật
Nói khác đi ý thức lý luận phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng hệ thống lý luận
Ngoài những cách phân chia trên, người ta còn phân chia ý thức xã hội theo hai cấp độ: tâm lý xã hội và hệ tư tưởng
Tâm lý xã hội là hiện tượng tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những tình cảm, tâm trạng, tập quán, thói quen, v.v của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội được hình thành một cách tự phát dưới tác động trực tiếp của điều kiện sống hàng ngày của họ, phản ánh điều kiện sống, cũng như bản thân đời sống đó
Trang 5Hệ tư tưởng là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa thành lý luận, thành các học thuyết về xã hội phản ánh lợi ích của một giai cấp nhất định như hệ thống quan điểm triết học, chính trị, pháp luật, kinh tế, v.v
Giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng có quan hệ biện chứng Tâm lý xã hội và
hệ tư tưởng đều có nguồn gốc chung là tồn tại xã hội, nhưng là hai cấp độ khác nhau về chất trong trình độ phản ánh và là hai phương pháp phản ánh khác nhau Tâm lý xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách tự phát, trực tiếp Hệ tư tưởng phản ánh tồn tại xã hội một cách tự giác cùng sự kế thừa những tư tưởng trước đó Tuy vậy, giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng cũng có quan hệ tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình tác động đến hoạt động thực tiễn của con người Tuy nhiên, hệ tư tưởng không nảy sinh trực tiếp từ tâm lý xã hội Hệ tư tưởng không phải là “sự cô đặc” của tâm lý xã hội Do vậy, không được coi nhẹ hay tuyệt đối hóa hoặc tâm lý xã hội hoặc hệ tư tưởng Cần xác định đúng vai trò của cả tâm lý xã hội, của cả hệ tư tưởng phù hợp với mỗi trường hợp, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể
2.1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời cũng kế thừa những học thuyết xã hội, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại trước đó C Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất, rằng không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất Sự biến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Những quan điểm trên đã bác bỏ quan niệm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm muốn đi tìm nguồn gốc của ý thức tư tưởng trong bản thân ý thức tư tưởng, xem tinh thần, tư tưởng là nguồn gốc của mọi hiện tượng xã hội, quyết định sự phát triển xã hôi và trình bày lịch sử các hình thái ý thức xã hội tách rời cơ sở kinh tế xã hội
Trang 6Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ rằng: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội,
ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội Mỗi khi tồn tạ xã hội, nhất là phương thức sản xuất biến đổi thì tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa nghệ thuật …sớm muộn sẽ biến đổi theo
Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội không phải dừng lại ở chỗ xác định sự phụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội, mà còn chỉ
ra rằng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội không phải một cách đơn giản trực tiếp mà thường thông qua các khâu trung gian
Không phải bất cứ tư tưởng, quan niệm, lý luận hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ khi nào xét đến cùng thì chúng ta mới thấy rõ những mối quan hệ kinh tế được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các tư tưởng ấy
Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, và
ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử không xem ý thức xã hội như một yếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh tác dụng tích cực của ý thức xã hội đối với đời sống kinh tế- xã hội, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ý thức xã hội trong mối quan hệ với tồn tại xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường, hay chủ nghĩa duy vật kinh tế phủ nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội Ph Ăngghen viết:” Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế
Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế” Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể, vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh; vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng;
Trang 7vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát triển xã hội; vào mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng
Các cặp phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xã hội Tồn tại xã hội là đời sống vật chất của xã hội,
là sự sản xuất của cải vật chất và những quan hệ của con người trong quá trình sản xuất ấy Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Ý thức xã hội là phản ánh của tồn tại xã hội, bao gồm nhiều trình độ khác nhau (ý thức thông thường, ý thức lí luận) và nhiều hình thái khác nhau (chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học, khoa học, v v )
Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định, nhưng có tính độc lập tương đối của nó, thể hiện trên những nét cơ bản là:
- Có tính kế thừa, có lôgic phát triển nội tại, có sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội
- Ý thức khoa học, tiến bộ có thể dự báo triển vọng của xã hội, cũng có thể cải tạo tồn tại xã hội thông qua thực tiễn của con người; ngược lại, ý thức sai lầm, lạc hậu, có thể xuyên tạc, kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội
2.1.5 Tại sao ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội
Ý thức xã hội là cái phản ánh của tồn tại xã hội, còn tồn tại xã hội là cái được phản ánh bởi ý thức xã hội Do vậy, ý thức xã hội với tư cách là cái phản ánh bao giờ cũng biến đổi chậm hơn so với tồn tại xã hội - cái được phản ánh
Trong thực tế nhiều khi xã hội cũ đã mất đi, thậm chí đã mất rất lâu, nhưng
ý thức xã hội do xã hội đó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng Tính độc lập tương đối này biểu hiện đặc biệt rõ trong tâm lý xã hội V.I.Lênin cho rằng, sức mạnh của tập quán được tạo ra qua nhiều thế kỷ là sức mạnh ghê gớm nhất Khuynh hướng lạc hậu của ý thức xã hội cũng biểu hiện rõ trong điều kiện của xã hội
Nhiều hiện tượng ý thức có nguồn gốc sâu xa trong xã hội cũ vẫn tồn tại trong xã hội mới Sự lạc hậu của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội có nhiều nguyên nhân khác nhau:
Trang 8Thứ nhất, do sức ỳ của tâm lý xã hội, nhất là của thói quen, phong tục, tập
quán, truyền thống Khi tâm lý xã hội đã trở thành thói quen, tập quán, v.v thì
nó bám rễ tương đối bền vững ở mỗi người, mỗi nhóm cộng đồng, tầng lớp xã hội
Thứ hai, trong ý thức xã hội có những yếu tố bảo thủ, chẳng hạn như ý thức
tôn giáo phản ánh không đúng và không kịp sự vận động, biến đổi của tồn tại xã hội
Thứ ba, trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những
nhóm xã hội, tập đoàn xã hội, giai cấp xã hội khác nhau
2.2 Liên hệ trong việc ngăn ngừa, khắc phục các tập tục, tập quán lạc hậu ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Thực trạng Trong truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam, có nhiều thuần phong
mỹ tục cần cho đạo lý làm người, kỷ cương xã hội Phong tục có thứ trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả những đạo luật Một cuộc cách mạng có thể thay đổi chính thể nhanh chóng, tiếp theo sau hàng loạt hệ thống pháp luật được thay đổi Phong tục cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội, nhưng dai dẳng hơn và có quy luật riêng của nó, không dễ gì một sớm một chiều đã được mọi người, mọi nhà, mọi tầng lớp tuân theo
Bản thân các phong tục cũng nằm trong cuộc đấu tranh xã hội đã, đang và
sẽ tiếp diễn mãi giữa cái cũ và cái mới Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ
Hiện nay trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của người dân Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt tuy nhiên một số tập tục, tập quán lạc hậu của xã hội phong kiến trước đây vẫn tồn tại hết sức dai dẳng trong xã hội Việt Nam mà chưa thể giải quyết Các tập tục, tập quán lạc hậu chủ yếu tập trung ở việc cưới xin, tang lễ như:
- Có thể kể đến quan niệm “trọng nam khinh nữ” Thực tế vẫn còn nhiều
Trang 9gia đình phân biệt đối xử giữa nam và nữ, con trai và con gái Trong quan hệ của gia đình, người nam vẫn được ưu tiên và được chiếu cố nhiều hơn nữ Dân gian
có câu: “Nữ sinh ngoại tộc”, hoặc “Con gái ăn cơm nguội ở nhà ngoài”, “Con gái
là con của người ta”… Ðây chính là ảnh hưởng còn sót lại của tư tưởng phong kiến tông tộc gia trưởng Khi người con gái đã được gia đình gả đi lấy chồng thì không còn mối liên hệ gia sản gì với cha mẹ ruột nữa; con gái không được tham
dự bàn bạc những chuyện quan trọng trong gia đình thân tộc, hoặc không được
dự phân chia tài sản thừa kế… Quan niệm "trọng nam khinh nữ" còn biểu hiện ở tâm lý lựa chọn giới tính khi sinh con, vẫn còn có người quan niệm mong muốn sinh con trai để “nối dõi tông đường”, gây nên hệ luỵ mất cân bằng giới tính
- Trong hôn nhân hiện đại cũng tồn tại nhiều tập tục, tập quán trong nhiều cộng đồng dân cư của nước ta như:
+ Chế độ hôn nhân đa thê hoặc kết hôn trước tuổi (tảo hôn) theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu
hệ, không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái
+ Cưỡng ép kết hôn do xem “lá số” và do mê tín dị đoan để quyết định chuyện hôn nhân của con cái Nếu thầy bói phán không hợp tuổi thì người lớn nhất quyết cấm đoán việc hôn nhân; cản trở việc kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo
+ Khi người chồng hoặc người vợ chết, người vợ hoặc người góa không có quyền hưởng phần di sản của người chồng, người vợ quá cố để lại Nếu tái hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì
+ Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ (là những người
có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau), giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời (là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba)
Trang 10+ Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ Hoặc thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché… để dẫn cưới) Nếu không có tiền cưới và đồ sính lễ thì sau khi kết hôn, người con rể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ
+ Phong tục “nối dây”: Khi người chồng chết, người vợ góa bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố; khi người vợ chết, người chồng góa bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của người vợ quá cố
- Bên cạnh những hủ tục trong hôn nhân, thì trong tang lễ cũng còn nhiều tục lệ cần loại bỏ Tình trạng mời thầy mo, thầy cúng về cúng tế, “yểm bùa, trừ
tà, bắt ma” hoặc làm các nghi lễ trong tang lễ có tính chất mê tín, các tập tục tổ chức tang lễ gây lãng phí tiền của, thời gian
2.2.2 Những nguyên nhân
- Hệ tư tưởng phong kiến đã tồn tại trong đời sống của nhân dân ta một thời gian khá dài nên đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người, vì vậy khi tiếp cận những hệ tư tưởng mới và tiến bộ hơn thì chưa thể thay đổi và xóa bỏ hoàn toàn
- Nhận thức của một bộ phận người dân tại một số khu vực chưa cao nên chưa thể loại bỏ hoặc bài các tập quán, tập tục lạc hậu Điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống xã hội
- Các quy định của pháp luật, quy định của quy ước, hương ước thôn bản hiện tại đang chủ yếu hướng vào việc vận động, khuyến khích tự xóa bỏ và chưa tập trung vào việc áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn; những trường hợp người dân thực hành hủ tục vi phạm quy định của quy ước, hương ước thôn bị xử phạt với mức phạt thấp, nên không đủ mạnh để giáo dục, răn đe
Cùng với đó, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể nào trong việc cải tạo, bài trừ các tập tục lạc hậu; một số cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu nên còn để xảy
ra vi phạm nhưng chưa được xử lý kịp thời
- Những tập tục, tập quán tưởng lạc hậu vẫn tồn tại, thậm chí là phát triển,