Sự ra đời của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa XHCN Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng Sản ở nhiều nước châu Âu và châu Á đã lãnh đạo quần chúng nhân dân cùng với Hồng quân
Trang 1MỞ ĐẦU Sau 02 tháng, với sự hướng dẫn, giảng dạy tận tình và sát thực tiễn của Thầy TS Nguyễn Tấn Hưng, tôi đã cảm nhận được Triết Học không còn là môn học khô
khan, quá khó tiếp thu, không có nhiều ích lợi cho công việc và cuộc sống cá nhân của tôi nữa, mà qua đó, tôi hiểu hơn những tinh hoa của Triết Học trong việc lý giải, chứng minh và làm nền tảng ứng dụng khoa học cho việc xử lý những vấn đề trong công việc và cuộc sống
Trong thời gian được học tập, tìm hiểu các nội dung môn học, tôi rất quan tâm đến chủ đề nêu về sự thành công vượt bậc của Chủ nghĩa xã hội (CNXH) Xô Viết và các lý luận, quan điểm về nguyên nhân sự sụp đổ của nó
Đến nay, đã gần 30 năm, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô đã trở thành đề tài thảo luận sôi nổi được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu, họ đã tìm hiểu sự sụp đổ này ở những góc độ khác nhau, với những mục đích khác nhau Từ góc độ triết học, tôi cũng quan tâm đến vấn đề này, nhằm tìm ra bản chất của nó để đưa ra được một số bài học kinh nghiệm thực tiễn
Ý nghĩa của việc tìm hiểu những nguyên nhân sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và những bài học kinh nghiệm cần được nhìn nhận không chỉ theo “chiều thuận” mà cả theo “chiều nghịch” “Bài học thất bại” của Liên Xô cần phải trở thành bài học không chỉ cho việc lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản mà cả cho việc quản lý kinh tế,
xã hội và đất nước nói chung Nhận thức rõ vấn đề này là việc làm rất cần thiết, bổ
ích bởi nó sẽ mang lại cho chúng ta một cái nhìn tổng thể, toàn diện về một sự kiện chấn động lịch sử toàn nhân loại trong suốt thế kỷ qua Do đó, tôi quyết định
chọn đề tài “Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Bài học kinh nghiệm” làm đề
tài tiểu luận
Mặc dù rất cố gắng thu thập tài liệu, đọc báo chuyên đề và các tham khảo khác, nhưng giới hạn về trình độ hiểu biết và thời gian, nên nội dung đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót và có thể chưa phản ảnh đúng hết các vấn đề của đề tài này Rất mong Giảng viên hướng dẫn có những nhận xét, đóng góp cho tôi hiểu và nắm rõ vấn đề thấu đáo hơn
Tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến TS Nguyễn Tấn Hưng- người Giảng
viên đã truyền cảm hứng rất tốt trong tiếp thu bài học cho tôi và cả lớp Tài chính-
Ngân hàng K13 nói chung
Tp HCM, ngày 13 tháng 4 năm 2019
Học viên thực hiện đề tài
Bùi Thanh Toàn
Trang 2NỘI DUNG
I CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC Ở LIÊN XÔ
1.1 Sự ra đời của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng Sản ở nhiều nước châu Âu và châu Á đã lãnh đạo quần chúng nhân dân cùng với Hồng quân Liên Xô thành lập mặt trận chống phát xít Chính sự lớn mạnh của Đảng Cộng Sản trong thời kì chiến tranh là cơ sở để khi chủ nghĩa phát xít bị đánh bại, Đảng Cộng Sản nhiều nước tổ chức đấu tranh vũ trang giành chính quyền, thành lập nhà nước dân chủ nhân dân
Trong thời gian 5 năm (từ năm 1944 đến năm 1949) đã có 11 nước ở châu Âu, châu
Á giành được chính quyền và đi lên CNXH Có được thành tựu này là nhờ Đảng Cộng sản lãnh đạo bằng ba phương thức:
- Phương thức thứ nhất chủ yếu dựa vào lực lượng vũ trang của nhân dân nước
mì nh, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân
đứng lên giành chính quyền như: Cộng hòa Nhân dân Liên bang Nam Tư (1944), Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945), Cộng hòa Nhân dân Anbani (1946)
và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949)
- Phương thức thứ hai chủ yếu dựa vào Hồng quân Liên Xô giải phóng đồng
thời phối hợp vũ trang của nhân dân nước mì nh như Cộng hòa Nhân dân Ba
Lan (1945), Bungari (19460, Rummani (1948), Hunggari và Tiệp Khắc (1946),…
- Phương thức thứ ba hoàn toàn do Hồng quân Liên Xô giải phóng và dưới sự
giúp đỡ của Liên Xô để đi lên con đường CNXH như Cộng hòa Dân chủ Đức (10/1949)
Vậy là sau chiến tranh thế giới thứ hai, CNXH từ một nước mở rộng ra nhiều nước ở châu Âu và châu Á Với thắng lợi của cách mạng dân chủ ở Cuba năm 1959, phong trào 26 tháng 7 do Fidel Castro lãnh đạo, nước Cộng hòa Cuba chuyển sang CNXH Như vậy CNXH đã mở rộng đến Châu Mỹ Latin Những nước này về hình thái đều lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm tư tưởng chỉ đạo Về chính trị hình thành phe CNXH do Liên Xô đứng đầu, về quân sự ở châu Âu hình thành tổ chức thông qua Hiệp ước Warszawa Về quan hệ kinh tế, đó là những nước có chung một kiểu
cơ sở kinh tế - xã hội, quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và thông qua các hiệp ước song phương, Hội đồng tương trợ kinh tế để giúp đỡ lẫn nhau xây dựng cộng đồng thị trường thế giới XHCN CNXH trở thành hệ thống tồn tại song song với hệ thống TBCN
Năm 1960, tại Moskva, Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và công nhân của các nước trên thế giới đã tuyên bố và khẳng định: “Đặc điểm chủ yếu của thời đại chúng ta là
hệ thống XHCN thế giới đang trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người”
1.2 Các giai đoạn phát triển của hệ thống XHCN
Cách mạng tháng 10 Nga đã mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên
Trang 3CNXH trên phạm vi toàn thế giới, thời đại đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH, là thời đại đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nhằm chuẩn bị những tiền đề vật chất chín muồi cho sự xuất hiện CNXH
Vladimir Ilyich Lenin (Lênin) khẳng định, tính phức tạp trong sự vận động của lịch sử nhân loại, song có thể chia thời đại từ Cách mạng Tháng Mười tới nay thành
4 giai đoạn:
➢ Giai đoạn I: Từ sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917 tới kết thúc Chiến tranh
thế giới lần thứ hai năm 1945 (Giai đoạn này là giai đoạn CNXH mới hình thành trên phạm vi một số nước như Liên Xô, Mông Cổ …)
Cuộc Cách mạng Tháng Mười là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử đưa nhân dân lao động từ những người nô lệ làm thuê trở thành những người làm chủ đất nước Với khí thế lao động của những con người được giải phóng, thông qua chính sách kinh tế mới, thông qua con đường hợp tác hoá trong nông nghiệp, công nghiệp hoá đất nước, sau 20 năm Liên Xô đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế
➢ Giai đoạn II: Từ sau năm 1945 tới đầu những năm 1970 (Đây là giai đoạn
CNXH phát triển thành hệ thống XHCN thế giới)
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàng loạt các nước XHCN ra đời, nhất là từ sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xuất hiện, cùng với những thành tựu to lớn của hệ thống các nước XHCN về kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học
kỹ thuật … Hệ thống XHCN thế giới đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ trên thế giới, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh của những thế lực phản động quốc tế
