Cá Hô được xếp vào 1 trong 10 loài cá khổng lồ của sông Mê Công bên cạnh cá Tra dầu, Vồ cờ…Tuy nhiên, số lượng cá Hô được đánh bắtngoài tự nhiên đã giảm sản lượng nghiêm trọng, người ta
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ SỐ: 52620301
THEO DÕI MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÔI CỦA
CÁ HÔ (Catlocarpio siamensis)
Lớp: NTTS K3
Cần Thơ, 2012
Trang 2CHƯƠNG 1ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Giới thiệu
Hệ thống sông Mê Công được xem là một trong những hệ thống sông lớn nhất vàmầu mớ nhất Việt Nam Nó cung cấp thực phẩm và sinh kế cho hàng triệu cư dân.Sông Mê Công chứa đựng một trong những khu hệ cá phong phú và đa dạng nhấttrên thế giới Có ít nhất 1.200 loài cá đang sống ở đây đại diện cho nhiều họ, trong
đó có 40 loài cá quan trọng và 3 loài liệt vào loài có nguy cơ tuyệt chủng hoặc nguy
cơ đặc biệt (MRC, 2005) Trong đó, cá Hô (Catlocarpio siamensis) là loài duy nhất của giống Catlocarpio được Ủy hội sông Mê Công (MRC) xếp vào danh sách loài
cá sông quan trọng ở hạ lưu sông Mê Công cần được bảo vệ Cá Hô là một loài cánổi bật bởi kích thước khá lớn, chất lượng thịt rất ngon, có giá trị kinh tế rất cao,nhất là cá lớn
Cá Hô được xem là loài cá lớn nhất trong họ Cá Chép (Cyprinidae), có thể dài đến3m và nặng đến 300 kg Cá Hô được xếp vào 1 trong 10 loài cá khổng lồ của sông
Mê Công bên cạnh cá Tra dầu, Vồ cờ…Tuy nhiên, số lượng cá Hô được đánh bắtngoài tự nhiên đã giảm sản lượng nghiêm trọng, người ta nghi ngờ rằng một số ngư
cụ đang sử dụng đã gây nên sự giảm sút này Đi đôi với những loại ngư cụ bất hợppháp đang còn sử dụng phổ biến như nổ mìn hoặc đánh thuốc độc thì một số ngư cụhợp pháp đặc biệt là lưới bén cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng Nhưng mối đe dọahơn cả đối với loài cá này là ảnh hưởng do phương thức quản lý nguồn nước nhưthủy lợi, thủy điện, chống lũ gây nên Vì vậy, việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài
cá Hô là một yêu cầu cấp thiết để tìm giải pháp khôi phục đàn cá tự nhiên, bảo tồnnguồn gen quí hiếm, gìn giữ sự đa dạng sinh học thủy sản Ngoài ra, còn chủ độngcung cấp giống cho người nuôi, làm phong phú cơ cấu giống loài, tăng thêm nguồnthực phẩm thủy sản quý đáp ứng cho nhu cầu xã hội Trước tình hình đó, được sự
phân công của Khoa Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Tây Đô, đề tài “Theo
dõi một số chỉ tiêu sinh sản và quá trình phát triển phôi của cá Hô (Catlocarpio
siamensis)” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thu thập một số dẫn liệu về kết quả kích thích sinh sản của cá Hô bằng loại và liềulượng hormone khác nhau; góp phần làm cơ sở cho những giải pháp kỹ thuật, đạthiệu quả kích thích sinh sản
1.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định tỷ lệ thành thục của của cá bố mẹ trong ao nuôi vỗ
Trang 3Kích thích sinh sản cá Hô bằng não thùy + LHRH_a + Dom.Kích thích sinh sản cá Hô bằng não thùy + HCG.
Xác định thời gian phát triển phôi của cá
Xác định thời gian cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng
Xác định thời điểm cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài môi trường
Trang 4CHƯƠNG 2LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU2.1 Đặc điểm sinh học cá Hô
Loài: Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898
Tên tiếng Anh: Giant barb
Trang 5toàn Vây đuôi chẻ 2 rảnh sâu hơn 1/2 chiều dài của vây Mặt lưng của thân và đầu
có màu xám đen và lợt dần xuống bụng, bụng có màu trắng bạc Ở mặt bên và lưng
có sắc tố đen viền xung quanh phần lộ ra của vảy tạo thành hình mạng lưới Phầnngọn của các tia vi có màu đen
Theo Mai Đình Yên (1992), cá Hô có thân thon dài, hơi hẹp hai bên Đầu rộng.Miệng ở đầu mõm, hàm kéo dài đến quá viền trước của mắt Môi dưới rất dày.Mõm hơi hếch lên, mặt lưng của đầu giữa mắt và mõm lõm xuống Mắt to, không
có râu, vây lưng cao, tia đơn không hoá xương, gốc phủ vẩy nhỏ Vây ngực, vâybụng, vây hậu môn ngắn Các vây màu đỏ có viền đen Cá có kích thước lớn Giá trịkinh tế cao
2.1.3 Phân bố
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1982), Cá Hô sống ở nước ngọt,phân bố ở sông Mê Công, cá có mặt ở Lào, Thái Lan, Campuchia và Đồng bằngsông Cửu Long (ĐBSCL) Việt Nam Cá Hô gặp ở mọi nơi thuộc hạ lưu sông MêCông, nhưng rất hiếm đoạn từ trên thác Khôn trở lên (MRC, 2005) Những nơi nàythường đánh được cá giống là ở các vùng ngập, nhưng cá cở lớn hiện nay rất hiếm(A.F Poulsen, 2005)
Ở Thái Lan, cá giống có chiều dài từ 2 - 6 cm được tìm thấy ở Chian Saen thuộctỉnh Chiang Rai, Tab Phanom và Khemaratah thuộc tỉnh Ubol Ratchathani (MRC.Catch and Culture, 2005)
Ở Campuchia vào mùa sinh sản, cá giống đi xuôi dòng từ Stung Streng đến hồTonle Sap và các nhánh sông nhỏ, ở đây thu mẫu tìm thấy mỗi ngày có trên 10 triệu
cá con trôi dạt xuôi dòng xuống hạ lưu sông Mê Công, trong đó có cá Hô giống cỡ
10 - 12 cm cũng được tìm thấy (Hortle et al, 2004) (Trích bởi Thi Thanh Vinh,
Cá trưởng thành thỉnh thoảng cũng đánh được dọc theo các lưu vực sông nhưngngày càng một hiếm (A.F Poulsen, 2005)
Hiện nay, Sản lượng cá Hô đã và đang giảm sút đến mức báo động, ít đánh bắt được,
có nguy cơ bị diệt chủng Cá Hô là loài cá đã được ghi trong sách Đỏ Việt Nam,mức độ diệt chủng ở bậc E, cần được bảo vệ khẩn cấp (Nguyễn Văn Hảo, 1993)
Trang 62.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một trong những chức năng quan trọng nhất của cơ thể cá Nhờ hoạtđộng của hệ tiêu hoá mà vật chất dinh dưỡng từ môi trường ngoài được chuyển vào
