1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thăng long thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 thông qua tư liệu người nước ngoài phần 1

293 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thăng Long Thế Kỷ 17 Đến Thế Kỷ 19 Qua Tư Liệu Người Nước Ngoài
Tác giả Chu Xuân Giao, Nguyễn Thị Luông
Trường học Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân
Thể loại sưu tập tư liệu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 293
Dung lượng 23,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trực tiếp ghé qua, hay từng được nghe k ể một cách chi tiết từ một vài người Đàng Ngoài, hay ngươi nước ngoài dà từng 00 dịp đến, sông tại, ghé qua vùng đất này.Nhóm biên soạn chúng tôi

Trang 1

CHU XUÂN GIAO (Chủ biên)

NGUYỂN t h ị L ư ơ n g

THẢNG LONG

THẾ KỶ 17 ĐẾN THẾ KỶ 19

qua tư liệu

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

NHÀXƯÂT BẢN QUÂN ĐỘI NHẢN DÂN

Hà Nội ■ 2010

Trang 2

dã từng có dịp trực tiếp đcn và sông tại trực tiếp ghé qua, hay từng được nghe k ể một cách chi tiết (từ một vài người Đàng Ngoài, hay ngươi nước ngoài dà từng 00 dịp đến, sông tại, ghé qua) vùng đất này.

Nhóm biên soạn chúng tôi dự định sỗ thực hiộn một bộ sách sưu tập với nội dung như vậy tính từ thòi điểm mà tư liệu

có thổ cho phép ngược về đến đó (dự kiến có thể ngược về tới the kỷ thứ 3 SCN1) cho tới ngày hôm nay (th ạ p niên đầu tiôn của thế ký XXI) Tuy nhiôn, những ghi chép kỳ lưỡng kèm theo

* Viện Nghiên cứu vàn hỏa, Viện Khoa hoc xả hội.

1 Đó là những ghi chép tuy ngắn gọn nhưng hết sức đặc sắc về các phong tục tập quán ở huyện Mê Linh nói riêng và các quận Girio Chỉ - Nhật Nam - Cửu Chân nói chung vào thế kỷ thứ 3 của Thái thú Giao Chỉ là Tiết Tông (không rõ năm sinh, chỉ biết năm mất là 243 - Xích ô năm thứ 6), trong một lá thư mà vị này gửi vế cho quốc vương của minh là Ngô Tôn Quyền (có thể xem

trong Tiốt Tông truyện, Ngô sử, Tam quốc chí).

Trang 3

lòi bình luận thú vị từ con mắt của người nưốc ngoài về Thăng

Long - Hà Nội xuât hiện với số lượng nhiều và đa dạng chỉ bắt

đầu từ th ế kỷ XVII; vì vậy, tập đầu tiên của bộ SƯU tập này sẽ khởi đầu bằng giai đoạn kéo dài hơn hai th ế kỷ, từ đầu thò kỷ XVII đến khoảng giữa th ế kỷ XIX v ề cơ bản, theo chúng tôi, những tư liệu mang tính phát hiện về Đàng Ngoài và Thăng Long chính là những tư liệu được hoàn thành trong khoảng thời gian này Những tư liệu sau đó thường sao chép hoặc sử dụng lại tư liệu của giai đoạn này mà không có phát hiện mối, hoặc đi vào những đề tài hẹp hơn mang tính chuyên sâu có khi rất khó đọc với bạn đọc phổ thông

Chúng tôi tạm lấy điểm xuất p hát là chương 13 v ề xứ Dàng Ngoài trong một ghi chép mang tiêu đê X ứ Đàng Trong năm

1621 (tiêu đề bản dịch) được thực hiện trên cơ sở quan sát thực

tê trong chuyến công du đến Đàng Trong từ năm 1618 đến năm 1622 của giáo sĩ người Ý là Cristophoro Borri, và điểm

dừng là cuốn Hải N am tạp trứ (Ghi chóp tản mạn ở biổn Nam)

được khắc in lần đầu tiên năm 1837 của tác giả người Đài Loan là Thái Đình Lan (lưu lạc đến Việt Nam năm 1835) Như vậy, điểm dừng của tư liệu SƯU Lầm ở tập này được chúng tôi ngầm định là trước năm 1858 (năm liên quân Pháp - Táy Ban Nha tấn công Đà Nẳng), cũng tức là trước năm 1882 (quân Pháp hạ thành Hà Nội) và năm 1883 (triều đình nhà Nguyễn

ký Hòa ước Quý Mùi / Hòa ước Harmand, mà theo dó Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp)

Có thể nói một cách tổng quát rằng, thời gian hớn hai thô kỷ

đó, từ khoảng thập niên 1620 đôn trước năm 1858 là thời gian

có bôn biên cô lớn lao mang ý nghĩa đặc biệt quan Lrọng trong lịch sử kiến tạo đất nước và văn hóa Việt Nam, quyết dịnh tương lai của đất nước ở giai doạn tiếp theo Cụ thổ như sau

Trang 4

T hứ nhât, bờ cõi được mở rộng, "từ đèo Cù Mông (Quy

Nhờn) ta đã băng đổng vượt núi tiến thẳng một mạch xuống vịnh Xicm La, làm cho cái gia tài của cha ông dựng mấy ngàn năm trước, bỗng chốc tăng lên gấp đôi" (Phạm Đình Khiêm 1960: 38)

T hứ hai tự chủ trong việc tiếp xúc và giao lưu với phương

Tây, "mỏ cửa dón nhận một nguồn văn minh khác hẳn với nguổn truyền thông lừ Bắc phương đưa lại, để rồi dần dần thực hiện cuộc tổng hợp và xây dựng thành nền văn hóa riêng biộl và phong phú mà nay ta thừa hưởng" (Phạm Đình Khiỏm 1960: 38) Việc tự chủ của Việt Nam ở giai đoạn này trong giao lưu với phương Tây là một trong những nguyên nhân chính dể chúng tôi lây năm 1858 làm mốc ran h giới (từ

dó vổ sau cho đôn năm 1945, sự bị động và yếu th ế trong giao lưu ]à điều đã rõ ràng)

T h ứ ba, cũng nhờ giao lưu phương Tây, ch ữ quốc ngử với

tính chất là văn tự ký âm (khác chất cơ bản với chữ Hán và

Ưu ihê hơn hẳn chữ Nôm) dã hình thành và đang trôn dường hoàn thiộn Tất nhiên, chữ quốc ngữ, dể có được bộ mã mang tính quy chuẩn như ngày nay đã phải trải qua nhiêu lần chinh sửa liên tục của nhiều thê hệ từ sau năm 1858 (đặc biệt

là n h ữ n ị' (lê nghị sửa dổi vào đầu thê ký XX), nhưng nôn tảng

vững chãi của nó đã dạt dược từ thế kỷ XVII vối cuốn từ diên Việt - Bồ - La do giáo sĩ Alexanđre do Rhodes biôn soạn rồi cho xuất bản vào năm 1651 tại Roma (Alcxandre de Rhođes

1651, 1991)

T h ứ tư, dã có một sự chuyển dổi quan trọng vê mặt thể

chê chính trị tổng thổ: từ hai vương quốc gồm Đàng Trong

{Giao Chỉ, Cochinchina) và Đàng Ngoài (An N am , Tonkin), sang một vương quốc thống nhất (Việt N am từ năm 1804,

Trang 5

Đại N am từ 1839) Sự chuyển đổi này là kết quả tất yếu của

nội chiến giữa các t h ế lực (Mạc, Lô - Trịnh, Chúa Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn Ánh) hướng đến việc thông nhất đất nước, kéo dài suốt mấy trăm năm trong môi quan hộ da chiều với nhau và với các t h ế lực liên kết ở bên ngoài (Trung Quối\ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp) Phần lớn những ghi chép của người nước ngoài trong giai đoạn này đều

ít nhiều phản ánh về nội chiến từ góc quan sát của mỗi người,

ở thời điểm họ có m ặt tại Việt Nam

Trong hơn hai thế* kỷ, dã có một khôi lượng tư liộu không nhỏ của người nước ngoài viết về Viột Nam nói chung và Thăng Long - Ke Chợ nói riêng, sô" đã được dịch ra ti ông Viột

có lẽ mối chỉ chiếm một tỷ lệ khiôm tôn Chúng tôi vôn có dự định sẽ giới thiệu một sô" tư liệu mới do chính chúng tôi chuyển dịch lần đầu tiên, nhưng do bị hạn chô vổ thời gian chuẩn bị, tự thấy còn nhiều điểm bất cập, nôn tạm gác lại viộc công bô" chúng Bởi vậy, ở đây, với lần xuất bản đẩu tiôn, chúng tôi chỉ giới hạn công việc trong SƯU tập và trích lục nhửng tư liệu dả được chuyển dịch ra tiếng Việt Nhan dây, xin bày tỏ sự ngưỡng mộ cũng như lòng biết ơn dôi với tất cả các dịch giả, đặc biệt là những dịch giả có đóng góp dặc biột quan trọng như Nguyễn Khắc Xuyên, Nguyễn Thừa Hý, Vĩnh Sính, Ngồ Đức Thọ, Hoàng Anh Tuấn Nếu SƯU tầm này của chúng tôi có được bất cứ một ý nghía tham khảo nào dốỉ với độc giả thì là may mắn cho chúng tôi, và điổu dó bát nguồn từ những bản dịch kèm theo những khảo cứu công phu của các dịch giả

Như nhiều độc giả đã biết, gần đây, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin phôi hợp với Thòi báo Kinh tế Việt Nam xuất

bản bộ sách lớn Tổng tập rtghìn năm văn hiến Thăng Long

Trang 6

gồm 4 tập (28 phần), ở tập 4, phẩn thứ 28 (phần cuối cùng)

có Liêu đề Thăng Long - Hà Nội qua con m ắt người nước ngoài, theo chúng tôi dây là một sưu tập quan trọng, dã bao

quát được một khôi lượng tư liộu dáng kể, trong đó có một ít

tư liộu mới công bô" lần đầu Tuy nhiôn, SƯU tập đó và SƯU tập

ở dây của chúng tôi có những điếm khác nhau trong cách thức hiên soạn (điểu này, nếu đọc đôi sánh, các bạn có thể dễ dàng nhận ra được) Thêm nữa, vì dã dược xuất bản trước,

nên bản thân SƯU tập ây cũng trở thành một tài liộu tham

khảo cho SƯU tập của chúng tôi (xin phép trích lục từ đó một vài tư liệu sang SƯU tập của chúng tôi)

