1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật hình sự việt nam và so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới (luận văn thạc sỹ luật)

114 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phòng Vệ Chính Đáng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Và So Sánh Với Pháp Luật Của Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới
Tác giả Nguyễn Minh Thắng
Người hướng dẫn PGS.TS Trịnh Quốc Toàn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 29,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đen năm 1999, khi luật hình sự Việt Nam tiếp tục pháp điển hoá lần thứ 2, chế định phòng vệ chính đáng đã được quy định tại Điều 15 như sau: Phòng vệ chính đáng là hành vi cùa người vì b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NỌI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xỉn cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận vãn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các sổ liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong Luận vãn đảm bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thế bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Minh Thắng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỤ VIỆT NAM VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 6

1.1 Khái niệm, đặc điếm và ý nghĩa của phòng vệ chính đáng 6

1.1.1 Khái niệm phòng vệ chính đáng 6

1.1.2 Đặc điểm của phòng vệ chính đáng 10

1.1.3 Ý nghĩa của phòng vệ chính đáng 12

1.2 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng từ năm 1945 đến trước năm 2015 13

1.2.1 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước lần pháp điển hoá luật hình sự lần thứ nhất năm 1985 13

1.2.2 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng từ năm 1985 đến năm 1999 17

1.2.3 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng từ Từ năm 1999 đến trước năm 2015 19

1.3 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng theo BLHS 2015 23

TIẾU KẾT CHƯƠNG 1 36

Chưong 2: QUY ĐỊNH VÈ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG PHÁP LUẬT HÌNH Sự CỦA CANADA VÀ CỘNG HOÃ NHÂN DÂN TRUNG HO A 37

2.1 Quy định về phòng vệ chính đáng trong Pháp luật hình sự Canada 37

Trang 4

2.1.1 Phòng vệ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác

(defence of self and others) 392.1.2 Phòng vệ để bảo vệ tài sản (defence of property) 542.1.3 Giúp đỡ người thi hành công vụ (assisting those in authority) 62

2.2 Quy định về phòng vệ chính đáng trong Pháp luật hình sự của

Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 65

2.2.1 Chế định phòng vệ chính đáng theo pháp luật hình sự Cộng hoà nhân

dân Trung Hoa 652.2.2 Các trường hợp đặc biệt trong phòng vệ chính đáng theo pháp luật hình

sự của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 74TIẾU KẾT CHƯƠNG 2 80

Chương 3: PHÂN TÍCH, so SÁNH VÀ ĐÈ XUẤT CÁC QUY ĐỊNH VÈ

PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM 81

3.1 Phân tích, so sánh các quy định về phòng vệ chính đáng giữa pháp

luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Canada 81

3.1.1 Một số điểm tương đồng giữa các quy định về phòng vệ chính đáng của

pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Canada 813.1.2 Một số điểm khác biệt giữa các quy định về phòng vệ chính đáng của

pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Canada 83

3.2 Phân tích, so sánh các quy định về phòng vệ chính đáng giữa pháp

luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Trung Quốc 86

3.2.1 Một số điểm tương đồng giữa các quy định về phòng vệ chính đáng của

pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Trung Quốc 873.2.2 Một số điểm khác biệt giữa các quy định về phòng vệ chính đáng của

pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Trung Quốc 88

3.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ

chính đáng 90

3.3.1 Nhận xét các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính

đáng 90

Trang 5

3.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính

đáng 94

TIỄU KÉT CHƯƠNG 3 100

KÉT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: BÔ luât hình sư• • •

LHS: Luât hình sư• •

TNHS: Trách nhiêm hình sư• •

Trang 7

MỞ ĐÀU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cường chế hình sự khác do luật hình sự quy định Khi nào thì người ta phải chịu trách nhiệm hình sự? BLHS 2015 có quy định tại khoản 1 điều 2 như sau: “C7zz

người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [47] Mặc dù BLHS 2015 có quy kết trách nhiệm hình sự cho cả pháp nhân, nhưng trong bài luận văn này về chủ đề phòng vệ chính đáng, chúng ta chi nhắc đến trách nhiệm hình sự cho cá nhân, bởi không có phòng vệ chính đáng của pháp nhân Như vậy, một người chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm một tội đã được BLHS quy định Tuy nhiên, không phải tất cả những trường hợp người có hành vi quy định trong BLHS đều phải chịu trách nhiệm hình sự, bởi có một số trường hợp, những hành vi đó chứa đựng một số yếu tố làm loại trừ tính chất nguy hiểm của hành vi, hoặc không đủ điều kiện để truy cứu Một số trường họp đó là người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi không có năng lực chủ thể hình sự, hành vi được thực hiện là phòng vệ chính đáng, tỉnh thế cấp thiết hay sự kiện bất ngờ

Chế định phòng vệ chính đáng là một trong nhừng chế định được quy định từ lâu và thực tiễn áp dụng đạt được những kết quả nhất định Phòng vệ chính đáng đà được quy định trước khi có BLHS năm 1983 thông qua chỉ thị số 07 ngày 22/12/1983 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ

Nhận thấy tầm quan trọng của chế định này, nhà làm luật đã luôn duy trỉ việc quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Phòng vệ chính đáng là

1

Trang 8

quyên con người, quyên được tự bảo vệ cho mình, bảo vệ cho người khác và bảo vệ lợi ích chung của xã hội Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng vệ chính đáng còn nhiều thiếu sót, hạn chế nhất định, đặc biệt là những trường hợp cơ quan thực hiện quyền tư pháp áp dụng không chính xác các quy định về phòng vệ chính đáng trên thực tế Những hạn chế này chủ yếu do pháp luật hình sự quy định chưa hoàn thiện và do trình độ chuyên môn của người có thẩm quyền Do đó, việc tiếp thu kinh nghiệm của nước ngoài, trong đó có luật hình sự Trung Quốc và Canada về phòng vệ chính đáng là rất cần thiết.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Mặc dù chế định phòng vệ chính đáng chỉ là một chế định nhỏ trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, nhưng nó đóng một vai trò rất quan trọng Do

đó, ngày càng có nhiều sự chú ý, tìm hiếu về chế định này, cả trong và ngoài nước Tính đến nay, đã có nhiều tấc giả, nhà nghiên cứu cho ra đời nhừng bài viết, công trình nghiên cứu nổi bật, có đóng góp to lớn cho lĩnh vực tư pháp trong nước Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Trịnh Tiến Việt (2019), Trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình

sự, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội;

- Nguyễn Văn Hải (2017), Một sổ vấn đề lý luận và thực tiễn về phòng vệ chính đủng trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội;

- Nguyễn Sơn (2014), Phòng vệ chính đáng và các tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chinh đáng trong luật hĩnh sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật

học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Phạm Văn Beo, Chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Canada;

- Hoàng Văn Hùng (1999), Những quy định về phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết trong BLHS Nhật Bản và Trung Quốc, Tạp chí Luật học số 01/1999,

tr43-45

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên tạp chí chuyên ngành, sách, báo đề cập đến lĩnh vực phòng vệ chính đáng Nhìn chung,

2

Trang 9

các công trình nghiên cứu trước đây, ở các mức độ khác nhau đã ít nhiêu đê cập đên những vấn đề của đề tài luận văn; các kết quả nghiên cứu đó sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị trong việc nghiên cứu và thực hiện nội dung đề tài.

Tuy nhiên, hiện nay, việc đúc kết từ pháp luật nước ngoài đế rút ra những điểm phù hợp có thề áp dụng cải thiện pháp luật Việt Nam về chế định phòng vệ chính đáng chưa có nhiều nghiên cứu Do đó, kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển những kết quả nghiên cứu trên, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu một cách có

hệ thống vấn đề so sánh và đưa ra các phương án cải cách chế định phòng vệ chính đáng trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam

3 Mục đích của luận văn

3.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và các quốc gia Canada và Trung Quốc về phòng vệ chính đáng Qua những nghiên cứu này, tác giả đưa ra những giải pháp hoàn thiện các quy định cùa pháp luật Việt Nam về phòng

vệ chính đáng

3.2 Mục tiêu cụ thể♦ •

- Nghiên cún làm rõ chế định phòng vệ chính đáng trong BLHS nàm 2015, rút

ra được khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, điều kiện áp dụng của chế đinh

- Đưa ra các trường hợp được coi là phòng vệ chính đáng và các trường hợp được coi là vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Canada và Trung Quốc

- Nghiên cứu, phân tích và rút ra các điểm chung và điểm đặc thù của luật hình sự Việt Nam, Canada và Trung Quốc về phòng vệ chính đáng

- Nhận xét những hạn chế, thiếu sót trong quy định cùa pháp luật Việt Nam

về phòng vệ chính đáng

- Đưa ra những nguyên nhân của hạn chế thiếu sót đó

- Kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Viêt Nam về phòng vệ chính đáng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

3

Trang 10

Đê tài nghiên cứu những đôi tượng cụ thê là những quy định của pháp luật Việt Nam, Canada và Trung Quốc về Phòng vệ chính đáng.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở phạm vi pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự của Trung Quốc, Canada Đề tài nghiên cứu những quy định pháp luật của các quốc gia này từ thời điểm xuất hiện pháp luật hình sự, sự thay đổi qua từng thời kỳ và pháp luật đang áp dụng hiện nay cũng như hiệu quả của nó trong việc đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tội phạm

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cún cùa luận văn 5.7 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Các quan điểm mang tính lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên sự kết hợp của những phương pháp chủ yếu như: phương pháp phân tích luật học, phương pháp phân tích - so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp trích dẫn, phương pháp hệ thống

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1, Ỷ nghĩa lý luận

về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm bố sung và hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý về chế định phòng vệ chính đáng, qua đó đảm bảo quyền con người được tự vệ trước hành vi trái pháp luật

6.2, Ỷ nghĩa thực tiễn

về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cửu của luận vàn có thể được sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu, tham khảo cho cán bộ xây dựng pháp luật, cán bộ nghiên cứu, cán bộ thực tiễn cùa các cơ quan thực hiện quyền tư pháp là Tòa án, cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp là Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra; có thể khai thác, sử dụng trong việc lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng

4

Trang 11

cán bộ và tô chức thực hiện nhiệm vụ đê nâng cao chât lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự nói chung và quy định về phòng vệ chính đáng nói riêng.

