Do đó để thực hiện mục tiêu tổng quát trên một cách thành công đòi hỏi phải có các tiền đề cần thiết, phát huy được nội lực vốn có như tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật; huy
Trang 1TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LỚP TCLLCT- K92
*
BÀI VIẾT THU HOẠCH Phần A.III: Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất TBCN A.IV Kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên CNXH
Lớp: Trung cấp LLCT- khóa k92
-Họ và tên: Bùi Hồng Hạnh Lớp: Trung cấp LLCT- khóa K92
Chủ đề 6: Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị Quan
điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay
Đắk Nông,Ngày 02 tháng 12 năm 2021
Trang 2TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LỚP TCLLCT- K92
*
Đắk Nông, ngày 12 tháng 12 năm 2021
BÀI VIẾT THU HOẠCH Phần A.III: Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất TBCN A.IV Kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên CNXH
Lớp: Trung cấp LLCT- khóa k92
-Họ và tên: Bùi Hồng Hạnh Lớp: Trung cấp LLCT- khóa K92 Chủ đề 6: Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị Quan
điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay
NGƯỜI VIẾT THU HOẠCH
Trang 3TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LỚP TCLLCT- K92
*
Đắk Nông, ngày 12 tháng 12 năm 2021
BÀI VIẾT THU HOẠCH Phần A.III: Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất TBCN A.IV Kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên CNXH
Lớp: Trung cấp LLCT- khóa k92
-Họ và tên: Bùi Hồng Hạnh Lớp: Trung cấp LLCT- khóa K92 Chủ đề 6: Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị Quan điểm,
chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay
1 Mở đầu:
Việt Nam là một quốc gia có nền văn minh lúa nước lâu đời, vốn là 1 đất nước thuần nông, lao động chủ yếu là thủ công, kỹ thuật còn thô sơ lạc hậu nên trong một thời gian dài nền kinh tế còn phát triển chậm không theo kịp với sự đi lên nhanh chóng của các nước trên thế giới Trong thời đại ngày nay, muốn phát triển kinh tế nhanh thì trước hết phải xây dựng một nền tảng khoa học kỹ thuật vững chắc Do đó để thực hiện mục tiêu tổng quát trên một cách thành công đòi hỏi phải có các tiền đề cần thiết, phát huy được nội lực vốn có như tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật; huy động vốn và sử dụng vốn 1 cách có hiệu quả, mở rộng kinh tế đối ngoại để tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài, để hoc tập khoa học kỹ thuật của họ …, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước và đặc biệt không thể thiếu là việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
có hiệu quả vì muốn thực hiện Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa phải phát triển một cách tương xứng năng lực của người quản lý và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
Việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là Nguồn nhân lực chất lượng cao, từ Đại hội XI, và tại đại hội XIII, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển nhanh Nguồn nhân lực nhất là Nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển Nguồn nhân
Trang 4lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” Kết quả thực hiện đột phá này, Đại hội XII đánh giá: “Phát triển Nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ đạt được những kết quả tích cực” Tuy nhiên, “Phát triển Nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệ còn chậm Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện còn chậm, thiếu lao động chất lượng cao
Hệ thống giáo dục còn thiếu tính liên thông, chưa hợp lý và thiếu đồng bộ”;
“Khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội…”
Từ những nội dung cơ bản mà Marx và Engels đã xây dựng nên một hệ thống những phạm trù có liên quan một cách đồ sộ như: tái sản xuất xã hội, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, tư bản lưu động, tư bản cố định, tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị, giá trị sử dụng, hàng hóa sức lao động, sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động, tư liệu sản xuất từ đó bản thân
chọn chủ đề tài “Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị.
Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay” làm bài thu hoạch.