Mặt khác, những thành tựu xây dựng CNXH của các nước XHCN đã cổ vũ mạnh
mẽ phong trào đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội trong các nước TBCN, đã động viên nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc Trong những năm 60 thế kỷ XX, khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc với những mức độ khác nhau
Bên cạnh những kết quả đó, trong giai đoạn này, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã có những bất hoà Trong “Di chúc” chủ tịch Hồ Chí Minh,
phần về phong trào cộng sản thế giới, Người viết: “… tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em…”
Đây là giai đoạn cơ bản nhất biểu hiện tính ưu việt của CNXH hiện thực
CNXH hiện thực trở thành hệ thống trên phạm vi toàn thế giới và đạt nhiều thành tựu rực rỡ mang lại hòa bình độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội
➢ Giai đoạn III: Từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1991 (Đây là giai
đoạn khủng hoảng của mô hình CNXH)
Nguyên nhân: Trong giai đoạn này, ở nhiều nước XHCN không chú ý tới công tác xây dựng Đảng, nhiều kẻ cơ hội chui vào hàng ngũ cộng sản Một số cá nhân
Trang 4mắc vào tệ sùng bái cá nhân, kiêu ngạo cộng sản, không đánh giá đúng những thay đổi trong chính sách của CNTB Ở không ít nước XHCN, bộ máy nhà nước trở nên quan liêu, vi phạm những quyền dân chủ của nhân dân Trong xây dựng kinh tế chủ quan, nóng vội, lạc hậu Trong lĩnh vực xã hội, thực hiện bao cấp tràn lan, không kích thích được tính tích cực cá nhân
Những sai lầm kéo dài đã hạn chế phát triển kinh tế - xã hội, dẫn tới tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nhiều nước, buộc các nước phải cải cách đổi mới
Trong quá trình cải cách đổi mới, nhiều Đảng Cộng Sản mắc những sai lầm mang tính nguyên tắc Do vậy những thế lực thù địch đã tấn công làm sụp đổ chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô những năm 80 của thế kỷ XX
➢ Giai đoạn IV: Giai đoạn từ đầu những năm 1991 tới nay (Giai đoạn hiện nay,
CNXH thế giới tạm thời lâm vào thoái trào)
Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã làm cho nhiều nước dân tộc chủ nghĩa đã định hướng lên CNXH, nhưng giờ đây mất chỗ dựa
về vật chất và tinh thần, các lực lượng phản động giành lại chính quyền và đưa đất nước theo con đường khác
Khó khăn hiện nay là: Những thế lực phản động quốc tế đang tìm mọi cách để xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và phá hoại sự nghiệp xây dựng CNXH của các nước XHCN còn lại
Để vượt qua khó khăn đó, đòi hỏi các nước XHCN phải tự đổi mới, phải khắc phục những yếu kém, nhược điểm hạn chế trong lĩnh vực đời sống xã hội Mặt khác, không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân,
để nâng cao sức mạnh mọi mặt của đất nước
Thời đại ngày nay: “CNXH trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiên và khả năng tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH” (Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX)
1.3 Những thành tựu của CNXH hiện thực
Khi bắt đầu sự nghiệp cải tạo và xây dựng CNXH, các nước XHCN có những đặc điểm khác nhau nhưng điểm chung nổi bật đều từ điểm xuất phát thấp về kinh
tế - xã hội, nhiều nước đi lên CNXH từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Ở Châu
Âu, tuy kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) đã phát triển ở trình độ nhất định nhưng giai cấp tư sản trước đó cũng chưa tạo được một nền công nghiệp tương đối hoàn chỉnh Ở châu Á, các nước đi lên CNXH như Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ đều là những nước lạc hậu từ sản xuất nhỏ, chưa qua TBCN đi lên CNXH