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

đề tài gồm 3 chương như sau:

Chương r Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng

Chương 2\ Quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự của Canada và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Chương 3: Phân tích, so sánh và đề xuất các quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Việt Nam

5

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH sự• • • • •

Nhiều nhà nghiên cứu khoa học có các khái niệm và cách hiểu khác nhau về phòng vệ chính đáng cũng như những điều kiện phòng vệ chính đáng

GS TSKH Lê Văn Cảm đã đưa ra kết luận như sau:

Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phòng vệ để gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc của những người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà nước, nếu hành vi chống trả tương xứng với hành vi xâm hại [7, tr 546].PGS TS Trịnh Tiến Việt định nghĩa phòng vệ chính đáng như sau:

Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cùa cơ quan, tổ chức, của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên, được

6

Trang 13

coi là trường hợp không phải tội phạm và người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự [64, tr 255].

PGS TS Trịnh Tiến Việt đưa ra các các điều kiện của phòng vệ chính đáng:

a) Có hành vi trái pháp luật đang xâm hại đến các lợi ích họp pháp - cơ

sở để phát sinh quyền phòng vệ chính đáng

b) Hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp phải đang diễn ra, đang hiện hữu và có thật, chứ không phải do suy đoán tưởng tượng

c) Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người đang

có hành vi tấn công - nơi phát sinh nguồn nguy hiểm để bảo vệ các lợi ích hợp pháp

d) Hành vi phòng vệ được coi là chính đáng, khi đó hành vi chống trả là cần thiết [64, tr 261-265]

Phòng vệ chính đáng xét về mặt hình thức đã có đủ các dấu hiệu của tội phạm nhưng không được coi là tội phạm Thiệt hại xuất phát từ hành vi phòng vệ chính đáng phù hợp với yêu cầu chung của xã hội Phòng vệ chính đáng không phải tội phạm mà là hành vi tự vệ trước hành vi trái pháp luật của người khác, nhằm mục đích ngăn ngừa, chống lại, hạn chế hậu quả nguy hiềm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật đó gây ra Do đó, hành vi phòng vệ chính đáng mặc dù về mặt hình thức có vẻ mang tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng thực tế tính nguy hiểm đó đã bị loại trù’ và hành vi ấy hoàn toàn phù hợp với xã hội, đồng thời thế hiện rõ ý thức trách nhiệm của công dân góp phần vào việc bảo vệ và củng cố trật tự xã hội

Phòng vệ chính đáng là quyền của mỗi cá nhân nhưng không phải là nghĩa

vụ pháp lí [24, tr 47] Họ có thể không sử dụng quyền đó vì những lý do khác nhau nhưng về mặt đạo đức, đòi hỏi một người phải có những trách nhiệm riêng đối với những lợi ích chung trong xã hội, qua đó chống lại những hành vi vi phạm Trong mỗi một cá nhân luôn mang thêm trách nhiệm đối với cộng đồng, với những người xung quanh, đây là sợi dây liên kết giữa những cá nhân trong xã hội, do đó việc họ

sử dụng quyền phòng vệ chính đáng khi thấy lợi ích hợp pháp của người khác bị xâm phạm luôn luôn được tuyên dương, ủng hộ Đối với những người có chức vụ,

7

Trang 14

có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của Nhà nước hoặc của nhân thân thì đây trờ thành • • • • ụnghĩa vụ pháp lí.

Lịch sử lập pháp cho thấy chế định phòng vệ chính đáng đã được đề cập đến

từ rất sớm, trước cả khi ban hành BLHS đầu tiên năm 1985 Đe đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo nhu cầu về an ninh trật tụ* lúc bấy giờ, Nhà nước

đã ban hành nhiều luật, văn bản, sắc luật như: Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 đảm bảo quyền tụ’ do thân thế và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín cùa nhân dân; Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970 của TANDTC; Chỉ thị số 07/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ, Sau đó, trong lần pháp điển hoá đầu tiên của BLHS nàm 1985, phòng vệ chính đáng được đưa vào BLHS tại Điều 13 như sau: "Phòng vệ chỉnh đáng là hành

vi vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thế, bảo vệ lợi ích chỉnh đáng của mình, của người khác mà chổng trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đảng không phải là tội phạmTrải qua 4 lần

sửa đổi bổ sung (28/12/1987, 12/8/1991, 22/12/1992 và 10/5/1997), chế định phòng

vệ chính đáng không bị điều chỉnh Như vậy, quy định tại Điều 13 BLHS năm 1985

đã được thực hiện suốt thời gian có hiệu lực của BLHS này Đen năm 1999, khi luật hình sự Việt Nam tiếp tục pháp điển hoá lần thứ 2, chế định phòng vệ chính đáng đã được quy định tại Điều 15 như sau:

Phòng vệ chính đáng là hành vi cùa người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

Nội dung cơ bản cùa chế định vẫn tương tự như được quy định tại BLHS năm 1985, tuy nhiên đã có những thay đổi nhằm đến bản chất và ý nghĩa của chế định này (nội dung sẽ được đề cập trong phần sau của luận văn) Đen lần pháp điển hóa thứ 3 của luật hình sự Việt Nam năm 2015, tuy có vấn đề và phải sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhưng chế định về phòng vệ chính đáng vẫn được đảm bảo tại Điều

8

Trang 15

22 BLHS: “Phòng vệ chỉnh đảng là hành vi của người vì báo vệ quyên hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tô chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang cỏ hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

Nhà nước và xã hội ủng hộ, khuyến khích cá nhân thực hiện quyền phòng vệ chính đáng để đảm bảo quyền và lợi ích bản thân và của xã hội, nhưng không có nghĩa bở mặc cho các cá nhân tự xử lý lẫn nhau, bởi chỉ có Nhà nước mới có quyền

xử lý những người vi phạm pháp luật Do đó, phòng vệ chính đáng cũng có những giới hạn, nếu không có giới hạn, con người có thể lợi dụng chế định này để thực hiện một hành vi phạm tội mà không phải chịu trách nhiệm hình sự Giới hạn này luôn được đặt ra trong các điều luật của BLHS Việt Nam các thời kỳ, nếu trong BLHS năm 1985 và các bản sửa đổi, bố sung, giới hạn của phòng vệ chính đáng là những chống trả “tươngxứng” với những hành vi vi phạm pháp luật thì tới BLHS năm 1999

và BLHS 2015, giói hạn của phòng vệ chính đáng đã đổi thành những chống trả “cổ7

thiết ”, Chỉ có thể coi một hành vi là phòng vệ chính đáng khi nó có thể thoả mãn các điều kiện thể hiện sự phòng vệ là “chính đáng” phù hợp với lợi ích của xã hội

Hiện nay, cơ bản trong khoa học hình sự các quốc gia trên thế giới, trong đó

có Việt Nam đều thống nhất nội hàm khái niệm của phòng vệ chính đáng Tuy nhiên, hai loại chống trả “tương xứng” hay “cần thiết” đối với phòng vệ chính đáng còn đang được tranh cãi Cá nhân người viết đánh giá, hành vi phòng vệ chính đáng cần phải đáp ứng cả hai yêu cầu là hành vi chống trả “tương xứng” và “cần thiết” Tuy nhiên, cần xác định rõ hành vi chống trả “tương xứng” không phải tương đương một cách máy móc như sau:

Người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp gi, thì người phòng vệ cũng phải sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp tương tự, hoặc có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người

có hành vi xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại mà người xâm hại gây ra hoặc đe doạ gây ra [31]

Cần hiếu những hành vi chống trả “tương xứng” là những hành vi chống lại

9

Trang 16

hành vi vi phạm pháp luật có phạm vi tương tự như phạm vi của hành vi vi phạm pháp luật Tuỳ thuộc vào tính nghiêm trọng, tính nguy hiểm và tính có thể gây nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật mà người chống trả phải sử dụng những biện pháp chống trả có mức độ nguy hiểm tương đương Không thể có phòng vệ chính đáng khi chống lại một hành vi gây nguy hiểm ít cho xã hội bằng một hành vi gây nguy hiểm nhiều hoặc rất nhiều cho xã hội [57].

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm phòng vệ chính đáng như sau:

Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân hoặc của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà nước, xã hội, tô chức mà chống trả lại một cách hợp lỵ người đang có, đe doạ ngay lập tức sẽ có hoặc có căn

cứ chắc chắn sẽ có hành vi xâm hại những lọi ích trên, người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng được loại trừ trách nhiệm hình sự.