2 Nội dung 2.1 Hàng hóa, các thuộc tính của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
2.1.1 Khái niệm Hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
Có nhiều cách phân loại hàng hóa như: hàng hóa vật thể, hàng hóa phi vật thể; hàng hóa tiêu dùng, hàng hóa phục vụ sản xuất, v.v
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
2.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa
- Giá trị sử dụng của hàng hóa
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định Chính công dụng đó (tính có ích đó) làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học - công nghệ và của lực lượng sản xuất nói chung Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú
Giá trị sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người sản
Trang 5xuất trực tiếp ra nó mà là cho người khác, cho xã hội, thông qua trao đổi, mua bán Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi
- Giá trị của hàng hóa
Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi trước hết là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau Ví dụ: 1m vải = 5 kg thóc
Để trao đổi với nhau, trước hết chúng phải có giá trị sử dụng khác nhau
Đồng thời, chúng lại có thể trao đổi được với nhau vì giữa chúng tồn tại điểm chung: đều là sản phẩm của lao động, đều được kết tinh bởi lao động Nhờ đó, chúng có thể trao đổi cho nhau
Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Chất của giá trị là lao động Lượng của giá trị là số lượng lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là vì lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng
+ Lao động cụ thể Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định
Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau Chẳng hạn, lao động của người thợ xây và lao động của người trồng lúa là hai loại lao động cụ thể khác nhau Lao động của người thợ xây thì xây nên ngôi nhà để ở, còn lao động của người trồng lúa thì tạo ra thóc để ăn, v.v Như vậy, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa
Khoa học, công nghệ và lực lượng sản xuất càng phát triển, càng có nhiều hình thức cụ thể của lao động, do đó xã hội càng sản xuất ra nhiều chủng loại hàng hóa Chúng ngày càng phong phú, đa dạng hơn Năng suất lao động càng tăng, trình độ khoa học, công nghệ càng hiện đại thì số lượng hàng hóa sản xuất
ra càng nhiều với chất lượng ngày càng tốt hơn
+ Lao động trừu tượng Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó và quy về một thể chung đồng nhất, đó chính là
Trang 6sự tiêu phí sức lao động nói chung (cả thể lực và trí lực) của người sản xuất hàng hóa
Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Giá trị hàng hóa chính là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Nhờ lao động trừu tượng mà ta tìm thấy sự đồng nhất giữa những người sản xuất, do
đó thấy được cơ sở của quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa
Lao động trừu tượng là cơ sở để người sản xuất hàng hóa trao đổi sản phẩm với nhau
2.1.3 Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Thước đo lượng giá trị hàng hóa tính bằng thời gian lao động Trên thị trường, có nhiều cá nhân, cơ sở sản xuất cùng sản suất ra một loại hàng hóa với mức hao phí thời gian khác nhau nên lượng giá trị hàng hóa không thể tính theo thời gian lao động cá biệt, mà là đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất trung bình của xã hội, với một trình độ thành thạo trung bình, với một trình độ trang thiết bị trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó
Có hai cách xác định thời gian lao động xã hội cần thiết: Thứ nhất, tính tổng số thời gian lao động cá biệt chia bình quân cho tổng số đơn vị hàng hóa
đó Thứ hai, thời gian lao động xã hội cần thiết tương đương với thời gian lao động cá biệt của cơ sở sản xuất chiếm phần lớn thị phần hàng hóa đó
Trong điều kiện toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, thời gian lao động xã hội cần thiết sản xuất ra hàng hóa không chỉ xét trong phạm vi thị trường một nước mà mở rộng ra quốc tế Vì thế, hàng hóa trong nước nếu có hao phí thời gian lao động nhiều sẽ gặp phải sự bất lợi trong cạnh tranh
Lượng giá trị hàng hóa chịu tác động của các nhân tố sau:
- Năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được đo lường bởi số lượng của sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc thời gian
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Khi năng suất lao động tăng thì số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian sẽ tăng hay số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn
vị sản phẩm sẽ giảm Do đó, lượng giá trị của một hàng hóa giảm xuống, giá cả hàng hóa sẽ rẻ hơn
Khi năng suất lao động giảm thì số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn
Trang 7vị thời gian sẽ giảm hay số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm sẽ tăng Do đó, lượng giá trị của một hàng hóa tăng, hàng hóa
sẽ đắt hơn
Như vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa biến đổi ngược chiều với năng suất lao động
Muốn tăng năng suất lao động để giảm giá trị và giá cả, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa phải khai thác tốt các yếu tố như: trình độ khéo léo (thành thạo) của người lao động; mức độ phát triển của khoa học, công nghệ và sự ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất; trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, và các điều kiện tự nhiên
- Cường độ lao động
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương lao động, mật độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian
Khi cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên, nhưng hao phí lao động trừu tượng cũng tăng lên Do đó, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm không giảm Tăng cường độ lao động có ý nghĩa đối với những công việc có tính chất mùa vụ, cần sự khẩn trương hoặc khi trình độ sản xuất chưa tăng lên nhưng cần tăng sản lượng trong thời gian ngắn
- Mức độ phức tạp của lao động.
Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
+ Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động có sức khỏe bình thường nào không cần phải trải qua đào tạo tích lũy kinh nghiệm nhiều cũng có thể thực hiện được
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Thị trường sẽ quyết định tỷ lệ trao đổi giữa đơn vị hàng hóa do lao động phức tạp sản xuất với đơn vị hàng hóa do lao động giản đơn sản xuất ra
2.2 Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa 2.2.1 Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa
Ở đâu có trao đổi, sản xuất hàng hóa thì ở đấy có sự hoạt động của quy luật giá trị Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phí lao động xã hội cần thiết
Trang 8Trong sản xuất, người sản xuất phải có mức hao phí lao động cá biệt của mình nhỏ hơn hoặc bằng với mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì mới đạt được lợi thế trong cạnh tranh
Trong trao đổi, thực hiện theo nguyên tắc ngang giá
Trong trao đổi hàng hóa với nhau, hai bên được lợi về giá trị sử dụng còn lượng giá trị là bằng nhau
Hai hàng hóa được trao đổi trực tiếp với nhau theo một tỷ lệ nào đó có nghĩa là chúng kết tinh một lượng lao động bằng nhau Khi có tiền xuất hiện
để mua bán thì giá cả hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó
2.2.2 Cơ chế biểu hiện của quy luật giá trị
Quy luật giá trị hoạt động được thể hiện ở sự biến đổi lên, xuống của giá
cả xoay quanh giá trị dưới tác động của quan hệ cung - cầu về hàng hóa trên thị trường Sự biến đổi giá cả một cách tự phát tự do là sự phản ánh hoạt động của quy luật giá trị
Nếu sức mua đồng tiền không đổi, không kể đến điều tiết của nhà nước và độc quyền thì xảy ra ba trường hợp:
- Khi cung = cầu, thì giá cả = giá trị.
- Khi cung > cầu, thì giá cả < giá trị
- Khi cung < cầu, thì giá cả > giá trị
Sự thay đổi của giá cả xoay quanh trục giá trị làm nên “vẻ đẹp sinh động của thị trường”, tạo sự hấp dẫn cho sản xuất và tiêu dùng
Xét tổng thể thì tổng giá cả luôn bằng tổng giá trị
2.2.3 Chức năng, tác dụng của quy luật giá trị
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Quy luật giá trị tự động điều tiết sản xuất thể hiện ở chỗ thu hút vốn (tư liệu sản xuất và sức lao động) vào các ngành sản xuất khác nhau (theo sự biến động cung, cầu, giá cả) tạo nên cơ cấu kinh tế hiệu quả hơn và đáp ứng nhu cầu của xã hội
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ,
nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao Do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
- Kích thích tiến bộ, nâng cao năng suất lao động
Người sản xuất có lãi hay không là do giải được bài toán hao phí lao động của mình phải thấp hơn hoặc bằng với hao phí lao động xã hội
Muốn vậy, những người sản xuất hàng hóa cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm, tăng năng suất lao động,
Trang 9hạ chi phí sản xuất Quá trình này diễn ra liên tục sẽ làm cho lực lượng sản xuất
xã hội phát triển
- Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu - nghèo
Những chủ thể sản xuất hàng hóa có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì có thể thắng thế trong cạnh tranh,
họ sẽ giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh trở thành chủ thể giàu có hơn, và có thể sử dụng được nhiều hơn lao động làm thuê
Ngược lại, những chủ thể sản xuất hàng hóa có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tình trạng thua
lỗ, phá sản, họ trở thành người nghèo
Chính do các tác động nhiều mặt của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hàng hóa thực sự là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực một cách tự phát, khách quan
Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta phủ nhận sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị, nên không khai thác được các nguồn lực, nền kinh tế kém phát triển, rơi vào khủng hoảng
Trong thời kỳ đổi mới, chúng ta phát triển sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị hoạt động, tạo nên cạnh tranh, phát triển kinh tế, v.v Bên cạnh đó, mặt trái nảy sinh như: phân hóa giàu - nghèo, buôn gian bán lận, v.v
Vì vậy, Nhà nước điều tiết bằng luật pháp, chính sách đầu tư, thuế, đào tạo nhân lực, v.v để đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta
2.3 Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay
2.3.1 Thực trạng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay
Về số lượng nguồn nhân lực: Việt Nam hiện có lực lượng lao động dồi
dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Tổng số dân của Việt Nam năm 2020 là 97.757.118 người, là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có 54,56 triệu người (chiếm gần 58% dân số) đang trong độ tuổi lao động Tỷ trọng dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất ở nhóm tuổi 25-29
Về chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam
đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Lao động Việt Nam đã chỉ ra rằng chất lượng
Trang 10nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 11,39 triệu lao động (chiếm 20,87%) qua đào tạo có bằng/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học), chiếm 20,92% tổng lực lượng lao động Trong 10 năm qua, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng mạnh nhưng vẫn còn 76,9% người tham gia lực lượng lao động chưa được đào tạo chuyên môn
Về đặc trưng vùng địa lý: Lực lượng lao động đã được đào tạo có bằng,
chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) ở khu vực thành thị cao gấp 2,5 lần khu vực nông thôn Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (31,8%) và Đông Nam Bộ (27,5%); thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (13,6%)
Về năng suất lao động: Theo số liệu thống kê mà Bộ Kế hoạch – Đầu tư
năm 2019, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,6% mức năng suất của Singapore; 19,5% của Malaysia; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia;
56,9% của Philippines, 68,9% của Brunei So với Myanmar, Việt Nam chỉ bằng 90% và chỉ bằng 88,7% Lào Trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lao động của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia
Để đánh giá đúng thực trạng về nguồn nhân lực của nước ta trong giai đoạn hiện nay cần đánh giá trên cơ sở quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động còn bộc lộ một số điểm như sau:
- Tình trạng cung thiếu
Kết quả khảo sát các chủ sử dụng lao động tại 10 quốc gia ASEAN do Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thực hiện cho thấy, DN trong khối ASEAN hiện đang rất lo ngại về tình hình thiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề và kỹ năng; gần 50% chủ sử dụng lao động trong cuộc khảo sát cho biết, người lao động tốt nghiệp phổ thông không có được kỹ năng họ cần; cử nhân tốt nghiệp đại học dẫu được trang bị những kỹ năng có ích nhưng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của DN Do trình độ phát triển không đồng đều, nên hiện nay lao động
có tay nghề và kỹ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a và Thái-lan Còn lại hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng
Bên cạnh chất lượng thấp, cơ cấu nhân lực lao động của Việt Nam cũng còn nhiều bất cập lớn Cơ cấu trình độ của nhân lực lao động Việt Nam là: 1 đại học trở lên/ 0,32 cao đẳng/ 0,61 trung cấp/ 0,37 sơ cấp Trong khi đó, theo quy