Hơn nữa các nước đi lên CNXH đều phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề Có thấy hết những khó khăn khi bắt tay vào thực hiện những nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử mới thấy được những thành tựu trong quá trình xây dựng CNXH mà các nước tạo ra Không thể phủ nhận được sự
Trang 5thật là Liên Xô và các nước XHCN khác đã có một thời kì phát triển rực rỡ và đạt được những thành tựu to lớn sau đây:
- Chế độ XHCN đã từng bước đưa nhân dân lao động lên làm chủ xã hội, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, đưa nhân dân lao động lên làm chủ đất nước, quản
lý xã hội Chính vì lẽ đó, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định nước Nga có chuyện
lạ đời, đem người nô lệ thành người tự do Đi cùng với việc xây dựng một chế
độ xã hội tốt đẹp, CNXH còn thiết lập một quan hệ quốc tế bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc Điều này, hoàn toàn xa lạ với việc dân tộc này áp bức, bóc lột dân tộc khác như trước đây CNXH ra đời đã xây dựng một mối quan hệ quốc
tế hoàn toàn mới, tốt đẹp, tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc giúp đỡ lẫn nhau để cùng phát triển Chế độ XHCN không chỉ đảm bảo quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân lao động ở các nước XHCN, mà hơn thế nữa nó còn thúc đẩy trào lưu đấu tranh cho quyền tự do dân chủ ở các nước TBCN và trên toàn thế giới
- Bên cạnh đó, trong khoảng giữa những năm 50 và 60 của thế kỉ XX mặc dù phải trải qua chiến tranh thế giới thứ II, chịu hậu quả nặng nề nhưng các nước XHCN nhờ bản chất chế độ xã hội tốt đẹp lại động viên được tinh thần hăng say của nhân dân lao động nên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế
Trong vòng 20 năm đó tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước XHCN đạt được mức trung bình trên 7%/năm Trong khoảng 30 năm gần đây, Trung Quốc luôn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế xấp xỉ 9%/năm (Năm 1993 đạt 13.4%), Việt Nam được xem là nước phát triển cao thứ hai Châu Á (sau Trung Quốc) đã gần
20 năm nay giữ tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 8%/năm Không những trên lĩnh vực kinh tế mà ở lĩnh vực văn hoá, khoa học công nghệ, các nước XHCN cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáng tự hào Trước khi cách mạng XHCN thành công thì hầu hết các nước này trình độ học vấn của nhân dân còn rất thấp kém,
số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn (nước Nga trước Cách mạng Tháng Mười có đến trên 75% số người mù chữ) thế mà sau một thời gian xây dựng CNXH trình
độ học vấn của người dân các nước XHCN tương đối cao và đồng đều (năm
1987 Liên Xô có 154 triệu người có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở nên) Trong lĩnh vực khoa học công nghệ Liên Xô và một số nước XHCN cũng đạt được một số thành tựu đáng trân trọng Ở giai đoạn đầu Liên Xô luôn là nước
đi đầu trong việc nghiên cứu, chinh phục vũ trụ Năm 1957 Liên Xô phóng thành công Vệ tinh nhân tạo, năm 1961 có người bay vào vũ trụ trên tàu Phương Đông
I Một sự kiện đáng ghi nhớ vào ngày 04/3/1961 lần đầu tiên trên thế giới Liên
Xô đã dùng tên lửa V1000 bắn trúng tên lửa ở tầng bình lưu Điều đó chứng tỏ
kỹ thuật máy tính của Liên Xô lúc đó rất khá Sự kiện này phải mất mấy chục năm sau Mỹ mới đạt được
- Với sự lớn mạnh toàn diện, CNXH có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới, đóng vai trò quyết định đối với sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và thời đại quá
độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới Chế độ XHCN được thiết lập đã góp
Trang 6phần làm phát triển mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc Năm 1919, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa chiếm 72% diện tích và 70% dân số thế giới, tới nay chỉ còn 0,7% diện tích và 5,3% dân số thế giới Tính đến nay, hàng trăm nước đã giành được độc lập Trên 100 nước tham gia vào Phong trào không liên kết
- CNXH hiện thực đã đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hủy diệt, bảo vệ hòa bình thế giới
- CNXH đã cổ vũ nhân dân lao động ở các nước phương Tây đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, khiến giai cấp tư sản phải nhượng bộ
Tóm lại, từ tháng 11 năm 1917 cho đến sự kiện tháng 8 năm 1991, CNXH ở Liên Xô đã tồn tại hơn 70 năm, ở các nước Đông Âu hơn 40 năm kể từ năm 1945
Sự ra đời của hệ thống các nước XHCN là một bước ngoặt lớn đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng chống áp bức bóc lột trên toàn thế giới Tuy trong quá trình hình thành, phát triển hoàn thiện còn gặp nhiều thách thức, khó khăn nhưng với những cố gắng của những người trực tiếp lãnh đạo Đảng và sự đồng lòng của các tầng lớp bị bóc lột, các nước đi theo con đường XHCN đã từng bước khắc phục khó khăn và đạt được nhiều thành tựu trên mọi mặt của đời sống xã hội Đây là một minh chứng cho sự đúng đắn của mô hình XHCN và lý luận Mác-Lê nin, không ai
có thể phủ nhận những thành quả mà XHCN mang lại
II SỰ SỤP ĐỔ CỦA MÔ HÌNH CNXH XÔVIẾT VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ
Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đi vào thời kì khủng hoảng Từ tháng 4/1989 đến tháng 9/1991, chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên “cơn chấn động” chính trị lớn nhất trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Vấn đề đặt ra là vì sao chế độ XHCN lại bị thất bại ở Liên Xô và Đông Âu? Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng lịch sử này, đưa ra nhiều nguyên nhân cả sâu xa và trực tiếp, cả bên trong và bên ngoài để cắt nghĩa, lí giải về sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu…
2.1 Sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình CNXH Xô Viết
Ra đời và tồn tại trong điều kiện bao vây của chủ nghĩa đế quốc, để tồn tại và phát triển, V.I Lenin đã từng thể nghiệm hai phương thức xây dựng CNXH: Cộng sản thời chiến và chính sách kinh tế mới Sau khi Lênin mất, Iosif Vissarionovich Stalin (Stalin) đã thực hiện công cuộc xây dựng CNXH theo mô hình:
- Công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp với tốc độ tập trung cao trong đó
ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
- Nhanh chóng xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Xóa bỏ thị trường
tự do, thiết lập nền kinh tế hiện vật
Trang 7- Nhà nước trực tiếp điều hành nền kinh tế theo kế hoạch tập trung thống nhất, Đảng giữ vai trò lãnh đạo nhưng thực chất Đảng trực tiếp điều hành nhà nước
Với mô hình tổ chức kinh tế xã hội như vậy, CNXH đã biến tất cả mọi thành viên trong xã hội trở thành người làm công ăn lương cùng với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, làm hạn chế khả năng, sức sáng tạo của người lao động
Song sự ra đời, tồn tại của CNXH kiểu Xô Viết không phải là sản phẩm thuần túy mà bắt nguồn từ hoàn cảnh và nhu cầu lịch sử cụ thể Khi CNTB đã bộc lộ những mặt xấu xa của nó thì CNXH ra đời như là nhân tố chống lại những mặt xấu đó và
