1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chức năng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh yên bái) (luận văn thạc sỹ luật)

89 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện chức năng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Yên Bái)
Tác giả Lý A Việt
Người hướng dẫn TS. Phạm Mạnh Hùng
Trường học Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái
Chuyên ngành Luật
Thể loại luận văn thạc sỹ
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 21,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ơ câp độ luận văn thạc sĩ luật học có các công trình như: Quyêt định của Viện kiêm sát trong giai đoạn truy tổ của tác giả Nguyễn Thị Minh Hồng, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; Thẩm

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đê tài: “Thựchiện chức năng của O Viện kiêm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Yên Bái) ” là một công trình nghiên cứu độc lập dưới sự hướng dẫn cua giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Mạnh Hùng Ngoài ra không cỏ bất cứ sự sao chép củangười khác Đe tài, nội dung luận văn là sản phấm mà em đã nỗ lực nghiêncứu trong quá trình học tập và làm việc tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác nếu có vấn đề xảy ra em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm cho các nội dung có trong bài luận văn của bản thân

Người cam đoan

Lý A Việt

Trang 3

LỜI CÃM ƠN

Em xin chăn thành cảm ơn thây Phạm Mạnh Hùng,

Viện kiêm sát nhản dân tỉnh Yên Bái, Viện kiếm sát nhân

dãn huyện Mù Cang Chải và Nhà trường đã tạo điều kiện

hết sức để em hoàn thành luận văn này.

Tác giả luận vãn

Lý A Việt

Trang 4

CHUÔNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ CHÚC NÃNG CỦA

VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ ĐÓI VỚI CÁC VỤ ÁN MA TÚY 7

1.1 Chức năng của Viện kiếm sát trong giai đoạn truy tố 71.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn cùa Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng

thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố 101.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng

kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố 21

1.2 Một số vấn đề chung về tội phạm ma túy và thực hiện chức năng

của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố trong các vụ

án ma túy 251.2.1 Một số vấn đề chung về tội phạm về ma túy 251.2.2 Đặc điểm của việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn truy tố trong các vụ án ma túy 30

CHUÔNG 2: THỤC TIỄN THỤC HIỆN CHÚC NĂNG CỦA VIỆN

KIẾM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ vụ CÁC ÁN

MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI 32

2.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái và

một sổ đặc điếm riêng về tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái 32

Trang 5

2.2 Kết quả đạt được trong việc thực hiện chức năng của Viện > • • ” • • • ơ •

kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tổ các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 34 2.3 Những hạn chế, khó khăn, vưóĩig mắc và nguyên nhân khi

thực hiện chức năng truy tố cùa Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố đối vói các vụ án ma túy của hai cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái 482.3.1 Một số hạn chế, khó khăn và vướng mắc 482.3.2 Nguyên nhân 57

CHƯƠNG 3: NHŨNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẲ

CHỨC NẰNG CỦA VIỆN KIẺM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TÓ CÁC VỤ ÁN MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI 62

3.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật 62

3.2 Nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ trong áp dụng pháp

luật để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên 67

3.3 Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành và sự phối hợp vói

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHŨ VIẾT TÁT

Vụ ánViện kiểm sát

Trang 7

DANH MỰC BẢNG

o T •

Bảng 2.1 Số liệu thụ lý kiểm sát truy tố VKSND hai cấp tỉnh

Bảng 2.2 Bảng phân tích số liệu giải quyết án ma túy truy tố

VKSND hai cấp tinh Yên Bái giai đoạn 2016 - 2020 41

Trang 8

MỞ ĐÀU

1 Tính câp thiêt của việc nghiên cứu đê tài

Từ trước đến nay, tệ nạn ma tủy luôn được coi là một trong những mối họa hàng đầu thế giới của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào Không chỉ riêng Việt Nam, ma túy đem lại hủy hoại sức khỏe cho con người, là nguyên nhân khiếnnhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh bần cùng, khánh kiệt; cũng đồng thời lànguyên nhân dần đến các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự,

an ninh, an toàn xã hội Hậu quả của ma túy tác động đến chúng ta hàng ngày, hàng giờ và cần được kịp thời ngăn chặn

Là một tỉnh thuộc địa bàn vùng núi Tây Bắc, giáp ranh với các tỉnhbiên giới thuộc vùng núi phía Bắc, là đầu mối giao thông quan trọng, giao lưu thuận lợi với các địa phương khác trong nước, tỉnh Yên Bái trở thành địa bàn

lý tưởng cho tội phạm ma túy, đặc biệt là các hoạt động tàng trữ, vận chuyển

và mua bán trái phép chất ma túy, mức độ tinh vi của các đối tượng ngày càngtăng Trên cơ sở nhận thức sâu sắc tác hại của ma túy và mức độ tinh vi của tội phạm ma túy, đồng thời thực hiện nghiêm túc Luật phòng chống ma túy vàtriển khai Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 16/08/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiếm soát ma túy, các cơquan thực hành tố tụng tỉnh Yên Bái luôn cố gắng hết sức để thực hiện tốt chức năng nghiệp vụ của mình để bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân

Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình cài cách tư pháp, trong đó nêu rõ trách nhiệm của Viện kiểm sát là phải tăng cường trách nhiệm công tố, phải chịu trách nhiệm chính về những oan, sai trong việc khởi tố, bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra; truy tố; phải bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng phápluật, cùng với cơ quan điều tra khắc phục những vi phạm, tồn tại trong quátrình điều tra, bảo đảm không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội Nhận thức và quán triệt nghiêm túc tinh thần, nghị quyết của

Trang 9

Đảng, trong những năm qua, Viện kiêm sát nhân dân luôn cô găng thực hiện nghiêm túc chức năng của mình trong đó bao gồm chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đặc biệt trong giai đoạn truy tố

vì đây là khi thế hiện rõ nhất chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn còn nhiều hạn chế về việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sátnhân dân, vẫn còn rất nhiều vụ việc xảy ra sai sót dẫn đến việc phải rút kinh nghiệm, sửa hoặc hủy bản án đề tiến hành điều tra, hoặc xét xử lại Nguyên nhân có thể là do năng lực trình độ của kiểm sát viên hoặc do có những khókhăn, vướng mắc cả trên phương diện lí luận hay thực tiễn Do vậy, để thực hiện công tác của ngành kiểm sát đối với loại tội ma túy đặc biệt trong giai đoạn truy tố yêu cầu cần làm rõ các vấn đề không chỉ có giá trị về mặt lý luận

mà còn phải có ý nghĩa thực tiễn, góp phần bảo đảm sự thống nhất trong hànhđộng, nâng cao hiệu quả của công tác tư pháp nói chung, công tác kiềm sátnói riêng, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó cho Việnkiểm sát nhân dân trong công cuộc cải cách tư pháp và đấu tranh với tội phạm

ma túy hiện nay

Với hi vọng góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn thông qua việc thực hiện chức năng của Viện kiềm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố ởmột loại tội phạm cụ thể Đồng thời đề xuất một số giải pháp đề nâng cao chất lượng của hoạt động này trong điều kiện cải cách tư pháp, tác giả chọn đề tài

“ Thực hiện chức năng của Viện kiếm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy (trên cơ sớ thựcX •• tiễn địa bàn tỉnh Yên Bái)”X làm luận • văn thạc• sĩ luật • học.•