cơ thể dưới dạng thức ăn, nhằm cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của cơ thểnhư bơi lội, kiếm ăn, sinh trưởng và sinh sản (Trần Ngọc Tuyền, 2008)
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), mỗi lài cá ăn một số loạithức ăn nhất định được người ta gọi là “phổ thức ăn” Có nhiều căn cứ làm cơ sởcho những hình thức phân chia tính ăn của cá Theo số loại thức ăn thì tính ăn của
cá có thể là đơn thực, có thể là hẹp thực, có thể là rộng thực Tuy nhiên, hiện nay,tính ăn của cá được chia theo các nhóm: cá ăn thực vật, cá ăn động vật và cá ăn tạp.Theo MRC (2005), cá Hô thuộc loài ăn tạp, di chuyển chậm Thức ăn phần chính lànhững thủy sinh vật như tảo, động vật nhỏ, nhuyễn thể, giáp xác, giun, rong và tráicây,… Thỉnh thoảng ăn cả cá con
Cá Hô có miệng rất rộng, thuộc loại miệng trên, cá tìm thức ăn ở tầng mặt và tầnggiữa, bắt mồi chủ động và tầng số bắt mồi thấp (Huỳnh Hữu Ngãi, 2009)
Cá Hô từ 1 - 30 ngày tuổi sử dụng được các loại thức ăn như: Tảo lục (Chlorophyta),
Moina, Artemia và thức ăn công nghiệp dạng viên mảnh (Huỳnh Hữu Ngãi, 2009).Trong nuôi thương phẩm có thể dùng thức ăn viên có hàm lượng đạm từ 25 - 30%hoặc thức ăn tự chế gồm 50% cám và 50% bột cá Khẩu phần ăn hàng ngày là 2 -3% trọng lượng thân (Huỳnh Hữu Ngãi, 2009)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), sinh trưởng là sự gia tăng vềkích thước, về khối lượng cá theo thời gian, là kết quả của quá trình trao đổi chất.Những loài cá khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau
Sống trong điều kiện môi trường thuận lợi (nhất là dinh dưỡng) thì cá có tốc độ tăngtrưởng nhanh, đặc biệt quan trọng đối với cá trong những giai đoạn đầu của chu kỳsống Thức ăn là cơ sở cung cấp vật chất dinh dưỡng cho cá, cần phải đáp ứng đủ vềchất và lượng theo nhu cầu dinh dưỡng thì cá mới duy trì nhịp điệu sinh trưởng tốt(Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Theo Huỳnh Hữu Ngãi (2009), cá Hô thuộc giai đoạn từ cá bột lên cá hương mấtkhoảng 30 ngày, từ cá hương lên cá giống mất khoảng 60 ngày Ấu trùng khi nở dàikhoảng 6 cm Cá tăng trưởng từ 100 - 700 gram trong năm đầu và tăng đến 2kg vàonăm thứ nhì Trong các điều kiện môi trường nhân tạo cá phải mất 7 năm để trưởngthành
Trang 7Trích bởi Thi Thanh Vinh (2008), theo Potharos (1967) thì cá Hô là loài tăng trưởngrất nhanh, trong tự nhiên có thể tăng trọng từ 2 - 4 kg trong thời gian 8 tháng Vìtrong tự nhiên có nguồn thức ăn phong phú, điều kiện sống thuận lợi, tính ăn rộngnên chúng có thể tìm thức ăn ưa thích dễ dàng.
Trong thử nghiệm nuôi đơn trong ao tại Trung Tâm Quốc gia Giống Thủy sản nướcngọt Nam bộ (Viện NCNTTS II), thì năm thứ nhất sau 9 tháng nuôi cá đạt trọnglượng trung bình 456 g/con, năm thứ hai sau 21 tháng cá đạt trọng lượng trung bình2.614 g/con và sau 32 tháng đạt 6.000 g/con (Nguyễn Văn Khánh, 2005) Nuôi ghéptrong bè ở An Giang sau 32 tháng nuôi cá đạt trọng lượng trung bình 8 kg/con, lớnnhất 11 kg và nhỏ nhất là 6kg (Huỳnh Hữu Ngãi, 2009)
Theo Huỳnh Hữu Ngãi (2009), cá Hô nuôi ghép có tốc độ tăng trưởng nhanh hơnnuôi đơn, nên chọn mô hình nuôi ghép để góp phần tăng thu nhập trong quá trìnhnuôi vì cá Hô có kích thước rất lớn nên đòi hỏi thời gian nuôi phải rất dài thì cá mớiđạt kích cỡ thương phẩm theo yêu cầu của thị trường
Cá Hô có thể lớn tới 300 cm, nhưng thông thường chỉ đến 100 – 200 cm (A.F.Poulsen, 2005) Cở cá ngư dân thường đánh bắt được có khối lượng từ 80 – 150 kg(Nguyễn Văn Hảo, 1993)
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Sinh sản là đặc trưng cơ bản của cá để tạo ra thế hệ mới duy trì và phát triển nòigiống, là hoạt động thể hiện cao nhất sự thích nghi với điều kiện môi trường sống(Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Theo Bộ Thủy sản (1996), mùa vụ sinh sản của cá Hô từ tháng 5 đến tháng 7.Nhưng trong điều kiện nhân tạo nuôi trong ao nước tĩnh, thì mùa vụ sinh sản kéodài từ tháng 3 đến tháng 11, đó là do trong điều kiện nuôi cá được cho ăn đầy đủ cả
về chất và lượng, bố trí mật độ nuôi thích hợp và được chăm sóc kỹ về các chế độnhư thay nước, kích thích sự phát dục, quản lí môi trường,…
Theo MRC (2005), Cá thể cái 60 kg có thể đẻ 400.000 trứng, cá Hô có đặc điểm di
cư sinh sản gần giống với một số loài cá khác ở sông Mê Công, tức là chúng đẻtrứng ở dòng chính, trứng và ấu trùng trôi xuôi dòng đến nơi kiếm mồi và sinhtrưởng ở đó trong suốt mùa lũ Khi mức nước bắt đầu xuống chúng di chuyểnngược lại ra sông chính, di cư đến nơi ẩn náu cho mùa khô Tuy nhiên, nếu so sánhvới nhiều loài khác thì loài này phải trải qua nhiều năm mới thành thục
Cá thành thục sinh dục khi đạt trọng lượng 9 kg, tương ứng với tuổi thành thục là 7tuổi Đến mùa sinh sản cá di cư lên phần trung lưu sông để đẻ trứng Cá có sức sinhsản lớn Ở những cá cái lớn số lượng có thể đạt 6 - 7 triệu trứng, trứng có màu vàngnhạt hay nâu và lớn khoảng 1 mm, sau đó ngấm nước thành 3 mm Số lượng trứng
Trang 8tùy theo trọng lượng của cá (Bộ thủy sản, 1996) Cá Hô là loài cá đẻ trứng bán trôinổi, có đường kính trứng 0,09 - 1,17 mm, tương đương với một số loài thuộc họ cáchép khác như cá ét mọi, cá mè hôi Sau khi trương nước trứng nổi lơ lững trongđiều kiện có nước chảy nhẹ Do đó có thể ấp trứng trong bình weise, trong bểcomposite, bể vòng có kết hợp với sục khí, ở nhiệt độ 28 - 30 oC trứng nở sau 12 –
12 giờ 30 phút (Huỳnh Hữu Ngãi, 2009)
2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nuôi vỗ
Nuôi vỗ cá bố mẹ là một khâu có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở vật chất có ý nghĩaquyết định trong việc sinh sản nhân tạo Sự phát dục của tuyến sinh dục có quan hệchặt chẽ với chế độ dinh dưỡng Kỹ thuật nuôi vỗ hợp lý sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
tỷ lệ thành thục, tỷ lệ cá đẻ, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá con
Thức ăn có nguồn gốc động vật hay thực vật điều có các thành phần chính nhưprotid, lipid, carbohydrate, vitamin và chất khoáng Thành phần và chất lượng thức
ăn khi nuôi vỗ cá có ý nghĩa quyết định đến sự thành thục của cá Thức ăn là mộttrong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản cá Cácchất dinh dưỡng được cung cấp từ thức ăn là nguồn năng lượng cho mọi hoạt độngsinh lý của cơ thể Sự phát dục của tuyến sinh dục có quan hệ chặt chẽ với chế độdinh dưỡng, không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc và chất lượngthức ăn Điều kiện dinh dưỡng không những có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ thành thục
mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản thực tế Khi số lượng thức ăn đầy đủ
và chất lượng phù hợp là điều kiện tốt nhất cho quá trình thành thục sinh dục
Hiện tượng sinh sản là một quá trình thích nghi nhằm duy trì nòi giống Để chuẩn bịcho một mùa sinh sản, trước đó cá phải trải qua một thời kỳ tích luỹ chất dinhdưỡng Qui luật chung đối với các loài cá là trước mùa thành thục sinh dục, cá cómột thời gian tăng cường độ bắt mồi, tích luỹ chất dinh dưỡng Trong tự nhiênthông thường trước mùa sinh sản là thời kỳ vỗ béo, cơ thể tăng khối lượng, chiềudài, độ béo Các loài cá có thời kỳ vỗ béo dài hoặc ngắn khác nhau tuỳ từng loài.Muốn cho việc sinh sản đạt kết quả, cá nuôi trong ao cũng phải được trải qua thời
kỳ vỗ béo
Các chất dinh dưỡng được tích luỹ từ trước được sử dụng cho hoạt động phát dục
Sự tích luỹ vật chất của thời kỳ đầu nuôi vỗ rất quan trọng Vật chất cung cấp chogiai đoạn này chủ yếu được hấp thụ trực tiếp từ thức ăn bên ngoài Còn trong giaiđoạn nuôi vỗ thành thục, nguồn dinh dưỡng cung cấp cho buồng trứng chủ yếuđược điều tiết nội bộ Thức ăn không những là nguồn vật chất cho sự sinh trưởng,năng lượng cho sự trao đổi chất mà còn là nguyên liệu cung cấp cho buồng trứng vàtinh sào Những cá đói thì có hệ số thành thục thấp hoặc không thành thục mặc dù
Trang 9mọi yếu tố khác của môi trường trong thời gian thành thục trước vụ đẻ là thuận lợi.Những cá đang trong thời kỳ tạo noãn hoàng nếu bị đói trong thời gian dài thìbuồng trứng có thể bị thoái hoá và tiêu biến Thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ có ảnh
hưởng đến chất lượng trứng và tỷ lệ sống của cá con (Wantanabe et al., 1985)(Trích bởi Đặng Văn Trường và ctv., 2011).
2.2.2 Kích thích sinh sản nhân tạo
Kích thích sinh sản đóng vai trò quan trọng trong thực tiển sản xuất đối với các loài
cá nuôi Trong điều kiện nuôi, cá không sinh sản tự phát Các nguyên nhân ức chế
sự sinh sản vẫn còn chưa biết đến, nhưng có thể liên quan đến các stress hoặc sựthiếu các yếu tố môi trường gây sinh sản tự nhiên Sự phát triển tuyến sinh dục hoặctái thành thục thường xãy ra một cách bình thường ở cá nuôi, nhưng sự ức chế quátrình sinh sản được gây ra bởi những yếu tố ngăn cản sự thành thục cuối cùng sựchín và sự rụng trứng Đa số các loài cá nuôi vỗ trong ao với chế độ dinh dưỡng vàđiều kiện sinh thái thích hợp thì cá cái có thể thành thục sinh dục Kích thích sinhsản đối với cá cái là tiêm các hoạt chất hoặc hormone có khả năng trực tiếp hay giántiếp đưa đa số noãn bào chuyển sang giai đoạn chín và rụng trứng, trở nên cần thiết
để vượt qua những trở ngại kích thích cá đẻ (Đặng Văn Trường và ctv., 2011)
Tùy từng loài cá mà sử dụng loại hormon khác nhau để kết quả sinh sản đạt tỷ lệcao nhất Theo Huỳnh Hữu Ngãi (2009), đối với cá Hô, trong năm 2007 và 2008 thìloại và liều lượng kích dục tố để kích thích sinh sản cá được thể hiện ở bảng 2.1 nhưsau:
Bảng 2.1 Loại và liều lượng kích thích tố sinh sản cá Hô, thực hiện năm 2007 và 2008
Năm và loại kích thích tố Liều sơ bộ/kg Liều quyết định/kg
2007
Não thùy (mg)HCG (UI)
1-2,5500
3,5-42.000-4.000
1,75-21.000-2.000Não thùy (mg)
LH-Rha (ug)DOM (mg)
1,5-2,5
1,5-3180-20018-20
0,7590-1009-10
2008 Não thùy (mg)
HCG (UI)
2500
44.000
22.000
(Nguồn: Huỳnh Hữu Ngãi, 2009)
Sau khi cá đẻ sử dụng phương pháp thụ tinh khô cho trứng, khi trứng đã thụ tinhđược cho vào bể composite để ấp, trong bể có nước chảy và sục khí liên tục (HuỳnhHữu Ngãi, 2009)
Trang 102.2.3 Sự phát triển phôi và hậu phôi
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), sau khi trứng thụ tinh trởthành hợp tử thì hình thành màng sơ cấp và trương lên cùng với màng thụ tinh Kếtquả tạo khoảng trống xung quanh trứng (gọi là xoang bao trứng) chứa đầy nước, cótác dụng như môi trường đệm (bảo vệ cho phôi phát triển) Mức độ trương nướckhác nhau theo loài, cao nhất là trứng bán trôi nổi
Quá trình phát triển phôi từ lúc thụ tinh, tạo hợp tử từ sự kết hợp giữa tinh trùng vàtrứng trải qua một quá trình biến đổi với nhiều giai đoạn kế tiếp nhau Cuối cùng làmột cá thể trưởng thành, hoàn chỉnh, bao gồm nhiều hiện tượng sinh học quan trọng.Tốc độ phát triển của từng cá thể nhanh hay chậm phụ thuộc vào loài, điều kiện môitrường (Nhiệt độ, pH, Oxy,…) và một số tác nhân khác
Theo Đặng Văn Trường và ctv (2011), quá trình phát triển phôi và hậu phôi cá trải
qua 6 giai đoạn sau:
a Giai đoạn I
Ngay khi rơi vào nước là bắt đầu sự hoạt hoá trứng Trước tiên là tách màng thụtinh và tạo xoang quanh noãn (periviteline) do các thông bào vỏ (các hạt vỏ) trươngnước và vỡ ra Quá trình vỡ hạt vỏ làm cho lớp tế bào chất vỏ tách làm đôi Bêntrong chứa đầy chất dịch xuất hiện khe quanh noãn Phần ngoài lớp vỏ, cùng vớimột phần chất chứa của hạt vỏ gắn với màng noãn hoàng và màng phóng xạ tạo nênmàng thụ tinh Phần trong của lớp vỏ đông đặc lại và hình thành một lớp vỏ mới củatrứng thụ tinh Một phần chất chính của hạt vỏ tiếp tục hấp thụ nước làm cho xoangquanh noãn tiếp tục lớn lên Màng thụ tinh và xoang quanh noãn có vai trò ngăn cảnkhông cho các tinh trùng khác xâm nhập (Ginzburg, 1961)
Trong noãn bào có các không bào chứa một số chất đặc biệt mà sau khi thụ tinh cácchất này được tiết ra và thúc đẩy sự hút nước làm trứng trương lên (Sakun, 1960;Zotin, 1961)
Sự hình thành xoang quanh noãn tạo một khoảng trống giữa màng trứng ở phíangoài và noãn hoàng bên trong để cho phôi phát triển sau này Bên trong dịchperiviteline có áp suất thẩm thấu cao hơn để hấp thụ nước từ bên ngoài Sự tăngkích thước sau khi thụ tinh được nhiều tác giả cho là hiện tượng có lợi tạo khoảngkhông gian cho phôi phát triển, giúp cho phôi cử động một cách tự do, tăng cường
sự xáo trộn chất dịch quanh noãn hoàng và cải thiện điều kiện trao đổi khí trong quátrình phát triển (S G Soin,…) Lúc này màng trứng căng phồng giống như quảbóng được bơm đầy hơi Màng thụ tinh trở nên cứng lại và đóng vai trò bảo vệ chophôi phát triển sau này
Trang 11Quá trình cứng màng vỏ có thể do hoạt động của enzym gây cứng mà sự hoạt độngcủa enzym này cần phải có ion canxi (Zotin, 1958).
b Giai đoạn II
Kiểu phân cắt ở hầu hết các loài cá nuôi là phân cắt đoạn noãn hoàng, còn gọi làphân cắt không hoàn toàn Trứng chứa một lượng noãn hoàng rất lớn để cung cấpdinh dưỡng cho giai đoạn phát triển phôi và các giai đoạn đầu của hậu phôi (ấu thể).Đầu tiên tế bào chất chỉ là một khối nhỏ ở cực động vật Ngay sau khi kết thúc quátrình hoạt hoá trứng, dần dần tế bào chất từ các khu vực ở phía cực động vật, kể cảlượng tế bào chất chen lẫn trong noãn hoàng di chuyển về phía cực động vật Phíatrên cực động vật, tế bào chất được tập chung lại hình thành đĩa phôi Lúc đầu đĩaphôi còn mỏng, dần dần lượng tế bào chất tập chung càng nhiều và từ từ nhô lênhình thành phôi bào (1 tế bào) Ở nhiệt độ 28 – 30 oC, sau khi thụ tinh 30 phút xuấthiện một rãnh phân cắt thứ nhất phân chia phôi bào thành 2 tế bào Sau 50 phúcxuất hiện rãnh phân cắt thứ hai, vuông góc với đường phân cắt thứ nhất cho ra 4 tếbào Sau 1 giờ 40 phúc xuất hiện cùng lúc 2 đường phân cắt thứ ba và thứ tư nằm 2bên và song song với đường phân cắt thứ nhất cho ra 8 tế bào Các đường phân cắttách các phôi bào nhưng không phân ly khỏi khối noãn hoàng Quá trình tiếp tụcphát triển trải qua các giai đoạn 16, 32, 64, 128 tế bào,… Càng về sau kích thước tếbào càng nhỏ, mà phôi lại gồm nhiều tế bào để rồi hình thành phôi dâu (morula).Phôi nang (blastula): tế bào tiếp tục phân chia, thứ tự và ranh giới không rỏ ràng,nhưng xoang phôi nang chưa hình thành có dạng hình cầu đó là thời kỳ phôi nangcao Sau đó tầng phôi nang hình thành xoang ở chính giữa gọi là xoang phôi nang
Tế bào phôi nang bắt đầu bọc xuống khối noãn hoàng, tầng phôi nang trở nên dẹt,thời điểm này là phôi nang thấp
c Giai đoạn III
Phôi vị (gastrula): tầng phôi nang không ngừng phát triển Khi sắp bắt đầu giai đoạnphôi vị, đĩa phôi trở nên mỏng hơn, rìa ngoài dày gọi là vòng rìa Trong quá trìnhtạo phôi vị, vòng rìa và những phần ngoại vi của đỉa phôi bắt đầu mọc phủ lên bềmặt noãn hoàng Khi vòng rìa bọc xuống tới gần đường xích đạo là thời kỳ giữaphôi vị Vòng rìa từ từ tiến dần về phía cực thực vật và bao bọc toàn bộ khối noãnhoàng, đây là giai đoạn cuối phôi vị Phôi vị hoá kết thúc bằng sự khép kín phôikhẩu bởi đóng nút noãn hoàng
d Giai đoạn IV
Tấm thần kinh bắt đầu hình thành ở giai đoạn phôi thần kinh Sau đó không lâu ởchính giữa tấm thần kinh hơi nhô lên sẽ là vị trí đầu của phôi thể Dọc theo hình trụ
Trang 12xuất hiện các đường phân cắt ngang hình thành mầm xương sống Phôi hình thành 3
lá phôi và xoang phôi vị Từ các lá phôi sẽ phân cắt ra các cơ quan nguyên thuỷ
e Giai đoạn V
Ở cá basa sau 24 giờ, thân phôi tách khỏi túi noãn hoàng Phôi bắt đầu cử động, uốn
éo từ bên này sang bên kia, xen lẫn là những động tác quay tròn Ở nhiệt độ 28 – 30
oC, sau khi thụ tinh 29 giờ, bắt đầu xuất hiện sắc tố đen (melanophore) trên vách túinoãn hoàng
f Giai đoạn VI
Thời gian nở phụ thuộc vào nhiệt độ nước, trong phạm vi giới hạn nhiệt độ nướctăng thì thời gian nở của cá bột ngắn lại Mỗi loài cá có thời gian nở khác nhau
2.2.4 Thời gian dinh dưỡng noãn hoàng của cá
Khi mới nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng do mẹ để lại Thời gian này dài hay
ngắn khác nhau tùy loài và tùy nhiệt độ nước (Lê Như Xuân và ctv., 1994) Thời
gian này còn được gọi là thời kỳ dinh dưỡng tự cung cấp: Thủy sinh vật thuộc nhómnày dinh dưỡng nhờ các chất dự trữ chứa sẵn trong cơ thể (noãn hoàng, chất mỡ,chất đường) (Đặng Ngọc Thanh, 1974)
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ sống được bắt đầu khi trứng đã thụ tinh, tiếnhành phân cắt Đặc trưng dinh dưỡng của cá ở giai đoạn này là dinh dưỡng bêntrong, có hệ số sử dụng năng lượng cao nhất ( tới hơn 50%) so với các giai đoạnkhác trong chu kỳ sống Vật chất dinh dưỡng là noãn hoàng, có được là do cá mẹ đểlại từ trứng (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Giai đoạn phôi được chia làm 2 thời kỳ gồm: thời kỳ trứng và thời kỳ phôi tự do.Thời kỳ trứng: phôi phát triển trong vỏ trứng Thời gian cần thiết để hoàn thành thời
kỳ này khác nhau theo loài, khác nhau theo điều kiện sống (nhất là nhiệt độ) (PhạmMinh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Thời kỳ phôi tự do: phôi phát triển ngoài vỏ trứng, thường gọi là thời kỳ trứng đãnở; được tính từ khi phôi thoát ra khỏi vỏ trứng (trứng nở) đến khi sử dụng hết noãnhoàng Noãn hoàng là nguồn vật chất dinh dưỡng chính cung cấp năng lượng choquá trình phát triển và được tiêu thụ chủ yếu ở thời kỳ này cho đến khi xuất hiệnphase hỗn dưỡng (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
2.2.5 Thời điểm cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài
Hầu hết các loài cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài trước khi tiêu biến hết noãnhoàng (Heming and Buddington, 1988) và đó là bản năng vốn có của chúng (PhạmMinh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009) Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Trang 13Văn Triều và ctv (2008), cá kết sau khi nở 45 giờ đã bắt đầu ăn thức ăn ngoài sớm
hơn nhiều so với thời gian tiêu biến noãn hoàng (72 giờ)
Theo Lã Ánh Nguyệt (2011), thời điểm cá bắt đầu dinh dưỡng bằng thức ăn ngoàiphụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ môi trường Nhiệt độ cao trong khoảng thích hợp
cá sẽ bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài sớm hơn Theo Rana (1990), thí nghiệm trên cá
rô phi Oreochromis niloticus cho thấy ở 24 oC cá bắt đầu ăn ngoài ở ngày tuổi thứ 8nhưng ở 28oC là vào ngày tuổi thứ 5 và ở 30oC là vào ngày tuổi thứ 4
Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009), thức ăn phù hợp, tốt và đượcnhiều loài cá ưa thích ở giai đoạn đầu là động vật phiêu sinh có kích thước phù hợpvới khả năng bắt mồi của cá như: moina, rotifer, trùn chỉ, Artemia,…
Theo Lein and Holmefjord (1992), đặc điểm ăn ngoài trước khi hết noãn hoàng, mộtmặt tạo điều kiện để hệ thống tiêu hoá dần dần hoàn thiện chức năng, mặc khác kíchthích phát triển tính ăn của loài Vai trò của các enzym tiêu hoá có sẵn trong thức ăntrong tự nhiên thật sự rất quan trọng trong quá trình tiêu hoá của ấu trùng tôm cá
(Walford and Lam, 1993) Theo Moran et al., 1990, giai đoạn này cấu trúc ống tiêu
hoá chưa hoàn chỉnh hệ enzym hoạt động còn yếu và chưa ổn định Đã có rất nhiềunghiên cứu về ưu điểm của thức ăn tự nhiên Chúng được nhận định là có dinhdưỡng cao, cung cấp nhiều amino acid và khoáng chất cần thiết, đặc biệt rất dễ tiêu
hoá (Wantanable et al., 1983).
2.3 Một số kết quả sinh sản nhân tạo cá Hô
Theo Huỳnh Hữu Ngãi (2009), mùa vụ sinh sản của cá Hô ngoài tự nhiên từ tháng 5đến tháng 7 Nhưng trong điều kiện nhân tạo nuôi trong ao nước tĩnh, thì mùa vụsinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 11, đó là do trong điều kiện nuôi cá được cho
ăn đầy đủ cả về chất và lượng, bố trí mật độ nuôi thích hợp và được chăm sóc kỹ vềcác chế độ như thay nước, kích thích sự phát dục, quản lí môi trường,…
Bảng 2.2 Kết quả sinh sản nhân tạo cá Hô năm 2005, 2006, 2007 và 2008
Chỉ tiêu
Năm
Số cá cái rụng trứng hoàn toàn (con)
Tổng số trứng (trứng) 1.037.864 1.820.594 3.507.528 8.949.292Sức sinh sản thực tế trung bình
Trang 14Năm 2008 tỷ lệ cá đẻ 79,4%, tỷ lệ thụ tinh 39,11%, tỷ lệ nở 55,34% Nhìn chungnăm 2008 tỷ lệ cá đẻ được nâng cao và tương đối ổn định hơn so với các năm trước,
là do rút kinh nghiệm các đợt cá đẻ cuối vụ năm 2007, chuyển qua sử dụng não thùykết hợp với HCG thì cá đẻ tốt hơn giữa sự kết hợp não thùy và LHRH_a Trứng cá
Hô thuộc dạng bán trôi nổi, có đường kính 1,17 ± 0,09 mm, tương đương với một
số loài thuộc họ cá chép khác như cá ét mọi, cá mè hôi Sau khi trương nước trứngnổi lơ lửng trong điều kiện có nước chảy nhẹ Do đó có thể ấp trứng trong bìnhweise, trong bể composite, bể vòng có kết hợp với sục khí Ở nhiệt độ 28 – 30 oCtrứng nở sau 12 - 12h30’ Sau khi nở 2 - 3 ngày thì cá bột hết noãn hoàng sẽ đượcchuyển ra bể hoặc ao ương (Huỳnh Hữu Ngãi, 2009)
Cá Hô giữ địa vị quan trọng đối với nghề đánh cá ở Thái Lan, đã được sinh sản vàthả giống vào hồ (A.F Poulsen, 2005) Ở Việt Nam, cá Hô có giá trị kinh tế rất cao,được sản xuất giống thành công tại Viện NCNTTS II và Trung tâm giống Thuỷ sản
An Giang
2.4 Một số chất kích thích sinh sản ở cá
Trong sản xuất giống thủy sản nói chung, sản xuất giống cá nói riêng, kích dục tốđược sử dụng thường xuyên và cho hiệu quả cao Ngoài việc chủ động về thời gian,thời điểm bố trí sinh sản, việc dùng kích dục tố còn kích thích cá đẻ đồng loạt, đẻ róc,cho tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng thụ tinh, tỷ lệ nở, sức sinh sản tuyệt đối rất cao và hiệu quảhơn nhiều so với việc không dùng kích dục tố Tùy thuộc vào những loại cá khácnhau mà sử dụng loại kích dục tố tương ứng
2.4.1 LHRH_a (Luteotropin Hormon Releasing Hormon_analog)
Năm 1973, các nhà khoa học Trung Quốc đã tổng hợp một peptid gồm 10 aminoacid dưới tên thương mại là LRH_a hay LH-RH_a (Luteotropin Hormon ReleasingHormon_analog) hoặc Ovaprim (Canada) Ngày nay, các chất tổng hợp có sự thaythế amino acid tại một vài vị trí trên phân tử GnRH ít bị phân giải bởi các enzym và
do đó hoạt tính mạnh gấp trăm đến ngàn lần so với các chất tự nhiên Ngoài việcdùng các GnRH tiêm để kích thích cá đẻ trứng, các chất này còn có thể được cấy vào
cá ở những giai đoạn khác nhau kích thích tạo noãn hoàng, thành thục và cho chúng
đẻ đồng loạt (Đặng Văn Trường và ctv, 2011).
LHRH_a là hormon nhân tạo Loại hormon này có tác dụng như GnRH và được sửdụng kèm với thụ thể nhân tạo kháng Dompamin là Domperidon Domperidon là tênhóa học của thụ thể nhân tạo, có tên thương mại phổ biến là Motilium Ở nước ta,LHRH_a và Motilium được sử dụng trong khoảng 20 năm gần đây, hiện nay đượcdùng rất phổ biến trên nhiều loài cá, được nhập từ Trung Quốc, có giá rẽ lại khônggây phản ứng phụ và phản ứng miễn dịch ở cá (nếu sử dụng với liều lượng hợp lí)(Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Trang 152.4.2 Não thùy thể (Hypophysis – tuyến yên)
Não thùy thể tuyến yên được lấy ra từ những loài cá chép, trắm, mè, trê,… đã thànhthục , còn tươi sống Cá chết vài giờ thì hoạt tính kích dục chỉ còn khoảng 50% Nãothùy thể cá Chép được xem là kích dục tố mạnh cho nhiều loài cá kể cả các đốitượng khác họ và các loài cá biển (Nguyễn Tường Anh, 1999)
Ở cá cái, tế bào basophyl trong thùy giữa não thùy của cá là bộ phận tiết ra kích dục
tố gồm: FSH (Follicle Stimulating Hormone) – kích thích nang trứng hoạt động và
sự lên lên của noãn bào, LH (Luteinizing Hormone) – gây sự rụng trứng và biếnnang trứng thành thể vàng do tế bào kích dục (gonadotroph) tiết ra Ở cá đực, chất
LH có tên là ICSH (Interstitial Cell Stimulating Hormone) có tác dụng kích thíchcác tế bào kẽ (tế bào Leydig) trong tinh hoàn tiết ra hormone sinh dục đực và kíchthích quá trình tạo tinh cũng như hoạt tính của các tế bào dinh dưỡng Setoli bên
trong ống sinh tinh (Đặng Văn Trường và ctv., 2011).
Kỹ thuật tiêm cá đẻ bằng não thùy đã được Houssay (1931) sử dụng lần đầu tiên.Liều lượng kích tố sử dụng cho cá đẻ phụ thuộc vào mức độ thành thục của cá, khốilượng hoặc chu vi vòng bụng của cá Có thể tính toán lượng kích tố (não thùy) theophương trình sau:
Y = 0,125x – 1,75Trong đó Y: lượng kích tố cần dùng (mg), x: chu vi vòng bụng của cá (cm)
Những điều cần lưu ý chung khi dùng não thuỳ để kích thích cá sinh sản (Nguyễn Tường Anh, 2005)
Hoạt chất não thuỳ lấy từ những cá thích hợp có tác dụng kích thích tuyến sinh dụcphát triển, thúc đẩy sự thành thục hoàn toàn cũng như gây chín và rụng trứng và tiết
ra tinh dịch Khi định liều tiêm cho cá bố mẹ cần biết rõ xuất xứ não thuỳ vì:
Não thuỳ lấy từ cá thành thục tốt hơn não thuỳ lấy từ cá chưa thành thục hoặc thànhthục kém
Não thuỳ cá cái có hoạt tính kích dục gấp 2 – 3 lần não thuỳ cá đực cùng loài
Não thuỳ cá chép, cá trê mạnh gấp 1,5 – 2 lần não thuỳ cá mè, cá trắm và những loàikhông đẻ được trong ao
Não thuỳ cá rô phi không có tác dụng trên các loài cá nuôi ao
Não thuỳ của những cá bố mẹ sau khi đã đẻ nhờ tiêm kích dục tố vẫn có hoạt tính caocòn những loài tự đẻ thì không có hoạt tính
Não thuỳ lấy từ cá có tuyến sinh dục thoái hóa, hoặc tuyến sinh dục đang teo lại vàocuối vụ thì không có hoạt tính
Trang 16Đơn vị hoạt tính cũa não thuỳ
Đơn vị tính não thuỳ là: cái, mg và dose ( Dose là lượng não thuỳ dùng để tiêm cho
cá khi trọng lượng của cá bị lấy não bằng trọng lượng của cá được tiêm) ( NguyễnTường Anh, 2005)
2.4.3 HCG (Human Chorionic Gonadotropin)
HCG có tên tiếng Việt là kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai, cónguời gọi HCG là Prolan B (Tên viết từ chữ cái Producto Lobi Anterioris) đượcZondec và Aschheim phát hiện từ năm 1927 trong nước tiểu của phụ nữ có thai(Nguyễn Tường Anh, 2005) HCG được chiết suất từ nước tiểu người phụ nữ cóthai ở tháng thứ 3 Cao nhất là khi mang thai được 50 ngày, cơ thể bài tiết 60000
UI/24h Morozova (1936) là người đầu tiên sử dụng HCG gây rụng trứng ở cá perca
pluviatilis (lúc ấy còn mang tên là Prolan B).
HCG là loài kích dục tố dị chủng được dùng có hiệu quả cho nhiều loài cá Ngoàicác loài cá mè, cá trê, HCG còn có tác dụng gây rụng trứng cho các loài cá khác ởnước ta như cá chày, cá vền, cá trôi…Ở nước ngoài, HCG còn được dùng cho cáchình, cá nheo mang túi Ấn Độ, cá bơn, cá sóc, cá bống tượng Thuốc được đónggói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 5.000 UI hoặc 10.000 UI (UI viết tắt của chữđơn vị quốc tế - Unit International) Khi sử dụng cần pha với nước nấu chín hoặcnước muối sinh lý nhưng tốt nhất là nước muối sinh lý Tác dụng của HCG là kíchthích rụng trứng
HCG được bảo quản trong ampul hoặc trong lọ có nút cao su, hoạt tính HCG đượcgiữ trong vài năm ( Nguyễn Tường Anh, 2005)
Bảng 2.3: Tác dụng cuả một số loại kích dục tố
FSH (GTH1) Kích thích tạo noãn hoàng, kích thích nang trứng hoạt động (1)
LH (GTH2) Kích thích trứng chín và rụng, biến nang trứng thành thể vàng (2)Não thùy Tham gia vào cả 2 quá trình (1) và (2)
LHRH_a/GnRH Kích thích cá tiết FSH và LH, điều khiển 2 quá trình (1) và (2)
HCG Gây ra phản ứng chín và rụng trứng ở cá (2)
DOM Chất phụ trợ kết hợp với LHRH_a để kháng Dompamin
Ovaprim Kích thích tạo ra kích dục tố và kháng Dompamin
Ghi chú: 1 ml Ovaprim chứa 20 µg sG n RH_a và 10 mg DOM.
(Nguồn: Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Liều lượng hormon sử dụng tiêm cho cá khác nhau theo giới tính (liều tiêm cá đựcbằng 1/3 – 1/2 của cá cái), theo loài, theo mức độ thành thục của cá, tức là khácnhau theo các tháng trong mùa sinh sản và theo chất lượng và uy tín của cơ sở sảnxuất hormon (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)
Trang 172.5 Một số kết quả nghiên cứu sử dụng kích dục tố trong sinh sản cá
Theo Phạm Văn Khánh (2005), kết quả thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá Cóc
(Cyclocheilichthys enoplos, Bleeker, 1850), kích thích tố được sử dụng là não thùy
kết hợp với LHRH_a Đối với não thùy, liều lượng sử dụng cho cá cái ở liều sơ bộ
là 1 – 2,5 mg/kg; liều quyết định 3 – 7,05 mg/kg Đối với LHRH_a tiêm ở liềuquyết định là 130 – 150 µg LHRH_a trộn tương ứng với 5 – 7,5 viên Motilium.Kích dục tố dùng cho cá đực bằng 1/3 liều lượng của cá cái Cá rụng trứng sau liềutiêm quyết định từ 5 – 6 giờ
Theo Huỳnh Hữu Ngãi và ctv (2008), bước đầu sinh sản nhân tạo cá Bông Lau (Pangasius Krempfi, Fang và Chaux, 1949), liều kích dục tố cho cá cái từ 6 – 7 liều
với kích thích tố là HCG Liều dẫn là 500 UI/ kg, từ sơ bộ tăng từ từ lên, 800, 1000,
2000 và 3000 UI/ kg Hai liều quyết định được sử dụng, liều 1 là 8000 UI/ kg, liều 2
là 6000 UI/ kg Liều dẫn và liều sơ bộ mỗi liều các nhau 24 giờ, từ liều sơ bộ đếnliều quyết định cách nhau 7 giờ Cá đực tiêm 1 liều cùng với thời gian tiêm liềuquyết định thứ nhất và bằng 1/3 liều tiêm cá cái Sau khi tiêm liều quyết định thì 12giờ trứng rụng Tỷ lệ thụ tinh đạt từ 26 – 45%, tỷ lệ nở là 57% Sau thời gian 24 giờthì trứng nở ở nhiệt độ 28 – 300C
Theo Đặng Văn Trường và ctv (2008), nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Chạch Lấu (Mastacembelus favus, Hora 1923), cá cái được tiêm 3 liều kích dục tố, mỗi liều
tiêm cách nhau 12 đến 24 giờ Cá đực được tiêm 1 liều vào thời điểm tiêm liềuquyết định cho cá cái Loại kích dục tố sử dụng là HCG Liều tiêm là 5000 UI/ cácái Sau 18 – 36 giờ cá rụng trứng Trứng thụ tinh nở sau 55 giờ ở nhiệt độ nước
28 – 30 oC Tỷ lệ thụ tinh đạt 61%
Theo Võ Minh Khôi (2007), trong sinh sản nhân tạo cá Lóc Bông (Channa
micropeltes), cá đực được tiêm trước cá cái từ 2 – 4 ngày, liều lượng HCG tiêm cho
cá đực nằm trong khoảng 2.000 – 3.000 UI/kg Đối với cá cái liều lượng tiêm HCG
là 1.000 UI/kg sẽ cho sinh sản tốt hơn liều 1.500 UI/kg Theo phương pháp này, tỷ
lệ thụ tinh của cá Lóc bông đạt từ 58,43 – 79%, tỷ lệ nở đạt 91,14 – 95,56%
Theo Trần Thị Phương Lan (2008), sử dụng LHRH_a, HCG và não thùy để sinh sảnnhân tạo cá Bống Tượng, đạt tỷ lệ rụng trứng cao nhất ở mức 100 µg/ kg cá cái, 600UI/ kg và 3,5 não/ kg, với tỷ lệ cá đẻ là 100% Kết quả về sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh
và tỷ lệ nở của cá sau khi tiêm các loại kích dục tố lần lượt là: Ở LHRH_a: 74.733trứng/kg cá cái, 40% và 68,73%; Ở HCG là: 83.480 trứng/kg, 64,29% và 80,37%; Ởnão thùy là: 156.881 trứng/kg, 85,64% và 95,04% Thời gian rụng trứng của cá từ
3 – 5 ngày sau khi tiêm kích dục tố Như vậy, trong 3 loại kích dục tố cho cá bốngtượng sinh sản thì não thùy cho kết quả tốt hơn cả về số lượng trứng đẻ ra và sốlượng ấu trùng khi nở
Trang 18Theo Nguyễn Ngọc Linh (2006), sử dụng kích dục tố 200 µg LHRH_a + 10 mg
Motilium/ kg cá cái trong sinh sản cá Chép Nhật (Cyprinus carpio) Thu được kết
quả khả quang, với sức sinh sản thực tế của cá khoảng 30.000 trứng/kg, thời gianhiệu ứng thuốc là 9 giờ, tỷ lệ thụ tinh 80 – 93%, tỷ lệ nở 81 – 90%
Theo Võ Như Mĩ (2008), trong sinh sản nhân tạo cá Chốt Trắng sử dụng liều 50,
100 và 150 µg LHRH_a + Motilium đều có tác dụng gây chín và rụng trứng ở cácliều lượng thí nghiệm, trong đó liều lượng 100 µg/kg cho kết quả tốt nhất và 1.000,1.500, 2.000 UI HCG/kg Trong đó chỉ có 2 liều lượng 1.000 và 1.500 UI/kg có tácdụng gây chín và rụng trứng, liều lượng 2.000 UI/kg không gây chín và rụng trứng,liều lượng cho kết quả tốt nhất là 1.500 UI/kg Kết quả giữa 2 loại kích dục tốLHRH_a + Motilium và HCG thì tỷ lệ cá đẻ ở kích dục tố 100 µg LHRH_a +Motilium là tốt nhất Tuy nhiên, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ cá nở tốt nhất là ở kích dục tố1.500 UI HCG
Theo Ngô Vương Hiếu Tính (2008), kích dục tố là HCG chưa cho kết quả gây rụngtrứng trong việc kích thích sinh sản nhân tạo cá Leo ở mức liều lượng là 2.000,3.000, 4.000 UI/kg cá cái Các mức liều lượng kích dục tố HCG (4.000 UI/kg) +não thùy, LHRH_a (150 µg/kg) + Motilium hoặc não thùy (8, 9, 10 mg/kg) có thể
sử dụng để kích thích sinh sản cá Leo Trong thí nghiệm này sử dụng kích dục tố lànão thùy cá Chép với liều lượng 10 mg/kg cho hiệu quả cao nhất với sức sinh sảnđạt 118.683 trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh đạt 59,34% và tỷ lệ nở đạt 53,98%
Theo Nguyễn Đức Tuân (2004), cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus, Lacepede,
1803), dùng các loại kích dục tố LHRH_a + Motilium, HCG, não thùy Thực hiệntiêm 2 lần cách nhau 23 – 25 giờ Liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 cá cái Liềutiêm cho liều 1 bằng 1/5 tổng liều Năm 2004, họ đã sử dụng công thức này và thửnghiệm thêm công thức 20 µg LHRH_a + 6 viên Motilium/ kg cá cái để kích thích
cá bố mẹ sinh sản và đã 2 lần thu được tỷ lệ cá đẻ 100%, tỷ lệ thụ tinh trung bìnhcao nhất là 84,70%, tỷ lệ nở cao nhất 72,47% và tỷ lệ dị hình thấp nhất 9,38%.Năng suất cá bột cao nhất trong các lần cho đẻ là 2.690 cá bột/kg cá cái, thấp nhất là
69 cá bột/kg
Trang 19CHƯƠNG 3VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 02/2011 đến tháng 06/2012.
Địa điểm: tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam bộ, xã An Thái
Trung, Huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ
Thức ăn công nghiệp, thức ăn tự chế biến
Lưới, vợt vớt cá bố mẹ
Ống tiêm, kim tiêm
Máy sục khí, máy bơm
Cối sứ, chày sứ
Nhiệt kế, test pH, que thử trứng
Thau, xô, ống nhựa, khay, khăn, muỗng, lông gà
Cân đồng hồ, cân điện tử
Kính hiển vi, đĩa petri, cốc thủy tinh
3.2.3 Loại hormone kích thích sinh sản nhân tạo
HCG (Human Chorionic Gonadotropin)
LHRH_a (Luteotropin Hormon Releasing Hormon_analog)
Não thùy
3.2.4 Nguồn cá thí nghiệm
Cá Hô bố mẹ được nuôi vỗ cho đến giai đoạn thành thục thì tiến hành bố trí thínghiệm kích thích sinh sản
Trang 20Cá có ngoại hình tốt, khỏe mạnh, không dị hình, trọng lượng từ 10 - 31 kg/con.
Cá bố mẹ được nuôi vỗ chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (nuôi vỗ tích cực): cho cá ăn thức ăn viên chứa 27% protein, khẩu phần
ăn cho cá bằng 2% khối lượng thân, ngày chia làm 2 lần, lúc 8 giờ sáng và 5 giờchiều Sau thời gian nuôi 1 tháng kiểm tra sự thành thục của cá Khi tuyến sinh dụcđạt đến giai đoạn III thì chuyển sang nuôi giai đoạn 2
Giai đoạn 2 (nuôi vỗ thành thục): cho cá ăn giống như ở giai đoạn 1 nhưng khẩuphần giảm 1/3 – 1/2 Ngoài ra còn bổ sung vitamin E vào thức ăn viên và cho cá ănthêm trái cây (ổi, mận, ) 1 lần/ngày lúc 5 giờ chiều
3.3.1.5 Quản lý môi trường ao nuôi
Các chỉ tiêu môi trường nước được đo định kỳ Nhiệt độ, ôxy và pH được đo 1 ngày
2 lần lúc 7 - 8 giờ sáng và 1 - 2 giờ chiều trong một ngày và kiểm tra liên tục trongsuốt quá trình thí nghiệm
Giữ nước trong sạch bằng cách: không cho cá ăn thừa, vớt sạch rác và các loại tảonổi trôi trên mặt nước
Trang 21Mỗi tuần thay nước một lần bằng 20 - 30% lượng nước ao và thay đổi trước khi cácchỉ số môi trường vượt ngoài giới hạn cho phép.
3.3.2 Chọn cá thành thục để bố trí thí nghiệm kích thích sinh sản
Hình 3.1 Chọn cá thành thục
Cá cái được chọn sinh sản dựa vào các chỉ tiêu như: bụng to mềm, có màu hồng vàtrứng đồng điều có màu vàng nhạt đến xám và thuộc giai đoạn IV; Cá đực đượcchọn để tham gia sinh sản dựa vào phương pháp vuốt tinh, quan sát tinh dịch cómàu trắng đục, chảy ra thành dòng đậm đặc
3.3.3 Bố trí thí nghiệm
3.3.3.1 Thí nghiệm 1: Kích thích cá sinh sản bằng LHRH_a kết hợp não thuỳ
Trong quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ khi kiểm tra sự thành thục của cá, nhận thấy cá đãthành thục, tiến hành bắt 3 cá cái và 3 cá đực cho sinh sản nhân tạo
Thí nghiệm kích thích cá sinh sản bằng LHRH_a kết hợp với não thuỳ được thựchiện theo các nghiệm thức như trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Kích thích cá sinh sản bằng não thuỳ và LHRH_a
Nghiệm
thức
Liều lượng hormone Não thuỳ (mg/ kg ♀) LHRH_a (µg/ kg ♀) Lần tiêm 1 Lần tiêm 2 Lần tiêm 1 Lần tiêm 2
Ghi chú: - Tại mỗi lần tiêm bằng LHRH_a đều sử dụng thêm 18 mg Dom/ 1kg ♀.
- Liều lượng tiêm cho cá đực bằng ½ cho cá cái.
3.3.3.2 Thí nghiệm 2: Kích thích cá sinh sản bằng HCG + não thuỳ
Thí nghiệm được thực hiện với 2 nghiệm thức và được bố trí tiêm cá cái như bảng
3.2.
Trang 22Bảng 3.2 Kích thích cá sinh sản bằng HCG + não thuỳ
Nghiệm thức
Liều lượng hormone Não thuỳ (mg/ kg ♀) HCG (UI/ kg ♀) Lần tiêm 1 Lần tiêm 2 Lần tiêm 1 Lần tiêm 2
Ghi chú: Liều lượng tiêm cho cá đực bằng ½ cho cá cái.
Cá sau khi tiêm kích dục tố được thả xuống bể, đực cái nhốt riêng Kết hợp kíchthích nước (bơm nước mới, xả nước cũ)
Hình 3.2 Bể nhốt cá
Khoảng thời gian từ liều sơ bộ đến liều quyết định là 7-8 giờ Sau thời gian tiêm lần
2 từ 6-8 giờ, tiến hành kiểm tra cá cái, khi thấy trứng đã rụng thì gây mê cá bằngEthylenglycolmonphenyl ether rồi tiến hành vuốt trứng và áp dụng phương pháp thụtinh nhân tạo
Trước khi vuốt trứng, lấy tinh dịch cá đực pha với dung dịch nước muối sinh lí theo
tỉ lệ 3:1 rồi bảo quản ở nhiệt độ 4oC
Hình 3.3 Phương pháp lấy tinh và vuốt trứng
Trứng cá Hô ngay sau khi được vuốt ra không để lẫn với nước rồi cho tinh dich cáđực vào khuấy đều khoảng 30 giây rồi từ từ cho nước vào để trứng được thụ tinh