nó được tổ chức mang những đặc trưng đối lập với CNTB Chính vì thế nó đã phát huy được sức mạnh giúp cho Liên Xô trước đây và Việt Nam sau này tập trung được sức mạnh trong cuộc chiến tranh giải phóng
Tuy nhiên, mô hình CNXH Xô Viết được xây dựng trên cơ sở chưa đủ chín muồi
về cơ sở vật chất, nên trong thực tế đã vi phạm quy luật kinh tế khách quan: Quan
hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong
điều kiện lực lượng sản xuất chưa phát triển và còn ở nhiều trình độ khác nhau, nhưng đã vội xác lập quan hệ sản xuất công hữu và phương thức phân phối mang
tính bình quân, bao cấp, từ đó hạn chế tính sáng tạo của người lao động Những mâu thuẫn trong việc tổ chức xã hội theo mô hình Xô Viết trong những điều kiện lịch sử nhất định lại bị che khuất bởi phục vụ cho những mục tiêu chính trị cao hơn Khi mục tiêu chính trị đã được giải quyết thì những mâu thuẫn đó bắt đầu bộc lộ, nhưng
do chưa kịp thời tổng kết những bài học thực tiễn xây dựng CNXH để bổ sung, phát triển, làm cho CNXH hiện thực lâm vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng vào cuối những năm 80 của thế kỉ XX Lúc đầu các cuộc khủng hoảng diễn ra trong kinh tế, sản xuất đình đốn, người lao động chán nản, từ đó dẫn đến xáo trộn về chính trị, xã hội
- Bắt đầu ở Ba Lan, công nhân đình công năm 1987, thành lập công đoàn đoàn kết, trở thành đảng đối lập ở Ba Lan
- 9/11/1989: Đông Đức tuyên bố giải tỏa bức tường Béclin, giải tỏa biên giới giữa Đông và Tây Đức
- 2/12/2989: Cuộc gặp không chính thức giữa Xô – Mỹ, tuyên bố chấm dứt “chiến tranh lạnh”
- 3/12/1989: Ủy ban trung ương Đảng XHCN thống nhất Đức từ chức tập thể
- 21/12/1989: Chính quyền ở Rumani bị lật đổ bằng bạo lực, tổng bí thư Đảng Ceaucescu bị tử hình
- 15/1/1990: Đảng công nhân thống nhất Ba Lan chấm dứt hoạt động
- 5/2/1990: Liên Xô chấp nhận đa đảng
- 27/2/1990: Liên Xô thực hiện theo chế độ tổng thống theo thể chế chính trị phương Tây
Trang 8Sau chính biến ngày 19/8/1991, Mikhail Sergeyevich Gorbachyov (Goócbachốp) từ chức, tuyên bố giải thể Đảng Cộng Sản Liên Xô chính thức tan rã
Trong những năm 1989 – 1991, chế độ XHCN đã bị sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chế độ mới được dựng lên với những nét chung nổi bật:
- Tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH
- Thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền đại nghị và nền kinh tế theo cơ chế thị trường
- Các chính đảng vô sản đều đổi tên đảng và chia rẽ thành nhiều phe phái
- Tên nước, Quốc kì, Quốc huy và ngày Quốc khánh thay đổi, theo hướng chung gọi là các nước cộng hòa
2.2 Nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình CNXH
Xô Viết
Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người – kỷ nguyên xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội mới là CNXH Nước Nga trở thành nước XHCN đầu tiên và do vậy, bản thân nó phải giải quyết những vấn đề nẩy sinh trong sự nghiệp xây dựng đất nước trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và trên phương diện thực tiễn hoàn toàn không có tiền lệ Tuy vậy, CNXH hiện thực được xây dựng ở Nga và về sau là Liên bang Xô viết đã đạt được những thành tựu đáng kể mà bất kỳ ai, kể cả những người theo khuynh hướng chống cộng sản, cũng không thể phủ nhận Một vấn đề đặt ra cho đến nay là tại sao một nước XHCN hùng mạnh như Liên Xô lại bị sụp đổ một cách nhanh chóng, nguyên nhân nào dẫn đến sự kiện đó, là cơ bản và triển vọng của CNXH trên phạm vi toàn thế giới hoặc ít ra cũng trở thành lực lượng đối trọng với CNTB trong tương lai sẽ ra sao?