Trang 10

ơ câp độ luận văn thạc sĩ luật học có các công trình như: Quyêt định của Viện kiêm sát trong giai đoạn truy tổ của tác giả Nguyễn Thị Minh Hồng, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; Thẩm quyền của Viện kiểm sát

trong giai đoạn truy tổ của tác giả Vũ Đức Ninh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013; Chức năng của Viện kiêm sát trong giai đoạn truy tố

của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trường Đại học Luật Hà Nội năm2015; Thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự củatác giả Nguyễn Công Cường, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016; Thực hành quyền công tố và kiêm sát điều tra các vụ án về ma túy ở tỉnh Yên Bái

của tác giả Nguyễn Mạnh Tùng năm 2016; Trả hồ sơ đê điều tra bô sung trong giai đoạn truy tố của tác giả Võ Thị Xuân Hương, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2017; Trả hồ sơ đê điều tra bô sung trong giai đoạn truy

tố theo quy định của Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015 của tác giả Lê MinhĐức, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018; Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiêm sát trong giai đoạn truy tổ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 của tác giả Phan Trung Hiếu, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018; Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy to cúa tác giả Vũ ThịSao Mai, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018

Ớ cấp độ bài nghiên cửu trên các tạp chí chuyên ngành có các công trình như: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng ban hành các quyết định tố tụng hình sự của VKS trong giai đoạn truy tố” của tác giả Võ Ngọc Thạchtrên Tạp chỉ Kiếm sát số 5/2014; “Giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ điều tra

bổ sung trong giai đoạn truy tố”của tác giả Lê Tấn Cường trên Tạp chí Kiểm

sát số 5/2014; “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy

tố và vấn đề nâng cao chất lượng bãn cáo trạng”của tác giả Nguyễn Minh Đức trên Tạp chí Kiêm sát số 8/2016; “Chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát nhân dân” của tác giả Quan Tuấn Nghĩa

3

Trang 11

trên Tạp chí Kiêm sát sô 15/2018; “Một sô kiên nghị nhăm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố” của tác giả Vũ ThịSao Mai trên Tạp chi Kiêm sát số 9/2019

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu mang tính lý luận chung vềquyền công tố hoặc chức năng chung của VKS trong một số giai đoạn hoặctừng hoạt động riêng lẻ của VKS trong giai đoạn truy tố Vì vậy, cần thiếtphải có sự nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về vấn đề nhiệm

vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

và thực tiễn áp JL dụng• <-2 trên một địa bàn •• cụ thể đối với một nhóm tội• JL • phạm cụ

thể (cụ thể trong phạm vi luận văn là nhóm tội phạm về ma túy) để từ đó đềxuất những giải pháp nâng cao hiệu quả

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu • • • CT

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Thông qua sự phân tích, nghiên cứu những vấn

đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật hình sự về tội phạm ma túy đồng thời đánh giá thực tiễn thi hành các quy định, luận vãn đềxuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn cùa VKS khi thực hiện chức năng đối với các vụ án ma túy trong giai đoạn truy tố

+ Phân tích các quy định của BLTTHS năm 2015 và BLHS năm 2015sửa đổi, bổ sung năm 2017 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS đối với các vụ

án ma túy trong giai đoạn truy tố

+ Đánh giá thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS đối với

4

Trang 12

các vụ án ma túy trong giai đoạn truy tô tại địa bàn tỉnh Yên Bái, xác định nguyên nhân của nhũng hạn chế trong quá trình thực thi và đề xuất các giải pháp đảm bảo chất lượng hoạt động của VKS khi thực hiện chức năng đối vớicác vụ án ma túy trong giai đoạn truy tố.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chức năng củaVKS đối với các vụ án ma túy trong giai đoạn truy tố theo quy định củapháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễntại tỉnh Yên Bái

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản, các quy định phápluật hình• sự• và phápJl JL luật• tố tụng• hình sự• Việt• Nam về việc thực hiện• • • chứcnăng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố đối với một nhóm tội phạm cụ thể (tội phạm về ma túy) mà không nghiên cứu quy định của pháp luật nước ngoài về vấn đề này; thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy trên địa bàn tình Yên Bái từ năm 2016 đến năm 2020 để làm cơ sở để xuất một số giải pháp nhằm nângcao chất lượng thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy

5 Cơ sử lý luận và các phương pháp nghiên cứu

5 ĩ Cơ sở lý luận

Đe tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách đấu tranh phòng chống tội phạm các công trình nghiên cứu

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phươngpháp phân tích, tổng họp để làm rõ các vấn đề lý luận cũng như quy định của

5

Trang 13

pháp luật; phương pháp thông kê, so sánh được sử dụng đê nêu rõ sô liệu thực tiễn thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tốcác vụ án ma túy.

6. Những điếm mới của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần:

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chức năng của Viện kiểm sáttrong giai đoạn truy tố đối với tội phạm ma túy

- Làm rõ thực trạng tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái và tìnhhình hoạt động truy tố của hai cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái vớiloại tội phạm này

- Luận giải và đưa ra những đề xuất, giải pháp hoàn thiện, nâng caohiệu quả hoạt động truy tố đối với các vụ án ma túy nói riêng và các tội phạmkhác nói chung trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Luận văn là tài liệu tham khảo cho các Viện kiểm sát các các cấp trongviệc giải quyết vụ án hình sự về ma túy Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo để các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về chức năng truy tố đối với các vụ án ma túy Luận văn còn là tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo luật

7 Ket cấu của luận văn

Ngoài phàn mở đàu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm ba chương, cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chức năng của Viện kiểm sát tronggiai đoạn truy tố đối với các vụ án ma túy

Chương 2: Thực tiễn thực hiện chức năng của Viện kiềm sát trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố đối với các vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái

6

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỚ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỀM SÁT

TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ ĐỐI VỚI CÁC vụ ÁN MA TÚY

1.1 Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

Truy tố là một giai đoạn tố tụng trong quy trình tố tụng hình sự, bắt đầu

từ sau giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra và trước giai đoạn xét xử củaTòa án nhân dân, được đánh dấu bắt đầu bằng việc Cơ quan điều tra chuyển

hồ sơ vụ án hình sự kèm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và kết thúc khi Viện kiểm sát nhân dân ban hành một trong các loại quyết định sau: Quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng hoặc Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn trong trường họp vụ án thuộc trường hợp rút gọn; Quyết định trả hồ sơ vụ

án để điều tra bổ sung; Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chi vụ án

Khác với việc tham gia và phối hợp cùng các cơ quan khác trong quá trình xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố; điều tra hayhoạt động xét xử, truy tổ là một giai đoạn độc lập trong hoạt động tố tụnghình sự và chĩ được thực hiện bởi Viện • • kiểm sát nhân dân, y do Viện kiểm sátnhân dân thực hiện và chịu trách nhiệm Hoạt• • động truy• J tố của Viện kiểm sátvừa nhằm mục đích kiểm tra lại toàn bộ tính có căn cứ, tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã thực hiện vừa nhằm mục đích cho việc Viện kiểm sát ra các quyếtđịnh chính xác, khách quan, toàn diện, bảo đảm truy cứu trách nhiệm hình

sự đúng người, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm; gópphần tăng cường bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp kể cả của bị can cũng như nhũng người có liênquan trong vụ án

7

Trang 15

Trên cơ sờ các Điêu 16, Điêu 17 Luật Tô chức VKSND năm 2014 quy định • về nhiệm• vụ• và quyền1 J hạn của Viện kiếm sát nhân dân khi thực * hànhquyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2015 đã xây dựng quy định chức năng cùa Viện kiếm sát trong giai đoạn truy tố tại các điều 236, điều 237 của Bộ luật, cụ thể như sau:

Điều 236 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

1 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can

2 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến

vụ án trong trường hợp cần thiết

3 Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơcho Cơ quan điều tra

4 Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn cóhành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi

Trang 16

đình chỉ vụ án đôi với bị can; quyêt định phục hôi vụ án, quyêt định phục hồi vụ án đối với bị can.

10 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tốtheo quy định của Bộ luật này [21, tr 154]

Điều 23 7 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiếm sát khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố

1 Khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng;yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lýnghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;

b) Kiến nghị cơ quan, tố chức hữu quan áp dụng biện pháp phòngngừa tội phạm và vi phạm pháp luật;

c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật này

2 Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị cho Viện kiểm sát [21, tr 155]

Những quy định trên tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát tăng cường vaitrò, trách nhiệm, thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong tố tụng hình

sự Với các quy định mới này, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khithực hiện chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát tronggiai đoạn truy tố được cụ thế hóa, quy định rõ ràng, minh bạch, bảo đảm Việnkiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách chủ động, đúng pháp luật, hiệu quả Tuy nhiên để làm rõ các chức năng trên của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố và cụ thể trong các vụ án ma túy, tôi xin phân tích cụ thể các chức năng của Viện kiểm sát dưới đây

9

Trang 17

1.1.1 Nhiệm• • 1 •/ • • • •vụ, quyên hạn của Viện kiêm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công to trong giai đoạn truy tố

Việc xác định khái niệm, phạm vi, nội dung quyền công tố, việc thực hành quyền công tố là gì có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong khoa học tốtụng hình sự cả trong lý luận và thục tiễn Đây là cơ sở để xác định chínhxác vị trí, vai trò, thẩm quyền đặc thù của ngành kiểm sát nhân dân trong

hệ thống các cơ quan tu pháp nói riêng và trong hệ thống các cơ quan nhànuớc nói chung

Dưới góc độ ngôn ngữ học, "công tố ” là một từ ghép Hán - Việt đượchình thành bởi hai từ đơn "công” và "tố ” Theo Từ điển Tiếng Việt Việt

Nam, "công” có nghĩa là "thuộc về nhà nước chung cho mọi người, khác với

tư ” ; "tố ” có nghĩa "nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác ” ', "công tố”"điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp

và phát biêu ỷ kiến trước Toà án ” [38, tr 200],

Quyền công tố là một khái niệm chưa có sự thống nhất về nội hàm từ góc độ khoa học pháp lý cả trên bình diện quốc tế và quốc gia Tuy nhiên, ở mức độ cơ bản nhất, quyền công tố được định nghĩa như là khả năng sử dụng quyền lực nhà nước đế buộc tội một cá nhân trước Toà án [6, tr 45] Quyền này được thực hiện bởi các công chức nhà nước là công tố viên (hoặc kiếmsát viên) thuộc các viện công tố (hoặc Viện kiểm sát) Đây là quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Đức trong bài viết “Quyền công tố và tố chức thực hiện quyền công tố trong nhà nước pháp quyền”, quan điểm này đã đưa ra khái niệm cơ bản về quyền công tố, trong đó chỉ ra được rằng quan điểm về quyềncông tố ở mỗi quốc gia là khác nhau, từ đó dẫn đến việc cách xây dựng môhình các cơ quan tư pháp, thú tục tố tụng và cách thực hiện các hoạt động tốtụng tại mồi quốc gia đều có sự riêng biệt, khải niệm trên đã chỉ ra nhũng đặcđiểm chung nhất về quyền công tố trong mô hình nhà nước pháp quyền

10

Trang 18

Quyên công tô không phải là quyên lực của một cá nhân hay một tô chức bât

kỳ mà trong môi trường Nhà nước pháp quyền, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, tuy nhiên tự bản thân Nhà nước thìkhông thể thực hiện được quyền này, do vậy Nhà nước giao cho một cơ quan

cụ thể, trực thuộc Nhà nước thực hành quyền này trên thực tế Đối với nước

ta, kết hợp từ lịch sử và các học thuyết về chù nghĩa xã hội, Viện kiểm sátnhân dân là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao quyền công tố để phát hiệntội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và ngườiphạm tội từ đó tiến hành truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội

đó trước phiên toà [7, tr 5]

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm quyền công tố nhưsau: Quyền công tổ là quyền cùa Nhà nước giao cho Viện kiêm sát truy cứu

trách nhiệm hình sựvà thực hiện việc buộctội đối với người phạmf • tội.

Từ điển Luật học giải thích ‘‘Thực hành quyền công tố là việc sử dụng

tông hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền cóng tố đê truy cứu trách nhiệm hình sự đoi với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy

tố và xét xử” [29, tr 457],

Như trên đã phân tích, mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện

và xử lý kịp thời, nhanh chóng và họp pháp do vậy kể từ khi một hành viđược xác định là tội phạm xảy ra thì quyền công tố cũng phát sinh và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật (trừ các trường hợp khác mà có căn cứ do pháp luật quy định làm quyền công tố bị triệt tiêu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật như khi vụ án hình sự bị đình chỉ, có căn cứ để miễn trách nhiệmhình sự) Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào tội phạm xảy ra thì hành vi

11

Trang 19

phạm tội sẽ bị khởi tô bời rât nhiêu nguyên nhân, trong đó bao gôm cả việc cần có một quá trình đế xác định xem hành vi đó có chính xác là tội phạm hay không cũng như hành vi đó đã xảy ra tuy nhiên chưa bị phát hiện (trongtrường hợp này quyền công tố luôn trong trạng thái “treo” để xử lý đối với tất

cả những người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị phát hiện, khởi

tố, điều tra, truy tổ, xét xử)

Theo quan điểm của tác giả Vũ Đức Hạnh trong bài viết “Nguyên tẳc thực hành quyền công tổ và kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng

hình sự" thì xuất phát từ định nghĩa về thực hành quyền công tố là việc sửdụng các quyền năng pháp lý công khai để truy cứu trách nhiệm hình sự đốivới người phạm tội, tức là thời điểm để thực hành quyền công tố là sau khi tội phạm đã được phát hiện và có quyết định khởi tố vụ án hình sự và hoạt độngthực hành quyền công tố kết thúc khi vụ án hình sự bị đình chỉ hoặc khi cóbản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật và không bị khác nghị Quan điểmnày xác định thời điềm bắt đầu cùa việc thực hành quyền công tố khác vớithời điểm bắt đầu của quyền công tố và hai quá trình này kết thúc cùng nhau

Còn theo quan điểm của bản thân tác giả: Căn cứ vào các quy định pháp luật của Việt Nam từ năm 1960 đến nay thì Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố, việc này được khẳngđịnh cụ thể trong Hiển pháp năm 2013, quy định tại khoản 1 Điều 107: “Ciẹn

kiêm sát nhãn dân thực hành quyền công to, kiêm sát hoạt động tư pháp".

Đồng thời, chức năng thực hành quyền công tố của VKSND được địnhnghĩa tại tại khoán 1 Điều 3 Luật tổ chức VK.SND năm 2014 Theo đó, chứcnăng thực hành quyền công tố là một hoạt động cùa VKSND trong tố tụnghình sự để • thực• hiện• việc• buộc• tội• của nhà nước đối với người phạm± ' • tội, đượcthực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Chức

12

Trang 20

năng thực hành quyên công tô này được quy định cụ thê hơn, chi tiêt hơntrong BLTTHS năm 2015.

Căn cứ từ các quy định trên ta có thể hiểu, việc sử dụng các quyền nàngpháp lý công khai, cần thiết theo quy định pháp luật được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tức là thời điểmcủa việc thực hành quyền công tố từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra (trước giai đoạn khởi tố) chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi từ khi khởi tố

vụ án hình sự như trong quan điểm của tác giả Vũ Đức Hạnh Các quy định như hiện nay là phù họp hơn với khái niệm, phạm vi của quyền công tố đồngthời cũng tăng thêm các quyền năng pháp lý có thể sử dụng trong quá trìnhgiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Bằng những phân tích nêu trên, có thể rút ra khái niệm thực hành quyềncông tố như sau: Thực hành quyền công tổ là việc VKS sử dụng tông hợp các

quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra,

truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm truy cún trách nhiệm hình sự đổi với người

phạm tội ra trước Tòa án đê xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.

BLTTHS tuy không quy định thực hành quyền công tố của VK.SND gồm những giai đoạn nào, nhưng nhìn vào cách phân chia bố cục của Bộ luật,chúng ta có thể phân chia thực hành quyền công tố gồm có 06 giai đoạn, đó là: Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ ánhình sự; thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra; thực hành quyềncông tố trong giai đoạn truy tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Việc

13

Trang 21

phân định chính xác, mạch lạc các giai đoạn thực hành quyên công tô củaVKSND có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở phân định đầy đủ quyền năng và nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát, cũng như về trình tự, thủ tục, thời hạn nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu, yêu cầu của tố tụng hình sự [1, tr 36].

Trong các giai đoạn thực hành quyền công tố nêu trên thì thực hànhquyền công tố trong giai đoạn truy tố là một trong những giai đoạn vô cùng quan trọng Giai đoạn truy tố là giai đoạn đánh giá lại một cách toàn diện, khách quan các chứng cứ, những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự của các giai đoạn thực hành quyền công tố trước đó để VK.S quyếtđịnh có tiếp tục thực hành quyền công tố ở các giai đoạn tiếp theo hay không,

có đủ cơ sở đế Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không

Truy tố là giai đoạn tiếp sau giai đoạn điều tra, được bắt đầu khi VKS nhận hồ sơ vụ án kèm theo đề nghị truy tố của CQĐT hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong các quyết định: Truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng theo thủ tục thông thường hoặc bằng quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Để ra một trong các quyết định nêu trên trong thực tiễn công tác, việc nghiên cứu hồ

sơ vụ án kỹ càng giúp VKS nhận định, giải quyết được các vấn đề phức tạp trong thời hạn truy tố đảm bảo việc truy tố của VKS là đúng tội, đúng người,đúng pháp luật, không làm oan sai, bỏ lọt tội phạm VK.S chính là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng đặc trung này, đồng thời khẳng định truy tố thực sự

là giai đoạn độc lập của quá trình giải quyết vụ án hình sự

Không giống với giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử, VKS gần như

“một mình một sân ” khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và giai đoạn

14

Trang 22

xét xử được thực hiện cùng với hoạt động điêu tra của CQĐT và hoạt độngxét xử của Toà án Trong giai đoạn truy tố, các hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VK.S khi thực hành quyền công tố thể hiện quyền năng tố tụngđặc trưng nhất.

Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyềncông tố trong giai đoạn truy tố như sau:

Thực hành quyền công tổ trong giai đoạn truy tổ là việc VKS sử dụng các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tổ ở giai đoạn truy tố theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự đê quyết định truy tố người

phạm tội ra trước Tòa án để xét xử hoặc đưa ra các quyết định khác nhằm giải quyết vụ án.

Đối với các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hànhquyền công tố trong giai đoạn truy tố, được hiểu là các thao tác nghiệp vụ

cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân, thực hiện các chức năng cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, được quy đinh cu thể như sau:

Việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn do chủ thể là cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định Hoạt động này ảnh hưởng rất lớn đến quyền con người, quyền công dân nên đòi hởi các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải cân nhắc thật kỳ, ra quyết định một cách thận trọng Theo quy định của BLTTHS năm 2015, VKS có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố

Sau khi thụ lý • J hồ sơ vụ án,y Kiếm sát viên nhận được hồ sơ vụ án mìnhđược phân công giải quyết thì phải tiến hành kiểm tra các biện pháp ngăn

15

Trang 23

chặn, biện pháp cưỡng chế đang áp dụng Sau đó, Kiếm sát viên sẽ báo cáo,

đề xuất lãnh đạo đon vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật [31, tr 3]

Trong thời hạn truy tố, nếu xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên phải báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét áp dụng hoặc hủy bỏ biệnpháp cưỡng chế theo quy định tại các điều 126, 127, 128, 129 và 130 BLTTHS năm 2015 [21, tr 72]

- Yêu cầu CQĐT truy nã bị can

Trong giai đoạn truy tố nếu xác định có bị can bỏ trốn thì VKS đang thụ lý hồ sơ có văn bản yêu cầu CQĐT đã thụ lý vụ án ra quyết định truy

nã bị can

Nếu hết thời hạn quy định tại khoăn 1 Điều 240 BLTTHS năm 2015 mà việc truy nã đối với bị can chưa có kểt quả thì Cơ quan ra lệnh truy nã phải thông báo kết quả truy nã cho VKS đang thụ lý vụ án biết để có căn cứ giảiquyết theo thẩm quyền

- Yêu cầu cơ quan, tô chức, cá nhân cung cap tài liệu liên quan đen vụ

án trong trường họp cần thiết

KSV phân công giải quyết vụ án hình sự cần phải nghiên cúu hồ sơ vụ

án để xác định một cách kỳ càng các vấn đầu sau: kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng như các nguyên tắc tố tụng trong giai đoạn điều tra; quyết định việc áp dụng, thay đồi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; kiểm tra căn cứ để điều tra bổ sung, tạm đình chi, đình chỉ vụ án; kiểmtra việc nhập hoặc tách vụ án; xác định thấm quyền truy tố; xác định căn cứ

để quyết định truy tố bị can

Không phải vụ án nào cũng có tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ, nhanh chóng mà việc thu thập chúng trên thực tế không hề đơn giản, đặc biệt

16

Trang 24

là những tài liệu này do cơ quan, tô chức, cá nhân năm giữ riêng Khi đó, VKS sẽ sử dụng quyền mà BLTTHS đã trao cho đó là yêu cầu cơ quan, tổchức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án nhằm làm rõ căn cứ và đưa ra phương án giải quyết đúng đắn Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án là một trong những điểm mới tạicủa BLTTHS năm 2015 quy định tại Điều 236: trong trường hợp cần thiết,VKS có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quanđến vụ án Việc BLTTHS năm 2015 đã trao quyền này cho VKS là trao công

cụ để VKS thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyềncông tố trong giai đoạn truy tổ mà BLTTHS quy định

- Trực tiếp tiến hành một so hoạt động điều tra nhằm kiêm tra, bô sung tài liệu, chứng cứ đê quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra

bô sung mà xét thay không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra

Đe giải quyết được một vụ án hình sự, các hoạt động hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự; tiến hành đối chất; thực nghiệm điều tra và các hoạt động điều tra là rất cần thiết Vì vậy, BLTTHSnăm 2015 đã quy định rõ KSV có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt độngđiều tra nói trên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn của mình Trong giai đoạn truy tố, vấn đề quan trọng nhất là VKS ra quyết định truy tố chínhxác, được trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bỗ sung tài liệu, chúng cứ đế quyết định việc truy tố giúp cho VKS việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình khi thực hành quyền công tố được dễ dàng, đàm bảo được rằng khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung thì VKS khôngcần thiết phải trả hồ sơ cho CQĐT

- Quyết định khởi to, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định

khởi tổ vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra

Khi xác định có dấu hiệu của tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền

17

Trang 25

khởi tô trong phạm vi trách nhiệm của mình ra quyêt định khởi tô vụ án hình

sự về cơ bản, trên thực tế phần lớn các quyết định khởi tố vụ án hình sựđược ban hành bởi CQĐT tuy nhiên để tránh trường họp bỏ lọt tội phạm, BLTTHS năm 2015 còn quy định VKS cũng có thẩm quyền khởi tố vụ ánhình sự không chỉ ở giai đoạn điều tra (khi thấy quyết định không khởi tố vụ

án của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì VKS hủy bở quyết định không khởi tố đó và ra quyết định khởi tố vụ án) mà còn có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự khi thựchành quyền công tố ở giai đoạn truy tố trong trường hợp VKS trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm (Điều 153 BLTTHS năm 2015) [21, tr 79],

- Quyết định khởi to bị can; quyết định thay đôi, quyết định bô sung

quyết định khởi tố bị can.

Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra nếu VKS phát hiện có ngườikhác đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố thì VK.S ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung (khoản 4 Điều 179 BLTTHS năm 2015)

- Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra đê yêu cầu điều tra bô sung

Đe đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khônglàm oan người vô tội, không bở lọt tội phạm, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra do CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra chuyển đến, nếu thấy cần thiết phải điều tra bổ sung

để giải quyết đúng đắn vụ án, VKS phải quyết định trả hồ sơ vụ án đế yêu cầuCQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếnhành điều tra bổ sung Theo Điều 245 BLTTHS năm 2015 [21, tr 162], VKS

ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung khi thuộc mộttrong các trường hợp:

18

Trang 26

+ Thiêu chứng cứ đê chúng minh một trong những vân đê quy định tại Điêu

85 BLTTHS năm 2015 [21, tr 59] mà VKS không thể tụ' mình bổ sung được

Chứng cứ quan trọng là những chứng cứ có ý nghĩa trong việc xác địnhhành vi phạm tội của bị can một cách chính xác và đầy đủ Các trường hợpđược coi là thiếu chúng cứ quan trọng đối với vụ án đã được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch sổ 02/2017/TTLT-VKSNDTC-BCA- TANDTC ngày 22/12/2017 [30, tr 1] hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Gọi tắt là thông tư 02) bao gồm các loại chứng cứ:

+ Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác

+ Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ ánnhung chưa được khởi tố bị can

+ Có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng

-Quyết định tách, nhập vụ án; chuyên vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

- Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng

các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

Thời hạn quyết định việc truy tố là khoảng thời gian theo luật định màtrong khoảng thời gian đó VK.S có thấm quyền nghiên cún hồ sơ vụ án và ra một trong các quyết định tố tụng luật định: truy tố bị can trước Tòa án; trả hồ

sơ yêu cầu điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can Thời hạn quyết định việc truy tố tính từ khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra cho đến khi VKS ra một trong các quyết định nêu trên Tuy nhiên, nếu vụ án phức tạp, cần có thêm thời gian nghiên cứu, đánh giá chứng cứ hoặc báo cáo, thinh thị xin ý kiến mà chưa thể

đề xuất việc xữ lý vụ án trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 240 BLTTHS năm 2015 thì trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố quy định

19

Trang 27

tại khoản 1 Điêu 240 BLTTHS năm 2015, Viện trưởng Viện kiêm sát có thê gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đôi vớitội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệtnghiêm trọng.

Sau khi nghiên cứu hô sơ vụ án một cách khách quan, toàn diện và đây

đù, trên cơ sở kết luận điều tra đề nghị truy tố của CQĐT, thấy có đủ căn cứ

và cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì theo Điều 243 BLTTHSnăm 2015,VKS có quyền quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án bàng bản cáo trạng Trong trường hợp vụ án giải quyêt theo thủ tục rút gọn, VKS truy

tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố theo quy định tại Điều 461BLTTHS năm 2015 Bản cáo trạng là văn bản áp dụng pháp luật, trong đó VKS quyết định truy tố một (hoặc nhiều) bị can, về một (hoặc nhiều) hành

vi phạm tội mà có căn cứ cho răng bị can (hoặc các bị can) đó đã thực hiện

ra trước Tòa án để xét xử [28, tr 369] Bản cáo trạng thể hiện quan điểmtruy tố đối với bị can của VKS, là cơ sở để Tòa án đưa vụ án ra xét xử Bảncáo trạng còn là cơ sở pháp lý để bị can, người bào chữa thực hiện quyềnbào chữa, những người tham gia tố tụng khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Quyêt định đình chi, tạm đình chi vụ án; quyêt định đình chi, tạm đình

chỉ vụ án đổi với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án

đôi với bị can

- Thực hiện nhiệm vụ, quyên hạn khác đê quyêt định việc truy tô theo quy định của Bộ luật tô tụng hình sự

Trong giai đoạn truy tô, khi thực hành quyên công tô, VK.S còn thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác với các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân

20

Trang 28

tích ở trên đê quyêt định việc truy tô theo quy định của BLTTHS năm 2015, ví dụ: VKS cấp trên thông báo cho VKS cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án; VKS cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố (khoản 1 Điều 239 BLTTHS năm 2015) [21, tr 156].

Trong giai đoạn truy to, VKS thực hiện chức năng thực hành quyềncông tố nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can trướcTòa án là có căn cứ, đúng pháp luật Đe đảm bảo việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, BLTTHS và các văn bản pháp luật tố tụng hình sựquy định cụ thể những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS

1.1.2 Nhiệmvụ, • S 1 quyền hạn của Viện kiểmsát khi thực hiệnchức năng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố

Đối với hệ thống pháp luật của nước ta, các cơ quan tư pháp được xácđịnh bao gồm các cơ quan sau: Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án và Cơ quan thi hành án, trong quá trình thực hiện chức năng của mình, các cơ quan tư pháp

có trách nhiệm trong việc giải quyết các vụ án và các tranh chấp thông qua việc thực hiện các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, tiến hành khởi tố, truy tổ, xét xử và thi hành các quyết định của Tòa án trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, Tất cả các hoạt động này chỉ do cơ quan tư pháp tiến hành và được xác định là nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan tư pháp Trong đó, Viện kiểm sát với chức năng đượcHiến pháp quy định có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của các cơ quan

tư pháp như đã nêu trên

Kiếm sát hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của Viện kiểm sátnhân dân để kiểm sát tính họp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,

tố chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếpnhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt

21

Trang 29

quá trình giải quyêt vụ án hình sự; trong việc giải quyêt vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [19, tr 2],

Hoạt động tố tụng của cơ quan tố tụng được thực hiện qua hoạt động của người tiến hành tố tụng Bên cạnh đó, người tham gia và cá nhân, tổ chứckhác có liên quan đến việc giải quyết vụ án, vụ việc cũng là những chủ thể có

vị trí, vai trò tác động nhất định đến quá trình tố tụng Để đảm bảo các chủ thể tiến hành hay tham gia tố tụng đều thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật thì cầnphải có sự giám sát thường xuyên, kịp thời, kiến nghị khắc phục khi có viphạm xảy ra [12, tr 8]

Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khitiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố và trongsuốt quá trình giải quyết vụ án hình sự Viện kiểm sát kiềm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tổ giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, việc giải quyết vụ án hình sự được thực hiện đúng theo quy định pháp luật; bảo đảm mọi vi phạm pháp luật tronghoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh

Kiếm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố trong lĩnh vực tư pháp hình sự luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với nhau, nhiệm vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ củahoạt động kia và ngược lại, kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vữngchắc cho hoạt động kia Tính độc lập cùa hai chức năng này chỉ là tương đối, trong một số trường hợp khó có thể phân định cụ thế và rõ ràng giữa hai chức năng này Mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động thực hành quyền

22

Trang 30

công tô và kiêm sát hoạt động tư pháp chỉ song song tôn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự cho đến khi bàn án có hiệu lực phápluật, không bị kháng nghị.