Chúng tôi mong muôn cung cấp một tập hợp tư liệu, để qua

dó, dộc giả có thổ tự có được những bình luận hay phương cách

sử dụng tư liệu thích hợp với sở thích hay chuyên môn của Lừng người Có ý nghĩa như một tống thuật sơ thảo, hay một chỉ dần dơn giản, chúng tôi sỗ trình bày một ơách khái lược về một số gương mặt tiôu biểu viết vổ Thăng Long - Kẻ Chợ và tác phẩm của họ, ở dưới đây Còn bản thân nội dung / hình ánh Thăng Long - Ke Chợ th ế kỷ XVII - XIX qua ghi chép của

người nước ngoài (được d ư a vào SƯU tậ p này) thì c h ú n g tôi

dành cho sự cảm nhận và tưởng tượng của quý độc giả

NGƯỜI N ư ớ c NGOÀI GHI CHÉP VỂ THĂNG LONG - HÀ NỘI ở THẾ KỶ XVII-XIX:

NHỮNG GƯƠNG MẶT TIÊU Biểu VÀ TÁC PHAM c ủ a h ọ

Nốu phân theo nghề nghiộp hay công việc thì, những tác giả xuất hiện trong SƯU tập này sẽ gồm có: giáo sĩ, nhà buôn (thương nhân), nhà du Ihành (khám phá thế giới qua những cuộc lữ du nhiều khi m ang tính mạo hiểm); trong đó, giáo sĩ

Trang 7

và nhà buôn chiếm đa sô" Nhà buôn thì tất cả đều theo đạo,

có người theo công giáo, cũng có người theo tin lành (chẳng hạn hai anh em nhà Tavernier làm việc cho công ty Đông Ân

Hà Lan) Các giáo sĩ thường theo các thuyền buôn đế đến Việt Nam hoặc từ đó ra đi

Thương nhân người Bồ Đào Nha (Bồ) là người phương Tây

đến Việt Nam sớm hơn cả, do từ rấ t sớm họ đã có dược "(‘ăn

cứ địa” ở vùng Đông Ân (East-Indies1) là Ma Cao Những ghi chép sâm n h ất về Thăng Long và Đàng Ngoài chính là do thương nhân người Bồ viết2 Thương nhân ngưòi Ý, Hà Lan, Pháp, Anh, đều đến sau người Bồ; sau này, giữa họ có khi

là sự hợp tác tương trợ, có khi là sự cạnh tranh (về vị the d ố i

với các chúa, hay về lợi ích kinh doanh)

Ma Cao thuộc Bồ Đào Nha đã có mốí quan hộ đặc biệt VỚI Thăng Long - Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung trong hơn hai th ế kỷ này ó Ma Cao có những trường Dòng của các công ty, sau một thời gian tập sự dài hay ngắn, các giáo sì sẽ nhận quyết định đi tới nơi truyền giáo Không thấy có trường hợp nào kể lại rằng các giáo sĩ đã từ các cảng phía Nam di thẳng tối, ngay cả về sau này, từ Goa hoặc từ Malacca, mà họ

1 Đông Ân (East-ỉndies) chỉ một vùng rộng lớn từ mũi Hảo Vọng (Nam Phi) sang vùng biển Đông Nam Á và đến phần phía tây của Thái Bình Dương Tây An (West Indies) thì chỉ khu vực trải dài từ sườn tây lục địa châu Phi sang đến sườn tây lục địa châu Mỹ (chuyển dẫn từ VVilliam Dampier 2007: 6).

2 Theo Charles B Maybon: "Người Bổ Đào Nha, những người đấu tièn đến vùng biển Ấn Dộ, chảng bao ỉâu đã lưu ý tới bán đảo Đồng Dương Nftm

1511, sau cuộc đánh chiếm Malacca, d Aíbuquerque cử một đoàn sứ thần sang Xiêm Năm 1516, Fernard Perez, năm 1524, Duarte Coelho và nãm

1535, Antonio Faria do Fernand Mendez Pinto cử đi khảo một số nơi thuộc miền duyên hải Đông Dương, v ể sau có những nhà du hành khác đi thăm bờ biển Chân Lạp, sau thuộc Đàng Trong” (Charles B Maybon 2006: 122).

Trang 8

dã di từ Ma Cao Những nhà buôn ở Ma Cao noi gương người Hoa và ngưòi Nhật, có thói quen hàng năm đều đặn đến buôn bán với người Đàng Trong, họ đã nhận lên tàu của họ các giáo

sì dòng Tôn (Charles B Maybon 2006: 13) Giáo đoàn mang

tên Hội dòng Tên (Societas Iesu, Hội Gia Tô) tại Ma Cao đã

được chính thức thành lập vào năm 1615, trong gần hai trăm năm, ngay cả sau nhiểu nảm khi Hội này bị giải tán, khoảng

180 giáo sĩ thuộc dòng này tới truyền giáo tại Đàng Trong và Đàng Ngoài (Charles B Maybon 2006: 14)

Theo tính chất xuất xứ của những ghi chép thì có hai loại: ghi chép trực tiếp (hình th à n h trôn trải nghiệm cá nhân và những cuôYi sổ ghi chép/nhật ký), ghi chép gián tiếp (thông qua lòi kể của người đã có trải nghiộm thực tế, hoặc biên tập lại những ghi chép dã có của ngưòi khác trong trường hợp người dó không có khả năng tự công bổ); trong đó, loại ghi chép trực tiếp chiếm đa sô"

Theo giới tính của tác giá, thì trong SƯU tập này mới chỉ có nam giới Hiộn chưa thây một tài liệu viết vổ Thăng Long - Hà Nội hay Đàng Ngoài của một tác giả nữ nào

Theo quốc tịch, thì hiộn nay với những tư liệu đã dịch ra

tiếng Viột, chúng ta mới biết nhiều đến người phương Tây

(Bồ, Pháp, Hà Lan, Anh, Ý), và không nhiều các tác giả là người Trung Quốc (Chu Thuấn Thủy, Thái Đình Lan) Chúng

tôi cố sưu tập dược một sô" tư liộu của người Nhật, một trong

những dôi tác thương mại cúa Việt Nam thòi kỳ này, nhưng trong tạp sách này, chúng tỏi xin tạm chưa công bổ’

/ Giáo sĩ người Pháp A le x a n d r e de Rhodes (quen gọi là

Đắc Lộ; 1593-1660; ở T h ă n g Long và Đàng Ngoài hơn 3 năm, từ th á n g 3 năm 1627 đôn th á n g 5 năm 1630)

Trang 9

Cũng như rất nhiều nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi dặc biệt đánh giá cao những ghi chép của Alexandre de Rhođes, người được quen gọi bằng tên Việt Nam là Đắc Lộ, với hai cuốn

cùng xuât bản trong thập niên 1650: Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài (Histoire du royaume de Tunquin) và H ành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions) Trong cuốn Lhứ n h ất

có đính kèm một bản đồ Việt Nam gồm Đàng Ngoài và Đàng Trong do chính giáo sĩ A de Rhodes vẽ v ề Đàng Ngoài nói chung và Thăng Long - Kẻ Chợ nói riêng, những ghi chóp của giáo sĩ A de Rhodes ở thê kỷ XVII là những ghi chép có giá trị

ở hàng đầu, kế thừa được thành quả của nhiều người di trước,

và ảnh hưởng hầu như đến Lất cả các ghi chép của người dời sau Vào đầu thế kỷ XX, Charles B Maybon đã đánh giá như

sau về A de Rhodes và cuốn Lịch sử Vương quốc Dàng Ngoài

của ông: "Nhân vật này là người Pháp hoạt động có hiệu quả nhất trong việc cung cấp những nhận thức đúng đắn vổ nước

An Nam" (Charles B Maybon 2006: 16)

Gần dây, trong một khảo cứu chuyên sâu vổ đôn Còn (Quỳnh Lưu, Nghệ An) và tục thờ Tứ vị T hánh Nương, khi sử dụng tư liệu từ hai cuốn sách và tâ'm bản đồ của A de Rhodes nói trên, có đốì chiếu vối những tư liệu Hán Nôm trước và sau

đó của người Việt Nam (Việt điện u linh, L ĩnh N am chích quái, Ô Châu cận lục, Thượng kinh ký sự), chúng Lôi nhận ra giá trị dân tộc chí ẩn chứa trong các ghi chép của A dc

Rhodes (xem Chu Xuân Giao 2009a, 2009b) Có thể thây, ông

có thói quen ghi chép hàng ngày về những ndi đã đến, những việc dã thấy và đã nghe, cần mẫn và tinh tường chẳng khác

gì một nhà dân tộc học đang điều tra điền dã Qua nhiều thực

tế hay nhiều sự kiện được phản ánh bằng ghi chép hàng ngày, ông mới rú t ra một mô tả tổng quan về một đôi tượng nào dó,

Trang 10

có giá trị cao trôn nhiổu phương điộn.

ỉ ỉ ì n h 1: Bản đố An Nam (gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài) do giáo sĩ

A de Rhodes vẽ và công bô vào đầu thập niên 1650.

Đà CÓ nhiều khảo cứu về cuộc dời và hành trình truyền giáo của A de Rhođes (gần đây, công trình có tính tổng hợp

và bề th ế nhất có lõ là của Peter c Phan dã xuất bản năm 1998), ở đây chỉ nói vắn tá t về thời gian ông tới Đàng Ngoài

và kinh dô của nó là Thăng Long - Kỏ Chợ Trưỏc khi đến Đàng Ngoài của vua Lẽ chúa Trịnh, A de Rhodes đã có mấy nam kinh nghiộm truyền giáo tại Đàng Trong của chúa

Trang 11

Nguyễn (năm 1624 - 1626) Ông học và sử dụng thành thạo tiếng Việt trong thời gian ở đó Khi được bổ trên cử tới Đàng Ngoài, với lý do sợ bị chúa Đàng Ngoài nghi ngờ làm gián điệp cho Đàng Trong, A de Rhodes đã không di thắng từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, mà phải chọn con đường vòng: từ Đàng Trong đi Ma Cao, rồi từ Ma Cao mới vào Đàng Ngoài Ông đến Đàng Ngoài bằng việc cập bến Cửa Hạng (Thanh Hóa) vào ngày 19 tháng 3 năm 1627 Hơn 3 năm lưu lại Đàng Ngoài, vào tháng 5 năm 1630, ông rời bỏ Đàng Ngoài (vì nhà chúa ra lệnh trục xuât), từ c ử a Chúa (tức Cửa Còn / Cửa Lạch Còn, ở Nghệ An), để trở lại Ma Cao.

Về đại thể, theo chúng tôi, lịch trình truyền giáo của A

de Rhodes ở Đàng Ngoài có thể chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Có thể tính từ ngày 19 tháng 3 năm 1627

(trùng ngày lễ th á n h Giuse, tại c ử a Bạng)1 đôn cuổì th án g 3

năm 1629, tức gần tròn 2 năm, tạm gọi là giai đoạn từ Ma Cao đến Thăng Long (Ma Cao - c ử a Bạng - qua đường sông

Đáy đi vào đường sông Hồng để đôn Thăng Long - gặp chúa Trịnh ở khu vực gần Phủ Lý2 - theo chúa Trịnh vào Thanh Hóa, dừng lại ở khu vực An Vực - cùng chúa Trịnh về phủ chúa ở Thăng Long - truyền giáo ở Thăng Long và vùng lân cận)

1 Theo Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo hội Công giáo Việt Nam đă nhận thánh Giuse là quan thầy, đấng bảo hộ Nhà thờ Lớn Hà Nội là nhà thờ kính thánh Giuse, lễ ngày 19 tháng 3 (xem Alexandre de Rhodes (Hồng Nhuê dịch) 1994b : 2 7 5 -c h ú thích 28).

2 Phạm Đình Khiêm cho rằng A de Rhodes đã găp chúa Trịnh lần đầu tiên ở khoảng giữa Phủ Lý và Hưng Yên, ông viết: "Từ Ảo Môn đến cửa Bạng (Thanh Hóa) ngày 19 tháng 3 năm 1627, giáo sĩ A de Rhodes theo tàu buôn đến Cửa Đáy, vảo sông Hổng Hà để lên Thăng Long, dọc đường khoảng giữa Phủ Lý và Hưng Yên gặp chúa Trịnh thân chinh đi đánh chúa Nguyễn" [Phạm Đình Khiêm 1960: 62]

Trang 12

Giai đoạn 2: Có thể tính từ cuối tháng 3 năm 1629 đến

khoảng tháng 10 năm 1629, tức khoảng 8 tháng, tạm gọi là

giai đoạn phải rời bỏ Thăng Long đến tỉnh Bô' Chính, với d ự định lừ đó về Ma Cao nhưng không xuất cảng được (Thăng

Long - Ke Ĩ3Ò - Kẻ No / Cửa Bạng - ghé qua Cửa Chúa/Cửa Cờn - tỉnh Bố Chính - Nghệ An - cử a Rum - tới gặp người Bồ đợi ở Cửa Chúa/Cửa Còn)

Giai đoạn 3: Có thể tính từ tháng 10 năm 1629 đến iháng 5 năm 1630, tức khoảng 7 tháng, tạm gọi là giai đoạn tạm trở lại Thăng Long, rồi lại phải rời bỏ Thăng Long, quay lại vùng Thanh Nghệ đ ể từ đó về Ma Cao (Cửa Chúa/Cửa Còn -

theo người Bồ vê Thăng Long - truyền giáo ở Thăng Long - rời

bỏ Thảng Long - Kỏ Bò - Ke Bích - tới gặp người Bồ đang đợi

ở Cửa Chúa/Cửa Cờn - từ c ử a Còn về Ma Cao).

Trong thời gian hơn ba năm truyền giáo ở Đàng Ngoài, A

de Rhodes đã làm lễ thanh tẩy được cho 5.602 người Bằng trải nghiệm trong ba năm ấy, mà phần lớn là lưu lại ở kinh

th à n h Thăng Long, và những tìm hiểu qua tư liệu viết, A de Rhođes đã thu thập được tư liệu dể sau này viết nên cuôn

Lịch sử Vương quốc Dàng Ngoài.

A de Rhodes còn dược ghi công đầu đối với việc th àn h lập

Hội truyền giáo ngoại quốc hay Hội truyền giáo ngoại quốc Pari (Sém inaire des Missions étrangères, M issions Etrangères

de Paris, MEP) VÓI tư cách là một Lố chức truyền giáo trực

thuộc Hội đồng truyền giáo Roma, bằng việc ông đã gửi bản thinh nguyện dầu tiên vổ việc này từ năm 1650 Tám năm sau, vào tháng 5 năm 1658, Hội đồng truyền giáo mới chuẩn y Các nhà truyền giáo thuộc MEP sau thời A de Rhođcs đã để lại nhiều tư liệu quan trọng liên quan đến Việt Nam nói chung

và Dàng Ngoài nói riêng, hiện chúng được lưu giữ tại Văn

Trang 13

khô" của MEP tại Pari, chẳng hạn: cuôn Tam giáo ch ư Ich i vọng (chữ quốc ngữ cổ, được xcm là do một giáo sĩ người Ý

viết vào năm 1752), hay các cuôn sổ tay ghi chép nhiều đề tài khác nhau (trong đó có nhiều chi tiết về phong tục, tín ngưỡng của người Việt N a m 1)

> Trước khi Giuliano Baldinotti đến Đàng Ngoài vào năm

1626, và trước khi A de Rhodes lần đầu tiên đôn Đàng Trong vào năm 1624, có một giáo sĩ người Ý tên là Cristophoro Borri (Cristoíoro Borri / Christophe Borri, 1583-1632) đã đến Đàng Trong vào năm 1618 và ở đó cho đến năm 1622 Vị giáo sĩ này

có viết một bản tường trình bằng tiếng Ý là Relation de son ưoyage, ấn hành lần dầu năm 1631 và được dịch sang nhiều thứ

tiêng khác (Pháp, Latinh, Hà Lan, Đức, Anh) trong những năm 1631-1633 (xem Cristophoro Borri 1998) Phần về Việt Nam

1 Cụ thể hơn, có thể xem trong Nguyễn Khắc Xuyèn 1960: 145-146.

2 Có lẽ vì Giuliano Baldinotti theo tàu buôn của người Bổ đến Đàng Ngoài, nên có khi người ta nhẩm ông cũng là người Bổ, chẳng hạn Nguyễn Thừa Hỷ

có viết: "Năm 1626, giáo sỹ Dòng Tên, người Bồ Đào Nha Baldinotti đến Kẻ

Chợ truyền giáo, có viết tặp du ký Ghi chép về vương quốc Đàng N goàỉ'

(Nguyễn Thừa Hỷ 2008: 1987).

Trang 14

trong bản tường trình ấy dã được Nguyễn Khắc Xuyên dịch

sang tiếng Việt với tiêu đề X ứ Đàng Trong năm 1621 Tuy

Liỏu đổ như vậy, nhưng có thể thấy trong dó nhiều liên hệ về Dàng Ngoài cũng như vê Thăng Long, và tác giả dành ra (‘hương 13 (chương cuối cùng) để viết riêng về xứ Đàng Ngoài qua lời kổ của những người từ Đàng Ngoài tới tỉnh Quy Nhơn Chương này chỉ có mây trang, lại qua tư liộu gián tiếp, nhưng cùng cho chúng ta một khái quát chung về nước Việt Nam (gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài) và kinh thành Thăng Long thòi đẩu th ế kỷ XVII

T h ậ t ra, trước Cristophoro Borri, từ năm 1615 đã có ba

vị giáo sĩ dòng Tôn ở Ma Cao đã tới Đà N ẵng (Francesco Busomi người Y, là một người trong ba vị đó, ở Đàng Trong

20 năm, p h á t triển n h a n h chóng Công giáo tại đây dưới sự khoan dung của Chúa S ã i 1), tuy nhiên, ba vị ấy không để lại ghi chép Cho nên bản tường trình của C.Borri là cuốn dầu tiên dược in ra nói vê giáo đoàn ở Đàng Trong "Những thông tin mà cuốn sách cưng cấp vổ một đ ất nước xa xôi có giá trị không dồng đổu, đó là sự thật, nhưng hoàn toàn xứng dáng dược coi là hấp dẫn đôì với các độc giả người Âu, người sùng tín cũng như kẻ ngoại đạo" (Charles B Maybon 2006: 15)

0 ỉ3orri dã cố gắng học tiếng Việt, tuy không thạo lắm, nhưng chắc dủ đổ giảng giáo lý Kitô Có một vài câu chữ quốc ngữ trong bản tưòng th u ậ t của ông, cho chúng ta biết rằng,

từ những năm 1618-1620 đã có một khởi đáu hình thành chữ quốc ngữ Cái khác biột của c Borri so với A de Rhodes sau này là, ông ký âm tiếng Việt bằng chữ viết của người Ý, chứ

1 Xem Charles B Maybon 2006: 15, và Tư liệu mạng 3 (phần đ ầ u ).

Trang 15

không phải của người Bồ, ví dụ: nho viết th à n h gnoo, nhỏ viết thành gno, xin viết thành scin (Cristophoro Borri 1998: 9 ).

c Borri ròi Đàng Ngoài vào năm 1622 để trở lại Ma Cao Sau đó, từ Ma Cao, năm 1624 thì A de Rhodes được cử đi vào Đàng Trong, năm 1626 thì Giuliano Baldinotti dược cử đi vào Đàng Ngoài

> Người cử cha Giuliano Baldinotti tới Đàng Ngoài là cha Hienrô Rodriguez Cha Hienrô thuộc Dòng Tên, từ "căn cứ địa" Ma Cao đã đến truyền giáo tại N h ậ t Bản, nhưng bị trục xuât khỏi nước này vào khoảng năm 1617-1620, nên đ à n h trở lại Ma Cao; từ Ma Cao, ông đã cử các giáo sĩ đi các nước lân cận ngoài Nhật Bản như Đàng Trong, Đàng Ngoài, Thái Lan

Họ nhắm đến Đàng Ngoài với hai mục đích: trước hết tìm hiểu một vùng đất họ chưa biết rõ và mang ánh sáng Phúc

âm tới đó; thứ hai, từ Dàng Ngoài có thể tiến vào Trung tQuốc

và vào Lào qua đường bộ (theo Giuliano Baldinotti 1626)

> Năm 1626, cha Hienrô cử cha Giuliano Baldinotti (người Ý) và một người phụ tá là Juliô Piani (người Nhật) từ

Ma Cao tới Đàng Ngoài Các vị này phải m ất tới 36 ngày lênh đênh trên biển mới tới được Đàng Ngoài, vì họ chưa thông thạo đường và lại gặp bão lớn trên biển (năm sau, năm 1627,

A de Rhodes chỉ m ất có một tu ầ n để đi từ Ma Cao đến Đ àng Ngoài) Họ khởi hành từ Ma Cao vào ngày 2 th án g 2 năm

1626, đến ngày 7 th án g 3 mới cập bên Đàng Ngoài, được chúa Trịnh cử 4 chiến thuyền đi đón về Thăng Long

Cha Giuliano Baldinotti đã ở Thăng IiOng trong khoảng 6 tháng, từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1626, được chúa Trịnh long trọng tiếp đón và chăm sóc chu đáo, vì chúa rất kỳ vọng vào sự hợp tác của người Bồ trong việc giúp đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong Thời điểm Baldinotti đến Thăng Long là một cao điểm

Trang 16

trong quan hộ đối đầu của Đàng Trong và Oàng Ngoài, vì để làm Lan nỗi lò của chúa Đàng Ngoài về việc có thể người Bồ sẽ phản ngài (ngài thừa biết Đàng Trong đã tiếp xúc với người Bồ

từ trước), cha Giuliano đã th.am gia một hội thề không chông lại bản chúa Đàng Ngoài ha> x.ứ Đàng Ngoài, mà phải là bạn tốt trung Ihành của ngài Giulismo đã rời Đàng Ngoài vào ngày 11 tháng 8 năm 1626 để trở vổ Ma Cao Sau khi trở vê Ma Cao

bình yên, vào tháng 11 năm dó, ông viết báo cáo Tường trinh về Đàng Ngoài 1626 để gủi vồ liLoma.

Theo phân tích của Nguyễn Khắc Xuyên, bản tường trình năm 1626 của Giuliano tuy không dài nhưng hết sức quý Nó cho chúng La biết những nét đại cương vê Thăng Long - Kẻ Chợ vào dầu thê kỷ XVII "Còn vổ việc truyền giáo’ chúng ta cũng dược biết sơ lược về buổi tiếp xúc dầu tiên của giáo sĩ với chúa Trịnh Tráng, với các nhà sư, nhà nho thời đó Điểu làm ngăn trở không cho giáo sĩ giao thiệp rộng rãi hơn dó là việc không tinh thông ngôn ngữ bản xứ Chúng tôi phỏng đoán cuộc dàm thoại đã xảy ra bằng chữ viết, nhò một thầy trợ sĩ người Nhậl cùng đi với giáo sĩ" (theo Giuliano Baldinotti 1626)

3 A nh em n h à T a v e r n i e r (Công ty Đ ông Ân Hà L a n VOC)

và S a m u e l Iìa ro n (C ông ty Đ ông An Hà L a n v o c , Công ty

Đ ô n g Án Anh EIC)

Trong giai đoạn nàv, Việt Nam nói chung và Thăng Ijong - Đàng Ngoài nói riêng có quan hộ thương mại chủ yếu với người Nhật (hộ thống Chu Ấn thuyên, 1592-1635), người Trung Quốc (thương nhân nhà Minh, nhà Thanh), người Bồ Đào Nha (Công

Ly Hoàng Gia), người Mà Lan (Vereenigđe Oost-Indische Compagnie/Công ty Đông Ấn Hà Lan, v o c , 1602 -1799), người Anh (Công ly Đông Ân Anh/ Knglish East India Company, P2IC,

Trang 17

1600 -1874), người Pháp (Công Ly Đông Ân Pháp/Compagnie francaise des Indes orientales, 1664-1769) Với mỗi dôi tác nói trên, trong tương lai, chúng Lôi sẽ có những giới thiệu tống quan riêng, ở đây chỉ dừng lại với việc giới thiệu vê voc (Công ly Đông An Hà Lan) trong liên quan với hai cuốn du ký (của anh

em nhà Tavernier và Baron)

> v o c được th àn h lập vào tháng 3 năm 1602, trên cơ sở hợp nhât các công ty nhỏ trước đó, được đặt dưới sự bảo trợ của Chính phủ Hà Lan, được nhà nước irao dộc quyền buôn bán tù mũi Hảo Vọng trở về phương Đông, và dược thay mặt nhà nước ký kết các hiệp ước buôn bán, tuyên b(D chiến tranh, ký kết các hiệp ước hòa bình Hoạt động của công ty ở phương Đông được điểu hành bởi Toàn quyền và Hội đồng Đông An đặt tại Batavia (Hoàng Anh Tuấn 2007: 116) Thương nhân

Hà Lan không phải là những người đầu tiên đên Đàng Ngoài

và Thăng Long Người Bồ sau những phát kiến dịa lý cuối the

kỷ XV đã thành lập Công ty Hoàng gia Estado da India, dặt thương điếm ở Goa, Malacca, và tiếp tục hướng Lới thị trường Đông Á Trong quá trình thâm nhập thị trường Trung Quốc, người Bồ đã lần lượt đến Dàng Trong (năm 1523) và Đàng Ngoài (1626) Dù chậm chân hơn người Bồ, người Hà Lan dã đến được Đàng Trong vào năm 1601; tuy nhiên, những nỗ lực thiết lập quan hộ với các chúa Nguyễn không thu được kêt quả thậm chí còn bị thiệt hại nhiêu về nhân sự và tài sản trong suốt ba thập kỷ sau đó, do người Bồ ra sức ngăn chặn Quan

hệ của người Hà Lan vâi Đàng Ngoài và Thăng Long cũng phải đến năm 1637 mới được thiết lập chính thức và đôn năm

1700 thì hoàn toàn chấm dứt (Hoàng Anh Tuân 2007: 107)

Gần bảy thập kỷ buôn bán với Đàng Ngoài, voc đổ lại một khôi lượng đồ sộ các văn bản, không chỉ sổ sách kinh

Trang 18

doanh, thư từ ngoại giao qua lại với chính quyền vua Lê, chúa Trịnh, mà còn có cả nhật ký, ghi chóp cá nhân của các thương nhân vê lịch sử văn hóa, tình hình (ìhính trị, kinh tê, bang giao, của Đàng Ngoài trong toàn bộ th ế ký XVII Các văn bản nàv dều còn ỏ dạng viôt tay, VỚI văn phong Hà Lan

cổ, từ vựng thay đổi hầu hết nôn viộc đọc lại từ ngữ này không dỗ dàng ngay cả với người bản ngữ hiện nay (Hoàng Anh Tuấn 2007: 108) Trong bối cảnh chưng như vậy, trong tiếng Viột, chúng ta đã có được bản dịch hai bản du ký /

tường trình: một là Tập du ký mới và kỳ thú về Vương quốc Dàng Ngoài của anh em nhà Tavernier (do Lê Tư Lành

chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Pháp xuất bản năm 1681), bản

nữa là Mô tả Vương quốc Dàng Ngoài của Samucl Baron (do

Song Kha dịch, chưa rõ theo bản nào; nhưng nguyên bản tiếng Anh xuất bản lần đầu năm 1723) Có một điểm thú vị là, cùng làm việc cho v o c ở hai thời điểm khác nhau, nhưng Baron dà phô phán khá gay gắt cuôn của anh em nhà Tavcrnier, rằng trong đó có nhiều điều "không tưởng và phi lý" Tuy nhiôn, cả hai cuốn, của anh em nhà Tavernier và của Baron, đểu ít nhiểu chịu ảnh hưởng (ke* thừa, nêu nghi vấn

và chỉnh lý) từ cuốn Lịch sử Vương quốc Dàng Ngoài của A

de Rhodes

> Tập du kỷ mới và kỳ thú vê Vương quốc Đàng Ngoài của

anh om nhà T a v e r n ier dược hình thành trên cơ sở những ghi chép của Danicỉ Tavernier (người em trai) trong dịp vị này đôn Thăng Long - Kẻ Chợ với tư cách là SI quan phụ trách về

k ế toán, hành chính trên tàu buôn của voc trong khoảng thời gian từ năm 1639-1645 Daniel kể rằng ông đã trở đi trở lại Đàng Ngoài tới 11, 12 lần Nguyễn Thừa Hỷ đặt giả thiết rằng, có lõ Daniel là một ngưòi trong phái bộ của v o c đã đến

Trang 19

Kẻ Chợ lần đầu tiên năm 1637, thòi Lê Thần Tông - Trịnh Tráng, do K Hartsinck chỉ huy (Jean - Baptiste Tavernier 2007: 9) Daniel qua đòi năm 1648, sau này, người anh trai của ông là Jean - Baptiste Tavernier đã tập hợp, chỉnh lý bản

thảo của em mình, rồi cho xuất bản với tiêu đề "Sưu tập nhiều du ký và chuyên khảo kỳ thú và hấp d à n của J.tì Tavernier" tại Pari năm 1681.

Tập du ký mới của anh em nhà Tavernier gồm 15 chương, giới thiệu về Đàng Ngoài, mà chủ yếu là Thăng Long, trên các phương diện: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, chính trị, đặc sản, phong tục tập quán của dân chúng, tôn giáo tín

ngưỡng, giáo dục, y học, nghệ th u ậ t ca xướng So vối Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài của A de Rhodes thì, cuốn này có

nhiều ghi chép chi tiết hơn (vì khác biệt vê tôn giáo - A de Rhodes là giáo sĩ Công giáo có quan hệ mật thiết với người Bồ, còn anh em nhà Tavernier thì theo Tin lành làm việc cho

v o c - nên ở một số chỗ, cách nhìn của hai bôn có khác nhau

với cùng một sự v ật / hiện tượng) Sau này, tập du ký của hai anh em nhà Tavernier đã bị s Baron phê phán rằng không chính xác ở nhiều điểm, "nhiều điều không tưởng và phi lý"

> Samuel Baron sinh ra tại Hà Lan vào khoảng năm

1650 Cha ông là người Hà Lan đến sinh sông tại Kẻ Chự từ những năm 1640 (?), làm nhân viên, rồi Giám đốc thương điếm Hà Nội ở Đàng Ngoài từ năm 1633; mẹ là người Đàng Ngoài, chưa biết tên tuổi Baron lớn lên tại Ke Chợ, có vê Hà Lan học, rồi lại đến Kẻ Chợ, làm việc cho v o c Nhưng đến năm 1675, từ v o c ông chuyển sang làm cho Công ty Đông

Ân của Anh và nh ận quốc tịch Anh Năm 1685, Baron bỏ hẳn

Kẻ Chợ tới Ân Độ, nhưng vẫn làm việc cho công ty của Anh (Tập thể tác giả 2008: 2042)

Trang 20

Cuốn Mô tả Vương quốc Dàng Ngoài của Baron được viêt

xong bằng tiếng Anh vào năm 1683, rồi được xuất bản lần dầu tiôn năm 1723 tại Luân Đôn Trong cuốn này, Baron đã phô phán anh om nhà Tavornier ỏ nhiêu điểm Chẳng hạn, ông bác bỏ việc Daniel Tavernier - một thương nhân và viên chức nhỏ trên tàu buôn nước ngoài - lại có thể tự do vào trò chuyện, múa kiếm và dánh bạc với sô tiền lớn nơi cung vua, phủ chúa tôn nghiêm; hoặc cũng bác bỏ việc có những lái buôn Đàng Ngoài sang buôn bán ỏ Bantam và Batavia (Indonesia) vào giữa thê kỷ XVII, dem theo cả gia đình, sư sãi

và thầy đồ (<Jean - Bapliste Tavernier 2007: 11) Việc Daniel Tavernier nói là đã tới Đàng Ngoài 11, 12 lần, theo Baron cũng là diều không có Lhật, trên thực tê có lẽ mới chỉ đến đây một, lần duy nhấi Ngược lại, Baron có ý đánh giá cao những ghi chép của giáo sĩ A de Rhodes, cho rằng những ghi chóp

ấy "có vẻ chính xác hơn so với những gì Tavernier viết về Đàng Ngoài"

Sách của Baron mô tả vổ Đàng Ngoài trôn rấ t nhiều phương diện (số chương / dề mục cũng gần tương tự như cuốn của anh om nhà Tavernier): vị trí địa lý và diện tích, thiôn nhiên và sản vật, tài nguyên - thương mại - tiền tộ, thê mạnh, phong tục Lập quán, đám cưới, những chuyến thăm hỏi và những trò giải trí, việc học hành, thầy thuốc và bệnh tật, chính phủ - luật pháp - chính sách, thông soái cùng gia đình (chúa Trịnh), triều đình (vua Lê), lỗ dăng quang và lên ngôi,

lỗ ban phước của vua, tế quý đầu (hay tẩy u ế đất nước khỏi tà ma), đám tang của chúa (thông soái), tín ngưỡng tôn giáo (giáo phái, thần lượng, chùa và dền ở Đàng Ngoài) Địa bàn hoạt dộng chính của Baron tại Đàng Ngoài là Thăng Long - Kẻ Chợ, cho nên có thể nói rằng, phần lớn những điều mà Baron

Trang 21

mô tả trong sách này như liệt kê ở trcn, chính là mô tả vổ Thảng Long và con người Thăng Long vào cưốí the kỷ XVII.

4 N h à du h à n h v ĩ đ a i Willỉarn D a m p i e r

Dampier là n h à du hành người Anh (1652-1715), đã từng đi vòng q u an h t h ế giới 3 lần và nhiều chuyến di giữa các lục địa Ảu -Mỹ, Âu - Á, trong k hoảng 40 năm theo nghề

đi biển, có thòi gian ông từng tham gia vào nh ữn g toán cưốp biển Ông tới Đàng Ngoài vào năm 1688 Năm 1699,

cuốn du ký nổi tiếng mang tôn Du hành và m iêu tả

(Voyages and desciptions) gồm hai tập (Vol I, II) của ông

đã được xuất bản; từ chương I đến chương V, thuộc phần I của Vol II (Vol II, P a r t I, Chap 1 - Chap 5) là dàn h viết vổ

Đàng Ngoài vói tiêu đề Một chuyến du hành đến Đ àng Ngoài (The Voyage to Tonquin).

Mục tiêu của Dampier đến Đàng Ngoài là dể tìm kiêm một cơ hội nhằm ổn định sự nghiệp của mình gắn với KIC Sau khi đã kiệt sức và có phần chán nản với hơn 9 năm phiôu

du trôn biển từ Au sang Mỹ rồi lại vượt Thái Bình Dương về tận phương Đông, ông muôn tìm kiếm một vị trí có lợi trong các thám hiểm tiềm năng buôn bán của EIC ỏ bán dảo Đông Dương (William Dampier 2007: 13)

Cuốn du ký v ề Đ àng Ngoài của Dampier gồm có 5

chương (Chap I - Chap V): hành trình từ Achin đến Malacca và Đàng Ngoài, điểu kiộn tự nhiên của Đàng Ngoài, vê cư dân bản dịa - phong tục lập quán - tôn giáo - thương mại, về chính quyền - những người cầm quyền - binh lính và quan lại, chuyến đi đôn Tenan (Hải Ninh) -

h à n h trìn h đưòng bộ đen Kẻ Chợ và nhữ ng sự kiộn diễn ra trên đường đi K hung miêu tả tổng q u an này của Dampier

Trang 22

có thể thấy ở các tác giả trước ông (À dc Rhođes, anh em

nhà Tavernier, Baron), nhưng giá trị là ở nhữ ng ghi chép

r ấ t tỉ mỉ của Dampier Ong không biôt tiếng Việt, trongthời gian lưu trú ở T hăng Long và các nơi khác thuộc Đàng

Ngoài đều sử dụng phiôn dịch, nhưng rất th á n phục là luôn

có những nhận xót sác sảo và có chiều sâu (đô>i chiếu VỚI

cáo nơi khác mà ông dà đến), vổ V1ỘC này ông viết: "Tôi

dưa ra các n h ận xót của chính bản thân, n h ấ t là đôi với xứ

Đàng Ngoài, có kèm theo n h ận xót của một vài người Anh

dã từng ở lại lâu dài trong vương quốc nàv Tôi r ấ t tintương vào tài năng và lòng trung thực của họ và đó là

những đức tính cần có trong công việc như thế Bạn đọc sẽ

hài lòng khi dưực biết những nhận xót ấy là do ai, nhò vào

ai - nếu họ cho phóp tôi nói tôn của họ ra Tuy nhiên, hầu

như khi nào tôi cùng phân biột rõ ràng cái gì tôi trông thấy

với cái gì tôi dược biết dựa vào lời kể lại của người k hác”

(William Dampier 2007: 16) Chính sự cẩn trọng và lịch

làm như vậy của Dampier sõ mang đôn nhiều hứng thú và

tin tương (tin vào tính khả tín) cho độc giả khi dọc du ký

của Dampier

Du ký của Dampicr có nhan dề là về Dàng N goài, nhưng

phẩn lớn thời gian lưu tại Đàng Ngoài của ông là dành cho

Thăng Long - Ke Chợ, vì vậy có lõ sõ không khien cưỡng xem

cá cuôYi này là một miêu tả về Thăng Long - Kẻ Chợ vào cuốỉ

thế kỷ XVII dưới con mắt của một thương gia Anh

5 Hai người T ru n g Quốc viết g i á n tiếp vê Đ à n g N g o à i và

T h ă n g Long - Hà Nội

T rong sô" tư ]iộu dã dược dịch ra tiếng Việt, chúng tôi có

chú ý hai tác giả người T ru ng Quốc, là: Chu T h u ấn Thủy

Trang 23

với cuốn A n N a m cung dịch kỷ sự (hoàn th à n h n ă m 1657),

và Thái Đình Lan với cuổn H ải N a m tạp trứ (khác in lần

dầu năm 1837)' Tuy cả hai đểu không trực tiếp viêt vê

T hăng Long - Hà Nội, nhưng chúng ta lại có th ể tìm th ây trong dó những ghi chép gián tiếp không kém p h ầ n thú vị

và hữu ích

Chu T h u ấ n T h ủ y (1600-1682), theo giới thiệu c ủ a Vĩnh

Sính (Vĩnh Sính 2001: 340-354), là người tỉnh C h iết Giang, một di th ầ n của n h à Minh, khi nhà Minh m ất n h à T h a n h lên, ông đã lánh n ạn sang Việt Nam và N h ậ t Bản Trong khoảng 12 năm từ năm 1646 đến 1658, Chu đ ã bôn ba sang An Nam (chủ yếu chỉ miền T h u ậ n Quảng) í t n h ấ t 5 lần, và N h ậ t Bản 7 lần Trong 5 lần đến Đàng Trong, thời gian Chu lưu tr ú lâu n h ấ t là kh oảng 4 năm, từ 1654 cho

đôn 1658 A n N a m cung dịch kỷ sự là hồi ký của Chu viết

vê n h ữ n g việc xảy ra vào năm 1657, trong k h o ả n g thời gian hai ih á n g rưỡi kể từ khi Chu bị quản thúc ở Hội An (ngày 3 th á n g 2 âm lịch, tức ngày 17-3-1657), kê dó dược chuyển ra bản doanh của chúa Nguyễn ở Dinh C á t (nay là huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị), cho đến khi được cho

về lại Hội An ngày 21 th á n g 4 âm lịch (tức ngày 2-6-1657)

A n N a m cung dịch kỷ sự là một sử liệu độc đáo t r ê n nhiều

mặt Với người muốn tìm những ghi chép vổ T h ă n g Long -

Hà Nội, cần phải đọc nó ở nhữ ng chi tiế t tuy nhỏ nhưng lại sâu sắc trong thê tương xứng/đốì sá n h Đ à n g Trong - Đàng Ngoài hay Dinh Cát - T h ă n g Long (đọc nó kct hợp những ghi chép của người phương Tây) C hẳng hạn việc

1 Còn có thể kể đến Hải ngoại kỷ sự của nhà sư Trung Quốc là Thích Đại Sán

(bàn địch được xuất bản năm 1963 bởi Viện Đại học Huế).

Trang 24

ch ú a Đàng T rong dùng lối xưng hô "tao - mày" với nhữ ng cận t h ầ n của người, việc chúa lệnh cho Chu T h u ấ n Thủy phải thảo văn bản thay mình (có nhữ ng bí m ật quan trọng tro n g các văn bản đó đã dược ông lược bỏ, không ghi vào sách).

T hái Đ ình Lan (1801 -1859), theo giới thiệu của T rần

ích Nguyên (Trần ích Nguyên 2009), là người Bành Hồ thuộc Đài Loan, từng bị bão đánh trôi đến tỉnh Quảng Ngãi thuộc xứ An Nam vào n ă m 1835, được các vị quan lại nhà Nguyễn mến khách tiếp) dãi hết sức long trọng và chu cấp

lữ phí để trở về Đài Loa n theo đường bộ Tức là, đã đi bộ từ

Q uảng N gãi về T rung Q uốc, tổng cộng hết 118 ngày đường Nhờ đó, ông đã viết cuốn Hải N am tạp trứ - đây là một kiệt

Lác dầu tiên của người Đài Loan viết vê lịch sử và văn hóa dân tộc của một nước ngoài Cuộc đi bộ xuyên quốc gia

m ang tính phiêu lưu này của Thái Đình Lan đã được sử nhà Nguyễn ghi chép

Liên quan đôn Hà Nội trong ghi chép của Thái Đình

Lan chỉ rất ngắn, do thời lượng lưu lại ở đây trên đường về

T ru n g Quốc không nhiều, nhưng là những dòng có ý nghĩa không nhỏ C hẳng hạn, nó giúp ta thấy dược hình ảnh của người Hoa ở Hà Nội thời dó (trên đường đi từ Quảng Ngãi

đến bicn giới Việt Trung, họ Thái hay nghỉ lại ở nhà một

người Hoa kiều nào đó; đến Thăng Long, ông cũng được

cộng đồng người Hoa ờ dây đón tiếp ân cần) Thái Đình Lan

dã vào chơi trong th à n h đế xem hoàng cung cũ của nhà Lê,

di Ihăm các phô" buôn bán, đến thăm miếu Hai Bà Trưng ở

xã Đồng Nhân

Trang 25

LỜI TẠM KẾT

Trở lên, chúng tôi đã đưa ra một tổng t h u ậ t giản lược vê những tác giả nước ngoài tiêu biểu đã viết vê T hăng Long -

Hà Nội Irong khoảng hơn 200 năm, từ t h ế kỷ XVII - giữa

t h ế kỷ XIX Dù là giản lược, như ng qua đó, chúng ta cũng thể thấy rằng, n h ận thức và viết về T hăng Long - Hà Nội

là một quá trình liên tục, người sau tiếp nôi ngưòi đi trước,

có khi là kế thừa và có khi là t r a n h luận, nhưng đểu hướng đến mục tiêu chung là: nắm bắt tình hình sát thực của

T h ăng Long - Hà Nội ở thời điểm mà các tác giả có m ặt tại Việt Nam, trong nền cảnh chung là Đàng Ngoài khi dất nước chia hai miền và Việt Nam/Đại Nam khi đã thông nhất Không chỉ thây các sự vật hiện tượng, mà trong mỗi ghi chép, chúng ta đều có dịp lắng nghe lời tâm sự, lắng nghe tiếng lòng của họ đôl với T h ăn g Long - Hà Nội, dể biết rằng, t ấ t thảy đều yêu mến m ảnh đất này, đều cảm thấy thích thú và tự hào khi đến đây

Trang 26

TÀI L l í ; u THAM KHẢO

[1] Adriano di st Thecla (?), 17'52, Tam giáo chư vọng, Tư liệu gồm 295 trang

tiếng Việt viết lay khổ 15x10cm, Bảỉn gốc hiện lưu tai AMEP (Archives des Mision étragéres de Paris / Văn khỏ' Hôi Thừa sai nước ngoài tại Pari) với sô' hiệu V 1098.

[2] Alexandre de Rhodes, 1651, Dictionaríum annamiticum seu tunquinense

lusitanum et latinum, Romae:

Typ & sumptibus Soc Congir de Prop Fide 1651, Bản chụp kĩ thuật số trẽn mạng: http://purl.pư961.

[3] Alexandre de Rhodes (ph iên dịch: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ

Quang Chính), 1991 (1651), Từ điển An Nam ■ Lusitan - Latinh (Thường gọi là

Từ điển Việt - BỒ - La), Nxb Khoa học xã hội.

[4] Alexandre de Rhodes (Hồng Nhuệ dịch), 1994 (1651), Ụch sử Vương

quốc Đàng Ngoài (Histoire du royaume de Tunquin), ủ y ban Đoàn kết Công

giáo Tp Hồ Chí Minh.

[5] Alexandre de Rhodes (Hổng Nhuệ dịch), 1994 (1653), Hành trình và

truyển giáo (Divers voyages et missions), ủ y ban Đoàn kết Công giáo Tp Hổ

Chí Minh.

[6] Charles B Maybon (Nguyễn Thừa Hỷ dịch), 2006, Những người

châu Âu ở nước An Nam, Nxb Thế giới.

[7] Chu Thuấn Thủy (Vĩnh Sinh dịch thuật và khảo cứu), 2001 (1657), An

Nam cung dich kỷ sự (Ký sự phục dịch ở An Nam), In trong Vĩnh Sính 2001.

[8] Chu Xuân Giao, 2009a, "Sự xuất hiện của Thánh Nương: về xưng

hiệu thần biển qua tư liệu sắc phong cho lảng Hải Cát và điện Hòn Chén trong

Trang 27

đối sánh với các nguồn tư liệu khác", Bản thảo tham luận (16 trang đánh máy)

cho Hội thảo khoa học Lễ hội dền Cờn và tục thờ Tứ VỊ Thánh Nương với văn

hóa biển ở Việt Nam (được tổ chức tại xã Quỳnh Phương huyện Quỳnh Lưu

tỉnh Nghệ An, vào ngày 16 tháng 6 năm 2009).

[9] Chu Xuân Giao, 2009 b, "Đền Cờn và nữ thần Cửa Chúa (Nghệ An) ở thế

kỷ XVII trong ghi chép thực ơia của giáo sĩ A de Rhodes", Bản thảo bài viết cho Hội nghị Thông báo văn hóa 2009, Viện Nghiên cứu văn hóa - Viện Khoa học xã

hội Việt Nam.

[10] Cristophoro Borri (Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, chú

thích), 1998 (1631), Xử Đàng Trong năm 1621, Nxb Tp Hổ Chí Minh.

[11] Giuliano Baldinotti (Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu), 1626

(1629,1903), Tường trình vể Đàng Ngoài 1626, VVebsite Dũng Lạc.

http://wvw.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=77&ict=622 [12] Jean - Baptiste Tavernier (Lê Tư Lành dịch, Nguyễn Thừa Hỷ hiệu

đính), 2007 (1681), Tập du ký mới và kỳ thú về Vương quốc Đàng Ngoài, Nxb

Thế giới.

[13] Hoàng Anh Tuấn, 2007, "Công ty Đông Ấ n Hà Lan ở Đàng Ngoài,

1637-1700: Tư liệu và những vấn đé nghiên cứu đặt ra", Việt Nam học - Kỷ yếu hội thảo quốc tế lán thứ hai, tập II, Nxb Thế giới.

[14] Lê Hữu Trác (Phan Võ dịch), 1973, Thượng kinh ký sự (Kể chuyện

lên kinh), Nxb Văn học, In lấn thứ hai.

[15] Nguyễn Thừa Hỷ (dịch, khảo cứu, tổng hợp), 2008, "Thăng Long -

Hà Nội qua các nguồn tư liệu phương Tây", In trong Tập thể tác giả 2008.

[16] Peter c Phan, 1998, Mission and Catechesis: Alexandre de Rhodes and

inculturation in seventeeth-century Vietnam, Orbis Books, Maryknoll, New York.

[17] Phạm Đinh Hổ (Nguyễn Hữu Tiến dịch; Nguyễn Quảng Tuân khảo

đính và chú thích; Nguyễn Lộc viết lời bạt), 1989, Vũ trung tùy bút, Nxb Trẻ -

Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học Tp Hồ Chí Minh.

Trang 28

[18] Phạm Đình Hổ - Nguyễr Án (Ngô Văn Triện dịch và chú thích; Trần Nghĩa

giới thiệu), 1997, Tang thươngngẫíi lục, In trong Trán Nghĩa chủ biên 1997.

[19] Phạm Đinh Khiêm, 1960, "Xã hội Việt Nam thế kỷ XVII dưới con mắt

giáo sĩ A de Rhodes", Tạp chí Việt Nam Khảo cổ tập san số 2, Bộ Quốc gia

Giáo dục.

[20] Samuel Baron (Song Kha dịch), 2008 (1723), Mô tả Vương quốc

Đàng Ngoài (A Descriplion of tne Kingdom of Tonqueen/Description du

royaume du Tonkin), In trong Tập thể tác giả 2008.

[21] Tâp thể tác giả 2008, Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long, tập

IV, Nxb Văn hòa Thõng tin - Thời bao Kinh tế Việt Nam.

[22] Trần ích Nguyên (Ngc Đức Tho dịch), 2009, Thái Đinh Lan và tác phẩm Hải Nam tạp trứ, Nxb _ao Động - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ

Đông Tây.

[23] Trần Nghĩa chủ biên, 1997, Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam,

tập 2, Nxb Thế giới.

[24] Trần Văn Toàn, 2005a, "Tôn giáo Việt Nam trong thế kỷ 18 theo cái

nhìn của giáo s ĩ phương Tày dương thời ở Đàng Ngoài", Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 1 năm 2005.

[25] Trần Văn Toàn, 2005b, "Tôn giáo Việt Nam trong thế kỷ 18 theo cái

nhin của giáo s ĩ phương Tây đương thời ở Đàng Ngoài" (tiếp theo), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2 năm 2005.

[26] Tư liệu mạng 1, Đoàn Xuân Kiên, "Chữ quốc ngữ qua những biển dâu":

http://ttntt.free.fr/archive/dxkienchuquocngu.html

[27] Tư liệu mạng 2, Đỗ Quang Chính, "Trình độ chữ quốc ngữ của Linh

mụcA de Rhodes từnàm 1ô2b dến năm 1644", VVebsite Dũng Lạc:

http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id:::64&ia=576

[28] Tư liệu mạng 3, "Dòng Tên Việt Nam - Đôi dòng lích sử", VVebsite

Dỏng Tên Việt Nam:

Trang 29

[29] Vĩnh Sính, 2001, Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa, Nxb Văn

Nghệ Tp Hồ Chí Minh - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.

[30] VVilliam Dampier (Hoàng Anh Tuấn dịch, chú thích và viết lời giới

thiệu; Nguyễn Văn Kim hiệu đính), 2007 (1699, 1931), Một chuyến du hành

đến Đàng Ngoài năm 1688 (nguyên tác: Voyages and descriptions, Vol II, Part I,

Chap 1 - Chap 5), Nxb Thế giới.

Trang 30

THĂNG LONG - HÀ NỘI QUA CÁC NGUỒN T ư LIỆU PHƯƠNG TÂY

NGUYỄN THỪA HỶ*

Từ lâu trong lịch sứ, dã có người La Mã, Ả Rập, Ba Tư đôn vùng Biển Đông giao thương, và không loại trừ khả năng họ đã đôn Việt Nam, vùng Đại La - Thăng Long Tuy nhiên, phải từ sau khi p h á t kiến dịa lý, qua t h ế kỷ XVI, các nhà thám hiểm, khách buôn, giáo sĩ phương Tây mới đến vùng đất Việt Nam, Kinh đô Thăng Long - Kẻ Chợ Đó là những người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp Có nghĩa là chúng ta mới chỉ có được các tư liệu của phương Tây nói về một Đông Kinh - Thăng Long - Kẻ Chợ thòi Lô, một Hà Nội thòi Nguyễn và Thủ đô Hà Nội trong những thời kỳ tiếp theo

1 Tư liệu tr o n g các t h ế kỷ XVI - XVII - XVIII

Thời hậu Lê, khu phô" phường buôn bán phía Đông Thành

T hảng Long trở nên đông đúc, tấp nập Dân gian gọi khu buôn bán đó là Kẻ Chợ Tên Kẻ Ohd cũng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là Kinh đô Thăng Long

* Khoa Lịch sử, Trướng Đại học Khoa học Xã hội vá Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trang 31

Các du khách phương Tây cùng thường gọi Kinh đô Thăng Long bằng tên gọi dân gian là Kẻ Chợ, với nhiều hình thức biến âm như Cacho, Catchou, Kacho, Kichou, Chếc, Marini

để phân biệt "Kẻ Chợ"- khu buôn bán phía Đông - với khu

"Cung điện của nhà ưua'\ tức Hoàng thành Thăng Long.

Theo nhà nghiên cứu Trần Kinh Hoà, tên gọi Ke Chợ lần

đầu tiên xuất hiện trong cuốn Da A sia (về châu Á), với

nguyên chữ Cacho của tác giả ngưòi Bồ Đào Nha, Barros, xuất bản năm 15501 Nhưng phải đợi đến t h ế ký XVII, các nguồn tư liệu phương Tây nói về Thăng Long - Kẻ Chợ mới trở nên phong phú

Năm 1626, giáo sĩ Dòng Tên, ngưòi Bồ Đào Nha

Balcỉinotti đến Kẻ Chợ truyền giáo, có viết tập du ký Ghi chép

về Vươrtg quốc Đàng Ngoài Tác giả đã nhận xét về loại hình kiến trúc ở Thăng Long: "Trừ Hoàng cung ra, ở đây ngươi ta lợp ngói và xảy bằng những phiến đá lớn được đẽo gọt cấn thận, còn lại những ngôi nhà trong Kinh thành đều được làm bằng những cầy "sậy" to như những cây gỗ, gọi là "tre"

N hững nhà đó lợp bằng rơm rạ và không có cửa sổ"2 Ong ghi

thêm rằng, vì lẽ đó, trong Kinh th àn h đã xảy ra nhiều dám cháy, có khi thiêu huỷ tới năm, sáu nghìn nóc nhà Nhưng vì

ở đây có sẵn rất nhiều hồ ao, nên người ta có thể dập tắt

nhanh chóng những đám cháy dó, và chỉ độ bốn, năm ngày

sau họ đã dựng lại hoàn toàn những ngôi nhà đó3

Giáo sư Marini người Ý đến Ke Chợ vào giữa th ế kỷ XVII

Trở về, ông viết cuốn du ký Ghi chép mới và hiếu kỳ về các

1 Trần Kinh Hoà, Kẻ Chợ, Đại học, số 6 (12-1962) - Huế.

2, 3 P.Baỉdinotti, Reỉation du royaume du Tonkin (1626), BEFEO 1903,

tr.77-78.

Trang 32

Vương quốc Đàng Ngoài và Lào, xuất bản ở Paris năm 1666

Trong dó, tác giả phân biột "Kẻ Chợ" (chí khu phô phường buôn bán) với MCung điện Hoàng gia" (chỉ Hoàng thành

Thăng Long) như hai bộ phận "thị" và "thành" của Kinh đô

Thăng Long

Marini viết: "Nếu ta đi từ Kẻ Chợ để vào triều đình tức là Cung điộn Hoàng gia, thì ngưòi ta trỏng thấy không những một toà cung diộn mà là cả một thành ph(3 rấ t đẹp và rộng

Số lính gác, võ quan, nhân viên, người phục vụ, sai nha, vươn tược, voi ngựa, vũ khí và các thiết bị chiến đấu khác, tất cả

đều làm người ta ngạc nhiôn và vượt qua những điều người ta

có thổ nói Mặc dù các cung điộn Nhà vua chỉ làm bằng gỗ, người ta dã trông thấ y ở đấy những đồ trang trí bằng vàng và những đồ Lhôu, n h ữ n g tấm chiếu dột rất mịn, trang trí các màu sác khác nhau, cũ n g như hàng bao tấm thảm dẹp, tất cả mọi thứ đều không tìhể không sánh được Người ta còn trông thay những cửa vòm bằng đá và những bức tường thành dày đôn ]ạ lùng nơi cung Vua ở Cung điộn đó được xây dựng trên một rừng cột to lớn và chắc chắn, chỉ cao khoảng một tầng gá(\ có một cầu th a n g bắc lên dó Những rui kèo ở dây đẹp hơn tấ t cả mọi kiôn trúc khác Các phòng th ật rộng rãi, các hành lang có mái che với những sân lớn rộng bao la "1

Samucl Baron là con của Hcnrick Baron - Trương thương điếm Công ty Đỏng Ản - Hà Lan với một phụ nữ Đàng Ngoài làm việc cho Công ty Đông Ân - Anh và đã từng sinh sông lâu năm ỏ Thăng Long - Ke Chợ, là tác gia của cuốn sách nổi

tiếng Miêu tả Vương quốc Dàng Ngoài viết năm 1683 Miêu

1 GF Marini, Relation nouvelle et curìeuse des royaumes de tonquin et de Lao, Paris 1666 tr.116-118.

Trang 33

tả về Hoàng thành Thăng Long thòi bây giò, Baron viết:

"Đáng ngạc nhiên là bức tường thành ba lớp của Đô thành và cung điện cổ N hữ ng di tích còn lại cho chúng ta thấy, irước kia nó đã là những kiến trúc đồ sộ với những cổng lớn sang trọng, lát bằng một loại cẩm thạch, khu cung điện đả từng có chu vi khoảng 6 - 7 dặm (khoảng 10 - llk m ) , các công, sàn, dinh thự đã chứng tỏ trước kia tòa thành đó đã rất đồ sộ nguy nga"' Những điểu ghi chép của Baron cho chúng ta thấy

Hoàng thành Thăng Long thòi Lê đã rấ t rộng lớn, đẹp đẽ, nguy nga, nhưng vào nửa sau th ế kỷ XVII, có nhiều chỗ đã bị

hư hại, đổ nát

Nhà hàng hải - thương nhân người Anh w Dampier đến Thảng Long - Kẻ Chợ năm 1688, trong tập du ký của mình

(sau này được xuất bản với nhan đề Du lịch và kh á m phá,

London, 1931), đã miêu tả về Hoàng thành Thăng Long thời

Lê - Trịnh: "Những bức tường bao bọc xung quanh Hoàng thành rất đáng chú ý Người ta nói rằng nó có một chu vi khoảng chừng 3 leagues (= 9 dặm = 14km) Chiều cao của bức tường thành này khoảng chừng 15 đến 16 bộ (tức khoảng 4,56 - 4,86m) và hầu n hư chiều rộng hay dài củng bằng n h ư thế Nó được ốp gạch ở hai bên Có nhiều cửa nhỏ khác nhau đê ra vào cung điện nhà vua, còn cửa chính thì nhin ra K inh thành (ta hiểu là cửa Đại Hưng), cửa này chỉ được mở ra kh i nào Hoàng đ ế ra vào Gần đó có hai cửa nhỏ hơn, mỗi cửa ở một bèn cửa lớn, người ta mở ra cho tất cả những ai có công việc

đi đến cung Vua, nhưng những người lạ thi không được tự do

ra vào những cửa này Tuy nhiên, họ có thê bước theo từng

• 1 s Baron, A description o f the Kingdom o f Tonqueen trong Voyages and Travels, Collection Pinkérton, London, 1811, tr 659.

Trang 34

bậc ở dưới chân cửa, đ ế trèo lên tường ỉhành và dạo chơi quanh đỏ cỏ một vài chỗ tường thành đã bị sụt lở Người ta nhìn thấy ở bên trong các bức tường thành này nhiều ao hồ lớn, ở đỏ cỏ những du thuyền đê Hoàng đ ế dạo chơi Toà thành này, đôĩ với nhờ vua, là một trại giam , hơn là, một triều đỉnh "\ Những diều mà w Dampier miêu tả dã nói lên vẻ

đồ sộ xưa kia của Hoàng thành, cũng như tình trạng xuống cấp, ít được quan tâm tu bể của những cung điện của vị Hoàng đế chỉ còn là hư vị trong thời Lê - Trịnh

Những ghi chóp cua các tác giả trên cũng phù hợp với nhận xét của cô" dạo A de Rhođes (người đã sông ở Thăng Long trong những năm 30, 40 của thô kỷ XVII) khi miêu tả

vổ một lỗ Tịch điển của n h à vua Đàng Ngoài, trong cuôn sách

Lịch sử Vương quốc D ùng Ngoài của ông.

"Nhà vua đi ra khỏi Cung điện của m inh, được gọi là Den (tìiệnO chu vi rộng khoảng chừng bằng một thành phô lớn, đi qua các đường phô chinh của thành phô Hoàng gia, được gọi

là Chece (Kẻ Chợ) đến một cánh đồng rộng cách Kinh thành khoảng ĩ dặm "2 Ớ dây, cung điện của Nhà vua rộng bằng

một thành phô" lớn, chính là Hoàng thành Thăng Long thời

Lô Lức thành Thăng Long thời Lý - Trần

Có quan hệ mật thiết với triều đình nhưng lại ở ngoài Hoàng Ihành vổ phía Đông Nam, là một quần thể đông đảo các công trình kiến trúc do các Chúa Trịnh xây dựng, đáng chú ý là phủ Chúa Trịnh và khu liên hợp quân sự gẳn sông llồng

1 w Dampier, Voyages and discoveríes (1688), London, 1931, tr.38.

2 A A de Rhodes, Histoire du royaume de Tonquin (1627, tr.46) Revue Indochinoise, 1908, tr.2).

Trang 35

Trong cuốn du ký Miêu tả Vương quốc Đàng Ngoài,

s Baron dà cho vẽ họa hình triều đình Vua Lô và phủ Chúa Trịnh Theo dó, kiến trúc chính là phủ Chúa là một lầu gác hai tầng thoáng rộng, dằng trước là một sân rộng có các quan đứng, quỳ làm lễ Cuôn sách mô tả như sau:

tảPhủ Chúa ở giữa trung tăm thành phô'Kẻ Chợ; nó rất rộng rãi và có tường bao bọc xung quanh, những dinh thự bên trong thi xây cao 2 tầng có nhiều cửa mở thoáng đãng Các cửa đều đổ

sộ nguy nga, tất cả đều bằng gỗ lim, củng như ở hầu hết các nơi của cung điện, các tư thất và các cung dành cho phụ nữ đều lộng lẫy, xa hoa, có chạm trổ và sơn son thếp vàng Ở sản đằng trước là các chuồng nuôi voi lớn và ngựa tốt Trong sân sau có nhiều vườn cảnh, bụi cày lối đi, bến nước, ao cá, đó là iăt cả những gì có thê làm cho Chúa giải trí vui chơi, mặc dừ hoạ hoằn đôi lúc, Chúa mới ra đến những nơi đó"1.

w Dampier viết: "Chúa luôn luôn có một đội quân cận vộ chung quanh phủ Chúa, nhiêu khu chuồng rộng lớn dành cho ngựa (có dộ 200 - 300 con) và VOI (dộ chừng 150 - 200 con), hằng ngày xuông sông uống nước và lắm rửa Đằng trước phủ Chúa, có một bãi duyệt quân rộng rãi hình vuông dể huấn luyện quân đội Ở một bôn có chỗ cho các quan ngồi xom

lính tập luyộn, bên kia có một kho chứa súng ống và dạn dại

bác"", s Baron thì xác định: "Bên bờ sông (Nhị), có kho Lhuốỉc: súng của nhà vua, gần một bãi cát, trên dó dựng lâu dài

Thecadavv (có thổ là phiôn âm của Tế Kỳ dàn: Đàn lổ cờ"\

Khu liên hợp quân sự gần bò sông Nhị Mà của chính quyền

Lô - Trịnh mà các tư liệu phường TAy IĨ1Ô tả, đôì chiếu vỏi các

1 s Baron, Sđd, tr 692.

2 w Dampier, Sđd, tr.36-37, tr 52.

3 s Baron, Sđd, tr.659, tr 692.

Trang 36

tư liệu thư tịch và thực địa Việt Nam là phù hợp với các địa điểm có tên gọi như Tàu Tượng, Diễn Vủ Trường, Kho súng, sở

Võ học (quãng đường Đồng Nhân ngàv nay) Chúng ta được biết, trước kia, khu huấn luyện và luyộn tập của quân sĩ thòi

Lo sd được dặt ở phía Tây trong Hoàng thành với Giảng Võ Điện, Giảng Võ Đình và các hồ thao diễn quân thuỷ Có thể dôn lúc này, do Hoàng thành bị xuống cấp, ít được tu sửa, Chúa Trịnh đã cho dời khu liên hợp quân sự này sang phía Đỏng, vừa gần phủ Chúa Trịnh, vừa gần sông Hồng rộng rãi, thuận tiộn cho việc diễn tập các thuyền chiến, đồng thời khẳng định quyền lực quân sự thực sự của phủ Chúa

('ùng với phần thành - quan liêu, các tư liệu phương Tây trong tho" kỷ XVII củng nói nhiều đen phần thị - dân gian, tức khu buôn bán Ke Chợ

Trước hết là diện mạo phố’ phường Kẻ Chợ A de Rhodes

quan sát: "Trong Kinh thành, tất cả mọi nhà đều làm bằng gỗ"\ Baron cùng nhận xét: "Rất ít những kiến trúc bằng gạch, trừ những thương điếm ngoại quốc Sô còn lại làm bằng tre và những phên liếp đan sơ sài"2 Dampier thì ước lượng: "Kẻ Chợ có vào khoảng 20.000 nghìn nóc nhà, những ngôi nhà này thường thấp, tường trát bùn, mái lợp rạ Tuy vậy, củng có một ít nhà được xây dựng bằng gạch, lợp ngói Phần lớn những ngôi nhà này đều có một cái sân, hoặc một kha phụ ở đằng sau"Ầ G Carori trong cuốn hồi ký (1695) của mình, nhận định: "Nhà vua không cho phép các thần dân của minh xây nhà cao, vi sợ rằng

họ có th ể dừng tầng gác dễ mưu hai nhà vua"\

Trang 37

Các tư liệu phương Tây về Thăng Long - Kẻ Chợ thô" kỷXVII, nói nhiều đến quang cảnh đông đúc tấp nập của các phô" phường chợ búa Các tác giả cũng nhấn mạnh đen tính chất chuyên nghề, chuyên mặt hàng của các phc> phường này.

Marini chép: "Trong các phường (Kẻ Chợ), có đầy thợ thủ công và thương nhân Đ ề tránh sự nhầm lẫn có th ể xảy ra, và

đ ể khỏi m ất thời giờ đi tim thứ hàng mà người ta cần muQf ở lối cổng vào mỗi phường, có một tấm bảng hoặc một tấm biên ghi rõ loại hàng và chất lượng hàng được bán ở đó Với kiều cách đó dù là người lạ, ta củng khó có th ề nhầm lẫn được cả

về giá cả lẫn p h ẩ m chất của hàng hoá"1.

s Baron nhấn mạnh: "Tất cả những vật p h à m khác nhau bán trong thành phô' đều được dành riêng cho từng phường

và mỗi phường đó lại bị phụ thuộc vào m ột, hai hay nhiều làng, và dân chúng các làng xã này được đặc quyền mở các cửa hiệu ở đây "2.

w Dampier quan sát: "Chúng ta có th ề gặp (trong các phô phường Kẻ Chợ) những người thuộc rất nhiều nghề như các thợ đóng móng ngựa, thợ làm nhà, thợ cưa xẻ, thợ mộc, thợ tiện, thợ dệt, thợ m ay, thợ gốm , thợ sơn, người đổi bạc, thợ làm giấy, thợ tráng m en, thợ đúc chuông và những loại thợ thủ công khác"3.

Theo các tư liệu phương Tây, ở Kẻ Chợ có một mạng lưới chợ dày đặc, họp hàn h hàng ngày (theo Dampier) trong đó có hai phiên chính ngày Rằm và mồng Một (theo A de Rhodes, Marini và Baron) Trong những phiên chợ chính đó, đóng (lảo

1 GF Marini, Sđd, tr 111.

2 s Baron, Sđd, tr.659.

3 w Dampier, Sđd, tr.46.

Trang 38

dan chúng từ các làng mạc chung quanh đổ xô về, mang theo hàng hóa đông không thể tưởng tượng dược1.

A do Rhođes miôu ta các phô" phường Kẻ Chợ trong những

ngày phiên chợ: "Người ta trông thấy một s ố rất đông dân chủng đi lại, trải ra khắp mọi p h ổ phường, ở đó mọi người va chạm, nhau đến nỗi ai củng đều cảm thấy m inh bị chen lấn và

bị dừng lại ở tứ phía, và buộc phải mất rất nhiều thời gian mới có th ề đi được quăng rấ t ngắn"2.

s Baron thì nhấn mạnh: "Rất nhiều p h ố tuy là rộng rãi, nhưng lúc đó củng trở n ên chật ních, đến nỗi người ta cảm thấy th ế đã là đủ, nếu tiến lách được 100 bước qua đám đông trong vòng nửa giờ"\

Quang cảnh các phường phô^ Ke Chợ cũng được nhắc đến

trong các tư liệu phương Tây Dampier viết trong Du kỷ:

" Các p h ố chính của Kinh thành đều khá rộng rãi, tuy có một vài phô hẹp Phần lớn các đường phô'đều được lát, hoặc đúng h(fn là được gắn vá bằng những viên đá nhỏ nhưng rất qua loa Đến mùa mưa, những phô phường đó rất bấn và lầy lội, và về

m ùa khô, người ta thấy ở chung quanh Kinh thành những ao tùy

và một s ố mương rãnh đầy bùn đen xông lên mùi hôi thối "*.

Ong viết tiếp về hộ thông các điếm canh đặt ở mỗi phố:

" Ớ mỗi p h ố đều có các lính canh khoẻ m ạnh đứng gác đ ế giữ yên lặng và ngăn cấm mọi sự mất trật tự N hữ ng người lính canh được vủ trang bằng gậy gộc, đứng trong các điếm canh ở mỗi p h ố khám xét người qua lại Có cả sợi dầy thừng chăng qua dường phô\ cao đến ngực mọi người và không ai được đi

U S Baron, Sđd, tr.659.

2 A de Rhodes, Sđd, tr.108-'09.

4 w Dampier Sđs, tr 38.

Trang 39

lại qua nơi đó, cho đến lúc họ đã được xét hỏi Nếu họ liều lĩnh bước qua, th ì lập tức sẽ bị người lính canh dùng gậy phang m ạnh vào rigười"'n

Các tư liệu phương Tây th ế kỷ XVII còn nói đôn hai công trình kiến trúc đặc biệt ở Thăng Long - Kẻ Chợ lúc đó là hai trụ sở thương diổm của Hà Lan và Anh Trong tấm bản dồ vổ

Kẻ Chợ viết trong cuốn Miêu tả Vương quổc Dàng Ngoài của

s Baron toà thương điếm của Hà Lan nằm ờ bờ Bắc và thương điếm của Anh nằm ở bò Nam của sông Tô Lịch nổi thông VỚI sông Hồng Các nhà nghiên cứu cho rằng hai thương điếm đó nằm ở ngoài Kinh thành Đại La (ngoài (lô), ở khoảng chân cầu Long Biên ngày nay

w Dampier miêu tả khá kỹ về thương điếm của Công ty

Đông Ấn (Anh) ở Kẻ Chợ: " Ngôi nhà của Công ty Anh có rất ít người, nằm xinh xắn ở phía Bắc Kinh thành trông ra m ặt sông (Hồng) Dó là một ngôi nhà thấp, trông rất đẹp, ngôi nhà dẹp nhất mà tôi thấy được ở Kinh thành Ở giữa ngôi nhà có một phòng ăn xinh xắn, và ở mỗi bên có những gian dành cho khách lái buôn, người mại biện, các gia nhân thuộc công ty, với nhiều tiện nghi khác Ngôi nhà được xây dựng song song với, bờ sông, ở mỗi đầu lại có những gian nhà nhỏ hơn dừng vào những công việc khác như nhà bếp, nhà kho chạy thành một hàng dài từ ngôi nhà lớn đến bờ sông Trong khoảng đất vuông đó, gần bờ sông, có dựng một cột cờ, đ ể treo cờ nước Anh những khi cần thiết NgƯcýi Anh thường có thói quen khi họ ở nước ngoài, treo cờ trong những ngày Chủ nhật và những ngày Lẽ khác.

Thương điếm của Hà Lan nôi liền với thương điếm của

A n h Đất của họ không rộng bằng thương điếm của A n h , vì

1 w Dampier Sđs, tr 57.

Trang 40

trước kia tất cả thương điếm của Anh đều ở P h ố Hiến, và chỉ mài cíưực chuyển lên Kẻ Chợ hồi gần đâv"\

Những tư liộu phương Tây viết vổ Thăng Long - Kẻ Chợ trong thế kỷ XVIII, so vỏi th ế kỷ XVII, dã ít hơn và cũng ít tính chất khai phá hơn Một số thông tin đã dược nhắc lại, dựa theo các tác giả của th ế ký trước, một sô" là những thông tin 1)0 sung qua những diễn biến mới, nhất là qua những cơn binh lửa cưốì th ế kỷ XVIII

Những cuốn sách của các tác giả phương Tây nói về Việt Nam

và Thang Ixrng - Kẻ Chợ trong thế’ kỷ XVIII có thể kể là: Giai thoại Dàng Ngoài (Anecdotes Tonquinoise) của J Castillon xuất bản ở Paris nám 1774, IẠch sử tự nhiên, dàn sự và chính trị của Dàng Ngoài (Mistors naturelle civic et politique du Tonkin), (2 tomos) của cố dạo Richard xuất bản ở Paris năm 1778 Hai cuốn

sách của linh mục Bissachèrc vi01 vổ Việt Nam và Bắc Thành những năm cuốỉ cùng của thế kỷ XVIII, những năm đầu tiên của thô kỷ XIX củng có thỏ dược coi là những tư liệu phương Tây vê

Thăng Ivong the ký XVIỉỉ Đó là euốn Hiện trạng của Đàng Ngoài, Dàng Trong, Vươĩĩg quốc Campuehici, Lào và ỈẨ ỊC Thổ (Etaỉ acluel du Tonkin, de la Cochinchine et des royames du Camhuđge, IsCLOS et Ixictho), (2 tomes) xuất bản ở Paris 1812 và

cu ôn Ghi chép vế Dàng Ngoài và Dàng Trong (Relation sur le Tonhin et la Cochinchine), 1807.

Dáng chú ý nhất là cuốri sách hai tạp của Giáo sĩ Richarđ

Nỏ dược dịch ra liêng Anh và in lại trong bộ Voyages and Trauels do J Pinkcrton SƯU tập, xuất bán ở London năm 1811, với nhan đổ mới History of Tonquin (Lịch sử Đàng Ngoài) Sau

1 w Dampier, Sđd, tr 38-39.

Ngày đăng: 18/10/2022, 06:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm