TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÃ SỐ: 304 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAY THẾ MEN BÁNH MÌ BẰNG BỘT ĐẬU NÀNH TR
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAY THẾ
MEN BÁNH MÌ BẰNG BỘT ĐẬU NÀNH
TRONG NUÔI LUÂN TRÙNG
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ths NGUYỄN HỮU LỘC NGUYỄN THỊ THÚY AN
MSSV: 06803001 Lớp: Nuôi Trồng Thủy Sản K1
Cần Thơ, 2010
Trang 2XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Luận văn: Nghiên cứu khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành trong nuôi
luân trùng
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THÚY AN
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K1
Đề tài đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo
vệ luận văn đại học Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Đại Học Tây Đô
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Sau thời gian thực tập từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 4 năm 2010 tại Phòng thí nghiệm Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô, áp dụng những kiến thúc đã học kết hợp với kinh nghiệm thực tế, nay luận văn đã được hoàn thành
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Nguyễn Hữu Lộc – Khoa Sinh Học
Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình chỉ dạy cho em suốt thời gian làm đề
tài
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong những năm học vừa qua, tạo dựng hành trang để em bước vào cuộc sống sau này Xin cảm ơn tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K1 đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến bổ ích để hoàn thành thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Tây Đô vui, khỏe, công tác tốt và không ngừng con đường cống hiến cho sự nghiệp giáo dục
Với sự hiểu biết còn hạn hẹp và thu nhập tài liệu còn hạn chế nên báo cáo tốt nghiệp không tránh khỏi những sai sót Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô
và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!
(chữ ký)
NGUYỄN THỊ THÚY AN
Trang 4đại từ 7 – 8 ngày nuôi Hệ số trứng trung bình lần lượt 7,9 – 19,4 (%) Ngoài nghiệm
thức 5 thì tốc độ tăng trưởng đặc thù của luân trùng tương đương nhau dao động từ 0,2 – 0,3 %/ngày Như vậy, bột đậu nành có khả năng thay thế 50% men bánh mì góp phần nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng luân trùng Nghiên cứu đã làm phong phú nguồn thức ăn cho luân trùng và hạ chi phí sản xuất luân trùng cũng như chi phí trong ương nuôi các ấu trùng hải sản
Trang 5CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi theo khuôn khổ của đề tài: Nghiên cứu khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành trong nuôi luân trùng Và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Ngày 22 tháng 7 năm 2010
(Ký tên)
NGUYỄN THỊ THÚY AN
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2 3
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu luân trùng nước lợ (Brachionus plicatilis) 3
2.2 Đặc điểm sinh học và sinh sản của luân trùng 3
