1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo hiến pháp năm 1946 (luận văn thạc sỹ luật)

93 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Chế Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Theo Hiến Pháp Năm 1946
Tác giả Lương Duy Hòa
Người hướng dẫn PGS.TS Đặng Minh Tuấn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành Chính
Thể loại luận văn thạc sĩ luật
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 26,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm soát quyền lực Nhà nước theo Hiến pháp là các hoạt động có chủ đích của cơ quan quyền lực Nhà nước đối với xã hội bằng những quy định của Hiến pháp và pháp luật trong việc hạn chế q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

cơ CHÊ KIỂM SOÁT QUYỂN Lực NHÀ Nước

THEO HIẾN PHÁP NĂM 1946

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành Chính

Mã số: 8380101.02

LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC• • • •

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG MINH TUẤN

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ

của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lương Duy Hòa

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐÀU 1

Chương 1: LÝ LUẬN VÈ cơ CHẾ KIỂM SOÁT NHÀ NƯỚC VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP ĐÓI VỚI KIẾM SOÁT QUYỀN Lực NHÀ NƯỚC 6

1.1 Khái niệm cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước 6

1.1.1 Khái quát về quyền lực Nhà nước 6

1.1.2 Cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước 13

1.2 Các cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước 21

1.2.1 Cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy Nhà nước 21

1.2.2 Cơ chế kiểm soát quyền lực bên ngoài bộ máy Nhà nước 25

1.3 Vị trí, vai trò của Hiến pháp đối với việc kiểm soát quyền lực Nhà nước 27

1.3.1 Kiềm soát quyền lực Nhà nước - Lý do ra đời của Hiến pháp 27

1.3.2 Hiến pháp - biểu hiện kiểm soát quyền lực Nhà nước 36

Kết luận Chưong 1 47

Chương 2: HIÉN PHÁP NẢM 1946, VÀ nhũng giá trị của co CHẾ KIẺM SOÁT QUYỀN LỤC NHÀ NUỚC TRONG HIẾN PHÁP NĂM 1946 48

2.1 Bối cảnh và các nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1946 48

2.1.1 Bối cảnh của Hiến pháp năm 1946 48

2.1.2 Nội dung cơ bản cùa Hiến pháp năm 1946 57

2.2 Đặc điểm cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp năm 1946 61

2.2.1 Kiểm soát quyền lực Nhà nước nhằm bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân 61

Trang 4

2.2.2 Cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực theo Hiến pháp 1946 - hạn

chế quyền lực Nhà nước 68

2.3 Các phương thức kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp năm 1946 74

2.3.1 Cơ phương thức kiểm soát quyền lực Nhà nước bên trong bộ máy Nhà nước 74

2.3.2 Cơ phương thức kiếm soát quyền lực Nhà nước bên ngoài bộ máy Nhà nước 83

2.4 Một số giá trị tham khảo của cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp năm 1946 đối vóí việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp năm 2013 87

2.4.1 Quyền lực Nhân dân trong Hiến pháp 2013 và sự kế thừa từ Hiến pháp 1946 trong việc kiểm soát quyền lực Nhà nước 87

2.4.2 Cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát trong việc kiểm soát quyền lực Nhà nước theo Hiến pháp năm 2013 91

2.4.3 Tiếp tục xây dụng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm 2013 94

Kết luận chưong 2 98

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẲT

ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội

HĐND: Hội đồng nhân dân

ICCPR: Các quyền dân sự, chính trị

ICESCR: Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóaMTTQVN: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

QLNN: Quyền lực Nhà nước

ƯBHC: ủy ban hành chính

VNDCCH: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỎ ĐÀU

1 Tính câp thiêt của đê tài

Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên cùa nước VNDCCH, đã trải qua 75 năm (2021 - 1946) lịch sử của đất nước Sau hơn 80 năm làm nô lệ dưới sự cai trị của thực dân Pháp, và đế quốc Nhật, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thànhcông đã đưa đất nước ta sang một kỷ nguyên mới, đất nước được khai sinh và hồisinh với một nền độc lập, tự chủ tự cường của một dân tộc đã chịu nhiều đau thương

và tủi nhục Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã trả lại cho dân tộc Việt Nam một nền độc lập tự do mà dân tộc ta có quyền được hưởng, không một thế lực nào được xâmphạm hay cưỡng bức nền độc lập tự do này Toàn dân tộc Việt Nam quyết tâm gìngiữ và bảo vệ nền độc lập tự do độc lập ấy bằng cả tinh thần, lực lượng, tính mạng và của cải Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại vườn hoa BaĐình lịch sử với những khẳng định như vậy trước toàn thể nhân dân Sau đó Chínhphủ cách mạng lâm thời được thành lập, người đứng đầu chính phủ là Hồ Chí Minh,với tầm nhìn chiến lược• về một• đất nước với một• • nền độc lập• 1 tự• • do cùng với mục tiêu

là đảm bảo quyền con người, Hồ Chí Minh đã chủ chương chỉ rõ: “ Trước chúng ta

tự do dân chủ Chúng ta phái có một nền Hiến pháp dân chủ ” [24, tr.365] Có thế coilời nói này của Hồ Chí Minh là một lời tuyên ngôn về sự ra đời một bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước ta Tuy nhiên bản Hiến pháp năm 1946 ra đời nhưng do đất nước bước vào một cuộc chiến tranh, nên Hiến pháp không được áp dụng trong thời giannày, nhưng giá trị trong Hiến pháp vẫn là một lịch sử của ngành khoa học pháp lý

Kiểm soát quyền lực Nhà nước theo Hiến pháp là các hoạt động có chủ đích của cơ quan quyền lực Nhà nước đối với xã hội bằng những quy định của Hiến pháp

và pháp luật trong việc hạn chế quyền lực Nhà nước, đế việc tố chức và thực hiện quyền lực Nhà nước được thực hiện đúng mục đích, phù hợp với một quy định bắt buộc và nâng cao hiệu quả quyền làm chủ, lợi ích của nhân dân Cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước là một chính thể với các cơ sở pháp lý chặt chẽ để đảm bảo

Trang 7

quyên lực Nhà nước được tô chức và thực hiện đúng với mục đích và thật sự hiệuquả Cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước theo quy định trong Hiến pháp chỉ cóthể mang lại hiệu quả và hiệu lực khi nó được xây dựng một cách chặt chè bằng một

hệ thống pháp luật Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về cơ chế kiểm soátquyền lực Nhà nước qua các bản Hiến pháp khác nhau, nhưng đã 3/4 thế kỷ trôi qua với những bản Hiến pháp ra đời sau này của đất nước ta, việc xây dựng cơ chế kiềmsoát quyền lực Nhà nước theo Hiến pháp rất sau này đã chú trọng và được xây dựng rất khoa học và có tính pháp lý cao Việc học viên lựa chọn đề tài “ Co chế kiểm soát

nghiệp thạc sĩ, và làm cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học, so sách với cơ chế kiểmsoát quyền lực Nhà nước với các bản Hiến pháp sau này của nước ta sau này

2 Mục đích và nhiệmvụ của đề tài 2.7 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu lịch sử ra đời và nội dung của Hiếnpháp nước Việt Nam DCCH năm 1946, trong đó nghiên cứu trọng tâm về cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp Theo đó, nghiên cứu cơ chế tổ chức Nhà nước VNDCCH với nhừng quy định trong Hiến pháp, cùng với nhữngquy tắc phân quyền theo quy định của Hiến pháp Làm sáng tò những cơ sở lýluận về cơ chế kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm 1946, từ đó phân tíchđược những giá trị kế thừa, xây dựng và phát triển cơ chế kiểm soát quyền lựcNhà nước sau này

2.2 Nhiệm vụ nghiên cúu của luận văn

Để thực hiện được mục đích trên đây, luận văn cỏ những nhiệm vụ sau:

cảnh ra đời, và những nội dung tổ chức Nhà nước của Hiến pháp năm 1946

Thứ hai'. Nghiên cứu cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước và cách thức phân quyền theo Hiến pháp năm 1946

Thứ ba: Nghiên cứu cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN giữa

cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 1946,

2

Trang 8

Thứ tư: Phân tích, đánh giá cơ chê pháp lý vê kiêm soát Nhà nước theo Hiênpháp năm 1946 với những giá trị trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểmsoát quyền lực theo Hiến pháp năm 2013.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cún

Luận văn nghiên cứu các quan điểm lý luận khoa học, với những tư tướng, quan điểm đã trở thành các học thuyết kinh điển trong khoa học pháp lý về tổ chứcQLNN, cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước nói chung và cơ chế kiểm soát QLNNtheo Hiến pháp năm 1946 nói riêng Nội dung được quy định trong Hiến pháp là cơ đối tượng nghiên cứu những vấn đề về Nhà nước Việt Nam DCCH và cơ chế kiểmsoát quyền lực Nhà nước theo những quy định của Hiến pháp năm 1946

3.2 Phạm vi nghiên cún

pháp năm 1946, trong đó tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2013

cảnh ra đời bản Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông Cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN qua những quy định trong Hiến pháp năm 1946, trong đó nghiên cứu nguồn gốc của cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước qua các học thuyết của các nhà triếthọc châu Âu qua các thời kỳ, bên cạnh đó luận văn cũng có những nhận xét và rút

ra được những giá trị tham khảo của cơ chế kiểm soát QLNN theo Hiến pháp năm

1946 đối với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát QLNN theo Hiến pháp năm 2013

4 Phương pháp nghiên cún

Để đạt được các mục • • • 2 • • • •đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn sử dụng phương pháp chú nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài Trong từng phương diện cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:

các tài liệu bao gồm; Hiến pháp năm 1946, các bài báo, tạp chí khoa học, các nhận định của các tác giả thực hiện việc nghiên cứu và phát hành trên phương tiện truyền

3

Trang 9

thông vê cơ chê kiêm soát quyên lực Nhà nước, tác phâm nước ngoài được dịchsang tiếng Việt, sách chuyên khảo của các tác giả Khoa Luật - ĐHQGHN.

trong phạm vi nghiên cứu của luận văn với những giai đoạn ra đời bản Hiến phápđầu tiên của đất nước ta Thống kê những giá trị lịch sử để có dẫn chứng việc ra đời Hiến pháp năm 1946

quá trình nghiên cứu luận văn, thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phươngpháp này hệ thống hóa và làm sáng tở cơ sở khoa học của cơ chế pháp lý kiểm soátquyền lực Nhà nước theo Hiến pháp năm 1946

cứu so sánh mô hình, cơ chế, kinh nghiệm của một số nước, từ đó rút ra nhừng giá trị tham khảo cho Việt Nam

5 Những đóng góp của đề tài

Đánh giá và nhận xét những nhận thức cơ bản trên phương pháp và lý luận trong cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước theo bản Hiến pháp năm 1946 của nướcVNDCCH Cách tổ chức quyền lực Nhà nước, và cơ chế kiểm soát QLNN trongHiến pháp năm 1946 Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất các giải pháp tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước đối với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát QLNN

Mặc dù đã có nhiều học giả, luận văn nghiên cứu về vấn đề kiểm soát quyềnlực Nhà nước, tuy nhiên luận văn của tác giả cũng góp phần phân tích đầy đủ và toàn diện về cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 để từ

đó tạo ra những giải pháp cho việc nghiên cứu việc kiềm soát quyền lực Nhà nướcqua các bản Hiến pháp sau này, cũng như việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lựccho những nghiên cứu khoa học pháp lý sau này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.

\'è mặt lý luận, luận văn kế thừa những công trình nghiên cứu khoa họctrước đây để bồ sung vào hệ thống lý luận các khái niệm về kiềm soát QLNN Việc

4

Trang 10

nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận vê cơ chê kiêm soát QLNN giữa các cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước.

về mặt phân tích, luận văn cũng nêu ra được những vấn đề đặc điểm, khái niệm, cơ chế, vai trò, các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa cơ chế kiểm soát QLNN qua việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Tiếp theo đó là chỉ ra nhừng quan điềm và giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về kiềm soát QLNNtrong việc thực thi quyền lực này Cùng với đó là việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát QLNN theo Hiến pháp năm 2013

6.2 Ỷ nghĩa thực tiễn của luận văn

về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong trinh xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước ta Kết quả nghiên cứu của luận vàn cũng là tài liệu tham khảo bố ích cho việc giảng dạy, học tập và nghiến cứu trong lĩnh vựckhoa học pháp lý

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gôm 2 chương, và các nội dung khác gôm phân mở đâu, kêt luận,danh mục• • tài liệu tham khảo

Chương 1* Lý luận vê cơ chê kiêm soát quyên lực Nhà nước và vị trí, vai trò

của Hiên pháp đôi với việc kiêm soát quyên lực Nhà nước

Chương 2\ Hiến pháp năm 1946 và những giá trị của cơ chế kiểm soát quyềnlực Nhà nước trong Hiến pháp năm 1946

5

Trang 11

Chương 1

LÝ LUẬN VÈ Cơ CHẾ KIẾM SOÁT NHÀ NƯỚC VÀ

VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP ĐỐI VỚI

KIỂM SOÁT QUYỀN LỤC NHÀ NƯỚC

1.1 Khái niệm cơ chê kiêm soát quyên lực Nhà nước

1.1.1 ỉ Quyền lực Nhà nước

Quyền lực (power), theo Từ điển Oxford, là “khả năng hoặc năng lực làm

lực hay khả năng điều khiển hay tác động đến thái độ của người khác hoặc đến diễn biến của một sự việc” [33, tr.23]

Quyền lực Nhà nước “ là quyền lực dựa trên sức mạnh của bộ máy nhà

Quyền lực Nhà nước là một bộ phận chú yếu, cơ bản và cốt lõi cùa quyền lựcchính trị QLNN tồn tại trong mối quan hệ giữa các tổ chức cá nhân, tổ chức trong

xã hội với Nhà nước và phục tùng Nhà nước Theo một cách hiểu khác thì quyềnlực Nhà nước là quyền lực chính trị và của giai cấp thống trị được thực hiện bàngNhà nước, hoặc “ quyền lực nhà nước là khả năng sử dụng nhà nước đế thực hiện ỷ

dạng quyền lực đặc biệt của quyền lực chính trị Sở dĩ là quyền lực đặc biệt là bởi vì

đó là quyền lực nhân danh cộng đồng thực hiện một cách công khai trong mọi lĩnhvực của đời sống xã hội QLNN được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế nhằm bắt buộc các chủ thể khác phải phục tùng quyền lực này, và biện pháp cưỡng chế bằngnhân danh Nhà nước và được thực hiện bởi bằng cơ quan Nhà nước

Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng về chính trị - triết học đà cho rằngquyền lực Nhà nước là cái vốn có trong xã hội Nguồn gốc của quyền lực Nhà nước

6

Trang 12

được các nhà triêt học giải thích theo nhiêu cách khác nhau qua các thời kỳ khác nhau nhưng vẫn có sự kế thừa và phát triển từ các ý niệm qua các học thuyết và các tác phẩm về quyền lực Nhà nước Trong thời kỳ phong kiến, QLNN có thể được giải thích và hiểu là do hiện tượng siêu nhiên, là ý niệm tuyệt đối, hoặc là sản phẩm của Thượng đế, Chúa trời, hoặc do các hiện tượng trong xã hội Quan niệm của Aristotle thì quyền lực Nhà nước là sự hình thành một cách tự nhiên do con người sống trong xã hội tạo nên, do vậy trong xã hội tất yếu sẽ tồn tại một trật tự tự nhiên

là có một số người ra lệnh và một số người phải phục tùng

Đến thời kỳ khai sáng (thời kỳ cận đại) cùng với đòi hởi của con người về sự

tự do, dân chủ, giai cấp tư sản đã chống lại sự chuyên quyền độc đoán của Nhà nước phong kiến, đòi hỏi và tìm kiếm sự bình đẳng trong việc tham gia và nắm giữquyền lực Nhà nước Mục đích của quyền lực Nhà nước là giữ gìn các quyền tựnhiên và không thể tước bỏ của con người Chính quyền Nhà nước phải được thành lập gồm những người lấy quyền lực chính đáng cùa mình từ sự nhất trí của nhândân Điều quan trọng là nhân dân lại trao cho mình quyền có thể thay thế Nhà nướcnếu như nó không thực hiện khế ước đã ký Tư tường về quyền lực Nhà nước trong thời kỳ này bắt đầu khởi nguồn từ một nhà triết học người Anh, John Locke là người theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận,trong tác phẩm “ Hai khảo luận về chínlĩ quyền ” của John Locke chính là nền tảng

về nguồn gốc của quyền lực Nhà nước trong thời kỳ này, đó cũng mang tính bước ngoặt của cách mạng tư sản ở châu Âu, những luận điểm của ông sau này được cácnhà tư tưởng sau này kể thừa và phát triển trong thời kỳ khai sáng như; Voltaire,Montesquieu, J.J Rousseau

Ke thừa những tư tưởng từ học thuyết cùa John Lock, một nhà khai sáng

vĩ đại Montesquieu người Pháp đã giải thích quyền lực trong mỗi một quốc gia đều có 3 quyền:

Trong mồi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thihành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành nhữngđiều trong luật dân sự Với quyền thứ nhất, Nhà vua hay pháp quan làm

7

Trang 13

ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay hủy bỏluật này Với quyền thứ hai, Nhà vua quyết định hòa hay đinh chiến, gửi đại sứ các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược Với quyền thứ ba,Nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các

cá nhân Người ta sẽ gọi đây là quyền tư pháp, vì trên kia là quyền hành pháp quốc gia [25, tr.lOOJ

Theo quan điểm về triết học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, QLNN vừa có bảnchất giai cấp vừa có bản chất xã hội Bản chất về giai cấp thể hiện là quyền lựcchính trị của giai cấp, hoặc liên minh giai cấp chiếm địa vị thống trị về kinh tế trong

xã hội, là công cụ bạo lực có tổ chức của một giai cấp này để trấn áp một giai cấp khác, về bản chất xã hội là do QLNN là một dạng quyền lực công cùa toàn xã hội

và được lập nên đế thực thi những chức năng công này trong việc duy trì lợi íchchung cùa xã hội Bởi vậy, QLNN có thể coi là quyền lực do nhân dân úy quyền,không phải “quyền tự nhiên được thiết lập và duy trì bằng pháp luật

Trong Nhà nước hiện đại sau này, về cơ bản thi QLNN được xây dựng và tồchức thực hiện bằng 3 quyền năng cụ thể gồm; Quyền lập pháp, quyền hành pháp

và quyền tư pháp

Quyền lập pháp

Thuật ngữ quyền lập pháp trong quan niệm của các nhà khoa học trên thếgiới đã xuất hiện từ rất sớm Đó là “cơ quan quyền lực lập pháp là nơi có quyềnđịnh hướng việc sử dụng sức mạnh của công quốc như thế nào cho sự bảo toàn cộng đồng và thành viên của nó” [17, tr.197]

Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày nay các nhà khoa học pháp lý cũng

có các quan điểm khác nhau về quyền lập pháp, theo Giáo sư Nguyễn Đăng Dung Khoa Luật ĐHQGHN thì: “Quyền lập pháp thủa ban đầu được dùng để chỉ cáchành vi thảo luận và ban hành các vãn bản chứa đựng quy phạm pháp luật, quyền này còn được gọi là quyền làm luật (ra luật), nhưng sau đó theo thời gian quyền làm luật được mở rộng sang các lĩnh vực khác như: giám sát, thành lập Chính phú -hành pháp, bỏ phiếu tín nhiệm hành pháp, thậm chí còn là xét xử cả quan chức cao

-8

Trang 14

cấp Tất cả những hành vi nói trên đều được hiểu trong phạm vi của quyền lậppháp, quyền của cơ quan được thành lập từ sự ủy thác của cử tri ” [3, tr.82J Cũngvới quan điểm ở cách tiếp cận khác, Giáo sư Trần Ngọc Đường thì cho rằng: “quyền

người được nhân dân trao cho quyền này là những người do phồ thông đầu phiếubầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội ” [411

Quyền lập pháp là quyền được đại hiện cho ý chí của mọi tầng lóp Nhân dân thông qua việc biểu quyết hay đại diện bằng một đạo luật, một quy định của chính sách quốc gia đó, cùng với việc giám sát việc thi hành chính sách của quốc gia.Trong thực tế, bản chất của quyền lập pháp là mang tính đại diện cho ý chí chungcủa tập thể trong việc biểu quyết thông qua luật chứ không thống nhất với quyềnxây dựng và làm luật Hiến phấp của các quốc gia trên thế giới đều trao quyền nàycho Quốc hội hoặc Nghị viện, vì thế mà cơ quan này được gọi là cơ quan lập pháphay cơ quan thực hiện quyền lập pháp

Quyền hành pháp:

Cũng như quyền lập pháp, quyền hành pháp là thuật ngữ được hình thành từrất sớm của các nhà khoa học trên thế giới Trong cuốn; “Tinh thần pháp luật ”

Montesquieu cho rằng quyền hành pháp là quyền mà; “quyết định việc hòa hay chiến,

gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh và đề phòng xâm lược” [25, tr.lOO] Cơ quanhành pháp phải được thành lập bởi cơ quan lập pháp và cơ chế hoạt động dựa trênnguyên tắc dân chủ, mọi người dân đều có thể tham gia vào việc quản lý Nhà nước thông qua quyền của mình bằng cơ quan lập pháp Theo J Jacques Rousseau: “ý

có ỷ hướng làm trái với quyền lực tối cao của dân chúng ” và những người nắm quyềnlực chính trị “ phải làm đủng theo pháp luật, chỉ cho phép làm những điều mà pháp

về mọi lĩnh vực đời Sống xã hội như chỉnh trị, kinh tế, vãn hóa, xã hội, giáo dục, quốc

9

Trang 15

Cũng theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung ông cho rằng quyền hành pháp chính

“ quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia ” [40]

Quyền hành pháp, theo Giáo sư Phạm Hồng Thái - Khoa Luật ĐHQGHN thì:

Quyền điều hành đất nước là nhánh quyền lực hình thành sớm hơn so với các nhánh quyền lực khác, nó gắn liền với lịch sử nhà nước Do vậy, trên thực tế quyền hành pháp luôn nổi lên là trung tâm của quyền lực nhànước Thực tiễn đã chứng minh rằng: hành pháp mạnh biết quản lý, biết dẫn dắt các quá trình xã hội phát triển phù hợp với các quy luật cùa tựnhiên và xã hội tất yếu dẫn đất nước tới sự phát triển, phồn vinh, còn khihành pháp yếu không có khả năng quản lý tất yếu dẫn đất nước tới nhữngcuộc khủng hoảng về chính trị - kinh tể - xã hội [42]

Ở mỗi quốc gia trên thế giới, theo Hiến pháp thì quyền hành pháp được traocho Chính phù, do đó mà Chính phũ còn được gọi là cơ quan hành pháp hay cơquan thực hiện quyền hành pháp

Montesquieu cũng trong tác phấm “ Tinh thần pháp luật ” đã giải thích quyền

tư pháp trên cơ sở phân biệt quyền lập pháp và hành pháp, theo ông thì quyền

pháp là quyền: “ Nhà vua hay phán quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp

động xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng trong nhân dân, hoạtđộng của các cơ quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và thi hành án [26]

Cũng có những quan điểm khác khi đưa ra khái niệm về quyền tư pháp, GS.TS Lê Hồng Hạnh cho rằng:

Trong cơ chế phân công quyền lực, quyền tư pháp được hiểu là quyền củaNhà nước xác định và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và thực thi công

lý thông qua các thể chế phù họp Thiết chế này có chức năng cơ bản nhất, nếu không muốn nói là chuyện duy nhất, thay mặt xã hội thực thi công lý và

nó phải được tố chức, được giao nhiệm vụ, quyền hạn thực thi trong mắt nhân dân Thiết chế thực thi công lý bao gồm các thẩm phán [14]

10

Trang 16

Quyên tư pháp là một trong ba quyên của QLNN (quyên lập pháp, hànhpháp, và tư pháp) ba quyền này hợp thành và tạo nên một thiết chế nhằm bảo đảm cân bằng quyền lực Nhà nước, và chống lại sự lạm quyền trong việc thực hiện QLNN Có thể hiểu rằng quyền tư pháp là một trong ba bộ phận quyền lực để họpthành một QLNN, quyền tư pháp có nhiệm vụ duy trì, bảo vệ công lý, trật tự xã hội

do tòa án thực hiện với hoạt động chính là hoạt động xét xử trên nguyên tắc tuân thủHiến pháp và pháp luật

QLNN là một quyền lực đặc biệt trong xã hội, mặc dù tồn tại rất nhiều dạngquyền lực trong xã hội và do cũng do nhiều chủ thể khác nhau nắm giữ quyền lựcnày Chính vì QLNN là quyền lực đặc biệt trong các dạng quyền lực, nên quyền lựcNhà nước cũng có những đặc trưng đặc biệt, đó là:

Theo quan điểm của Mác - Lê nin thì khi xã hội phát triển đến giai đoạn nhấtđịnh thì dẫn đến sự phân hóa thành giai cấp có lợi ích mâu thuẫn nhau, và xung độtlẫn nhau, Để giải quyết những mâu thuẫn giai cấp này để duy trì xã hội có một trật

tự thì phải có một thứ quyền lực công là quyền lực Nhà nước Sự ra đời và tồn tại của quyền lực là yếu tố khách quan, và chỉ xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử nhất định và sẽ mất đi khi xã hội không còn giai cấp c Mác cho rằng giai cấp nào thống trị về kinh tế thì sớm hay muộn cũng trở thành giai cấp thống trị về chính trị,khi có đấu tranh giai cấp thì quyền lực kinh tế lại không có đủ sức mạnh để duy trì mồi quan hệ và giải quyết những mâu thuẫn giữa các giai cấp Do đó, quyền lựckinh tế cần đến quyền lực chính trị, một loại quyền lực dựa vào sức mạnh bạo lực,được tổ chức chặt chẽ dưới hình thức bộ máy “bạo lực có tô chức ” [22] để duy trìtrật tự trong xã hội, và cũng ngăn chặn sự xâm hại đến trật tự đó Ngược lại, giai cấpnào đã có quyền lực chính trị thì cũng phải sử dụng nó để chiếm lấy quyền lực kinh

tế, để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình

Như vậy bản chất quyền lực Nhà nước là một hiện tượng chính trị và phụ thuộc vào giai cấp thống trị và đề phục vụ cho giai cấp đó, Mác - Lênin đã chỉ ravấn đề này; vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền

11

Trang 17

Thứ hai: QLNN được hình thành từ sự ủy quyênQLNN là quyền phái sinh bắt nguồn từ quyền lực của Nhân dân, quyền lựcnày trải qua sự phát triển của thời gian thông qua các học thuyết của các nhà triếthọc như John Locke, Montesquieu theo đó, QLNN được hình thành từ sự ủy quyền của nhân dân cho Nhà nước thay mặt mình dưới hình thức dân chủ đại điện hoặc dân chủ trực tiếp QLNN được hình thành từ sự ủy quyền như vậy thì quyềnlực của mỗi cá nhân đà được chuyển sang thành quyền lực công (quyền lực Nhànước), khi có sự chuyển giao như vậy thì quyền lực đó không còn phụ thuộc vào ý trí của mỗi cá nhân đó nữa mà phụ thuộc vào ý chí của chung của cả Nhà nước, khinày thì các cá nhân lại phải chịu sự chi phối và phục tùng quyền lực Nhà nước khiNhà nước thực hiện quyền lực của mình.

Nhà nước là tố chức đặc biệt trực tiếp mang quyền lực Nhà nước và thực thiquyền lực đặc biệt này với một bộ máy Nhà nước hùng hậu được tổ chức có hệthống quản lý từ trung ương tới địa phương với đội ngũ công chức, viên chức và cácthành phần khác Bộ máy Nhà nước có trách nhiệm rất lớn và nặng nề trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó bộ máy Nhà nước có những quyền năng đặc biệt để

tổ chức quản lý điều hành các vấn đề về đối nội, đối ngoại Các quyền năng này được phân công một cách hợp lý cho các tố chức cá nhân trong bộ máy Nhà nước

để thực hiện quyền hạn, và chịu trách nhiệm trong quyền hạn được thực thi Là một

tổ chức mà có đủ ba quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp nên pháp luật do Nhànước ban hành có tình bắt buộc chung và mọi chủ thề tham gia phải tôn trọng và bảo vệ pháp luật

Thứ tư: QLNN thực hiện chức năng quản lý hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội

Là một quyền lực công đặc biệt, nên tương ứng với quyền này cũng giữ một

vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội với hầu hết các lĩnh vực quan trọng của xã hội như; Thực hiện công việc đối ngoại, ngoại giao trên khắp lĩnh về chính trị và kinh tế để phát triển quốc gia; Các chính sách quốc gia và xây dựng, ban hành pháp

12

Trang 18

luật, tô chức thực thi chính sách của pháp luật, đảm bảo cho một xã hội mà pháp luật được công bàng và nghiêm minh; Quản lỷ điều hành các lĩnh vực quan trọngtrong xã hội; Đảm bảo anh ninh chính trị, an toàn xã hội; Bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp của công dân bằng luật pháp; Trọng tài cho các tranh chấp trong xã hội và xét xử các vi phạm pháp luật; Tổ chức thanh tra, kiếm tra, giám sát các hoạt động của việc thực hiện chính sách pháp luật Khi Nhà nước tham gia ngày càngnhiều hon vào các hoạt động xã hội thì sứ mệnh của Nhà nước đối với xã hội ngày càng lớn hơn.

đặc biệt

Đó là các cơ quan Nhà nước và pháp luật do Nhà nước ban hành, Nhà nước

và pháp luật là những thiết chế với công cụ có tính cường chế rất cao, và có nhữngtác động rất mạnh, tác động trực tiếp và rất hiệu quả đế thực hiện quyền lực Nhà nước Cưỡng chế vừa mang yếu tố QLNN vừa mang tính quyết định để thực hiệnquyền lực này So với các quyền khác có trong xã hội, có thể khẳng định QLNN là quyền lực có được lợi thế và bảo đảm thực thi một cách hiệu quả và tốt nhất

Ttó sáu: QLNN gắn liền với chủ quyền quốc gia, dân tộc

QLNN một mặt mang tính giai cấp tồn tại trong môi trường chính trị, không những chỉ duy trì và bảo vệ trật tự xã hội có lợi cho giai cấp, mà còn phải mang lạilợi ích chung cho toàn xã hội, bảo đảm một sự công bằng cho toàn bộ xã hội.QLNN gắn liền với phạm vi trong lãnh thổ quốc gia, không những chỉ làm hình thành, củng cố chủ quyền quốc gia mà còn thiết lập nên phạm vi không gian củaQLNN, điều này dẫn đến tính chú quyền của quốc gia, dân tộc trong việc thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại, nhằm duy trì bảo vệ sự tồn tại, và sự phát triển của đất nước, cùng những lợi ích có được và sự phát triển chung của xã hội

Lý thuyết về kiểm soát quyền lực Nhà nước đã được phát triển bởi các họcgiả tư sản phương Tây từ nhiều thế kỷ trước QLNN là một dạng quyền năng đặc

13

Trang 19

biệt mang tính chính trị và có đây đủ tính xã hội giai câp, QLNN được hình thành từ

ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, và được nhận lại từ nhân dânthông qua hình thức dân chủ trực tiếp hoặc dân chủ đại diện, như vậy QLNN làquyền phái sinh từ một số đông nhân dân trao lại cho Nhà nước sử dụng quyền này, khi đó Nhà nước với số ít sẽ được sử dụng trực tiếp quyền lực này, do đó số ít người được sử dụng quyền này sẽ tác động lên số đông nhân dân đã trao quyền cho họ c.Mác gọi hiện tượng này là sự “ tha hóa của quyền lực Nhà nước". Đe chống lại những tiêu cực trong việc sử dụng QLNN, và những sự đòi hỏi sự công bàng cho một xã hội thì cần thiết phải kiểm soát việc sử dụng QLNN bởi các lý do sau:

phải là quyền lực tự nhiên mà có được hay từ đấng siêu nhân ban phát, mà là quyềnlực có nguồn gốc từ Nhân dân và của Nhân dân Xét trên khía cạnh pháp luật về sự công bằng thì Nhà nước phải phục vụ nhân dân bằng quyền lực này chứ không thếdùng quyền lực này chấn áp hay cường bức Nhân dân Do đó, xét từ khía cạnh đạo đức, các công chức trong bộ máy Nhà nước phải là người đầy tớ trung thành

Cũng chính vì vậy mà quyền lực dễ bị một số người làm trái với sự ủy nhiệm củaNhân dân đã trao quyền đó cho họ Hành động của con người thì luôn chịu sự tác động của các loại tình cảm và dục vọng và những ham muốn khiến cho lý trí cùa con người có những lúc bị chìm xuống trong những tác động đó

giữ, nên sẽ dẫn đến số ít người này thao túng, lạm dụng quyền lực này Trong mỗi con người luôn tồn tại hai thái cực là tính vị tha và tính ích kỷ, nó thể hiện một mặt

vì con người trong xã hội loài người, mặt trái ngược là vì bản thân mình Ngoài việccon người bị chi phối bởi các lý tưởng, niềm tin tốt đẹp, thì con người còn bị chiphối bởi những toan tính cá nhân hay những cám dỗ bởi xã hội, cũng bởi một nhóm người cùng bị những cám dỗ ấy chi phối thì sẽ dẫn đến những tiêu cực trong việc sử dụng quyền lực công một cách vô tội vạ nhằm mục đích mưu lợi riêng cho cá nhân rất dễ xảy ra

14

Trang 20

Thứ ha: Quyên lực Nhà nước là ý chí chung của xã hội nhưng lại được giaocho một số ít người với những khả năng có hạn Đã là con người, ai cũng có thể mắc sai lầm, nhưng có những sai lầm có thể sửa chữa được, có những sai lầm không thể sửa chữa được do hậu quả của sai lầm đó là rất lớn cho một cộng đồng trong xã hội phải gánh chịu Người nắm quyền lực có thể dẫn dắt cả một tổ chức QLNN đi theo những nhận thức với những mục tiêu chính trị sai lầm của mình, và do đó có thểdẫn tới sự đố vỡ của cả một hệ thống Lịch sử thế giới đã chứng kiến không ít cáctrường hợp QLNN bị các cá nhan lạm dụng đã dẫn đến hậu quả khôn lường cho nhân loại, mà không thể bằng mọi cách có thể sửa chữa lại được, cụ thể như sự tin tưởngvào Hitler của người Đức trong chiến tranh thế giới thứ II, hay sự ham muốn khát vọng của Pol Pot với sự diệt chủng một cách tàn độc đối với Nhân dân Campuchia, Do đó để chống lại những sai lầm đó, quyền lực đó cần phải được kiếm soát.

Thứ tư: Quyền lực Nhà nước giữ quyền cưỡng chế hợp pháp QLNN thường được dùng để thực thi công việc bằng sự phục tùng, trong đó có quyền cưỡng chếhợp pháp, những hành vi gây cản trờ cho việc thực hiện lợi ích chung cùa cộng đồng, xã hội Nếu quyền lực này được áp dụng một cách đúng đắn thì sẽ mang lạicho xã hội một kết quả tốt đẹp, nhưng ngược lại, nếu nó bị sử dụng sai hoặc nó bị lạm dụng thì hậu quả sẽ ngược lại cho cả một xã hội với một hậu quả tai hại vô cùng Không phải bao giờ việc cưỡng chế và can thiệp một cách đúng đắn cũng mang lại hiệu quả một cách tích cực, lịch sử cũng đã chứng minh sự việc này trong việc thực hiện chính sách đất đai ở miền Bắc nước ta trong năm 1956

nhiệm Con người với những ham muốn về vật chất là không giới hạn, khi đó để có vật chất thì con người cần phải có quyền lực, để sử dụng quyền này chiếm lấy vật chất một cách theo mong muốn của con người Bên cạnh đó là khi có quyền lực thìcon người bản chất cũng không muốn chịu trách nhiệm gì, không muốn nhận tráchnhiệm và gánh hậu quả do chính mình đế lại, do đó những quyền lực này được sử dụng vào mục đích trốn tránh những trách nhiệm với mình, quyền lực càng cao thì trách nhiệm càng giảm, do vậy mà quyền lực được con người ham mê và sự tham

15

Trang 21

lam vôn có trong bản chât của con người là khó mà xóa bở Do đó QLNN cân phải được kiểm soát chặt chè ngay trong những ý thức của con người, ý thức này đã được hình thành từ rất sớm trong mỗi con người.

Tóm lại tất cả mọi quyền lực nói chung và đặc biệt là QLNN nói riêng rất cần thiết phải có sự kiếm soát, việc kiếm soát phải theo một quy trình với mộtkhung pháp lý hoàn toàn phù hợp, việc kiểm soát QLNN chủ yếu tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

- Kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động QLNN, kiểm soát các vãn bản, các quyết định, các hoạt động, các hành vi của cơ quan sử dụng quyền lựcNhà nước xem có phù hợp với những quy định đó không

- Kiểm soát phạm vi hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền lực Nhànước, kiểm soát việc thực hiện đúng nhiệm vụ trong quyền hạn được giao haykhông, có lộng quyền hay lạm quyền hay không, khi các cá nhân hay tổ chức Nhà nước thực hiện QLNN trong nhiệm vụ của mình

- Kiểm soát các quy trình, thủ tục của các hoạt động QLNN trong các cơ quan Nhà nước có đúng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật không

Từ “cơ chế"" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là "cách thức hoạt động của mộttập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữhọc 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện"" Từ

“ cơ chế"" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm

1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế,với nghĩa như là những qui định về quản lý Cách hiểu đơn giản này dẫn tới cáchhiểu tách rời cơ chế với con người như nêu trên [47]

Theo từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê thì cơ chế có nghĩa là “ cách thức, sắp xếp tô chức đê làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện"" [28, tr.234J

Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát” có nghĩa là: “Xem xét để phát hiện,

16

Trang 22

ngăn chặn những gì trái với quy địnhTừ một góc độ khác, kiêm soát có nghĩa là:

kiểm soát nói chung hay kiểm soát QLNN nói riêng nó là một hành động phòng ngừa với mục đích ngăn chặn từ xa trước khi nó xảy ra làm cản trở hành vi làm trái với quy định của pháp luật hay những hành vi lạm dụng quyền lực, “ quyền làm cho quyết định của người khác trở thành vô hiệu ” [25, tr.l 13J

Co chế kiểm soát quyền lực Nhà nước là “cơ cấu tô chức bộ máy và quy

chế kiểm soát quyền lực Nhà nước nói đến “ tập họp các quỵ định pháp luật của một

như các quyền và những quy tắc, thủ tục mà người dân, các tô chức xã hội và bản

hành vi lạm dụng quyền lực Nhà nước ” [11, tr.12]

Cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước là một khái niệm rộng, với nhiều cách định nghĩa đế hiểu theo các cách khác nhau, tùy vào hoàn cảnh mà cho ra các ngữnghĩa của khái niệm là khác nhau Theo cách hiểu chung và cơ bản nhất thì: Cơ chế

được tổ chức, thực hiện theo đúng mục đích và thật sự có hiệu quả.

Cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trước hết là một cơ chế pháp lý Điềunày được hiểu là bởi quyền lực Nhà nước cơ bản là một phạm trù khoa học pháp lý Khi cần xác định tính chất, giới hạn và cách thức kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp, pháp luật của hầu hết quốc gia trên thế giới cho thấy rõ điều đó.Mặc dù vậy, cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước vừa mang tính chính trị và cũng mang tính xã hội cao Điều đó thể hiện ở việc quyền lực Nhà nước là một biểu hiện của quyền lực chính trị, vì thế kiểm soát quyền lực Nhà nước thực chất là kiểm soátquyền lực chính trị, Kiểm soát QLNN thể hiện tính chất dân chủ và công bằng của

17

Trang 23

xã hội, có sự tham gia của đông đảo người dân và các tô chức, có tác động tích cựcđến tình hình chính trị, xã hội cùa mỗi quốc gia.

Với mỗi nhà nghiên cứu khoa học pháp lý thì sẽ có một khái niệm hay quanniệm khác nhau về khái niệm cơ chế kiểm soát QLNN, tuy nhiên những nội dung căn bản và hình thức trong khái niệm đó là tương đối sẽ được hiếu theo một cáchkhá giống nhau trên phương diện khoa học pháp lý

b) Chủ thê kiêm soát quyền lực Nhà nước

Các chủ thể kiểm soát quyền lực Nhà nước trong cơ chế pháp lý kiểm soátquyền lực Nhà nước của các cơ quan Nhà nước được quy định khá đa dạng, ở mồi quốc gia khác nhau với mỗi thời điểm khác nhau sẽ tương ứng với những quy định khác nhau, nói cách khác chủ thể này được xác định theo thể chế pháp luật của mỗiquốc gia theo từng giai đoạn Ở Việt Nam thì chủ thể quan trọng nhất trong cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực Nhà nước là Quốc hội Quốc hội được thực hiện quyềnlập hiến, quyền lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng cùa đất nước và bên cạnh đó là giám sát tối cao với hoạt động cùa Nhà nước Chính phủ là chủ thể tiếp theo, thực hiện quyền hành pháp, và tổ chức thực hiện thi hành Hiến pháp, luật,nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội, thihành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, cùng với việc tổ chức thanh tra, kiểm tra

và giải quyết khiếu nại và tố cáo của công dân, chống tham nhũng trong bộ máy,lãnh đạo, chỉ đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,

ủy ban nhân dân các cấp, kiểm tra hướng dẫn trong việc thực hiện văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên Bên cạnh đó còn tham gia vào cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước là tòa án, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nhà nước, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công dân, quyền con người, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của cá nhân và các tồ chức

c) Đối tượng kiêm soát quyền lực Nhà nước

Đối tượng kiểm soát quyền lực Nhà nước trong cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực Nhà nước của cơ quan Nhà nước là cá nhân, tổ chức nắm giữ, được giao,

18

Trang 24

và thực hiện quyên lực đó, đó chính là tât cả các nhân viên, cơ quan Nhà nước Nhưvậy đối tượng kiểm soát quyền lực Nhà nước là những người phải làm trong Nhà nước với số lượng ít được quyền thực hiện quyền lực Nhà nước Theo nhận xét mộtcách tiêu cực thì, con người với những bản chất không trong sáng, khi nắm giữ và thực hiện quyền lực Nhà nước cũng có khả năng dẫn đến sự lạm quyền, và lộng quyền Lý thuyết và thực tiễn đều nhận định rằng quyền lực đều có xu hướng tự mở rộng, và tăng cường vai trò của nó, do đó việc đề phòng với những hạn chế, nhữngcái xấu trong sự tiêu cực từ việc nắm giữ và thực hiện quyền lực là cần thiết vì tất cả mọi thứ đều có thể xảy ra Chính vì những lý do đó mà phải cần xây dựng một cơ chế kiểm soát và phòng ngừa thường xuyên để tránh sai lầm, tránh và ngăn chặnđược những hành vi tiêu cực có thề xảy ra của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong suốt quá trình mà con người nám giữ và thực hiện quyền lực Nhà nước được giao.

Thể chế kiểm soát quyền lực Nhà nước được quy định theo Hiến pháp và pháp luật liên quan đến việc tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực Nhà nước bao gồm những quy định pháp luật về tố chức bộ máy Nhà nước, các quy định phápluật về kiềm tra, thanh tra, và giám sát, quy định pháp lý về nội dung, hình thức, thẩm quyền kiểm soát quyền lực Nhà nước đã được quy định rõ trong Hiến pháp Các luật tố chức chính phủ, luật bầu cử, luật tố chức chính quyền địa phương, luật thanh tra giám sát, các quy định trong điều ước, công ước, và tập quán quốc tế Bên cạnh những quy định đó còn có những nguyên tắc và nội dung, hình thức đểkiểm soát quyền lực Nhà nước

- Các nguyên tắc kiểm soát QLNN

Thực hiện việc kiềm soát QLNN bắt buộc phải tiến hành theo những nguyên tắc cụ thể nhất định, theo quy định riêng của mỗi quốc gia Với Việt Nam theo Hiếnpháp năm 2013 thì việc kiểm soát quyền lực Nhà nước được quy định tại Điều 2 của Hiến pháp, theo đó tất cả QLNN thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức QLNN là thống nhất, có sự phân công, phối họp, kiểm soát giữa cơ quan Nhà nước trong việc

19

Trang 25

thực hiện các quyên lập pháp, hành pháp, tư pháp Hiên pháp năm 1946 thì quy định tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam.

- Nội dung kiểm soát quyền lực Nhà nước

Với nội dung kiểm soát QLNN tại các quốc gia khác nhau thường quy định theo nội dung cơ bản như sau:

Cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước; quá trình lựa chọn bằng nhiều cáchnhư bầu cử, bổ nhiệm, thừa kế cho những người thực hiện QLNN Vì liên quan đến chính thể Nhà nước nên cách thức tổ chức QLNN là vô cùng quan trọng, trong bộ máy từ trung ương đến địa phương được tổ chức với hệ thống như thế nào cho phù hợp, quyền lực tối cao được phân quyền cho cơ quan nào đảm nhận, nguyên tắc phân quyền được thực hiện theo một nguyên tắc đã được chọn QLNN được kiểm soát được thông qua là việc tổ chức và hoạt động là chủ yếu, 'yếu tố tô chức có ỷ

Quá trình lựa chọn người nắm giữ và thực hiện quyền lực Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến mục đích, hiệu quả thực hiện quyền lực Nhà nước và hiệu quả kiểm soát Do vậy, quyền lực Nhà nước do ai nắm giữ, nắm giữ bàng cách nào, trong điềukiện nào và nhằm mục đích gì luôn là một trong những nội dung quan trọng cầnphải được kiểm soát, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng tha hóa quyền lực [9, tr 141]

- Hình thức kiêm soát quyền lực Nhà nước

Trong cơ chế pháp lý kiểm soát QLNN của các cơ quan Nhà nước thường có

sự xác định chính xác các hình thức kiểm soát QLNN Pháp luật quy định việc kiểmsoát QLNN thông thường tiến hành thông qua các hoạt động cơ bản như: ban hành các văn bản pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp, pháp luật, bồ nhiệm những chức vụquan trọng trong bộ máy Nhà nước bằng các hình thức bổ nhiệm hoặc bầu cử; hoạt động báo cáo của các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước; hoạt động thanh tra,kiểm tra, giám sát; hoạt động chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm cùng với đó là cáchoạt động khác mà tùy theo Hiến pháp và luật pháp của các nước quy định, việc quyđịnh và sử dụng hình thức và cách thức nào đều phụ thuộc vào mỗi quốc gia ở mỗi

20

Trang 26

giai đoạn lịch sử khác nhau, nhưng trên hêt tât cả đêu nhăm tới mục tiêu đê bảo đảmQLNN luôn được các cá nhân, cơ quan Nhà nước được tố chức và hoạt động đúngpháp luật và có hiệu quả nhất trong lúc hoạt động.

1.2 Các cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước

Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực Nhà nước được hình thành và phát triển

đã có một quá trình lâu dài và khó khăn, việc hình thành ra cơ chế kiểm soát quyềnlực Nhà nước là ước nguyện của cả xã hội, Nhân dân Sự hình thành nên cơ chếpháp lý kiểm soát QLNN là một thành quả của quá trình nhận thức, của sự đấu tranh giữa các lực lượng xã hội khác nhau, giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thựchiện QLNN Cơ chế pháp lý về kiểm soát QLNN được xác lập bởi Hiến pháp và pháp luật ở mỗi quốc gia theo các giai đoạn phát triển khác nhau, mà từ đó sẽ tựcho mình một cơ chế pháp lý kiếm soát QLNN với những đặc thù riêng của mình.Tuy nhiên cũng có điểm chung của cơ chế này là đều được xác lập bằng Hiếnpháp và pháp luật nên luôn mang tính bắt buộc và phải công khai, minh bạch với một tính chính thống, và đòi hỏi chủ thể phải tiến hành thường xuyên hoặc định kỳtheo đối tượng với các nội dung cần được kiểm soát theo quy định Xét từ góc độ

tồ chức và cách thức vận hành thì có hai cơ chế kiềm soát QLNN mà các nước đang áp dụng rất phổ biển trên thế giới đó là cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong

và cơ chế kiểm soát quyền lực bên ngoài, mặc dù là hai cơ chế kiểm soát độc lậpvới nhau nhưng thực tế hai cơ chế này lại hoàn toàn không độc lập với nhau màcòn có những sự phối hợp, và liên kết với nhau để thực hiện cùng với một mục tiêu

là kiểm soát QLNN

Bản chất cơ chế kiếm soát quyền lực bên trong chính là việc kiểm soát giữacác cơ quan nắm giữ và thực hiện quyền lực Nhà nước bao gồm 3 quyền, quyền lậppháp, hành pháp và quyền tư pháp Song song với đó là việc kiểm soát của các thiếtchế hiến định độc lập như, cơ quan bảo hiến, thanh tra, kiểm toán, phòng chốngtham nhũng và việc kiểm soát từ chính quyền trung ương tới chính quyền địa phương cũng vào thuộc cơ chế kiểm soát này

21

Trang 27

Cơ chê kiêm soát quyên lực Nhà nước băt nguôn từ tư tưởng của Aristotle(384 - 322 tr.CN), một nhà triết học Hy Lạp cổ đại, và sau một thời gian khá dàiđược John Locke (1632 - 1704), một nhà triết học người anh tiếp nhận tư tưởng và xây dựng quan điểm này một cách khá rõ, và tiếp đến Montesquieu (1689 - 1755) làmột nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị Pháp sống trong thời kỳ khai sáng làngười hoàn thiện học thuyết này qua một tác phẩm “Tinh thần pháp luật ” , một tác phẩm kinh điển trong thời kỳ đó, và mãi đến sau này tác phẩm này vẫn có giá tri trong việc nghiên cứu khoa học pháp lý Theo quan điểm của Montesquieu thì việc phân quyền là phòng ngừa sự tập trung quyền lực quá lớn vào cơ quan Nhà nước, điều mà theo ông sẽ dẫn đến sự độc đoán, chuyên quyền Việc phân chia quyền lựcNhà nước cho ba cơ quan là lập pháp, hành pháp và tư pháp nắm giữ là kết quả của cách tiếp cận của Montesquieu Theo đó, việc mỗi cơ quan hay mồi nhánh quyềnlực này có một chức năng riêng, chức năng cùa cơ quan lập pháp là làm ra pháp luật, chức năng của cơ quan hành pháp là thi hành pháp luật, còn chức năng của cơquan tư pháp là xử lý vi phạm pháp luật, hay là bảo vệ luật pháp Tuy nhiên cần thấy rằng cách phân quyền theo học thuyết của Montesquieu về bản chất chính là sự phân công lao động quyền lực Nhà nước Hiểu theo nghĩa đó thì việc phân quyềnkhông loại trừ mà còn bao gồm yêu cầu phối hợp giữa các cơ quan quyền lực, cácnhánh quyền lực có chức năng và nhiệm vụ riêng, có sự độc lập nhưng đồng thời cónghĩa vụ hợp tác với nhau trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Cũng theo tưtưởng của Montesquieu thì việc không phân chia quyền lực như vậy sẽ đến việc rõràng nhất là sự vi phạm các quyền lực bởi con người Ông cho rằng việc hạn chế việc đó thì phải phân quyền, tư tưởng này đã vạch ra giới hạn giữa quyền lực Nhà nước và quyền tự do cùa người dân Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập nước Mỹ năm 1776, Tổng thống T Jefferson muốn có một xã hội của những con người tự do,

vì theo ông tự do là trên hết, nhưng người tự do cũng phải chấp nhận một vài hạnchế trong đời sống của họ và luật lệ cũng phải thi hành đối với những kẻ vi phạm

Đe bảo đảm mục đích về sự cân bằng quyền lực, không nhánh quyền lực nào trong ba nhánh quyền lực Nhà nước có thể thâu tóm hay xâm phạm, vượt lên các

22

Trang 28

nhánh quyền lực khác còn lại, do đó cần có sự kiềm chếchế ước lẫn nhau trong

ba quyền này Sự kiềm chế này cũng thường được áp dụng cho việc tổ chức quyềnlực của nhiều nước trên thể giới trong việc xây dựng Hiến pháp, điển hình nhất làHiến pháp Hoa kỳ năm 1787 với cha đẻ của bản Hiến pháp này là James Madison,chính ông là người chịu ảnh hưởng của tư tưởng của Montesquieu với học thuyết phân chia quyền lực Do đó, Hiến pháp Hoa kỳ quy định rõ 3 nhánh quyền lực của Nhà nước là độc lập hoàn toàn, tuy nhiên quyền của Tổng thống với quyền hành pháp trong tay vẫn bị nhánh quyền lực lập pháp luận tội và phế truất Tổng thống, nhưng việc phê chuẩn hay không phê chuẩn nhân sự nội các lại do Tổng thống để

cử Tuy nhiên Tổng thống có thể phủ quyết các đạo luật mà lập pháp đã thông qua, còn nhánh tư pháp (Toà tối cao) có thể tuyên một luật do cơ quan lập pháp đã thông qua là vi hiến và không có hiệu lực Ngược lại nhánh lập pháp cũng có quyền giám sát nhánh tư pháp thông qua việc phê chuẩn, luận tội và phế truất thẩm phán Toà án tối cao Bằng cách phân quyền này đã khẳng định việc kiềm chếchế ước lẫnnhau trong việc sử dụng quyền lực Nhà nước trở nên cân bằng hơn, làm rõ việc kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả Các Nhà nước phát triển trên thế giới hiện nay, không phân biệt về thể chế chính trị đều được xây dựng nguyên tắc phân quyền

và áp dụng nguyên tắc kiềm chếchế ước, nhưng rồ nhất vẫn là nước Hoa Kỳ

Khái niệm “các thiết chế hiến định độc lập ” (independent constitutionalinstitutions) được dùng để chỉ những cơ quan được thiết lập theo quy định trong Hiến pháp của các quốc gia nhằm mục đích chủ yếu là giám sát việc thực hiện quyền lựcNhà nước của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Những thiết chế hiến địnhđộc lập phổ biến bao gồm: Ombudsman (thường được gọi là Thanh tra Quốc Hội);Hội đồng/Toà án Hiến pháp; Cơ quan Kiểm toán quốc gia; Hội đồng/Uỷ ban bầu cử quốc gia; ủy ban nhân quyền quốc gia; ủy ban phòng, chống tham nhũng quốc gia;

ủy ban công vụ [36, tr 14] Động lực chính cho việc thành lập các thiết chế hiếnđịnh độc lập là nhu cầu giám sát việc thực thi quyền lực công của các cơ quan Nhànước, kế cả các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp [31, tr.29J Cùng với sự phát triển qua thời gian, dân trí và nhu cầu của người dân trong việc kiểm soát, giám sát

23

Trang 29

quyên lực Nhà nước, và cũng chính là việc ngăn chặn quyên lực Nhà nước xâm hạiđền quyền con người trong ngày càng cao Do vậy việc thành lập các cơ quan hiến định độc lập không thay thế mà chỉ bổ sung cho việc áp dụng các nguyên tác phânquyền, kiềm chế - chế ước của J.J Rousseau, Khi có các thiết chế hiến định độc lập,

cơ chế kiếm soát quyền lực bên trong bộ máy Nhà nước không còn chỉ được góigọn trong học thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu như trước đây nữa, khi

đó ba nhánh quyền lực Nhà nước được bổ sung thêm sự có mặt của các thiết chế hiến định độc lập như là sự bổ sung cần thiết cho cơ chế kiểm soát quyền lực từ bêntrong bộ máy Nhà nước Khi đó việc kiểm soát quyền lực được mạnh mẽ hơn so với trước khi có sự xuất hiện của thiết chế hiện định độc lập Xét• X tính độc lập của các • X cơquan hiện định độc lập chỉ ở cách tương đối, vì các cơ quan này vẫn trực thuộc bộmáy Nhà nước, do đó vẫn chịu việc giải trình hay báo cáo với một chủ thế nhất địnhthuộc Nhà nước và vẫn bị giám sát bởi chù thế này, ví dụ như kiềm toán cùa Nhànước Việt Nam, với tính độc lập chỉ mang ý nghĩa về lý thuyết trong quy định của pháp luật, nhưng thực tế cơ quan hiến định độc lập này lại thuộc Quốc hội, là cơ quan lập pháp Từ ví dụ đó cho ta thấy rằng, quyền lực của các thiết chế hiến định độc lập cũng bị giới hạn, thể hiện qua việc kết luận, và chịu sự phán quyết của các

cơ quan này thường không làm phát sinh các quy tắc có tính quy phạm chung, cũng không dẫn đến các chế tài đối với chủ thể vi phạm, cũng như không có hiệu lực hủy

bở các văn bản cùa những cơ quan Nhà nước Chính đó cũng là một cách ngăn ngừakhả năng của các cơ quan hiến định lạm dụng quyền lực giám sát để dùng vào chức năng thẩm quyền của cơ quan Nhà nước khác Tuy nhiên cơ quan hiến định độc lậpnày thường được trao quyền đưa ra các đề nghị truy cứu trách nhiệm vi phạm, hay đưa ra những văn bản của cơ quan Nhà nước đã không còn phù họp, những vãn bảnmâu thuẫn với pháp luật hiện hành, hay trình việc hủy bỏ những văn bản trái với Hiến pháp, nhưng chức năng này vô hình chung đã “ lấn ” sang nhánh quyền lực Nhànước, gây nên thế mất cân bằng trong nguyên tắc kiểm soát QLNN của ba nhánhquyền lực Nhà nước

Việc kiểm soát giữa cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới trong nhánh

24

Trang 30

quyên lực hành pháp được thê hiện trong việc kiêm soát của chính quyên trung ương tới chính quyền địa phương được nhiều quốc gia thực hiện, đặc biệt ở các nước theo thể chế liên bang, đó là nơi khi mà việc phân quyền cho địa phương ở mức cao hơn so với Nhà nước đơn nhất Cách kiểm soát một chiều từ trên xuốngdưới, áp dụng cơ chế phân quyền theo một chiều từ trên trung ương tới địa phươngđược phổ biến ở hầu hết các nước Chính quyền địa phương còn được thực hiện nhiều ở các nước khác theo thể chế khác, do đây là cấp chính quyền gần với người dân nhất, cần thiết nhất trong vấn đề hành chính Việc kiểm soát của chính quyềncủa trung ương với chính quyền địa phương được quy định trong Hiến pháp và pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương Cơ chế giám sát kiểm tra thườngxuyên của chính quyền trung ương đối với chính quyền địa phương được thựchiện bởi cơ chế kiếm tra hành chính, công việc này thường được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước trung ương.

Cơ chế kiểm soát quyền lực bên ngoài bộ máy Nhà nước do các chủ thể bênngoài bộ máy Nhà nước thực hiện, mà đầu tiên và cơ bản nhất là Nhân dân thực hiện cơ chế này Cơ chế kiểm soát quyền lực bên ngoài có nguồn gốc xuất phát từhọc thuyết của nhà triết học người Anh, John Locke quan niệm về quyền lực Nhà nước không phải là quyền tự nhiên mà là quyền phái sinh từ quyền lực của Nhândân Quyền lực Nhà nước bản chất là quyền lực được nhận lại từ Nhân dân, từ đókhẳng định rằng Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực trong xã hội, quyền lựcnày được Nhân dân trao lại cho Nhà nước, nên Nhân dân phái thực hiện việc kiểmsoát quyền lực Nhà nước thông qua nhiều cách thức giám sát, kiểm tra, nhưng cơ bản nhất mà các nước trên thế giới hay dùng đó là hình thức bầu cử thông qua sốphiếu của người dân bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc bỏ trực tiếp Thông qua cách

bỏ phiếu mà người dân lựa chọn được những cá nhân và đảng phái chính trị có đường lối và có nhừng chiến lược phù hợp nhất, có lợi nhất cho xã hội Những cá nhân được lựa chọn của người dân thông qua bầu cử sẽ được giám sát bởi người dân trong cả quá trình trong nhiệm kỳ thực thi quyền lực Nhà nước của họ Việc

25

Trang 31

giám sát này được thông qua các buôi họp hội đông hay việc tiêp xúc cử tri, Nghị sĩ

là tùy theo mồi cách thức tố chức cùa quốc gia đó

Ngoài cách kiểm soát quyền lực Nhà nước từ bên ngoài bằng hình thức bầu

cử, thì một cách khác để giám sát QLNN bằng cách thông qua các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông, cũng như sử dụng chính những người dân thông quaquyền cơ bản của họ như quyền con người, đặc biệt là các quyền dân sự, quyềncông dân mà Hiến pháp và pháp luật đã thừa nhận quyền này Thông qua các cơ quan này thì người dân không những theo dõi, giám sát mà còn bày tỏ thái độ, quanđiềm của họ về hoạt động của bộ máy Nhà nước một cách nhanh nhất, mà khôngcần đợi đến các kỳ họp, báo cáo của cử tri Báo chí dùng hình ảnh, bằng ngòi bút và

sự minh bạch cùng sự đảm bảo tính công khai đã truyền tải thông tin và có tác độngrất nhanh và rất mạnh, có thể được xem là “ quyền lực thứ tư ” sau ba quyền lực Nhànước là lập pháp, hành pháp và tư pháp Ngoài ra người dân có thế tự mình sử dụngcác quyền con người áp dụng thực hiện kiểm soát quyền lực Nhà nước, như cácquyền; tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền được tham gia các hoạt độngquản lý Nhà nước và xã hội để giám sát hoạt động Nhà nước Bằng cách sử dụngcác quyền tự do của người dân trong việc kiềm soát QLNN, như vậy với báo chí cũngđóng thêm một vai trò nữa Hơn nữa với sự việc ở mức độ cao người dân có thề dùng pháp luật quốc tế thông qua các Nghị định thư, Công ước ICCPR, ĨCESCR của Liên hợp quốc để thực hiện việc giám sát của mình

Tổ chức đảng phái chính trị - xã hội là một thiết chế được coi là độc lập để kiểm soát quyền lực Nhà nước từ bên ngoài bộ máy Nhà nước Trong chính trị học, đảng chính trị khác với các tổ chức xã hội ở chỗ các đảng chính trị tham gia cạnh tranh với nhau để giành lấy quyền lực Nhà nước, trong khi hoạt động của các

tồ chức xã hội thì chủ yếu xoay quanh các vấn đề chung của cộng đồng và việcbảo vệ quyền lợi của các thành viên Các tồ chức đảng kiểm soát các chính các thành viên của tổ chức mình trong việc thực hiện QLNN bằng các quy đinh, điều

lệ của đảng Các quy định, điều lệ trong đảng khác với quy định của pháp luật mộtcách rõ rệt, như việc giới thiệu, xét tư cách đạo đức, lý lịch nhân thân, thủ tục kết

26

Trang 32

nạp, xử lý kỷ luật, vai trò công tác cán bộ trong đảng và trong các cơ quan Nhànước, nối bật hơn hết trong đó là các nước có tổ chức đảng chính trị như Việt Nam, Trung Quốc, Lào

Như vậy khi các tổ chức đảng tham gia giám sát quyền lực Nhà nước cũng làhợp pháp, nhất là các đảng phái đối lập nhau thì việc kiểm soát của các tố chức đảng này càng hiệu quả Mặt khác sự kết hợp song song giừa tồ chức đảng chính trị với tổ chức cơ quan Nhà nước cùng thực hiện việc kiểm soát QLNN thì còn mạnh

mẽ và đạt được hiệu quả cao

1.3 Vị trí, vai trò của Hiến pháp đối vói việc kiểm soát quyền lực Nhà nước

1.3.1 ỉ Các thuật ngữ và khái niệm về Hiến phấp

Thuật ngữ “ Hiến pháp ” có gốc La tinh được viết là “ Constitutio ” có nghĩa

là xác định, quy định Thuật ngữ này đã tồn tại lâu đời và có từ thời rất xa xưa, khi

đó Nhà nước cổ La Mã đã dùng thuật ngữ này để gọi các văn bản quy định của họ.Còn ờ Trung Quốc cồ đại, thuật ngữ “ Hiển pháp ” được dùng với nghĩa là pháp lệnh(kỷ cương phép nước) Theo sách cố Trung Quốc chữ “Hiến pháp ” dùng đế chỉ một loại chế độ nói chung, như “ thưởng thiện phạt gian, quốc chi hiến pháp ” L4, tr.71J

Khái niệm “Hiến pháp ” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau;

Hiến pháp là hệ thống các quy tắc được soạn thảo, sửa đối theo một quy trình đặc biệt, ưu thế hơn so với quy trình soạn thảo, sửa đối một đạo luậtthường, có giá trị pháp lý cao nhất và do đó được bảo vệ thông qua cơ chế bảo hiến [4, tr.76]

Theo cách định nghĩa hiện đại và phổ biến được diễn đạt trong cuốn từ điểnluật danh tiếng “Black’s Law Dictionary ”, thì Hiến pháp được định nghĩa như sau:

Hiến pháp là luật tổ chức cơ bản của một quốc gia hay một nhà nướcthiết lập các thể chế và bộ máy của chính quyền, xác định phạm vi quyền lực của chính quyền, và bảo đảm các quyền và tự do của côngdân[ 21, tr.17]

Cho dù có nhiều cách định nghĩa theo những quan niệm khác nhau về Hiến

27

Trang 33

pháp, nhưng lịch sử phát triển của Hiến pháp vẫn không thay đối, với những nộidung cơ bản của Hiến pháp được xây dựng và phát triền trong quá trình phát triển của xã hội loài người.

Chúng tôi, nhân dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nhằm xây dựng một liênbang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước,tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong liên minh, giữvững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng tôi quyết định xây dựng

và ban hành Hiến pháp này cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787)

Đó là lời mở đầu cho bản Hiến pháp của Hoa Kỳ năm 1787, đó cũng là bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới Hiến pháp được xây dựng, phục vụ cho một quốc gia, đất nước chứ không phải xây dựng cho một cá nhân hay tổ chức nào

đó Cũng chính vì vậy mà trong tác phẩm “Leviathan ” của Thomas Hobbes mộtnhà triết học và xã hội học người Anh ông có một câu nói nổi tiếng; “Cuộc sống mà

không có nhà nước hiệu lực đê duy trì trật tự thì rất đơn độc, nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn ngủi” T Hobbes cũng là người đầu tiên đưa ra cơ sở của việc thành lập ra Nhà nước là khế ước xã hội, thấy được tính tất yếu của việc thành lập ra Nhà nước cũng như những mặt trái cùa Nhà nước

Phát huy kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph Ăngghen, V.I.Lênin kháiniệm rằng:

Nhà nước là một sản phẩm và có những biểu hiện của mâu thuẫn trong tầng lớp giai cấp không thể điều hòa được những bất đồng Bất cứ đâu

và bất lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫntrong giai cấp không thể điều hòa được, và nhà nước tự xuất hiện.Việc tồn tại của nhà nước chứng tỏ ràng những mâu thuẫn giai cấp làkhông thể điều hòa được, hay nhà nước tồn tại đề duy trì những mâuthuẫn trong xã hội đó [37, tr.233]

Theo Ph Àngghen thì trong xã hội công sản nguyên thủy thì không tồn tại

28

Trang 34

Nhà nước, do tình trạng kinh tê còn thâp kém, chưa có sự phân giai câp, hình thức

tổ chức đầu tiên của xã hội là thị• • •• tộc và bộ lạc Nhà nước thời cổ đại, hay thời• ' &phong kiến lấy thần quyền và giáo lý để làm nền tảng tư tưởng Cách hiểu về quyềnlực Nhà nước thời kỳ này là “ thâm quyềrí\ do đấng “siêu nhân - thần thánh” tạo ra,

và được ban pháp cho: Ai, dòng họ nào được quyền đứng trên các dòng họ khác, các thần dân khác thay mặt cho đấng siêu nhân cai quản, thống trị xã hội Khai sinhNhà nước đầu tiên, mọi người đều được hiểu với một ý nghĩa hết sức tốt đẹp với mục đích, bảo vệ đất nước khỏi sự tranh giành đất đai, duy trì và phát triển cuộcsống của nhân loại, làm cho nhân loại thoát khỏi sự diệt vong và duy trì sự pháttriển, nhưng sau đấy Nhà nước dần dần đều là những tổ chức chuyên chế Nhà Vua,người ta vẫn cho ràng là con của “ thiên tử” được trời cử xuống thay mặt cai trị thần dân thiên hạ, và cũng là người thống trị thay mặt cho Nhà nước đều cho mình là nguồn gốc của mọi công lý trong xã hội Một mình Vua có quyền lập pháp, hành pháp, và cả việc xét xử sự vi phạm pháp luật do chính nhà Vua ban hành Là người cai trị ông ta có quyền tuyệt đối và không phải tuân thủ pháp luật, cũng như khôngphải chịu bất cứ trách nhiệm nào trong các quyết định của mình Vị trí của ông takhông phải ở dưới mà ở trên pháp luật Đó là một nhà nước của chế độ độc tài, chuyên chế gắn liền với các chế độ chính trị phi dân chủ, quyền lực Nhà nước cómột đặc điểm quan trọng là vô hạn định, luôn luôn tiềm ẩn một mối nguy hại chođất nước và cả xã hội loài người Với chế độ độc tài này thì đa số Nhân dân khôngđược tham gia vào công việc nhà nước, không những thế, việc đời sống Nhân dân còn bị Nhà nước can thiệp quá sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống Nhân dân Việc chiếm đoạt của cải của Nhân dân đế mưu lợi cho cá nhân diễn ra một cách thường xuyên qua các triều đại nhà Vua, để ngăn chặn chế độ độc tài này đòi hởi phải có một quy tắc kiểm soát nó, nhưng ngăn chặn nó bằng cách nào khi nhà Vua lại là người đứng trên mọi quy tắc đó Cũng chính vì nhằm mục đích ngăn chặn quyền lựccủa nhà Vua thì cũng chính là việc ngăn chặn sự độc tài của Nhà nước đó, yêu cầu

có một văn bản quy định có sự thống nhất quyền lực của Nhà nước được đặt ra đểkiểm soát quyền lực Nhà nước Đó là một văn bản được gọi là “Hiến pháp ” sau

29

Trang 35

này, đó chính là một văn bản pháp luật có nhiệm vụ kiêm soát quyên lực Nhà nước, cũng chính là bảo vệ Nhân dân, bảo vệ quyền cá nhân là mục tiêu chính của Hiến pháp hay còn có thể coi đó là bản chất đặc trưng nhất của Hiến pháp.

Trong xã hội phong kiến, ở một số quốc gia châu Âu đà tồn tại văn bản với

số lãnh chúa Hiến chương đầu tiên và quan trọng nhất là bản Đại hiến chươngMagna Carta của Vương quốc Anh năm 1215, thường được coi là bản Hiển pháp bất thành văn đầu tiên trên thế giới và cũng làm thay đổi đối với lịch sử nhân loại Bắt nguồn từ sự nồi loạn ở miền Bắc và miền Đông nước Anh, ở đây những người nông dân đã tổ chức một phong trào chống đối nhà vua John, họ cùng lập ra lời thề

sẽ đứng về phía giáo hội và các lãnh chúa, cũng như yêu cầu nhà vua xác nhận hiếnchương các quyền tự do được vua Hanry I tuyên bố vào thế ký trước, vàn bản đượccoi là cơ sở bảo vệ quyền của các lãnh chúa phong kiến

Thế kỷ 13, Vua John đà có quan hệ mâu thuẫn với giáo hoàng Innocente III sau khi Vua John phản đối bố nhiệm Stephen Langton làm tổng giám mục, và ông nối giận trả thù bằng cách đánh thuế Giáo hội và tịch thu một phần đất đai của họ Các lãnh chúa của nước Anh vào thời gian này cũng có mẫu thuẫn với Vua John

vì thu thuế của các lãnh chúa quá nhiều để chi trả cho nhà Vua Năm 1214 vua John xâm lược nước Pháp nhưng cuộc xâm lược bất thành, và ông lại tiếp tục đánh thuế giới quý tộc nước Anh thêm nữa để trả chi phí cho cuộc chiến với nước Phápnày Đây chính là đỉnh điểm cho một cuộc nồi dậy của giới lãnh chúa và quý tộc Anh sắp diễn ra Tháng 1 năm 1215 vua John đã tổ chức một hội đồng ở Luân Đôn

để thảo luận những cải cách có thể được tiến hành, và đồng thời ông cũng có các cuộc thương thuyết cũng được tồ chức ở Oxford giữa đại diện của nhà Vua và cách lãnh chúa nổi dậy, trong lúc này cả hai bên đều kêu gọi Giáo hoàngInnocente III đứng về phía mình Vào thời gian này các lãnh chúa đã đề xuất ra ý tưởng soạn một “Hiến chương chưa được biết về các quyền tự do ” , nội dung có 7 điều khoản xuất hiện trong “Các điều khoản của những lãnh chúa ” sau này được gọi là Đại Hiến chương

30

Trang 36

Trong lúc này, vua John trông đợi vào Giáo hoàng sẽ đứng vê phía mình nên tìm cách kiềm hãm thời gian ký vào 7 điều khoản mà các lãnh chúa yêu cầu, đồng thời tuyên bố đã trở thành một nước chư hầu của Tòa thánh vào năm 1213 và ông tin là có thể được Giáo hoàng giúp đỡ Nên vua John vẫn tiếp tục tuyển lính đánhthuê từ Pháp, sau đó ông khôn ngoan tuyên thệ sẽ trở thành một kẻ thánh chiến, với mưu tính nhằm giúp ông tranh thủ có thêm sự bảo vệ chính trị từ giáo hội Công giáo

La Mã, đã nhiều người cho rằng lời tuyên thệ đó của ông là giả dối

Trong lúc này các lãnh chúa nổi loạn đã liên kết với nhau, kêu gọi được nhiều người dân tố chức thành nhóm quân có vũ khí và tập hợp tại Northampton và xóa bỏ hết các mối quan hệ phong kiến với vua John và tiến quân vào Luân Đôn, Lincoln, Quân của vua John không chống được sự nổi dậy của các lãnh chúa vàLuân Đôn rơi vào tay các lãnh chúa, lúc này vua John ra một đề nghị đế thỏa hiệp là đưa các bất đồng của họ ra một hội đồng phán xét việc này và Giáo hoàng sẽ là người phán xét tối cao, nhưng đề nghị không được chấp nhận Stephen Langton - Tổng Giám mục nhà thờ xứ Canterbury đã đứng ra thương lượng với các lãnh chúanối dậy với những yêu cầu đòi hỏi của họ và sau đó Stephen gặp vua John, vua John

đã để cho Stephen tồ chức một cuộc hòa đàm

Kéo dài đến năm 1215, tại Runnymede, sau một thời gian xung đột gay gắt,vua John của nước Anh đã rơi vào thế yếu và phải chấp nhận ký kết thỏa hiệp với các lãnh chúa nước này đó là ngày 15 tháng 6 năm 1215 Văn kiện này được soạn thảo lần đầu bởi Stephen Langton, sau đó được gọi là Đại hiến chương Như vậy Đại Hiến chương Magna Carta ra đời, hay được coi là bản Hiến pháp bất thành văn đầu tiên của thế giới ra đời, đánh dấu một món quà vô giá không chỉ nước Anh mà còn toàn thể nhân loại, với hai nội dung quan trọng nhất của Hiến chương Magna Carta là:

Thứ nhất: Tất cả mọi người, kể cả nhà Vua đều phải sống dưới luật pháp Vua cũng không được đứng trên pháp luật, nhà Vua không được tùy tiện tãng thuế, bắt người Đây là làn đầu tiên trong lịch sử nhân loại, vai trò của phápluật đã được••• thực hiện hóa qua một X • sự cam kết được♦ K-x ghi chépX •lại trên một tấm da

31

Trang 37

dê, pháp luật được thượng tôn, với bât kỳ ai kê cả người đó là vua cũng không được đứng trên pháp luật.

Thứ hai: Không một người dân tự do nào bị bắt, bị giam tù, nếu chưa được một tòa án xét xử, tòa án này do chính các công dân khác lập ra để thực hiện việc kết tội Đây là một bước đột phá trong việc phản ánh tinh thần bảo vệ quyền con ngườikhỏi sự tùy tiện cùa nhà Vua hay người giừ quyền lực, những quy định trên cũng là tiền đề cho sự ra đời của chế định bồi thẩm đoàn hay hội thẩm nhân dân sau này

Đại hiến chương, Magna Carta không chỉ là hiến chương hay văn kiện để hạn chế quyền lực của nhà Vua, giới cầm quyền, chống lại sự lạm quyền và vi phạm quyền con người, mà nó thực sự đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của nền dân chủ Anh quốc và nhiều quốc gia trên thế giới Vào thế kỷ XVI, lịch sử đã ghinhận việc những người nông dân ở Anh đã áp dụng những quy định trong Đại Hiếnchương Magna Carta trong các cuộc đấu tranh chống lại sự bất công của họ Và vàonhững năm 1640, các Nghị sĩ Anh đã khôn khéo và thông minh khi áp dụng Magna Carta là một cơ sở pháp lý quan trọng đề lật đổ vua Charles I Cho tới nay nhữngnguyên tắc pháp quyền trong Magna Carta đã được kế thừa và phát triển trong Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đó là một món quà mà thế giới đượcnhận từ người Anh

Ngày 25/5/1787 tại Hội nghị lập hiến ở Philadelphia nước Mỹ, bản Hiến pháp bằng văn đầu tiên trên thế giới, cũng là bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại được soạn thảo, sau đó được trình lên Quốc hội Mỳ và có hiệu lực vào năm 1789, đây như một sự kiện pháp lý kinh điển của ngành lập hiến của thế giới Một bản Hiến pháp ngắn nhất bằng văn bản (7 Điều), cũng là bản Hiến pháp ít bị sửa đổi nhất trên thế giới trải qua lịch sử hơn 230 năm Bản Hiến pháp này đã thể hiện tinh thần khoa học, tiến bộ và nhân bản của người Mỹ trong việc xây dựng Nhà nước cộng hòa đầu tiên trên thế giới trong lịch sử cận đại Ngoài những nội dung về quyền con ngườinhư Đại hiến chương Magna Cama trước đấy, thì quyền lực của Nhà nước được chia thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp, và tư pháp, được phân lập và riêng biệt với nhau Theo lý thuyết, các quyền của mỗi nhánh sẽ được cân bằng và kiểm soát bởi

32

Trang 38

các quyên của hai nhánh kia Nguyên tăc này được gọi là "tam quyên phân lập ” , hay gọi là "thuyết phân quyền ” được Nam tước Montesquieu khởi xướng và sau này J.J Rousseau tiếp thu và phát triền một cách hoàn thiện học thuyết này.

Những nghiên cứu về nguồn gốc sâu xa nhất của Hiến pháp qua phân tích của các học giả nghiên cứu về nguồn gốc của Hiến pháp được khởi nguồn từ các nhà triết học thời Hy Lạp cồ đại trước công nguyên Bởi lè lịch sử Hy Lạp cồ đại còn ghi lại rằng vào những năm trước công nguyên, Plato trong tác phẩm "Cộng

hòa” (380 tr.CN), Aristotle với tác phẩm "Chính trị luận ” (350 tr.CN), "Hiến pháp

về công lý, sự công bằng, xã hội, chính trị, pháp quyền, quyền lực của Nhân dân, sự sắp xếp các chức vụ trong quốc gia, Tư tường về Hiến pháp của Aristotle đãđược kế thừa và phát triển vào thời kỳ khai sáng (thế kỷ 17,18) ở châu Âu, với những đại diện tiêu biếu của chù nghĩa Hiến pháp như nhà thơ John Milton, luật gia Edward Coke và William Blackstone, các chính khách như James Madison, Thomas Jefferson, và các nhà triết học John Locke, Montesquieu, T Hobbes, J.J Rousseau,với một trong những nội dung cơ bản nhất của chủ nghĩa Hiến pháp thời kỳ này là việc thiết lập chế độ đại nghị để xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế Trong thời kỳ này John Locke đã xây dựng và đưa ra được khái niệm các quyền tự nhiên của con người, theo ông trong trạng thái tự nhiên mọi người đều bình đắng và độc lập, không ai làm tổn hại đến người khác, và mọi người đều có quyền trừng phạt kẻ vi phạm Chính vì vậy mà ngay từ thời kỳ còn trong trạng thái tự nhiên, khi Nhà nướcchưa ra đời, bên cạnh quyền tự nhiên của mình con người đã phải tự cho mình quyền xét xử và trừng phạt kẻ khác để duy trì luật của tự nhiên Khi xã hội văn minh ra đời, thể chế Nhà nước là hệ quả của khế ước xã hội, đây là một bước tiếnvăn minh hơn và duy trì luật của tự nhiên thông qua luật lệ của xã hội văn minh Nói một cách khác, sự ra đời cùa Nhà nước được xây dựng từ khế ước xã hội đề bảo

vệ quyền tự nhiên của con người, như quyền được sống, được tự do, có sức khỏe và của cải của mỗi công dân Thể chế Nhà nước dựa trên khế ước xã hội là một thể chếNhà nước ra đời, tồn tại và phát triển xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của Nhân dân,

33

Trang 39

nhăm mục đích phục vụ và chịu sự giám sát của Nhân dân [34, tr.45] Đê bảo đảm các quyền tụ nhiên, Nhà nước cũng phải được tổ chức theo phưomg thức phân quyền giữa lập pháp và hành pháp nhằm chống lại sự lạm dụng, tha hóa quyền lựcNhà nước dẫn đến sự vi phạm các quyền tự nhiên Các chính thể quân chù phải được tổ chức để giới hạn quyền lực của nhà Vua, hay nói một cách khác, quyền lựcNhà nước được hình thành từ các quyền tự nhiên và nhằm mục đích bảo vệ các quyền tự nhiên [10].

Với tư tưởng bảo vệ các quyền tự nhiên thông qua việc thiết chế khế ước xãhội nhàm thiết lập một chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân có ảnh hưởng lớn đến các tư tưởng chính trị - pháp lý ở nhiều nước trên thế giới Khiđược kế thừa và phát triển tiếp các học thuyết của John Locke là các học giả người Pháp, người láng giềng của nước Anh trong trào lưu khai sáng này đà phát triển mộtcách mạnh mẽ các tư tưởng này rõ hom Nam tước Montesquieu với tác phẩm "Tinh

những quyền tự do của con người còn có quyền tự do, hòa binh, và cũng cho rằngnhững tình trạng vi phạm các quyền này là sự tha hóa quyền lực của những ngườinắm giữ quyền lực trong xã hội Đe loại bỏ sự tha hóa đó thì cần thiết phải bảo vệ cácquyền tự nhiên vốn có của con người được hưởng, con người cần có một thể chế để bảo vệ họ bằng cách thiết lập khế ước xã hội để hình thành chủ quyền Nhân dân, và chủ quyền Nhân dân này phải ở vị trí tối thượng và Nhân dân phải làm chủ Sau này Motesquieu vẫn tiếp tục phát triển học thuyết “tam quyền phân lập" của mình với mục đích bảo vệ quyền tự nhiên của con người, theo ông, tự do chính trị của công dân

là quyền mà người ta có thể làm mọi cái mà pháp luật cho phép Pháp luật là thước đo

được an ninh Muốn bảo đám tự do chính trị như vậy thì Chính phủ phải làm thế nào

đê mỗi công dân không phải sợ một công dân nào khác" [25, tr.100] Montesquieu cho rằng, thể chế chính trị tự do là thể chế mà trong đó, quyền lực tối cao được phânthành 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, với ba quyền lực này thì phải độclập với nhau Ke thừa những tư tưởng đó, J.J Rousseau hoàn thiện học thuyết phân

34

Trang 40

chia quyên lực qua tác phâm “ Khê ước xã hội đó cũng chính là những nội dung

đề sau này James Madison (1751 - 1836) người mà người ta vẫn thường gọi là cha

đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ tiếp thu và xây dựng nên bản Hiến pháp thành văn đầu tiên cùa nhân loại vào năm 1787

Những bản hiến pháp của các nước tiếp theo ra đời và lan rộng khắp châu Âu cho đến thế kỷ 20 như Hiến pháp Ba Lan 1791, Hiến pháp Pháp 1791, Hiến pháp TâyBan Nha 1812, Hiến pháp Bồ Đào Nha 1822 Châu Á sau các phong trào giành độc lập và khẳng định chủ quyền quốc gia và chủ quyền Nhân dân cũng đều ban hànhhiến pháp như, hiến pháp Nhật 1890, hiến pháp Indonesia 1945, Hiến pháp Việt Nam DCCH năm 1946, Hiến pháp Hàn Quốc 1948, Hiến pháp Trung Quốc 1954 và cácquốc gia châu Phi, châu Mỹ cũng ban hành hiển pháp, như Hiến pháp Angeria 1963,Hiến pháp Tunisia 1959, Hiến pháp Canada 1982, Hiến pháp Mexico 1917

Xét về bản chất, Hiến pháp là bản khế ước xã hội đặt ra các quy định về giớihạn và kiểm soát quyền lực Nhà nước cùng với đó là bảo vệ các quyền của con người Theo các học giả của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hiến pháp cũng như bản tuyên ngôn về chủ quyền Nhân dân, về chế độ đại nghị, về quyền và sự tự do của côngdân dưới chế độ tư bản chính là sự thể hiện lợi ích của giai cấp tư sản, dưới danhnghĩa lợi ích chung của toàn thể Nhân dân Hiến pháp là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, được lập ra vì lợi ích của giai cấp chiến thắng giành được quyền lực chínhtrị, thể hiện sự tương quan lực lượng giai cấp trong xã hội Qua tổng kết cách mạng

tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa, V.I Lênin khẳng định:

Hiến pháp là kết quả của một cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài và giankhổ giữa một bên là chế độ phong kiến và chế độ chuyên chế, với một bên khác là giai cấp tư sản, nông dân và công nhân Nhưng hiến phápviết thành văn bản đều chỉ là bàn ghi nhận những kết quả của cuộc đấu tranh giành được sau một loạt những thắng lợi của cái mới đối với cái cũ,

và một loạt những thất bại do cái cũ này gây cho cái mới [37, tr.4621

Trong Nhà nước XHCN, Hiến pháp càng phản ánh rõ bản chất là bản khế ước xã hội thực sự, phản ảnh ý chí của toàn thể Nhân dân về việc thiết lập một Nhà

35

Ngày đăng: 18/10/2022, 08:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w