1.1.2 Đặc điểm của phòng vệ chính đáng Thứ nhất, cơ sở để có hành vi phòng vệ chính đáng là hành vi xâm hại (hành

vi cơ sở) các khách thể được pháp luật hình sự được bảo vệ, là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội Hành vi nguy hiểm cho xã hội đó phải đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích (đã nêu) cần bảo vệ Hành vi cơ sở có thể là hành vi xâm phạm tới các khách thể pháp luật hình sự bảo vệ, nhưng cũng có thể là những hành vi xâm phạm tới các khách thể mà các ngành luật khác bảo vệ Trong một số trường hợp, hành vi cơ sở có thể xảy ra trên thực tế, nhưng cũng có thể không xảy ra mà chỉ là

“lầm tưởng” cùa người phòng vệ Nhưng hành vi cơ sở đó vẫn có thể được chấp nhận nếu trong trường hợp đó, đa số người có nhận thức bình thường đều bị lầm tưởng như vậy

Thứ hai, phòng vệ chính đáng phải là hành vi cần thiết, không chỉ nhằm mục đích tự vệ, loại bỏ hành vi xâm hại hoặc sự đe dọa của hành vi xâm hại mà còn có• • < • • • • • • mục đích bảo vệ các lợi ích chung của xã hội Đặc điểm này của phòng vệ chính đáng được sử dụng đế xác định một hành vi có phải hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay không, không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây

ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhở hơn thiệt hại do người xâm hại đe

10

Trang 17

doạ gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

Để xem xét hành vi phòng vệ của một người có cần thiết hay không, có vượt quá giới hạn cho phép hay không thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm phạm lợi ích và hành vi phòng vệ đó như khách thế bị xâm hại; mức độ thiệt hại xảy ra hoặc có thể xảy ra nếu không sử dụng hành vi phòng vệ; mức độ thiệt hại của hành vi phòng vệ gây ra nhằm ngăn chặn hành vi gây thiệt hại đến lợi ích chính đáng cần được bảo vệ; phương tiện, vũ khí, phương pháp mà hai bên đã sử dụng trong tình huống; cường độ tấn công của người xâm hại lợi ích

và người phòng vệ; nhân thân của hai bên, hoàn cảnh, điều kiện và nơi xảy ra sự việc

Sau khi xem xét hết đầy đủ và khách quan các yếu tố này trên hoàn cảnh thực tế xảy ra sự việc mới có thể kết luận được sự cần thiết của việc đưa ra quyết• • • • • • • JL Jđịnh sử dụng hành vi bạo lực chổng trả lại sự xâm hại lợi ích của bên phòng vệ là cần thiết hay không, có vượt quá giới hạn hay không

Sự cần thiết trong hành vi phòng vệ khác với sự tương xứng về hành vi, không có nghĩa là ngang bằng Trong nhiều trường hợp hành vi phòng vệ không tương xứng với hành vi xâm phạm nhưng vẫn được coi là phòng vệ chính đáng Cần thiết ở đây phải được hiểu theo nghĩa là cần phải chống trả, không thể không chống trả trước hành vi xâm hại lợi ích của xã hội Khi đã xác định là hành vi chống trả cần thiết thì thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm dù có lớn hơn thiệt hại mà người có hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng

Thứ ba, hành vi phòng vệ chính đáng có mức độ phù hợp với hành vi xâm hại tức là không có sự chênh lệch quá đáng, quá mức giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiềm của hành vi đang xâm hại Như đã trình bày, mặc dù hành vi phòng vệ không nhất thiết phải cân bằng một cách dập khuôn, máy móc với hành vi xâm phạm, nhưng hành vi phòng vệ, trong một phạm vi mức độ, không được có sự quyết liệt hoặc gây ra một hậu quả quá lớn so với hành vi xâm phạm Trong một tình huống diễn ra nhanh, khẩn cấp như phòng vệ chính đáng, người phòng vệ cần binh tĩnh và đưa ra những quyết định ngăn chặn chứ không phải

11

Trang 18

những quyêt định tân công.

Thứ tư, phòng vệ chính đáng là quyền của con người, họ không có nghĩa vụ phải chống trả, có chăng nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ đạo đức Việc chống trả hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên và xã hội Bất cứ con người nào đều có quyền được sống và đảm bảo về sức khoe, do đó, việc chống trả lại một hành vi xâm phạm một cách cần thiết cũng tự trở thành một quyền con người Bởi vì chỉ là quyền mà không phải nghĩa vụ, do đó khi người khác bị tấn công, chúng ta có thể lựa chọn chống trả đế bảo vệ họ hoặc bỏ đi, pháp luật không bắt buộc chúng ta phải bảo vệ người khác, thậm chí bảo vệ bản thân mình

Thứ năm, người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng là thực hiện một hành

vi có ích cho xã hội, vì lợi ích của xã hội, trong đó có lợi ích cùa mình nên phải gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng cho người đang có hành vi tấn công xâm hại các lợi ích hợp pháp, do đó, hành vi của họ không bị coi là tội phạm và người thực hiện nó không phải chịu TNHS - được loại trừ TNHS

1.1.3 Ỷ nghĩa của phòng vệ chính đáng

Trên cơ sở khái niệm phòng vệ chính đáng đã nêu, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử, có thể rút ra ý nghĩa của chế định này như sau:

- Quy định phòng vệ chính đáng đã khuyến khích mọi công dân đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến lợi ích cùa cá nhân, tập thể và của Nhà nước, và góp phần phòng chống tội phạm một cách có hiệu quả

- Quy định phòng vệ chính đáng giúp xử lý người có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác, qua đó trừng trị nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật, phòng vệ chính đáng là một điều kiện loại trừ tính nguy hiểm cho

xã hội và tính trái pháp luật cùa hành vi khi có đầy đủ các dấu hiệu mà pháp luật quy định, đồng thời góp phần bảo đảm công lý, công bằng trong xã hội

- Quy định về phòng vệ chính đáng góp phần thực hiện tốt chính sách hình

sự của Nhà nước và nguyên tắc xử lý về hình sự và trách nhiệm của công dân Đặc biệt, nó còn góp phần xác định rõ ranh giới giữa hành vi phạm tội với hành vi không phải là tội phạm, giữa trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự với trường

12

Trang 19

hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự, qua đó phát huy tính tích cực và chủ động của người dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trước yêu cầu mới của đất nước [50, tr 151.

1.2 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng tù’ năm 1945 đến trước năm 2015

1.2.1 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước lần pháp điến hoá luật hình

sự lần thứ nhất năm 1985

Quyền phòng vệ chính đáng đã có từ khi con người có pháp luật, bởi đây là một quyền con người được tự bảo vệ bản thân Sau khi giành chiến thắng ờ Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được khai sinh ngày 02/09/1945, đưa đất nước ta bước vào một thời kỳ lịch sử mới Tuy nhiên, vì tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia non trẻ như vậy vô cùng phức tạp, nạn đói triền miên, thù trong giặc ngoài, đất nước bị chia cắt khiến cho công tác ban hành pháp luật không thể thực hiện Mặc dù vậy, đến ngày 09/11/1946, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, mở

ra thời kỳ lập hiến, lập pháp cho đất nước Trong đó chưa ghi nhận các quy định về phòng vệ chính đáng, nhưng cơ sở của quyền này là quyền con người đà được ghi nhận và thực thi trên đất nước Việt Nam

Nhằm ổn định tình hình và cũng là giải pháp tình thế tạm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho phép áp dụng các văn bản cúa Đế quốc phong kiến, nhưng khồng được trái với tinh thần và nguyên tắc độc lập của đất nước và chính thể [56, tr 5] Theo đó, ở Bắc Kỳ áp dụng Hình luật An Nam, Trung Kỳ áp dụng Hoàng Việt hình luật, Nam Kỳ áp dụng Hình luật pháp tu chính [3, tr 491] Tất nhiên, những quy định của nhừng văn bản pháp luật này không giống nhau, do đó việc áp dụng pháp luật hình sự ở 3 miền cũng khồng được thống nhất

Đến năm 1955, các văn bản pháp luật cũ lần lượt bị loại bỏ hoàn toàn bởi Thông tư số 19/VHH-HS yêu cầu các Toà án không áp dụng pháp luật thực dân và phong kiến nữa, khi đó Toà án xét xử theo án lệ, theo đường lối chính sách của

13

Trang 20

Đảng và nhà nước, nhưng chưa có văn bản quy phạm pháp luật chính thức nên việc

áp dụng rất khó khăn, mỗi nơi một khác và gây nhiều sự bất bình, bất công cũng như các tệ nạn tham nhũng, hối lộ trong xã hội [56, tr 51 Đứng trước những khó khăn đó, lập pháp hình sự Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới phát triển mạnh

mẽ, có những bước tiến rất lớn Trong đó, Toà án nhân dân tối cao ban hành Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/06/1970 bước đầu đã đề cập đến quyền tự do thân thể, trong đó cho phép người thi hành công vụ dùng vũ khí và việc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng [56, tr 23]

Với việc miền nam được giải phóng ngày 30/04/1975, đất nước được thống nhất, thù trong giặc ngoài đã được giải quyết, kinh tế đang hồi phục và nhận thức của người dân đã tãng lên rất nhiều, yêu cầu về một văn bản pháp luật hình sự đế dễ

áp dụng đang rất cấp bách Sau đó, xuất hiện nhiều văn bản đã đề cập tới chế định phòng vệ chính đáng một cách cụ thể và kỹ càng hơn, Ví dụ: Bản tổng kết 452-HS2 ngày 10/06/1970 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thực hiện xét xử các tội giết người, đặc biệt là chỉ thị 07-TANDTC/CT về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ ngày 22/12/1983, cụ thể như sau:

“Vậy hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi

là phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi xâm hại lợi ích cúa Nhà nước, của tập thể hoặc lợi ích chính đáng của công dân phải có tính nguy hiểm cho xã hội với mức độ đáng kể, mặc dù không nhất thiết phải là một hành vi phạm tội Ví dụ: Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trong điều kiện bỉnh thường, dùng dao chém người khác; người không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (người mắc bệnh tâm thần, trẻ em dưới 14 tuổi)

có hành vi nguy hiểm đáng kế cho xã hội hay cho người khác như đốt nhà hoặc dùng dao chém người khác

Nếu hành vi xâm hại chỉ có tính chất nhỏ nhặt, tức là tính nguy hiếm cho xã hội không đáng kể, không phải là phạm tội (như trộm cấp vặt, xô đẩy, đấm đá

14

Trang 21

nhẹ ) thì việc phòng vệ băng cách gây thiệt hại đên tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà là hành vi phạm tội theo các tội danh khác nhau, tùy từng trường hợp cụ thể (gọi tắt là theo quy định chung của pháp luật).

Việc người có hành vi nguy hiếm cho xã hội khi bị người khác bắt, giữ (tức

là thực hiện hành vi có ích cho xã hội) đà chống trả lại, gây thiệt hại cho người bắt giữ không được coi là phòng vệ chính đáng, mà phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định chung cùa pháp luật Ví dụ: Hành vi của kẻ gây rối trật tự đánh lại nhân viên công an hoặc đội viên thanh niên cờ đỏ đang dùng vũ lực để bắt giữ thì bị coi

là tội chống người thi hành công vụ

b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là đã bát đầu, nếu nó đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng Ví dụ: B gặp A đang đi ngoài phố, B bảo A: “Nếu đến giờ X, ngày Y mà A không đem tiền hoặc đồ vật đến nộp ở địa điếm z , thì

sẽ bị giết”, A bực mình rút ngay súng bắn chết B c cãi nhau với D và bị D đánh; khi

D bở đi, c lấy súng bắn đuổi theo làm cho D chết Hành vi phòng vệ “quá sớm” của

A và hành vi phòng vệ “quá muộn” của c không được coi là phòng vệ chính đáng,

mà cấu thành tội giết người thông thường với tình tiết giảm nhẹ do nạn nhân có lỗi

c) Hành vi phòng vệ chính đáng được thực hiện không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà có thể bàng cách tích cực, chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại và do đó chỉ có thể là cố ý Ví dụ: A cầm gậy đánh B, B tránh được rồi đâm A ngà gục

Vì vậy, nếu một người dù có khả năng bỏ chạy hoặc kêu cứu mà vẫn gây thiệt hại cho người xâm hại để phòng vệ, thi hành động của họ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng

Nếu trong khi phòng vệ mà gây thiệt hại, không phải là cho người xâm hại,

mà cho người thứ ba, thì hành vi gây thiệt hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà tùy theo tình tiết của sự việc cấu thành tội giết người, tội cố ý gây thương tích nặng, gây tổn hại cho sức khoe người khác , theo quy định chung cùa pháp luật và có thể có tình tiết giảm nhẹ nhất định Ví dụ: vì bị A đánh, B vừa tránh vừa

15

Trang 22

chém lại A, nhưng không may lại chém nhâm phải c là người vừa vào đê can ngăn.

Hành vi vô ý gây thiệt hại cho người xâm hại không phải là phòng vệ chính đáng, mà có thế là hành vi phạm tội thông thường vô ý Ví dụ: Khi giằng co để không cho người say rượu đánh mình, người cầm súng đã vô ý để súng nổ làm chết người say rượu

Hành vi phòng vệ bằng cách cố ý gây thương tích, nhưng dẫn đến hậu quả chết người (ngoài sự mong muốn của người gây thương tích), cũng được coi là có tính chất phòng vệ

d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có

sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại

Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ Giữa hai thiệt hại đó có thế không có sự phù hợp về lượng hoặc về chất, chỉ miễn là không có sự chênh lệch quá đáng sau khi cân nhắc tính chất quan trọng của lợi ích được bảo vệ bằng phòng vệ chính đáng, sức mạnh của sự xâm hại, khả năng và hoàn cảnh thực tế của người phòng vệ Ví dụ: một nhóm người xông vào đánh B, B bất ngờ bị đánh đau và bở chạy; chạy được mấy chục mét vẫn thấy có một số người đuổi theo, B đứng lại, mở dao nhíp có sằn trong người để đe “đứa nào vào đây, tao đâm”; một trong số nhừng người đuổi theo xông vào để tiếp tục đánh, B dùng dao nhíp dâm bừa một nhát vào ngực người

đó làm người đó chết

Trong ví dụ này, B ở vào tình thế bị một nhóm người tấn công trước, bất ngờ nên phải bỏ chạy Sự tấn công tuy là bằng chân tay không, nhưng là do đông người gây ra, lại gây ra trong đêm tối, B phòng vệ bằng dao có sẵn trong người, đã răn đe trước, nhưng vẫn bị đối phương ỷ thế đông người tiếp tục tấn công Hành vi phòng

vệ của B bàng cách dùng dao đâm một trong số những người tấn công, dẫn đến chết người, được coi là tương xứng, là chính đáng, là hợp pháp

Nếu hành vi phòng vệ không tương xứng, không phù hợp, có chênh lệch quá đáng so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, nghĩa là người

16

Trang 23

phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây thiệt hại quá đáng cho người xâm hại, mà tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm cũng như hoàn cảnh cụ thế chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó, thì người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Ví dụ: H tổ viên bảo vệ nhà trường, nghe tin có bọn càn quấy đến trường gây sự đánh mình; đáng lẽ trong hoàn cảnh nhà trường có đông người, H có thể cùng mấy người ra đối phó, nhưng H đã một mình vác súng ra cổng trường; hoặc đáng lẽ trong trường hợp có súng để đối phó, H phải răn đe khi bị tấn công, nhưng H đã sử dụng bắn chết ngay một người xông vào tấn công mình” [571.

Như vậy, từ trước năm 1985, chế định phòng vệ chính đáng đã được đề cập nhưng chưa thực sự rõ ràng, tới năm 1983 mới thực sự được quy định và đặt ra các điều kiện cụ thể Những quy định của chỉ thị 07 năm 1983 thực sự đã tương đồng với quy định hiện tại và phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế

1.2.2 Các quy đinh của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng từ năm 1985 đến năm 1999

Ngày 27/6/1985 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLHS đầu tiên năm 1985 Trong BLHS 1985 đã chính thức ghi nhận chế định phòng vệ chính đáng ở Điều 13:

1 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng cùa chính mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành

vi xâm phạm các lợi ích nói trên

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

2 Nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự [42, Điều 13]

BLHS năm 1985 được thi hành trong cả nước bắt đầu từ ngày 01/01/1986 Phần chung của BLHS rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản

17

Trang 24

vê hình sự của Đảng và Nhà nước ta Do đó, Hội đông Thâm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/ HĐTP- TANDTC/QĐ này 05/01/1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS Trong đó có hướng dẫn hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng, cụ thế như sau:

Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đù các điều kiện sau đây:

a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiềm cho xã hội

b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ

c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bở sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công,

mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại

d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không

có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức

độ nguy hiểm của hành vi xâm hại [22, tr 132, 133]

Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ

Đe xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (Ví dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuối; người xâm hại là côn đồ, lưu manh ); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya) v.v Đồng thời cũng Cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp,

18

Trang 25

phương tiện chông trả thích hợp, nhât là trong trường họp họ bị tân công bât ngờ.

Saư khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đà sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: gây thương tích nặng, làm chết người) đối với ngưòi có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng

Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đà được sửa đổi, bổ sung 5 lần vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 và 1999, với sự thay đổi đó đã ban hành ra BLHS năm 1999 So với BLHS năm 1985, BLHS 1999 có những thay đôi cơ bản Đặc biệt, các thay đối trong các quy định thuộc Phần chung, trong đó chế định phòng vệ chính đáng được sửa đổi thành Điều 15 BLHS năm 1999 như sau:

Khoản 1 Điều 15 Bộ luật này quy định:

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, bảo vệ lợi ích chỉnh đáng cùa mình hoặc của người khác,

mà chong trả lại một cách cần thiết (BLHS việt nam 1985 quy định sự chồng trả một cách tương ứng) người đang cỏ hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên, Phòng vệ chỉnh đảng không phải là tội phạm

Chế định này được xây dựng nhằm khuyến khích mọi công dân đấu tranh chống những hành vi xâm hại các quan hệ xã hội, ngàn chặn hoặc hạn chế những thiệt hại do sự xâm hại đỏ đe dọa gây ra

1.2.3 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng tù' Tù' năm 1999 đến trước năm 2015

Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ các lợi ích của cá nhân, Nhà nước, tố chức và của xã hội, việc phòng chống tội phạm từ người dân cũng như những bất cập, chưa phù họp của các quy định pháp luật, các nhà làm luật đà quy định chế định phòng vệ chính đáng tại điều 15 BLHS 1999 Đen năm 2009, Quốc hội thông qua và ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999, tuy nhiên các quy định về phòng vệ chính đáng không được sửa đối và giữ nguyên

19

Trang 26

tới lân pháp điên hoá thứ 3 năm 2015 Nội dung BLHS 1999 như sau:

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, bảo vệ lợi ích chỉnh đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết (BLHS việt nam 1985 quy định sự chổng trả một cách tuơng ứng) người đang cò hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm [43, Điều 15]

Mặc dù chế định phòng vệ chính đáng có vai trò quan trọng và có ý nghĩa tích cực trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ con người, nhưng chế định này cũng đã bị nhiều người lợi dụng hoặc sử dụng một cách thái quá vì những mục đích cá nhân gây nên những hậu quả tổn hại tới lợi ích Nhà nước, của tổ chức và của các cá nhân trong xã hội Việc áp dụng chế định phòng vệ chính đáng theo BLHS năm 1985 đã cho thấy nhiều bất cập, mặc dù về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu về pháp luật hình sự thời điểm bấy giờ, nhưng tới năm 1999, sự phát triển của xã hội đã yêu cầu phải có một sự thay đổi cơ bản trong quy định pháp luật về phòng vệ chính đáng Chế định phòng vệ chính đáng trong BLHS năm 1999 được xây dựng dựa trên sự kế thừa tinh thần của BLHS năm 1985, tuy nhiên có những thay đối phù hợp để tạo sự mạch lạc, chặt chẽ hon cho chế định rất quan trọng này Theo đó, trong BLHS năm 1999, cụm từ “của tập thể” được thay thế bằng cụm từ “của tổ chức”, cụm từ “tương xứng” thay bằng cụm từ “cần thiết” Thực tế cho thấy, những thay đổi này của BLHS 1999 đã tạo nhiều thuận lợi cho công tác thi hành pháp luật của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong việc giải quyết các vụ án có dấu hiệu phòng vệ chính đáng

BLHS năm 1999 đã hoàn thiện rất nhiều so với BLHS năm 1985 về chể định phòng vệ chính đáng Có thể nói, chế định phòng vệ chính đáng được quy định trong BLHS năm 1999 đã có một cách nhìn mới hơn, hiện đại hơn so với BLHS

1985 Đặc biệt, việc thay đổi cụm từ “sự chống trả một cách tương xứng” bằng cụm

từ “sự chống trả một cách cần thiết” đã tạo một cơ sở giải quyết các vụ án dễ dàng hơn Như đã phân tích, sự chống trả cần thiết sẽ có phạm vi rộng hơn, đồng thời hợp lý hơn so với một sự chống trả tương xứng Nhờ có sự thay đối này, việc xác

20

Trang 27

định một hành vi có phải phòng vệ chính đáng hay không đã phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan xét xử Thực tế, xác định một hành vi phòng vệ cần thiết khó hơn xác định một hành vi phòng vệ tương xứng, bởi hành vi cần thiết và vượt quá

sự Cần thiết rất khó xác định ranh giới Mặc dù trong các văn bản xung quanh BLHS năm 1985 như Chỉ thị 07/TANDTC ngày 22/12/1983 và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 đều có giải thích rõ rằng hành vi chống trả tương xứng không phải là sự ngang bằng về mặt cơ học, tức là người tấn công sử dụng công cụ, phương tiện gi thì người phòng vệ cũng sử dụng công cụ, phương tiện đó hoặc người tấn công gây thiệt hại đến mức độ nào thì người phòng vệ cũng chỉ được gây thiệt hại đến mức độ đó Sự tương xứng ở đây là về tính chất và mức độ giữa hành

vi phòng vệ và hành vi tấn công, có đánh giá hành vi tấn công cũng như hoàn cảnh

cụ thể, các mối tương quan khác khi xảy ra sự việc và đánh giá sự tương xứng đó với quan điểm biện chứng, nhìn nhận sự việc trong mối quan hệ tổng hoà với các mối quan hệ khác và trong trạng thái vận động Việc thay đồi từ “tương xứng” sang

“cần thiết” tạo những căn cứ mới để xác định hành vi là phòng vệ chính đáng và những căn cứ này đã phù họp hơn khi xét về bản chất của phòng vệ chính đáng, về

cơ bản, các nhà khoa học và nhà luật học đã tóm gọn những cãn cứ xác định hành vi phòng vệ chính đáng ở thời kỳ này như sau:

- Dựa vào mức độ nghiêm trọng của hành vi tân công từ phương pháp, công

cụ, phương tiện, cường độ tấn công Phuong pháp tấn công càng tinh vi, công cụ phương tiện tấn công càng nguy hiểm, cường độ tấn công càng lớn thì sự chống trả càng phải quyết liệt thì mới có khả năng, cơ hội bảo vệ lợi ích hợp pháp bị xâm hại;

- Dựa vào quy mô, số lượng người tham gia tấn công và tương quan lực lượng;

- Dựa vào ý chí quyết tâm của người tấn công, người tấn công nếu quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng thì hành vi chống trả phải kiên trì và quyết liệt;

- Dựa vào không gian, thời gian, địa điếm và hoàn cảnh cụ thể khác khi xảy

21

Trang 28

ra sự việc [1, tr 36].

Ngoài ra, khi đánh giá sự cần thiết giữa hành vi phòng vệ và hành vi tấn công, Cần có sự đánh giá các căn cứ nêu trên đồng thời phải chú ý xem xét thái độ tâm lý của người phòng vệ Trong những tình huống bị tấn công, thông thường trong điều kiện cấp bách như vậy, người thực hiện hành vi phòng vệ khó có được sự bình tĩnh, tỉnh táo đế lựa chọn cách thức, công cụ cũng như mức độ gây thiệt hại phù hợp cho người tấn công

Qua sự thay đổi về ngôn từ, đã dẫn đến sự thay đổi về bản chất của hành vi phòng vệ chính đáng Mặc dù các quy định của pháp luật hình sự năm 1999 về phòng vệ chính đáng là sự kể thừa của BLHS năm 1985, nhưng nội hàm của phòng

vệ chính đáng trong BLHS nãm 1999 đà thay đối nhiều, phù họp hơn, dễ áp dụng hơn cho các cơ quan thực hiện quyền tư pháp

Ngoài ra, chế định phòng vệ chính đáng trong BLHS năm 1999 còn thay đổi cụm từ “tập thể” thành cụm từ “tổ chức” Đây là một sự thay đổi mang tính chất phù hợp với sự phát triển của xã hội BLHS năm 1985 được soạn thảo và thông qua khi đất nước vẫn đang trong thời kỳ áp dụng nền kinh tế bao cấp Thời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hàu hết sinh hoạt kinh

tế đều được Nhà nước bao cấp, diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế của thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chồ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy Do đó, thời điếm này “tập thê” là khái niệm được đề cao nhất, mọi người đều hướng tới lợi ích chung của tập thể Cho tới khi Việt Nam tiến hành chương trình cải cách toàn diện từ kinh

tế cho tới các khía cạnh khác của xã hội từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam mới được phát triển theo hướng kinh tế thị trường, tầm quan trọng của tập thể mới bị giảm xuống và thay thế bằng các cá nhân, tổ chức [55] Tuy nhiên, trong nàm lần sửa đồi, BLHS vẫn không sửa đồi cụm từ “tập thể” trong chế định Phòng vệ chính đáng Thực tế cho thấy, việc thay đổi một chi tiết nhỏ như vậy trong một điều luật,

mà không làm ảnh hường nhiều tới nội dung điều luật là không cần thiết, thậm chí gây khó khăn khi áp dụng Chỉ đến khi ban hành BLHS 1999, khi rất nhiều điều

22

Trang 29

khoản đêu được soạn thảo và hệ thông lại, cụm từ “tập thê” mới bị loại bỏ hoàn toàn Đây là một sự thay đổi hợp lý, bởi khi đó, các tố chức, doanh nghiệp đang phát triển mạnh, cần phải có cơ chế bảo vệ cụ thể và rõ ràng.

1.3 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phòng vệ chính đáng theo BLHS 2015

Năm 2015, Việt Nam tiến hành pháp điển hoá pháp luật hình sự lần thứ ba, tạo ra BLHS năm 2015 với nhiều thay đổi, bổ sung mang tính tiến bộ và phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội cúa đất nước Tuy nhiên, BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực đà phải sửa đổi, bổ sung do có một số lỗi kỹ thuật, BLHS năm 2015 được sửa đổi,

bổ sung năm 2017 bởi Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày

cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách càn thiết người đang có hành

vi xâm phạm các lợi ích nói trên

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

2 Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này

về cơ bản, quy định của BLHS năm 2015 về phòng vệ chính đáng đã gần như kế thừa toàn bộ nội dung trong quy định của BLHS năm 1999 Tuy nhiên, vẫn

có những sự thay đổi nhỏ nhưng mang nhiều ý nghĩa của nhà làm luật khi soạn thảo Điều luật này

Thứ nhất, BLHS năm 2015 đã đặt việc bảo vệ lợi ích chính đảng của mình, của

23

Trang 30

người khác lên trước lợi ích của nhà nước, tô chức Điêu này phù họp với tinh thân đê cao quyền tự do của cá nhân con người, bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm

2013 Đồng thời cũng phù họp với thực tế xảy ra trong thời gian qua khi áp dụng BLHS năm 1999, cho thấy các trường họp phòng vệ chính đáng hoặc vụ án về vượt quá giới hạn chính đáng chủ yếu xuất phát tù’ việc bảo vệ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cùa người thân bị xâm phạm, từ đó mới có hành động phòng vệ chính đáng [541

Thứ hai, BLHS năm 1999 chỉ quy định: “bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ

chức” và “người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự” thi BLHS năm 2015 đã thêm cụm từ bảo vệ lợi ích: “của cơ quan”

và trách nhiệm hình sự của người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được nêu thêm cụm từ: “theo quy định của Bộ luật này Như vậy, quy định mới trong BLHS năm 2015 đã làm rõ thêm nội dung các lợi ích bảo vệ do hành vi phòng

vệ chính đáng và phạm vi trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này

Điều 22 BLHS năm 2015 đã quy định cơ sở, nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng Một hành vi thoả mãn đầy đù các dấu hiệu này mới được coi

là hành vi phòng vệ chính đáng phù hợp với lợi ích của xã hội Những điều kiện này của phòng vệ chính đáng được quy định dựa vào bản chất của hành vi phòng vệ chính đáng là ngăn chặn sự tấn công bất hợp pháp, hạn chế thiệt hại do sự tấn công

đe doạ gây ra Các điều kiện của phòng vệ chính đáng được xác định như sau:

Một là, cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng - có hành vi trái pháp luật đang xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp [64, tr 2611

Nhà nước cho phép công dân có quyền chống trả lại những hành vi tấn công xâm hại lợi ích hợp pháp Đây cỏ thề coi là việc Nhà nước đã uỷ quyền cho công dân được thay mặt Nhà nước thực hiện các biện pháp ngăn chặn hành vi phạm tội xảy ra Do đó, quyền phòng vệ chính đáng được đặt ra khi một người đứng trước hành vi trái pháp luật đang hiện hữu xâm phạm đến lợi ích chính đáng bao gồm 4 nhóm quyền là quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân, của người khác, của Nhà nước

và của các cơ quan, tố chức Đang có hành vi hiện hữu xâm phạm là hành vi đã bắt đầu và chưa kết thúc [391

Ví dụ: “Ngày 19.12.2010, gia đình Hoàng Văn H có nợ tiền mua xe ôtô của

24

Trang 31

Hồ Văn c là anh trai của Hồ Anh N Tháng 5 năm 2016, Hồ Anh N đến nhà H để đòi tiền H và N thỏa thuận H sẽ trả cho N số tiền 15.000.000VNĐ, do lúc đó H có việc bận nên hẹn N hôm khác xuống làm giấy tờ Khoảng 15 giờ ngày 19.6.2016, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 30L905599, màu đen đến nhà H để làm giấy hẹn Khi Hồ Anh N đến nhà H thì Lường Thị Q là con dâu của

H nói H đang say rượu ngủ trong phòng, N vào gọi H dậy thì xảy ra mâu thuẫn, cãi

vã qua lại, hai bên xô đấy vật nhau ra đến bậc lên xuống từ sân lên nhà thì N bỏ H

ra và đi ra phía ngoài cổng thì H đi ra gần cửa bếp, cạnh chuồng gà lấy 01 con dao nhọn, cầm trên tay phải chạy đuồi theo N và giơ dao lên chém về phía sau người N,

N quay người lại giơ tay lên đỡ nhưng lưỡi dao của H chém trúng vào mặt của N, N dùng tay trái túm vào cổ tay phải của H đang cầm dao, N và H ôm nhau xô đẩy đến đầu nhà thì N dùng chân ngáng, vật H xuống đất, lúc này N vẫn dùng tay trái túm giữ cố tay phải của H và dùng đầu gối chân phải đè lên người H N dùng tay đấm liên tiếp vào đầu và mặt H để H buông dao ra Khi N đánh vào đầu và mặt H để H buông dao ra nhưng H vẫn giữ chặt con dao nên N dùng tay phải nắm lấy lưỡi dao

đế giằng lấy con dao, do lưỡi dao và chuôi dao bị lỏng nên phần lười dao tuột khỏi chuôi nên N đã cầm và ném lưỡi dao ra cách chỗ N và H khoảng 2 mét, rồi N đứng dậy.” [66]

Trong tình huống này, có thê thấy hành vi vi phạm pháp luật của H đang diễn ra, hành vi này đà bắt đầu tư khi H tấn công N và vẫn chưa kết thúc do H chưa dừng hành vi tấn công đó lại Do đó, khi này N chống trả lại H và gây thương tích cho H nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội của H là trường họp phòng vệ chính đáng

Nếu hành vi chưa bắt đầu, thì tức là hành vi xâm phạm chưa xảy ra và cũng chưa đe doạ sẽ xảy ra ngay tức khắc, do đó mọi hành vi chống trả không được coi là hành vi phòng vệ Trường hợp hành vi xâm phạm đã kết thúc thì mọi hành vi chống trả cũng không được coi là hành vi phòng vệ

Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi xâm phạm này đã kết thúc, nhưng lại có hành vi khác tiếp theo của chính người đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng cần bảo

vệ thì cũng không coi là hành vi xâm phạm đà kết thúc và người có hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ Trường họp phòng vệ chính đáng này thường bị nhầm

25

Trang 32

với trường họp tội phạm do tinh thân bị kích động mạnh quy định tại Điêu 125, 135 BLHS, vì người bị tấn công không phải là người chống trả (người có hành vi phòng vệ) mà là người khác (người thứ ba) Tuy nhiên người thứ ba trong trường họp phòng

vệ có thề là người thân của mình, nhưng cũng có thể chỉ là một người không quen biết, còn trường họp phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, người bị xâm phạm chỉ có thể là người thân của người phạm tội Trường hợp phòng vệ này càng dễ nhầm với trường hợp phạm tội trong trường họp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS, vì người thứ ba trong trường họp quy định tại điểm e khoản

1 Điều 51 BLHS là tình tiết giảm nhẹ có thể là người thân, nhưng cũng có thể là người không quen biết Hành vi phòng vệ và hành vi được coi là bị kích động về tinh thần chỉ khác nhau ở tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm Vì vậy, về phía nạn nhân trong trường họp phòng vệ phải là người có hành vi xâm phạm

có tính chất nguy hiểm đáng kể

Mức độ đáng kể ở đây là tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm (quan hệ xã hội cần bảo vệ) và hậu quả hành vi có thể gây ra Nếu quan hệ xã hội cần bảo vệ càng quan trọng bao nhiêu thì thực tế, hậu quả xảy ra khi

có hành vi phạm tội càng nghiêm trọng và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm của nạn nhân càng nghiêm trọng bấy nhiêu Ví dụ: Một người trèo tường đột nhập vào nơi cất giữ tài liệu tối mật về an ninh quốc phòng được canh phòng cấn thận, thì tính chất nghiêm trọng cao hơn nhiều so với người trèo tường vào một gia đình nồng dân để trộm cấp tài sản

Mức độ đáng kể của hành vi xâm phạm còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân (người có hành vi xâm phạm) Ví dụ: Hành vi đe doạ đánh bom trên một chuyến bay sẽ có tính nguy hiểm cao hơn nhiều hành vi ăn cắp vặt hay hành vi đánh lộn

Nếu tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm không đáng kể thì hành vi chống trả lại một cách đáng kể không được coi là phòng vệ Ví dụ: “Ngày 25/8/2016, Phạm Quốc H chở vợ cùng con 8 tháng tuối về nhà ngoại ở xã Vĩnh Ngọc,

26

Trang 33

Đông Anh chơi Tôi đó, khi cùng vợ con đi dạo ở đâu ngõ gân nhà chị này, Hưng bị hai người nói trên đang trong men say tới gây sự Hưng nhịn, nhưng hai người đó không chịu rời đi Hai bên sau đó xô xát Vợ Hưng thấy hai người đàn ông đánh chồng chạy tới can ngăn Song hai người này đánh cả chị và cháu bé Thấy vậy, Hung rút dao bấm mang sẵn trong túi đâm hai nạn nhân hên tiếp khiến họ tử vong.” [79] Có thể thấy, việc hai người nạn nhân gây sự và tấn công gia đình anh Hưng có mức độ nguy hiếm không quá cao, bởi họ không sử dụng vũ khí và cũng không có khả năng gây thương tích cao,

do đó việc anh Hưng sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đâm chết hai người này không phù họp với mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, như vậy đây không phải phòng vệ chính đáng

Hành vi xâm phạm phải là hành vi trái pháp luật, nếu hành vi xâm phạm lại

là hành vi mà pháp luật cho phép, thì người bị xâm phạm không có quyền chống trả

để phòng vệ Ví dụ: “Khoảng 23h30 ngày 8/3, tổ C1 Cảnh sát 911 Đà Nằng tuần tra trên đường Nguyễn Lương Bằng (quận Liên Chiều), phát hiện khoảng 10 thanh niên

đi 5 xe máy mang theo hung khí Thấy cảnh sát, cả nhóm bỏ chạy Đại uý Phòng Anh Đại Phúc, Tố trưởng Cl, cùng thượng uý Nguyễn Hoàng Tùng dùng môtô chuyên dụng truy đuồi theo Vũ Minh Duy (trú quận cẩm Lệ) và Hồ Hữu Ngọc Lý (cùng 18 tuổi, trú quận Ngũ Hành Sơn) đang chở nhau trên chiếc xe máy che kín biến số Đại uý Phúc nổ hai phát súng chỉ thiên trấn áp nhưng Duy và Lý không chấp hành, tiếp tục phóng xe về hướng trung tâm thành phố Đen khu vực phường Hoà Minh (quận Liên Chiểu), khi bị cảnh sát áp sát, người ngồi sau vung dao phóng lợn tự chế để chống cự Đại uý Phúc tiếp tục nổ hai phát súng Cuộc truy đuổi diền

ra qua nhiều tuyến đường ở trung tâm Đà Nằng Khi đi qua cầu sông Hàn, người ngồi sau xe đã lao dao phóng lợn về phía cảnh sát Phúc và Tùng.”[80] Hành vi của Duy và Lý tuy nhằm mục đích chống trả lại một hành vi xâm hại nhưng hành vi xâm hại này lại được pháp luật cho phép, do đó, việc tấn công của Duy và Lý không phải phòng vệ chính đáng

Hành vi trái pháp luật, trước hết là hành vi phạm tội và những hành vi khác trái với quy định cùa pháp luật thuộc các ngành luật khác như: Luật hôn nhân và gia

27

Trang 34

đỉnh, luật dân sự, luật hành chính, luật kinh tê và các văn bản pháp luật khác Tuy nhiên, khi xét hành vi xâm phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải xét trong mối tương quan với hành vi chống trả, không phải bất cứ hành vi phạm tội nào xảy ra, người có hành vi chống trả gây chết người hoặc gây thương tích cho người có hành vi xâm phạm đều là phòng vệ chính đáng Ngược lại, có những hành

vi xâm phạm chưa phải là hành vi phạm tội, nhưng vì nó xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tố chức và của công dân nên hành vi chống trả vẫn được coi là phòng vệ chính đáng Như vậy, khi xem xét hành vi của người đang xâm phạm đến các lợi ích cần bảo vệ, không nhất thiết chỉ căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi xâm phạm mà phải chú ý đến lợi ích cần bảo vệ, đồng thời phải xét nó trong mối quan hệ với hành vi chống trả để xác định sự chống trả trong trường họp cụ thể đó có được coi là phòng vệ chính đáng hay không

Pháp luật các nước nói chung và nước ta nói riêng không coi hành vi tấn công của người mắc bệnh tâm thần là hành vi trái pháp luật, bởi vì người mắc bệnh tâm thần không nhận thức được hành vi cùa họ là nguy hiểm cho xã hội nên họ không có lồi Tuy nhiên, nếu một người bị người mắc bệnh tâm thần tấn công, người bị tấn công vẫn có quyền chống trả để bảo vệ mình, nhưng nếu còn có thề bở chạy mà không chạy lại chống trả gây thiệt hại cho người bị tâm thần thì không được coi là phòng vệ Nhưng nếu bị người say rượu tấn công mình hoặc tấn công người khác thì hành vi gây thiệt hại cho người say rượu lại được coi là hành vi phòng vệ, vì người say rượu nếu xâm phạm đến các lợi ích cần bảo vệ, theo pháp luật nước ta vần bị coi là hành vi trái pháp luật [25]

Hai là, hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người đang

có hành vi tấn công - nơi phát sinh nguồn nguy hiểm để bảo vệ những lợi ích hợp pháp [64, tr 264] Đây là điều kiện xuất phát từ động cơ của sự phòng vệ là ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, do đó phải nhắm vào chính nguồn nguy hiềm,

có như vậy nguồn gốc làm phát sinh hành vi nguy hiểm cho xã hội và phát sinh hậu quả mới bị ngăn chặn, đảm bảo không có hành vi hoặc hạn chế tối thiểu hành vi phạm tội xảy ra và đảm bảo lợi ích tốt nhất cúa Nhà nước, của các quan hệ xã hội

28

Trang 35

và của người phòng vệ lân người có hành vi xâm hại.

Nếu thiệt hại do người có hành vi xâm phạm gây ra có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, về tài sản, nhân phẩm, danh dự hoặc các lợi ích xã hội khác, thì thiệt hại do người có hành vi phòng vệ gây ra chỉ có thể là thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ cho người có hành vi xâm phạm

Nếu người phòng vệ không gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm phạm mà gây thiệt hại cho người khác (thường là người thân của người có hành vi xâm phạm), thì không được coi là hành vi phòng vệ

Trường hợp người phòng vệ không gây thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ cho người có hành vi xâm phạm mà lại gây thiệt hại khác, thì cũng không được coi

là hành vi phòng vệ

Cũng không coi là phòng vệ chính đáng trong trường hợp người có hành vi xâm phạm gây thiệt hại đến tài sản của người khác, rồi người khác cũng gây thiệt hại lại cũng về tài sản cho người có hành vi xâm phạm

Ba là, hành vi phòng vệ chỉ được coi là chính đáng, khi hành vi chống trả được coi là cần thiết [64, tr 265] Đây là một điều kiện có thể coi là khó xác định nhất khi xem xét một hành vi có phải là phòng vệ chính đáng hay không Ranh giới giữa phòng vệ chính đáng và tội phạm là rất mong manh nhưng cũng rất rõ ràng, phụ thuộc rất lớn vào lý trí và ý chí của người thực hiện hành vi Mặc dù vậy, qua nhiều nghiên cứu, có thế xác định một hành vi chống trả cần thiết theo những lý luận như sau:

Hành vi phòng vệ chính đáng khi nó là hành vi cần thiết, cần thiết không có nghĩa là ngang bằng một cách định lượng như: Bên xâm phạm gây thiệt hại như thế nào thì bên phòng vệ cũng chỉ được gây thiệt hại như thế Ví dụ: A tát B vào mặt hai cái thì B cũng chỉ được tát A vào mặt hai cái hoặc A gây thương tích cho B 13% thì B cũng chỉ được gây thương tích cho A 13%, mà trong hoàn cảnh cụ thể người

có hành vi xâm phạm có thể chỉ mới đe doạ gây thiệt hại ngay tức khắc cho người phòng vệ hoặc cho người khác nhưng người phòng vệ có thế gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ cho người xâm hại cũng được coi là cần thiết

29

Trang 36

Cân thiêt cũng khác với tương xứng, vỉ tương xứng là một đại lượng dùng đê chỉ sự cân đối giữa sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác Khi nói đến

sự tương xứng là nói đến sự cân bằng Tuy trước đây trong các văn bản hướng dẫn

về phòng vệ chính đáng cũng nói rõ tương xứng không có nghĩa là ngang bằng, nhưng không lý giải được thế nào là sự tương xứng giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ và không xác định được sự tương xứng ấy trong thực tế Trong khi đó, nhiều trường hợp rõ ràng là hành vi phòng vệ không tương xứng với hành vi xâm phạm nhưng vẫn được coi là phòng vệ chính đáng, và như vậy giữa khái niệm

về phòng vệ chính đáng với thực tiễn xét xử đã có những nhân tố không phù hợp BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 dùng thuật ngữ “cần thiết” để thay cho thuật ngữ “tương xứng” trong BLHS năm 1985 là hoàn toàn chính xác và hợp lý cả về lý luận và thực tiễn xét xử

cần thiết là sự thể hiện tính không thể không chống trả, không thể bở qua trước một hành vi xâm phạm đến các lợi ích của xã hội Khi đã xác định hành vi• 1 • • • • chống trả là cần thiết, không thể không chống trả được thì thiệt hại gây ra cho người

có hành vi xâm phạm dù lớn hơn thiệt hại mà người có hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng

Để xác định sự chống trả có cần thiết hay không, trước hết phải căn cứ vào tính chất của các lợi ích bị xâm phạm; tính chất của hành vi xâm phạm và các mối tương quan khác giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ

Lợi ích bị xâm phạm càng quan trọng bao nhiêu, thì hành vi chống trả càng phải mạnh mẽ bấy nhiêu Tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm càng nguy hiểm

và nghiêm trọng bao nhiêu thì hành vi chống trả càng phải quyết liệt bấy nhiêu Ngoài ra, trong quá trinh đánh giá một hành vi, có phải là một hành vi chống trả cần thiết với hành vi phạm tội hay không còn cần căn cứ các yếu tố khác, cụ thể là: mối tương quan lực lượng giữa bên xâm phạm và bên phòng vệ, thời gian, không gian xảy

ra sự việc

Ví dụ: “Khoảng 11 giờ ngày 29/4/2017, tại phòng hát số 02 quán Karaoke Toản Club, thuộc địa phận xóm Chim xã B, huyện Y, Hòa Bình Bùi Văn A tổ chức

30

Trang 37

sinh nhật cho em gái là Bùi Thị D - sinh năm 2000 Trong quá trình hát Karaoke có Bùi Văn A và khoảng 15 người đều là bạn của Bùi Thị G Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm hát của A nghỉ và ra quầy làm thanh toán.

Lúc này tại phòng hát số 01 của quán có nhóm khách đang hát trong đó có: Bùi Văn B - sinh năm: 1991, Bùi Văn D - sinh năm: 1986, c, sinh năm 1985 cùng trú tại: xã B, huyện Y, Hòa Bình và Quách Văn E, sinh năm 1990, trú tại: xã H, huyện Y, Hòa Bình (trước đó cả nhóm đó uống rượu tại nhà Bùi Văn D)

Trong quá trình hát, do micro hết pin, nên E có cầm micro ra quầy thanh toán

để yêu cầu thay pin Khi ra đến quầy E có gặp A đang đứng đó cùng G và các bạn của G A có hỏi E “người ở đâu? tên là gì? em thấy lạ lắm”, E trả lời “em người H, bọn anh đi hát à?” Sau đó, giữa A và E có trao đối một vài câu nói nữa và bắt tay nhau A đi ra xe chỗ Bùi Văn X, sinh năm 1995 (là cháu cùa A) đang chờ để chở đi

về E quay lại phòng hát để hát tiếp, lúc này những người trong phòng gồm B, c, D

có hỏi E “sao lâu thế”, E có kể với mọi người là “có anh gi hỏi thăm em ở ngoài kia”, sau đó E cùng mọi người hát thêm khoảng 3- 4 phút nữa thì nghỉ E ra ngoài đi vệ sinh, D ở lại hát thêm vài phút rồi đi ra sau, B và c đi ra ngoài phía sân của quán và gặp A đang chuẩn bị đi về, D và c xông vào dùng chân tay đánh A liên tiếp từ sân của quán ra đến bờ rào Do bị đánh liên tiếp, A đã dùng tay trái rút con dao mang theo trong túi quần bò bên trái (loại dao gấp, bằng kim loại, lưỡi dao nhọn, có 2 lưỡi, phần lưỡi dao dài khoảng 10,2cm, cán dao được ghép bằng hai mảnh kim loại, nối với phần lưỡi dao bằng ốc vít, lười dao có thể gấp lại vào trong cán dao, tống thể con dao dài khoảng 20cm) đâm khua về phía trước nhằm mục đích để những người kia biết A có dao và không xông vào đánh A nữa, nhung đã trúng vào đầu gối của B B liền lùi lại và nhặt viên đá ném trúng đầu A Còn c vẫn tiếp tục đánh A, lúc này D đi

ra ngoài thấy B bị đâm chảy máu đã xông vào cùng c đánh hên tiếp vào vùng mặt, mắt của A Lúc này do bị đánh đau, A tiếp tục dùng dao đâm khua về phía trước và trúng vào bụng và đùi của c Thấy vậy, B lao lên dùng tay đánh A thì bị A đâm trúng vùng bụng 01 nhát, B dùng 2 tay giữ được tay cầm dao của A lại rồi ngã xuống, tay vẫn giữ được tay cầm dao của A Bùi Văn c xông đến giằng được con dao rồi ném

31

Trang 38

qua bờ rào Bùi Văn A bỏ chạy ra đường Hô Chí Minh cách nơi xảy ra đánh nhau khoảng 5- 6 mét rồi lên xe máy được Bùi Văn X chở về nhà Tại hiện trường, Quách Văn E sau khi đi vệ sinh ra ngoài thấy B, c, D đánh A thi vào can ngăn nhưng không được Sau khi A bỏ đi E quan sát thấy Bùi Văn B nằm ôm bụng và chảy nhiều máu, nên E đã cởi áo bịt vết thương cho B rồi cùng một người khác chở B đi Bệnh viện cấp cứu, còn Bùi Văn c được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Thủy Do vết thương quá nặng nên Bùi Văn B đã tử vong tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thủy; anh Bùi Văn c được gia đinh chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình để tiếp tục điều trị.” [67] Có thể thấy tuy hành vi của A chưa tương xứng với hành vi tấn công của nhóm người kia, nhưng dựa vào tương quan lực lượng, không gian, thời gian có thế xác định hành vi của A là phòng vệ chính đáng.

Phòng vệ chính đáng không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe doạ, đấy lùi sự tấn công trái pháp luật mà nó còn thể hiện thái độ tích cực chống trả sự xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của mình hoặc của người khác Phòng vệ chính đáng còn là quyền của con người chứ không chỉ là nghĩa vụ, nên không yêu cầu phương pháp, phương tiện của người phòng vệ phải như phương pháp, phương tiện

mà người tấn công sử dụng

Khi đánh giá một hành vi chống trả có cần thiết hay không phải xem xét một cách toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án, từng diễn biến của hành vi, trong đó đặc biệt là tâm lý, thái độ của người phòng vệ khi xảy ra sự việc, họ không có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn chính xác phương pháp, phương tiện thích họp đế chống trả, nhất là trong trường họp họ bị tấn công bất ngờ, chỉ coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi sự chống trả rõ ràng là quá đáng, có dấu hiệu trả thù

Cũng coi là phòng vệ chính đáng, nếu trong một hoàn cảnh cụ thể, một người tưởng lầm rằng người khác có hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, cúa tổ chức, của mình hay của người khác mà họ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người đó Khoa học luật hình sự gọi trường họp phòng vệ này là phòng vệ tường tượng Phòng vệ tường tượng là gây thiệt hại cho người khác do tưởng lầm rằng người này đang có hành vi xâm phạm nguy hiểm cho xã hội

32

Trang 39

Người có hành vi phòng vệ tưởng tượng chỉ được coi là không có lỗi khi hoàn cảnh cụ thể sẽ khiến cho bất kỳ một người có nhận thức bình thường nào cũng tin một cách họp lý là có sự xâm phạm thực sự và họ tin ràng là mình không bị nhầm, nếu đặt vào hoàn cảnh của người khác thì ai cũng sẽ bị nhầm như vậy Nếu

sự lầm tưởng lại không có căn cứ và trong hoàn cảnh cụ thề đó mọi người đều không thế lầm tưởng thi người có hành vi xâm hại đến tính mạng sức khoẻ của người khác phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Hiện nay, trong một số sách báo pháp lý, vấn đề phòng vệ tưởng tượng cũng còn

có những quan điểm khác nhau: Có quan điểm cho rằng phòng vệ tưởng tượng không phải là phòng vệ chính đáng, vỉ không có cơ sở của quyền phòng vệ, vấn đề trách nhiệm hình sự vẫn được đặt ra và được giải quyết như mọi trường họp sai lầm khác

Pháp luật Việt nam không thừa nhận hành vi phòng vệ trước (phòng vệ từ xa), tức là chưa có sự tấn công mà đã có hành vi nhằm ngăn chặn sự tấn công như: lập hành rào điện để chống trộm, dùng bẫy để đề phòng người gian Nếu việc phòng vệ trước này lại gây ra hậu quả làm chết người hoặc gây thương tích cho người khác thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như các trường hợp tội phạm thồng thường (giết người hoặc cố ý gây thương tích) Tuy nhiên, thực tiễn xét xử nếu hành vi phòng vệ trước lại gây thiệt hại cho đúng người phạm pháp thì người phạm tội cũng được chiếu cố giảm nhẹ đáng kể

Một ví dụ thực tế: Gia đinh Trần Vãn N thường xuyên bị mất trộm gà, N đã nhiều đêm thức trắng để phục bắt người trộm nhưng không được, N bèn lấy một đoạn giây thép buộc vào cánh cửa chồng gà và cho dòng điện 220 Vol chay qua Đẻ bảo đảm an toàn cho những người trong gia đình mình, N dặn mọi người phải cẩn thận; trước khi đi ngủ mới được đấu điện vào và sáng thức dậy phải rút điện ra đến đêm thứ 9 thi Bùi Văn T vào trộm gà và bị điện giật chết, trên tay T còn cầm một bao tải trong đựng 4 con gà Mặc dù N bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS, nhung Toà án chỉ phạt N 3 năm tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) nhưng vẫn được nhân dân đồng tình, thậm chí còn

có ý kiến cho rằng không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N vì người bị

33

Trang 40

chết là “đáng đời”, ai bảo đi ăn trộm [68].

Ó đây có vấn đề mâu thuẫn giữa ý thức pháp luật với hành vi nguy hiểm cho

xã hội, cũng giống như trường họp đánh chết người trộm cắp khi bị bắt vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy vậy các nhà làm luật cũng nên tính cả đến các yếu tố truyền thống, phong tục, tâm lý của người Việt Nam trong trường hợp “phòng vệ trước” Pháp luật của một số nước kể cả các nước phát triển vẫn quy định trong một

số trường hợp phòng vệ trước không phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu ở nước ta không thừa nhận hành vi phòng vệ trước thì cũng nên quy định trong một số trường hợp tội phạm do phòng vệ trước được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự một cách đáng kể Phòng vệ trước cũng là trường họp phòng vệ quá sớm, tức là chưa có hành vi tấn công đã có hành vi phòng vệ

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, nhưng nếu hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù họp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, trách nhiệm hình

sự đối với họ được giảm nhẹ rất nhiều so với trường hợp tội phạm không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng BLHS quy định hai trường họp tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, đó là giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126) và cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136) được coi là cấu thành giảm nhẹ đặc biệt (tình tiết vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là dấu hiệu định tội của hai tội danh này) Tuy nhiên, hành vi phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng còn là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 BLHS, ngoài hai trường hợp

đã được quy định tại Điều 126 và Điều 136, thì không có trường hợp tội phạm nào thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nữa; nếu theo quy định tại khoản 3 Điều 51 BLHS thi “Cức tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quỵ định là

dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khỉ quyết định hình phạt.” Do đó có ý kiến cho rằng việc quy định tình tiết phạm tội trong trường họp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là tình tiết giảm nhẹ là

34

Ngày đăng: 18/10/2022, 08:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
62. Trịnh Tiên Việt (2002), “Phải coi đây là phòng vệ chính đáng”, Tạp chí KHPL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải coi đây là phòng vệ chính đáng”
Tác giả: Trịnh Tiên Việt
Năm: 2002
63. Trịnh Tiến Việt (2013), “Chế định loại trừ TNHS và những vấn đề đặt ra khi sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, chuyên san Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định loại trừ TNHS và những vấn đề đặt ra khi sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam”
Tác giả: Trịnh Tiến Việt
Năm: 2013
64. Trịnh Tiến Việt (2019), Trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị quốc gia sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự
Tác giả: Trịnh Tiến Việt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2019
65. Trịnh Tiến Việt (chủ biên) (2015), Bảo vệ tự do và an ninh cá nhân bằng pháp luật hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ tự do và an ninh cá nhân bằng pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trịnh Tiến Việt (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2015
68. Cao Yin (2020), Officials clarify legal self-defense rights, ChinaDaily Newspaper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Officials clarify legal self-defense rights
Tác giả: Cao Yin
Năm: 2020
66. Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, Tỉnh Sơn La, Bản án 73/2017/HSST ngày 17/07/2017 về tội cố ý gây thương tích Khác
67. Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, Bản án 07/2018/HSST ngày 08/02/2018 về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.II. Tài liệu tiếng Anh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w