2.2.1 Đặc điểm phân lọai – hình thái 3
2.2.2 Đặc điểm sinh sản và chu kỳ sống 5
2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng 7
2.2.4 Các điều kiện nuôi luân trùng 7
2.3 Sử dụng luân trùng làm thức ăn cho một số đối tượng thủy sản 8
2.4 Các hình thức nuôi luân trùng 9
2.4.1 Nuôi theo mẻ 9
2.4.2 Nuôi theo phương pháp bán liên tục 9
2.4.3 Nuôi theo phương pháp liên tục 10
2.4.4 Nuôi luân trùng với mật độ cao 10
2.4.5 Nuôi trong hệ thống tuần hoàn kết hợp với tảo và cá rô phi 11
2.5 Các loại thức ăn sử dụng cho luân trùng 11
2.5.1 Tảo 11
2.5.2 Men bánh mì 11
2.5.3 Bột đậu nành 12
Trang 72.5.4 Thức ăn nhân tạo với thành phần cơ bản là men 13
2.6 Vi khuẩn và Protozoa 14
CHƯƠNG 3 15
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
3.2 Vật liệu nghiên cứu 15
3.3 Phương pháp nghiên cứu 15
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 16
3.4.1 Chỉ tiêu thủy lý hóa 16
3.4.2 Chỉ tiêu sinh học 16
3.5 Xử lý số liệu 16
CHƯƠNG 4 17
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Các yếu tố môi trường 17
4.1.1 Nhiệt độ 17
4.1.2 pH 17
4.1.3 Độ mặn 17
4.2 Sự phát triển của luân trùng 18
4.2.1 Mật độ 18
4.2.2 Hệ số trứng 21
4.2.3 Tốc độ tăng trưởng đặc thù 23
4.3 Hiệu quả kinh tế 24
CHƯƠNG 5 26
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 26
5.1 Kết luận 26
5.2 Đề xuất 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 PHỤ LỤC A
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 So sánh thành phần amino acid trong đậu nành với tảo Chlorella 13
Bảng 4.1 Biến động giá trị trung bình của pH, nhiệt độ và nồng độ muối 17
Bảng 4.2 Các chỉ tiêu sinh học của luân trùng trong thí nghiệm 18
Bảng 4.3 Mật độ luân trùng (cá thể/ml) của các nghiệm thức trong thí nghiệm 19
Bảng 4.4 Hệ số trứng (%) của các nghiệm thức trong thí nghiệm 21
Bảng 4.5 Tốc độ tăng trưởng đặc thù (%/ngày) của luân trùng 23
Bảng 4.6 Chi phí sản xuất 1 tỉ luân trùng 25
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Đặc điểm cấu tạo của Brachionus plicatilis 4
Hình 2.2 Hình dạng 2 dòng luân trùng S và L 5
Hình 2.3 Vòng đời của luân trùng 6
Hình 4.1 Mật độ luân trùng trong thí nghiệm 20
Hình 4.2 Hệ số trứng của luân trùng 22
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EPA Eicosapentaenoic acid
DHA Docosahexaenoic acid
LNA Linoleic acid
VCK vật chất khô
NT1 Nghiệm thức 1 (cho ăn hoàn toàn bằng men bánh mì) NT2 Nghiệm thức 2 (men bánh mì 75% + bột đậu nành 25%) NT3 Nghiệm thức 2 (men bánh mì 50% + bột đậu nành 50%) NT4 Nghiệm thức 2 (men bánh mì 25% + bột đậu nành 75%) NT5 Nghiệm thức 5 (cho ăn hoàn toàn bằng bột đậu nành)
TB Trung bình
MĐCĐ Mật độ cực đại
Trang 11CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Hiện nay, thức ăn tự nhiên đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công trong
ương nuôi nhiều đối tượng thủy sản, đặc biệt ở giai đoạn ấu trùng Trong sản xuất
giống, thức ăn và kỹ thuật cho ăn khi ương ấu trùng là vấn đề rất quan trọng Mặc dù
có nhiều kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất thức ăn nhân tạo nhưng những thức ăn tươi sống như tảo, luân trùng, giáp xác râu ngành, Artemia,… vẫn được xem là thức ăn
quan trọng và có tiềm năng rất lớn trong sản xuất giống (Trần Thị Thanh Hiền và csv.,
2009)
Trong các nhóm trên, luân trùng (Brachionus plicatilis) là thức ăn rất thích hợp cho ấu
trùng các loài thủy sản như ấu trùng cua biển, cá biển Chúng là thức ăn tươi sống có giá trị dinh dưỡng cao vì những đặc tính như hàm lượng dinh dưỡng cao, vận động chậm, sống lơ lửng trong nước và kích thước nhỏ (50 - 200µm) phù hợp với ấu trùng
cá biển và giáp xác (Snell et al., 1984)
Luân trùng là loài ăn lọc nên dễ dàng bổ sung chất dinh dưỡng cho ấu trùng tôm, cá thông qua việc giàu hóa luân trùng với các acid béo thiết yếu, vitamin, protein, chất
kháng sinh,… (Lubzens et al., 1989)
Kỹ thuật nuôi luân trùng đã được nghiên cứu trong hơn 40 năm qua với nhiều hình thức nuôi khác nhau từ nuôi nước tĩnh đến nước chảy, nước tuần hoàn bằng nhiều loại thức ăn phong phú như tảo, thức ăn nhân tạo như men bánh mì, bột đậu nành, Protein Selco ở dạng khô, (Fukusho, 1989)
Tảo là thức ăn tốt nhất có giá trị dinh dưỡng cao đối với luân trùng, trong đó tảo
Chlorella được sử dụng nhiều nhất trong các hệ thống nuôi nhờ tốc độ sinh trưởng
nhanh (Hagiwata et al., 2001) Tuy nhiên nếu cho luân trùng ăn hoàn toàn bằng tảo thì
giá thành rất đắt Ngược lại, nếu sử dụng men bánh mì, bột đậu nành sẽ hạ giá thành rất nhiều do không tốn thêm bể nuôi tảo, ít tốn công lao động và chủ động được nguồn thức ăn Vì thế, men bánh mì ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn Bên cạnh đó, bột
đậu nành được biết đến là nguồn thức ăn giàu đạm, nhiều muối khoáng và vitamin được sử dụng rộng rãi làm nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản Và bột đậu nành đuợc sử dụng để nuôi luân trùng nhằm giảm chi phí sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế
cho quá trình ương nuôi ấu trùng hải sản
Từ thực tế trên, đề tài: “Nghiên cứu khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu
nành trong nuôi luân trùng” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12Tìm ra khẩu phần cho ăn thích hợp nhất giữa hai loại thức ăn và khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành mà vẫn đảm bảo chất lượng dinh dưỡng
1.3 Nội dung nghiên cứu
1) So sánh năng suất và chất lượng của luân trùng khi cho ăn bằng men bánh mì, bột đậu nành và khi kết hợp hai loại thức ăn này với nhau
2) Xác định khả năng thay thế men bánh mì bằng bột đậu nành với các tỷ lệ khác nhau
Trang 13CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Lịch sử nghiên cứu luân trùng nước lợ (Brachionus plicatilis)
Vào đầu những năm 1950, luân trùng Brachionus plicatilis lần đầu tiên được chú ý ở
Nhật vì sự phát triển sinh khối một cách đột ngột của nó làm suy giảm chất lượng
nước trong các bể nuôi cá chình và gây chết cá hàng loạt Qua sự kiện này mà B
plicatilis trở thành một trong các đối tượng nghiên cứu trong nuôi trồng thuỷ sản vào
lúc đó (Hirata et al., 1979 và Fukusho, 1989) Các nghiên cứu ban đầu của Ito (1960) cho thấy B plicatilis là thức ăn tốt cho ấu trùng cá nước mặn và từ đó các kỹ thuật
nuôi sinh khối luân trùng bắt đầu được nghiên cứu (Trần Công Bình, 2005)
Lần đầu tiên B plicatilis được nuôi sinh khối ở Nhật vào năm 1964, luân trùng được cho ăn bằng tảo Nanochloropsis occulata và nuôi theo phương pháp chuyển bể mỗi ngày (Hirata et al., 1979) Với phương pháp này, chi phí sản xuất lớn, giá thành luân
trùng cao Năm 1967, Hirata nghiên cứu nuôi luân trùng bằng men bánh mì
(Saccharomyces cerevisiae) nhằm hạ giá thành và đến những năm 1970 việc nuôi luân
trùng bằng men bánh mì đã được ứng dụng rộng rãi
Ở Mỹ, Theilacker (1971) lần đầu tiên công bố nghiên cứu về chất lượng luân trùng
nuôi bằng các giống loài tảo khác nhau vào năm 1971 Theo Nagata (1989), luân trùng nước lợ hiện được nuôi làm thức ăn cho ấu trùng của hơn 60 loài cá nước mặn và 18 loài giáp xác trên khắp thế giới
Ở Trung Quốc, hầu hết các nghiên cứu về luân trùng Brachionus plicatilis làm thức ăn
cho ấu trùng cá biển được tiến hành từ năm 1980, (Chen, 1991; trích dẫn bởi Nguyễn Văn Hạnh, 2007) Nuôi luân trùng ở Đài Loan đã trở thành nghề nuôi thương phẩm để phục vụ cho việc sản xuất 11 loài cá biển (Liao, 1991; trích dẫn bởi Dương Thị Hoàng Oanh, 2005)
2.2 Đặc điểm sinh học và sinh sản của luân trùng
2.2.1 Đặc điểm phân loại - hình thái
Theo Pechenik (2000), hệ thống phân loại của luân trùng như sau:
Ngành : Rotifera
Lớp : Monogononta
Bộ : Ploima
Họ : Brachionidae
Trang 14Giống : Brachionus
Loài : Brachionus plicatilis (Muller)
Luân trùng có kích thước từ 100-340µm (Dhert, 1996) có dạng hình trứng dài, hơi dẹp theo hướng lưng bụng Bờ bụng trước có 4 gai dạng u lồi giữa có khe hình chữ V Cơ thể có khoảng 1000 tế bào, lớn lên không phải do sự phân chia của tế bào mà do nguyên sinh chất tăng lên Luân trùng có cấu tạo gồm 3 phần: đầu, thân và chân
• Ðầu có vòng tiêm mao có chức năng bơi lội và thu gom thức ăn
• Thân luân trùng có ống tiêu hóa, hệ bài tiết và hệ sinh dục
Hệ tiêu hoá: Luân trùng thu thức ăn nhờ vòng tiêm mao sau đó vào trong miệng và
đến hàm nghiền Thức ăn sẽ được hàm nghiền cắt, nghiền rồi đi vào thực quản, dạ dày,
ruột và hậu môn (Nogrady, 1993)
Hệ bài tiết: Luân trùng bài tiết chủ yếu là chất thải có nguồn gốc đạm (phần lớn là ammonia) Sự chuyển động của tiêm mao ở các tế bào ngọn lửa (flame cells) tạo nên dòng chảy nhỏ các chất lỏng bài tiết vào trong các túi và chảy vào bàng quang sau đó
được bài tiết ra ngoài thường xuyên và đều đặn (Nogrady, 1993)
Hệ sinh dục: Cơ quan sinh dục của con cái bao gồm 3 phần: buồng trứng, chất noãn hoàng và lớp nang Ngay từ khi mới sinh ra, số lượng trứng đã có sẵn trong buồng trứng
• Chân: có dạng vòng đàn hồi, không đốt, ở cuối có 1 hay 4 ngón
Hình 2.1: Đặc điểm cấu tạo của Brachionus plicatilis (Dhert, 1996)
Trang 15Dựa vào các đặc điểm hình thái khác nhau, người ta phân loại ra 2 dòng Brachionus là
dòng nhỏ (dòng S) và dòng lớn (dòng L)
Luân trùng dòng S là Brachionus rotundiformis, có chiều dài vỏ giáp từ 100-210 µm
(trung bình là 160 µm) Trên vỏ giáp có gai nhọn
Luân trùng dòng L là Brachionus plicatilis, có chiều dài vỏ giáp từ 130-340 µm (trung
bình là 239 µm) Trên vỏ giáp có các gai góc tù
Luân trùng dòng S và L sinh trưởng với tốc độ khác nhau, có khả năng chịu đựng nhiệt độ khác nhau và có nhiệt độ sinh trưởng tối ưu khác nhau (Fushuko, 1989) Dòng S sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ từ 28-35oC Dòng L đạt sinh trưởng tối ưu ở nhiệt độ từ 18-25oC
Ngoài ra sự biến đổi về hình thái giữa các loài còn phụ thuộc vào độ mặn hoặc chế độ cho ăn Những luân trùng cho ăn bằng men bánh mì thường lớn hơn những luân trùng
được cho ăn bằng tảo tươi (Dhert, 1996)
Hình 2.2: Hình dạng hai dòng luân trùng S và L (Dhert, 1996)
2.2.2 Đặc điểm sinh sản và chu kì sống
Tuổi đời luân trùng từ 3,4 - 4,4 ngày Ở nhiệt độ 25oC sau 0,5 – 1,5 ngày ấu trùng bắt
đầu trở thành cơ thể trưởng thành và sau đó con cái đẻ liên tục khoảng 4 giờ lại đẻ
trứng 1 lần Các con cái có thể sinh sản 10 thế hệ con con trước khi chết Hoạt động sinh sản của luân trùng phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường (Dhert, 1996)
Con đực có kích thước nhỏ hơn con cái và không có cơ quan tiêu hóa Cơ quan giao cấu của con đực chứa đầy tinh dịch Con cái cũng có 2 dạng là con cái đơn tính và con cái hữu tính (Dhert, 1996)
Vòng đời của luân trùng có sự luân phiên giữa 2 hình thức sinh sản (hình 2.3)
Trang 16Sinh sản đơn tính: con cái vô tính sẽ sinh ra trứng lưỡng bội (2n) và sẽ phát triển thành con cái vô tính Con cái này sinh sản với tốc độ nhanh, nhịp sinh sản khoảng 4 giờ dưới điều kiện thuận lợi Tốc độ sinh sản phụ thuộc vào điều kiện nuôi và tuổi của luân trùng Đây là hình thức sinh sản nhanh nhất để tăng quần thể luân trùng và là hình thức quan trọng trong hệ thống nuôi luân trùng
Sinh sản hữu tính: Trong vòng đời của luân trùng, khi có sự biến động đột ngột của
điều kiện môi trường như nhiệt độ, nồng độ muối, … luân trùng sẽ chuyển sang hình
thức sinh sản hữu tính Trong quá trình này xuất hiện cả con cái vô tính và con cái hữu tính, chúng đều có hình thái giống nhau, khó phân biệt tuy nhiên con cái hữu tính sẽ sinh ra trứng đơn bội (1n) Con cái hữu tính có 3 kiểu sinh sản:
- Con non sinh ra từ những trứng đơn bội không thụ tinh sẽ phát triển thành con đực Con đực có kích thước bằng 1/3 kích thước con cái Chúng không có ống tiêu hoá và bàng quang nhưng có tinh hoàn đơn với nhiều tinh trùng thành thục
- Trứng nghỉ: là trứng đơn bội đã thụ tinh Trứng nghỉ có vách tế bào dày giúp nó chịu
đựng qua điều kiện khắc nghiệt và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nở thành con cái vô
tính
- Con cái vô tính
Hình 2.3: Vòng đời của luân trùng (Dhert, 1996)
Trang 172.2.3 Đặc điểm sinh trưởng
Luân trùng B plicatilis là loài ăn lọc không chọn lọc, thức ăn có kích thước 20-25µm mang đến miệng nhờ sự chuyển động của vòng tiêm mao (Dhert, 1996) thông qua hoạt động bơi lội Trong tự nhiên, các loại thức ăn thường được luân trùng sử dụng là tảo, vi khuẩn, nấm men, chất hữu cơ lơ lửng trong nước
2.2.4 Các điều kiện nuôi luân trùng
2.2.4.1 Độ mặn
Luân trùng Brachionus plicatilis là loài rộng muối, chúng có thể chịu đựng trong
khoảng 1- 67 ppt (Hoff, 1989), đôi khi cả 97 ppt (Trần Ngọc Hải, 2004 ; trích dẫn bởi Nguyễn Văn Hạnh, 2007) Tuy nhiên, độ mặn từ 10 – 20 ppt là tốt nhất cho sự tăng trưởng của luân trùng
James (1990) cho rằng độ mặn 20 ppt tốt cho luân trùng loại nhỏ (S- type) và 30 ppt tốt cho luân trùng loại lớn (L- type) Ở độ mặn thấp 5 ppt luân trùng cũng có vỏ bao
dày hơn ở độ mặn 30 ppt (Jame, 1990; trích dẫn bởi Fulks et al., 1991)
2.2.4.3 pH
Trong tự nhiên luân trùng có thể sống ở pH từ 5 -10 (Fulks et al., 1991), thích hợp
nhất ở 7,5-8,5 (Hoff, 2004) Yu (1986) thì cho rằng luân trùng đạt mật độ cao nhất ở
pH từ 7,3 - 7,8 Theo Winston (1987) thì pH từ 6,5 – 8,5 thì không ảnh hưởng gì lên
sự tăng trưởng của quần thể luân trùng ( Nguyễn Văn Hạnh, 2007)
2.2.4.4 Ánh sáng
Cường độ ánh sáng 2000 lux, chu kỳ chiếu sáng 18 giờ sáng:6 giờ tối mỗi ngày (Hoff, 1989) Fukusho (1989) cho rằng, ảnh hưởng trực tiếp của ánh sáng lên luân trùng thì
chưa rõ Theo Fulks et al (1991), ánh sáng kích thích sự phát triển của luân trùng nhờ
vào sự gia tăng phát triển của vi khuẩn quang hợp và tảo trong bể nuôi
Trang 18-Theo Groeneweg et al (1981), hàm lượng N-NO2- đạt từ 10-20ppm không gây độc
đối với luân trùng Brachionus rubens Lubzens (1987) cho rằng ở nồng độ 90 - 140
ppm N-NO2- gây độc đối với luân trùng
2.2.4.7 Oxy
Luân trùng có thể chịu đựng oxy dưới 2ppm Nồng độ oxy sẽ thay đổi theo nhiệt độ,
độ mặn, mật độ, loại thức ăn và mật độ thức ăn Nhu cầu tiêu thụ oxy còn phụ thuộc
vào loại thức ăn và nhiệt độ (Fulks et al., 1991)
2.3 Sử dụng luân trùng làm thức ăn cho một số đối tượng thủy sản
Luân trùng là loài động vật có kích thước nhỏ nên thích hợp làm thức ăn cho các loài
cá và giáp xác con có kích cỡ miệng nhỏ Nhiều loài luân trùng có kích thước nhỏ
như: Brachionus plicatilis, B calicyflorus, B rotundiformis, B angularis,… do đó khi
sử dụng luân trùng làm thức ăn tự nhiên trong quá trình ương nuôi một số loài cá và giáp xác thì thấy rằng tỷ lệ sống của chúng tăng lên khá cao, cụ thể là khi ương nuôi
cua Aphyosemion gardneri có bổ sung luân trùng làm thức ăn từ 5 đến 35 ngày tuổi thì
tỷ lệ sống của cua đạt 80% (Arimoto và Ofojekwe, 2003) và tỷ lệ sống của loài cá
Lota lota khi ương nuôi có bổ sung luân trùng là 69,2% (Shin và csv., 2003; trích dẫn
bởi Nguyễn Tấn Khương, 2008)
Zheng et al (1994), nghiên cứu khả năng tiêu hóa hấp thụ và sử dụng các thức ăn khác nhau gồm luân trùng, Artemia và Platymonas subcordiformis của tôm he Nhật
Bản và ông nhận thấy rằng: luân trùng là một trong những loại thức ăn thích hợp nhất cho ấu trùng tôm he ở giai đoạn Mysis 3 Tỷ lệ sống và sức tăng trưởng của ấu trùng
tôm Penaeus semisulcatus cho ăn Artemia hoặc luân trùng cũng được Sarmocha
nghiên cứu, ông thấy rằng ấu trùng tôm cho ăn luân trùng có thể đạt tỷ lệ sống cao nhưng năng lượng lấy vào giảm vì trọng lượng khô của luân trùng thấp hơn Bên cạnh
đó, luân trùng còn được sử dụng rộng rãi làm thức ăn trong ương nuôi ấu trùng tôm
Penaeus monodon, P indicus và P merguiensis cho kết quả tốt (Nguyễn Văn Hạnh,
2007)
Luân trùng có thể cho ấu trùng tôm sú ăn ở giai đoạn Mysis với mật độ 20 con/ml,
điều đó sẽ rất quan trọng nếu chúng được giàu hóa với axit béo cao không no (HUFA)
(Nguyễn Thanh Phương, 2004; trích dẫn bởi Nguyễn Văn Hạnh, 2007)
Trang 19Khi nghiên cứu về khả năng thay thế Artemia bằng luân trùng Brachionus plicatilis trong ương ấu trùng tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii, Lovett et al., (1998)
thấy rằng khi bổ sung luân trùng không làm tăng nhanh quá trình phát triển của ấu
trùng tôm (Trích dẫn bởi Trần Thị Thanh Hiền và csv, 2009) Theo tổng hợp của Trần Thị Thanh Hiền và csv, 2009, Villegas (1991) khi nghiên cứu về sức tăng trưởng và năng suất của cá măng bột (Chanos chanos) được cho ăn luân trùng dạng tươi và đông
lạnh thì không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai dạng thức ăn này
Luân trùng là thức ăn phù hợp cho ấu trùng cua biển ở giai đoạn zoae 1 và 2 Sự phối hợp 3 loại thức ăn là luân trùng, tảo, Artemia kết quả cho tỷ lệ sống cao nhất (Nguyễn
Cơ Thạch và csv, 2004) Theo Trương Trọng Nghĩa (2005) sử dụng luân trùng để
ương ấu trùng cua biển Sylla paramamosain ở các giai đoạn khác nhau từ zoae 1 đến
zoa 5 kết quả cho thấy luân trùng phù hợp cho ấu trùng cua biển Sylla paramamosain
giai đoạn zoae 1 và zoae 2 Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều chứng minh rằng luân trùng là thức ăn rất quan trọng cho ấu trùng cua đặc biệt ở các giai đoạn đầu của
ấu trùng (Trần Thị Thanh Hiền và csv, 2009)
2.4 Các hình thức nuôi luân trùng
2.4.1 Nuôi theo mẻ
Luân trùng nuôi theo mẻ bằng cách cho luân trùng vào bể tảo với mật độ luân trùng và tảo tương ứng là 100 cá thể/ml và 13- 14x108 tế bào/ml Độ mặn 23 ppt và nhiệt độ duy trì ở 30oC Ngày đầu tiên, mỗi ngày 2 lần cho men bánh mì vào bể với số lượng 0,25g/ triệu luân trùng Ngày hôm sau các bể được đổ đầy hoàn toàn bằng tảo với cùng một mật độ tảo và một ngày hai lần cho một lượng men bánh mì là 0,375 g/triệu luân trùng vào bể Ngày kế tiếp tiến hành thu hoạch và cấy tiếp vào bể mới (chu kỳ nuôi từ 2-3 ngày) (Dhert, 1996)
Snell (1991) cho rằng nuôi luân trùng theo mẻ là phương pháp nuôi quảng canh, thể tích bể cần nhiều nhưng không sử dụng hết, mất nhiều ngày để thu hoạch, nước nuôi
được loại bỏ, dụng cụ nuôi được tiệt trùng và sau đó luân trùng được thả lặp lại và
sinh trưởng một thời gian ngắn trước khi thu hoạch toàn bộ So với các phương pháp khác thì đây là phương pháp ít rủi ro nhưng không có hiệu quả vì hao phí nhân công, thời gian, dụng cụ và phương tiện lao động (Dương Thị Hoàng Oanh, 2005)
2.4.2 Nuôi theo phương pháp bán liên tục
Theo Lubzens (1987) hệ thống nuôi bán liên tục gồm các bể có thể tích nhỏ từ vài chục lít đến 200m3 nhưng nuôi với mật độ cao Vì vậy, nuôi bằng phương pháp này môi trường rất mau dơ do thức ăn dư thừa và các chất vẩn nên trong hệ thống này cần lắp đặt các bộ phận lọc nhằm cải thiện chất lượng nước nuôi (Dương Thị Hoàng Oanh,