Đối với nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân pháp luật trong giai đoạn truy tố được quy định tại Điều 237 [21, tr 155] Bộluật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, có thể nhìn thấy rõ, điều luật đã phân biệt cụ thể chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiềm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố Thể hiện rõ vai trò, chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân, ngoài thực hiện chức năng công tố nhàm truy cứu trách nhiệm hình sự còn thực hiện chức năngkiểm sát việc tuân theo pháp luật, thể hiện rõ quan điểm cùa Viện kiểm sát đốivới trách nhiệm cùa cá nhân, tố chức có liên quan trong quá trình giải quyết

vụ án Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể các nhiệm vụ, quyềnhạn cùa Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố như sau:

- Kiêm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tổ tụng; yêu

cầu, kiến nghị cơ quan, tố chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh

người tham gia tổ tụng vi phạm pháp luật

Giai đoạn truy tố là một trong những giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra đề nghị truy tố chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện chức năng của mình.Trong giai đoạn này, Viện kiếm sát nhân dân là cơ quan chủ đạo của quá trìnhgiải quyết, do vậy, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tố tụng hình sựcủa người tham gia tố tụng, kiểm sát xem các hành vi của những người thamgia tổ tụng có hợp pháp hay không, nếu các hành vi này không đúng, cơ quanđiều tra chưa tiến hành việc yêu cầu, kiến nghị hoặc lập hồ sơ xử lý vi phạm thì Viện kiểm sát nhân dân chủ động thực hiện việc yêu cầu kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố

23

Trang 31

tụng vi phạm pháp luật Quy định như vậy, nhăm bảo đảm, việc giải quyêt vụ

án không chỉ để giải quyết việc truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội mà còn để giải quyết các mối quan hệ khác phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, ví dụ như mối quan hệ về việc xử lý hành chính ngườiphạm tội của cơ quan hành chính đối với bị can, người liên quan; giữa các cơquan đảng với đảng viên vi phạm; Nhàm bảo đảm mọi cá nhân, tổ chức khitham gia vào tố tụng đều đặt trong sự kiểm tra, giám sát của pháp luật, thể hiện rõ chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân

-Kiến nghị cơ quan, tô chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Vụ án hình sự có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó không tránh khỏi các nguyên nhân từ việc điều tiết các mối quan hệ trong xã hội của các cơ quan, tổ chức hữu quan chưa thực sự hiệu quả Nhằm bảo đảm việc giám trừ các yếu tố tiêu cực là nguyên nhân dẫn đến tội phạm, trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kiến nghị cơ quan, tồ chức hữuquan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Mặc dù, việc kiến nghị phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật có thể diễn ra ở bất kì giai đoạn tố tụng hình sự nào, tuy nhiên việc quy định thực hiện quyềnkiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan ở một điều luật cụ thể và thể hiện đây

là nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nhằm nâng cao vai trò, vị thế của ngành Kiểm sát nhân dân đồng thời tránh trường hợp có quan điểm cho rằng vì không quy định nên đây không phải chức năng của ngành Kiểm sát nhân dân

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy

tẻ theo quy định của Bộ luật này

Trong giai đoạn truy tố, khi thực hành quyền công tố, VKS còn thực hiện

24

Trang 32

các nhiệm vụ, quyên hạn khác với các nhiệm vụ, quyên hạn đã được phân tích ở trên để kiểm sát trong giai đoạn truy tố theo quy định của BLTTHS năm 2015.

Những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tốrất quan trọng và là lần đầu tiên được quy định trong Bộ Luật TTHS và Luật

Tổ chức VKSND, tạo cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát tăng cường vai trò, tráchnhiệm, thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ trong tố tụng hình sự Với các quy định mới này, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hiện chứcnăng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát trong giai đoạn truy tốđược cụ thể hóa, quy định rõ ràng, minh bạch, bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách chủ động, đúng pháp luật, hiệu quả

1.2 Một sổ vấn đề chung về tội phạm ma túy và thực hiện chức năng của Viện kiếm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố trong các vụ án ma túy

1.2.1 Một số vấn đề chung về tội phạm về ma túy

Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc: Ma túy là “Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng họp, khi xâm nhập vào cơ thê sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng" [43, tr 1],

Cũng theo tổ chức y tế thế giới: Ma túy theo nghĩa rộng nhất là “ Mọi thực thê hoá học hoặc là những thực thê hỗn họp khác với tất cả những cải

được đòi hỏi, đê duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó

sẽ làm biến đôi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc cùa vật" [42, tr 1],

Cụ thể hơn, theo quan điểm của ủy ban kiểm soát ma túy quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNDCP) và theo từ điển bách khoa Công an nhân dân, thì chất ma túy được hiểu là: “ Các chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thê con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ỷ thức và trí tuệ làm con người bị lệ thuộc vào chủng và cuối cùng gây

nên những tôn thương cho từng cá nhân và cộng đồng" [43, tr 1],

25

Trang 33

Mặc dù, ma túy có tác hại như vậy tuy nhiên nêu sử dụng một cáchhọp lý và trong trường hợp cần thiết thì một số loại chất ma túy có tác dụng trong việc chữa bệnh hoặc sử dụng phục vụ cho quá trình nghiên cứu, do vậyviệc sừ dụng chất ma túy cần được quản lý và đặt dưới sự giám sát của Nhànước, không được phép tùy tiện sử dụng Việc sử dụng trái phép chất ma túy

là vi phạm pháp luật và một số hành vi liên quan đến ma túy được xác định

là tội phạm Các tội phạm về ma túy là các hành vi cố ý xâm phạm đến chế

độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước Đánh giá các tội phạm

ma túy là các tội phạm mang tính chất nguy hiếm ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống, phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, vì vậy Bộ luật hình sự năm

2015, sửa đổi bố sung năm 2017 quy định các tội phạm về ma túy tại chương

XX của Bộ luật

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra dựa trên các yếu tố cấu thành tội phạm của nhóm tội này đề xác minh làm rõ tính chất của sự việc từ đó khởi tố vụ án, tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật So với

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, Bộ luật hình sự năm

2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã làm rõ hơn các yếu tổ cấu thành tội phạm của các loại tội phạm về ma túy, phân biệt rõ các yếu tố cấu thành giữa các tội

để từ đó giúp các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng hơn trong quá trình địnhtội và khởi tố vụ án cũng như hoàn thiện các quy định về ma túy để thốngnhất nhận thức của những người áp dụng pháp luật Mặc dù vậy, trên thực tế, trong quá trình áp dụng pháp luật vẫn có sự không thống nhất về nhận thức giữa những người áp dụng pháp luật, đặc biệt giữa các cơ quan tiến hành tốtụng vẫn cần phải có các văn bản hướng dẫn của các cơ quan cấp trên dẫn tới

“sự lúng túng” trong quá trinh áp dụng pháp luật Hậu quả của việc khônghiếu rõ các quy định pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn dẫn đến nhiều vụ án oan, sai, bỏ lọt tội phạm trong đó có lỗi của Cơ quan tiến hành tố

26

Trang 34

tụng Do vậy, cân xác định rõ các dâu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm nói chung, cụ thể là nhóm tội phạm về ma túy nói riêng, trong đỏ cần xác định một số dấu hiệu pháp lý đặc trưng như sau:

- Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của các tội phạm về ma túy khác nhau về hình thứcthể hiện cụ thể, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhưng giốngnhau ở chỗ đều là những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về chế

độ quản lý độc quyền các chất ma túy, chất gây nghiện và tiền chất khác Đó

có thể là những hành vi thực hiện những điều mà Nhà nước cấm các tổ chức,

cá nhân thực hiện hoặc là những hoặc là những hành vi của những người có trách nhiệm được Nhà nước giao đã không thực hiện hoặc thực hiện khôngđầy đủ hay làm những việc ngoài phạm vi những quy định về quản lý, sửdụng chất ma túy, chất gây nghiện, tiền chất khác

Hầu hết tội phạm về ma túy đều được quy định là những tội có cấuthành hình thức Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm của những tội phạm này Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan của tội phạm

- Khách thê của tội phạm

Khách thế chung của các tội phạm về ma túy là chế độ quản lý các chất

ma túy, chất gây nghiện, chất hướng thần và một số loại tiền chất của Nhànước ở tất cả các khâu của quá trình quản lý Các tội này có đối tượng là các chất ma túy, chất hướng thần và các vật dụng phục vụ sản xuất và sử dụngchất ma túy

Ở nước ta việc xác định các chất ma túy, các chất hướng thần và các tiền chất ma túy và hướng thần được dựa trên cơ sở tham khảo các bảng quyđịnh về các chất ma túy và các chất hướng thần của các công ước của Liên Hiệp Quốc về kiểm soát ma túy (Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm

27

Trang 35

1961; Công ước vê các chât hướng thân năm 1971 và Công ước cùa Liên hợpquốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và các chất hướng thần năm 1988) cũng như từ thực tiễn về tình trạng sử dụng chất ma túy, chất hướng thần tại nước ta, từ đó Nhà nước ban hành kịp thời danh mục chất ma túy và tiền chất [2, tr 1],

- CAử thê của tội phạm về ma tủy

Chủ thể hầu hết các tội phạm về ma túy là chũ thể thường (là cá nhân)

có đủ năng lực và trách nhiệm hình sự, riêng quy định tại Điều 259 (Tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốchướng thần) đòi hởi chủ thể đặc biệt

Đối với quy định của tội này, hành vi khách quan của tội phạm đượcthế hiện qua các dạng hành vi như sau:

+ Hành vi vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

+ Vi phạm quy định về nghiên cứu, giám định, sản xuất, nhập khấu, bảo quản chất ma túy tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

+ Vi phạm quy định về giao nhận, vận chuyển chất ma túy tiền chất,thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

+ Vi phạm quy định về phân phối, mua bán, trao đổi chất ma túy tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

+ Vi phạm quy định về quăn lý, kiểm soát, lưu giữ chất chất ma túy tiềnchất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần tại khu vực cửa khẩu, khu vựcbiên giới, trên biển;

+ Vi phạm quy định về cấp phát, cho phép sữ dụng chất ma túy, tiềnchất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

+ Chủ thể của tội phạm là người có trách nhiệm trong việc sản xuất,

28

Trang 36

vận chuyên, bảo quản, mua bán, phân phôi, sử dụng, xử lý, trao đôi, xuât khẩu, nhập khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, kê đơn, bán thuốc, giám định,nghiên cứu chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần.

Có thể thấy, đối với tội phạm của Tội vi phạm quy định về quản lý chất

ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần yêu cầu các chủ thể vô cùng đặc biệt, chỉ có những người thay mặt Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý, phân phối độc quyền về ma túy mới có khả năng vi phạm tội này Nhóm chủ thể này khác biệt hoàn toàn với các chủ thể còn lại của các tội phạm về ma túy, và không phải chủ thể đặc biệt nào cũng có thể là chù thể của tội phạm này Ví dụ như trong trường hợp: người A là đồng chí công annhân dân trực thuộc Đội cảnh sát phòng chống ma túy huyện B, tỉnh c, sauquá trình đấu tranh triệt phá tội phạm về ma túy thu giữ tại đơn vị 01 túi nilon chứa 300 viên ma túy ngựa (hồng phiến), tuy nhiên do hám lợi, muốn thu được lợi nhuận bất chính, đồng chí A đã đối tang vật trên với một túi nilon khác chứa các loại thuốc tân dược có đặc điểm về hình dạng đặc trung giống

số ma túy thu giữ trên và đem số ma túy trên bán ra thị trường Trong trườnghợp này, mặc dù A là người có chức vụ quyền hạn, được phân công để quản

lý số ma túy (tang vật) trên nhưng hành vi của A là hành vi phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy chứ không phải là tội phạm được quy định tại Điều

259 (Tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần)

Mặt chủ quan của tội phạm về ma túy

Người thực hiện các hành vi phạm tội về ma túy đa số là lỗi cố ý trựctiếp, trừ các quy định tại Điều 256 (Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất

ma túy) và Điều 259 (Tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất,thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần) là lỗi cố ý gián tiếp

29

Trang 37

1.2.2 Đặc đỉênt của việc thực hiện chức năng của Viện kiêm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố trong các vụ án ma túy

Từ nhận thức chung về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tronggiai đoạn truy tố và đặc điểm pháp lý của tội phạm về ma túy, ta có thể rút ra đặc điểm của việc thực hiện chức năng của của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn truy tố trong các vụ án về ma túy như sau:

+ Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra kết thúc quá trìnhđiều tra vụ án đề nghị truy tố và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát để tiến hành truy tố Đen giai đoạn truy tố, tức là hồ sơ vụ án đã trải quahai giai đoạn đầu là xác minh tin báo và quá trình điều tra, là cơ sở đế thu thập các tài liệu, bằng chứng nhằm làm rõ nội dung của vụ án, nếu đủ cơ sở đế chứng minh hành vi phạm tội của bị can trong vụ án ma túy thì cơ quan điều tra thống nhất Viện kiểm sát kết thúc việc điều tra, đề nghị truy tố chuyển hồ

sơ vụ án sang Viện kiểm sát nhân dân để thực hành quyền truy tố Trong giai đoạn truy tố, VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự > đối với bị can trước Tòa án là có căn

cứ, đúng pháp luật

+ Chủ thế thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật các vụ án ma túy trong giai đoạn truy tố chỉ có thể là kiếm sát viên được phâncông kiểm sát vụ án cụ thể và Lãnh đạo Viện có thẩm quyền

+ Kết quả của hoạt động thực hiện Chức năng của VKS khi thực hànhquyền công tố trong giai đoạn truy tố các vụ án ma túy là cơ sở pháp lý đểlàm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt trình tự các giai đoạn tố tụng và các quan hệ tố tụng Quy định Chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố và có ý nghĩa trong việc ra các quyết định của VKS có căn cứ và đúng pháp luật, giúp cho việc truy tố đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn, qua đó đảm bảo việc điều

30

Trang 38

tra, truy tô, xét xử các vụ án ma túy công minh, khách quan, toàn diện; góp phần đảm bảo cho việc VKS kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn

bộ các hành vi tố tụng mà CQĐT có thẩm quyền đã áp dụng nhằm kịp thờisửa chữa, khắc phục hoặc đề nghị CQĐT sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong quá trình trên để loại trừ những hậu quả tiêu cực của các sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong hai giai đoạn tố tụng hình sự trước đó; hạn chế được những điểm chưa thống nhất về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án giữa CQĐT và VKS, giữa VKS và Tòa án; đảm bảo trong vụ án

ma túy không đế oan sai và bỏ lọt tội phạm góp phần cho Kiểm sát viên không bị động trước những tình huống phát sinh đặc biệt trong giai đoạn xét

xử của vu án

31

Trang 39

CHƯƠNG 2 THựC TIỄN THựC HIỆN CHỨC NÀNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT

TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TÓ vụ CÁC ÁN MA TÚY

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI

2.1 Các điêu kiện tự nhiên, kỉnh tê - xã hội của tỉnh Yên Bái và một số đặc điểm riêng về tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Yên Bái là một tỉnh miền núi có diện tích tự nhiên hơn 6.882,922km2, dân số khoảng 892.221 người, gồm 12 dân tộc anh em sinh sống Yên Bái Là cửa ngõ của miền Tây Bắc, đầu mối giao thông giữa các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc, từ biên giới Việt Trung (cửa khẩu Lào Cai) đến thủ đô Hà Nội Địabàn tỉnh Yên Bái nằm chạy dài hai bên bờ sông Hồng, có địa giới giáp các tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ và Sơn La (trong đó giáp Lào Cai là 252km, Sơn La là 205km) Vị trí địa lý như vậy rất thuận lợi cho các hoạt động tội phạm về ma tuý

Việc trồng và sử dụng thuốc phiện đã có từ lâu đời ở các vùng núi caotinh Yên Bái, nhiều nơi đã trở thành phong tục, tập quán, đặc biệt là đối vớiđồng bào các dân tộc như Mông, Thái ở hai huyện Mù Cang Chải và Trạm Tấu Thuốc phiện được dùng để đáp ứng một phần nhu cầu chừa bệnh vàdùng trong những ngày lễ hội, đình đám, ma chay, cưới xin, một phần để tạo thêm nguồn thu nhập Như vậy, việc sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển thuốc phiện và các sàn phẩm thuốc phiện trên địa bàn tỉnh có một quá trình hình thành và phát triển từ xa xưa

Tĩnh Yên Bái có tốc độ phát triển kinh tế khá thấp, cũng như lượng dân

cư không đông đúc nên hàng năm có số lượng vụ án tương đối thấp, tuy nhiên

do đặc điểm giáp ranh với các tỉnh vùng cao khác có địa bàn giáp ranh với các quốc gia khác kết hợp với việc diện tích rộng nhưng dân cư thưa thớt việc

32

Trang 40

quản lý tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn gặp nhiêu khó khăn Đa sô các vụán xét xử tại tỉnh Yên Bái là án trật• • • tự trị án bao gồm các vụ án về matúy, cố ý gây thương tích, giết người, Cùng với các địa bàn như thành phố

Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lai Châu, Nghệ An, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái được xác định là địa bàn trọng điểm về ma túy của toàn quốc Tệ nạn ma tuý trong

đó có tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng thể hiện tính phức tạp, đa dạnghơn và xu hướng phát triển mạnh ở các thành phố, thị xã, trung tâm côngnghiệp, khu du lịch

Xét về mật độ dân cư, Yên Bái có mật độ dân cư thưa thớt, sống xen kẽ với nhau thường tập trung ở các địa bàn thành phố, trong đó chủ yếu là người dân tộc Kinh chiếm đa số (43%) trong đó dân số trong đột tuổi lao động vào khoảng 57% Sự gia tăng dân số, đặc biệt số lượng người Kinh chủ yếu là do phần lớn dân cư tử các tỉnh vùng đồng bằng chuyển lên vùng cao để phát triểnkinh tế, làm tăng cường nội lực kinh tể của tỉnh tuy nhiên cũng đồng thời tácđộng xấu đến trật tự trị an, văn hóa xã hội, một phần ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân và cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm, tệ nạn cờ bạc, nghiện hút,

Trong những năm qua, tỉnh Yên Bái tuy là địa phương kinh tế phát triển thấp tuy nhiên qua hằng năm vẫn đạt những chỉ tiêu cơ bản về tãng trưởng cơ cấu kinh tế, đặc biệt sau khi hoàn thiện tuyển đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai dẫn đến nhiều hệ lụy kéo theo Việc này dẫn đến một bộ phận người dân giàu lên đột xuất do bán đất nông nghiệp, do được bồi thường từ các dự án phát triển kinh tế, dẫn đến tư tưởng ăn chơi, hưởng lạc và kéo theo là các tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, Nen kinh tế đang phát triển kéo theo việc du nhập luồng văn hóa mới trong khi trình độ dân trí mặt bằng chung cònthấp, đa phần là người dân tộc dẫn đến các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng

33

Ngày đăng: 18/10/2022, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
35. Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Yên Bái (2019), Báo cảo tông kêt công năm năm 2019, Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cảo tông kêt côngnăm năm 2019
Tác giả: Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Yên Bái
Năm: 2019
36. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái (2020), Báo cảo tổng kết công năm năm 2020, Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cảo tổng kết côngnăm năm 2020
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái
Năm: 2020
38. Viện ngôn ngữ học (1994), Từ điên Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điên Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
39. Viện ngôn ngừ học (1999), £&gt;ạz' từ điên Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ điên Tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngừ học
Nhà XB: Nxb Văn hóa -Thông tin - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
Năm: 1999
40. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điên Việt học, Nxb Bách khoa Hà Nội.Tài liệu Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điên Việt học," Nxb Bách khoa Hà Nội."Tài" liệu
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Bách khoa Hà Nội."Tài" liệu" Website
Năm: 2006
41. Chỉ thị về tăng cường trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, https://kiemsatcaobang.vn/?language=vi&amp;nv=news&amp;op=THONG-BAO- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
42. Định nghĩa của WHO về ma tủy, https://www.who.int/health- topics/drugs-psychoactive#tab=tab_1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định nghĩa của WHO về ma tủy
43. Liên Họp Quốc (2016), Vãn kiện về danh từ học và thông tin về ma tủy được công bổ ngày 16/03/2016,https://www.unodc.org/unodc/en/illicit-drugs/definitions/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vãn kiện về danh từ học và thông tin về ma tủyđược công bổ ngày 16/03/2016
Tác giả: Liên Họp Quốc
Năm: 2016
44. Một số vướng mắc trong việc tách vụ án trong giai đoạn truy tố, https://www.vksndcc2.gov.vn/index.php?act=news&amp;view=1720 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc trong việc tách vụ án trong giai đoạn truy tố

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1 Số  liệu thụ  lý  kiểm sát  truy tố  VKSND  hai  cấp  tỉnh - Thực hiện chức năng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh yên bái) (luận văn thạc sỹ luật)
ng 2.1 Số liệu thụ lý kiểm sát truy tố VKSND hai cấp tỉnh (Trang 7)
Bảng 2.1. Sổ liệu thụ lý kiểm sát truy tố VKSND hai cấp tỉnh Yên Bải  giai đoạn 2016 - 2020 - Thực hiện chức năng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh yên bái) (luận văn thạc sỹ luật)
Bảng 2.1. Sổ liệu thụ lý kiểm sát truy tố VKSND hai cấp tỉnh Yên Bải giai đoạn 2016 - 2020 (Trang 46)
Bảng  2.2. Bảng  phân  tích sô liệu  giải  quyêt án ma  tủy truy  tô VKSND  hai cấp  tinh  Yên Bải  giai đoạn 2016  - 2020 - Thực hiện chức năng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố vụ án ma túy (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh yên bái) (luận văn thạc sỹ luật)
ng 2.2. Bảng phân tích sô liệu giải quyêt án ma tủy truy tô VKSND hai cấp tinh Yên Bải giai đoạn 2016 - 2020 (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w