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu thận trọng và phân tích kỹ lưỡng những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô Đặc biệt, các học giả Nga cũng đã đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này, tựu
trung lại, họ chú trọng không chỉ đến những nguyên nhân chủ quan và khách quan
mà rộng hơn, là phân tích những nguyên nhân bên trong và bên ngoài đất nước
Liên Xô
Những nguyên nhân bên trong xuất phát từ tồn tại xã hội Xô viết qua các chặng
đường xây dựng CNXH, hình thành nên CNXH hiện thực ở Liên Xô Ngay cả ở những giai đoạn được gọi là thắng lợi của CNXH trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội cũng đã tiềm ẩn những bất cập chậm được khắc phục, dẫn đến sự khủng hoảng
và sụp đổ của mô hình xã hội hiện thực đó Tiếp theo là những sai lầm nghiêm trọng của Đảng Cộng sản Liên Xô mà đứng đầu là Tổng Bí thư M.Goócbachốp, được những người có trách nhiệm trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng phân tích, đánh giá một cách chính xác từng hành vi chính trị của con người này sau khi Liên Xô sụp
đổ
Trang 9Những nguyên nhân bên ngoài là sự chống phá của các thế lực thù địch với
CNXH mà Liên Xô được xem là thành trì của phe XHCN Những khẩu hiệu được nêu ra vào thời “hai phe”, “lưỡng cực” thể hiện quyết tâm của các nước XHCN muốn bằng những tiến bộ về kinh tế, chính trị và xã hội để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” rốt cuộc đã không thu được kết quả, thậm chí còn chuốc lấy sự thất bại thảm hại của mô hình XHCN hiện thực với nhiều khiếm khuyết của nó Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì các nước XHCN thời bấy giờ chỉ chú trọng về mặt hình thức, phô trương một số mặt tiến bộ của CNXH trong việc giải quyết vấn đề về sở hữu để xóa bỏ chế độ người bóc lột người, để mọi công dân của nó đều được hưởng thụ những gì nhà nước đem lại mà không có những điều chỉnh trong chính sách kinh
tế, làm cho nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp trở nên bất cập trước xu thế của thời đại Trong khi đó, các nước tư bản lại không ngừng điều chỉnh về nhiều mặt nhằm làm cho mức sống của người lao động ở đó được nâng cao và làm dịu đi các mâu thuẫn xã hội và đấu tranh giai cấp Mặt khác, để xóa bỏ chế độ XHCN trên toàn thế giới, các nước đế quốc, đứng đầu là Mỹ đã ráo riết hoạt động chống phá Liên Xô, từ chỗ không thể dùng sức mạnh quân sự, chúng đã sử dụng đến các biện pháp khác như ly khai, “diễn biến hòa bình” và cuối cùng, là liệu pháp tha hóa những chính khách của các nước XHCN
Các quan điểm đề cập đến hệ nguyên nhân bên trong thuộc ba lĩnh vực cơ bản:
Chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Ngoài ra, còn có các quan điểm về sự phản bội của nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.Goócbachốp, hay nói đúng hơn
là về âm mưu và hành động của ông ta trong việc xóa bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô
và làm tan rã Liên bang Xô viết
Thứ nhất, các quan điểm về nguyên nhân chính trị
Có thể nói, đây là nguyên nhân căn bản nhất, bởi nó liên quan đến một loạt vấn
đề về đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, về thực chất của hệ thống chính trị ở đất nước Xô viết trong suốt 74 năm tồn tại của nó và cuối cùng, về hệ quả của công cuộc cải tổ (perestroika) trong những năm 1985 – 1991
Trong công trình hợp tác Việt – Nga: “Vận mệnh lịch sử của CNXH”, nhà nghiên cứu V.N.Sépchencô cho rằng, “nét khác biệt của CNXH Xô Viết với tư cách
là nước XHCN đầu tiên là sự độc tài của một đảng, tức là sự lãnh đạo của đảng đối với toàn bộ tiến trình xây dựng CNXH, khi đó bất cứ vấn đề nào, chẳng hạn kinh tế, văn hóa, thể thao, v.v., đương nhiên được xem là những vấn đề do đảng tổ chức Đó
là dấu hiệu đặc trưng của mô hình tổng động viên về phát triển xã hội”
Sai lầm của Đảng không phải hoàn toàn ở tính độc tài của một đảng; thêm nữa,
đã từng có những thời kỳ mà mô hình tổng động viên đã phát huy tác dụng, chẳng hạn Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế những năm 30 và cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của nhân dân Xô viết trong thế kỷ qua Song, từ những năm 60, khi Liên Xô tuyên bố đã xây dựng thành công CNXH và bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới – thời
kỳ xây dựng CNXH phát triển, thì tình hình đã thay đổi Điều đó kéo theo sự thay đổi về mặt lý luận là phải hiểu bước quá độ mới đó như một quá trình cách mạng không phải từ “trên”, mà phải làm cho nhân dân hiểu rõ đó là sự nghiệp của chính
Trang 10bản thân họ, tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả “bên dưới” Điều đó đã không được thực hiện, lại thêm tệ quan liêu và sùng bái cá nhân những người lãnh đạo đã trở
nên cố hữu mà theo học giả Ngô Hoan, đã làm cho “Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành quyền lực tối cao, hòa trộn chức năng giữa Đảng và chính quyền, dẫn tới Đảng có sự bao biện, làm thay các cơ quan nhà nước, các tổ chức quần chúng, làm cho bộ máy của Đảng cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, không tập trung được vào công việc chủ yếu của mình” Nhận định này cũng gần gũi với quan điểm của V.N.Sépchencô cho rằng, “trong nhiều khiếm khuyết [của Đảng] có một khiếm khuyết căn bản – đó là sự già cỗi của toàn bộ hệ thống điều hành tổng lực của đất nước Sự toàn quyền của bộ máy Đảng – Nhà nước, sự thiếu vắng trên thực tế những hình thức kiểm tra thực sự đối với hoạt động của Đảng, - tất thảy điều đó làm xuất hiện các hành vi mới và ngày càng nguy hiểm của chủ nghĩa duy ý chí” Sự độc tài,
chuyên quyền dễ dàng dẫn đến buông lỏng việc thanh tra, kiểm soát, hạn chế đến tối đa quyền dân chủ của nhân dân Tình trạng này kéo dài trong nhiều năm đã làm mất đi sự phản biện xã hội về các chủ trương, đường lối của Đảng, dù nó xuất phát
từ bộ máy quan liêu, từ quan điểm duy ý chí và mệnh lệnh vẫn được cho là duy nhất đúng, là sáng suốt
Tình trạng vô chính phủ có nguyên nhân từ sự hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng thời cải tổ Tổng Bí thư- Chủ tịch nước Việt Nam- ông Nguyễn Phú Trọng cho
rằng, “trong hành động thực tế, người ta không chăm lo củng cố các tổ chức Đảng, không giữ vững các tổ chức và sinh hoạt Đảng, xem nhẹ vấn đề lãnh đạo nhà nước thông qua các tổ chức Đảng làm cho hệ thống của Đảng tan rã, kỷ luật lỏng lẻo, tổ chức Đảng không kiểm tra, giám sát được đảng viên, sức chiến đấu của các tổ chức
cơ sở Đảng quá yếu” Như vậy, trong đường lối lãnh đạo của Đảng, việc ôm đồm
trách nhiệm của Đảng đối với các cơ quan nhà nước cũng như việc buông lỏng sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng đối với các cơ quan đó đều dẫn đến tình trạng vô tổ chức, không chỉ làm cho sức chiến đấu của Đảng suy yếu, mà tệ hại hơn, còn làm tan rã hệ thống của Đảng
Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất trong đường lối lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô là từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin Thông qua công
cuộc cải tổ, Ban lãnh đạo Đảng mà đứng đầu là Tổng Bí thư Goócbachốp đã loại dần những người trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin Không chỉ thế, ông còn cho rằng, học thuyết Mác – Lênin đã lỗi thời, thậm chí còn sai lầm Từ đó, đúng như
nhận định của ông Nguyễn Phú Trọng, “người ta đã xem nhẹ vấn đề đấu tranh giai cấp, nhấn mạnh những giá trị chung toàn nhân loại, xem nhẹ chuyên chính vô sản, nhấn mạnh hòa hoãn, nhân quyền, cho rằng CNTB đã thay đổi bản chất, xét lại sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, nhấn mạnh vấn đề dân tộc, xem nhẹ chủ nghĩa
đế quốc, nhấn mạnh vấn đề công khai, xem nhẹ vấn đề kỷ luật tập trung trong Đảng dẫn đến sự sụp đổ của CNXH hiện thực và làm tan rã Đảng về mặt tư tưởng” Hậu quả nghiêm trọng đó, theo ông Trọng, “chính là vì người ta hiểu sai
và làm sai chủ nghĩa Mác – Lênin: Sai cả về thực hiện các nguyên lý cơ bản, về vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng”