1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thăng long thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 thông qua tư liệu người nước ngoài phần 2

203 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thăng Long - Hà Nội Nhìn Từ Đời Sống Văn Hóa
Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 39,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi đã được nghe một người bạn kể lại rằng anh ta đã từng trông thấy một trong những tượng quỳ gcíi, hai mông tỳ vào hai bên bụng chân, hai khuỷu tay đặt vào đầu gối và hai ngón tay ở dư

Trang 1

Phần ba:

THẦNG LONG - HÀ NỘI NHÌN TỪ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THAN

A Tôn giảo

1 - Nho giáo

2 - Phật giáo

3 - Dạo giáo

4 - Thiên Chúa giáo

B Tín ngưỡng dân gian (thờ cúng, giô chap, b ó i toán, vàng mã)

c N ghi lê vòng đời người, hôi hè trong năm, vui chơi, g iải trí

D Giáo duc và khoa cử

E Pháp luât: p h ép n ư ớ c lẽ làng,, tâp quán pháp

F K ỹ thuât, công nghê

G Người Tràng An: danh xưng, lởi ãn, tiếng nói, tính cách, dáng hình, giao tế.

Trang 2

A TÔN GIÁO

"(Tam giáo giống như người Trung Quốc): Người Đàng Ngoài

cũng như ngưòi Tàu nói chung, tin theo ba thứ tôn giáo gọi là

tam giáo Nhưng dân tộc này tuy râ't chất phác và rất có

Ịương tri, lại theo r ấ t nhiều dị đoan trước khi ánh sáng Phúc

âm đến soi sáng cho họ Từ khi đức tin Kitô giáo được rao giảng và nhiều người nhận biết đức Giêsu Kitô thì họ đã thoát khỏi u minh và tăm tối sai lầm bao trùm lên họ Họ thoát khỏi cảnh nô lệ khôn đôn ma quỷ bắt họ chịu."

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651):38-39]

"(Ba tông phái): v ề tôn giáo, người Đàng Ngoài có ba tông

phái Tông phái thứ nhất do nhà hiền triết xưa kia tên là Khổng Tử để xướng ( ) Tông phái thứ hai do một người ẩn dật tên là Chacabout (Bụt Thích Ca) được tuyệt đại đa sô" nhân dân tin theo ( ) Tông phái thứ ba là phái của Lanthu (Lão Tử) Người Nhật và người Trung Hoa rấ t tin những lời dạy bảo của Lão Tử, ngưòi Đàng Ngoài lại càng tin hơn."

[Jean - Baptiste Tavemier 2007 (1681): 92-93]

"(Ảnh hưởng Trung Quốc trong tôn giáo tín ngưỡng): Mong

sao cho người Đàng Ngoài đã giũ ách nô lộ người Tàu thì cũng bỏ được những dị đoan người Tàu truyền lại và dạy dỗ cho Nhưng những nguyên lý tôn giáo dầu tốt dầu xấu đã ăn sâu vào lòng người do tập quán lâu đời thì không dễ dàng xóa

Trang 3

bỏ di được Thế nên ngưòi Đàng Ngoài sau khi không còn chịu người Tàu đô hộ nữa thì vẫn còn duy trì những mê tín của họ và tấ t cả giáo thuyết về thần thánh du nhập từ An Độ

Từ thời đó tới nay họ còn thêm nhiều dị đoan khác và trở nên

mẽ tín hơn cả ngưòi Tàu Thật ra ngày nay trong nước Đàng Ngoài có r ấ t nhiều đền chùa và thần thánh, không một làng

xã nhỏ bé nào mà không có chùa chiền và dân chúng rấ t mê theo, dù đển chùa đó dơ bẩn, bệ rạc vì các thầy sãi không sửa sang, thường nhận cúng lễ để chi dùng cho mình và cho vợ

con mình, không chú ý trang hoàng đền chùa và lau chùi

tượng th án h cho sạch sẽ.”

[Aỉexandre de Rhodes 1994 (1651): 44]

"(Thờ cúng tổ tiên dược xem trọng hơn cả): Nơi họ cũng có ba

thứ tôn giáo như ở Trung Quốc Nhưng việc sùng bái vong linh tiên tổ vượt hết những gì có thể nghĩ được ở châu Âu Họ vất vả rấ t nhiều để tìm đất đặt mồ mả Họ cho rằng, hạnh phúc toàn gia tộc đều phụ thuộc vào sự để mả này Họ không tiếc tiền của, công lao để bày cỗ bàn tiệc tùng mấy ngày liền sau dám tang, rồi mỗi năm, vào ngày kỵ, không bao giờ họ bỏ không làm giỗ to tiên tới tám đòi hoặc có khi tới mười đời.”

Trang 4

của họ về đấng tối cao thì rất lơ mơ Tuy thê, thông qua các

hình tượng được dùng để biểu trưng cho Thượng đế, rõ ràng cho thây họ r ấ t tin vào sự thâu hiểu, sức mạnh, tinh thần dũng cảm, sự khôn ngoan, và sự công bằng của vị thần này Dẫu rằng các tượng của họ mang hình dáng như con người dù

đã được nhân hóa đi nhưng vẫn còn tượng trưng cho một cái

gì khác thường, cả vê dáng dấp và phong độ cũng như về hình dạng thân thể và tay chân

Có những tượng béo phệ và lực lưỡng nhưng cũng có những tượng gầy còm, pho này thiếu mắt, pho khác lại có

nhiều bàn tay và tấ t cả đều cầm một vật gì đó v ẻ bê ngoài

của các tư ợ ng cũng rấ t khác nhau, khi thì mô phỏng theo điều

mà người ta muôn thể hiện, khi lại có thứ gì đó trong tay hoặc được đặt bên cạnh để minh họa cho ý nghĩa của tượng Người ta cũng đặc tả nhiều vẻ tình cảm trên khuôn mặt như tình yêu, lòng căm thù, sự vui mừng, nỗi buồn phiền hoặc sự đau đớn Tôi đã được nghe một người bạn kể lại rằng anh ta

đã từng trông thấy một trong những tượng quỳ gcíi, hai mông

tỳ vào hai bên bụng chân, hai khuỷu tay đặt vào đầu gối và hai ngón tay ở dưới cằm để đỡ lấy cái đầu có vẻ muốn cúi ra phía trưâc, còn đôi m ắt buồn rầu và m ặt thì ngưốc nhìn lên tròi, rằng trông tượng ấy th ật gầy guộc và buồn bã đến nỗi có thể làm động lòng thương xót của tấ t cả những ai đứng ngắm nhìn và chính ngay anh ta cũng đã thây vô cùng xúc động

Họ cũng có nhiều tượng mang hình súc vật nhưng tôi mói chỉ trông thấy có 2 loại là voi hoặc ngựa Chùa chiền hoặc đền miếu thờ ngẫu tượng không có vẻ huy hoàng lộng lẫy như người ta vẫn thấy ở những vương quốc láng giềng Thường thì chúng được làm bằng gỗ, thấp và nhỏ, nhưng hầu hết đểu được lợp ngói, n h ấ t là những ngôi chùa trong các đô thị

Trang 5

Nhưng ở thôn quê thì cũng có một vài nơi lợp bằng rdm Tôi chỉ trông thấy những tượng voi hay ngựa ở nông thôn mà thôi chứ chưa từng được xem một tượng nào ở thành phố Kẻ Chợ - nơi tôi nghe nói các tượng thường mang dáng vóc con người.Tất cả các tượng voi và ngựa tôi thấy đều to lớn cỡ một con

ngựa t h ậ t loại tốt, mỗi bức tượng lại được đặt ở giữa một ngôi

đển nhỏ nhưng đủ lớn để chứa bức tượng và đầu tượng đều hướng ra phía cửa vào Thỉnh thoảng có một ngẫu tượng, có khi cả hai cùng được đặt trong một ngôi đền vốn lúc nào cũng

để ngỏ cửa Trong các công trình tôn giáo khác ở khắp vương quôc như chùa, đền, miếu, mồ mả những tượng tương tự như vậy nhưng có kích cỡ nhỏ hơn và không cao quá chiều cao của người Tuy nhiên, những chùa chiền ở nông thôn thường hay đóng cửa nên tôi không thể nào quan sát được thêm gì ở bên trong."

[VVilỉiam Dampier 2007 (1699, 1931): 75-77]

1- Nho giáo

"(Giáo phái thứ nhất): Giáo phái thứ nhất và thòi danh hơn

cả là đạo Nho Ngưòi khai sáng đạo này là một người Tàu tên

là Khống Tử, sinh sông ở nước Tàu, theo sử liệu vào cùng thòi với Aristote bôn Hy Lạp, nghĩa là vào khoảng ba trăm năm trước Thiôn Chúa giáng sinh Người Đàng Ngoài tôn ông là

thánh nhân, nhưng vô lý và trái lẽ, như tôi đã có lần thuyết

phục họ.'Bởi vì, theo tôi, nếu ngài được gọi là thánh n h â n thì

ngài phải biết có một đức Chúa trời dựng nên trời và đất, nếu

ngài không biết thì sao có thể là thánh được; không biết đấng

là cội nguồn và là nguyên nhân mọi sự thánh, ngài chỉ thông truyền cho loài có lý trí bằng sự hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa cao cả Nếu ông nhận biết, vì ông tự xưng là bậc tiến sĩ

Trang 6

và tôn sư thì ông phải giảng dạy sự hiểu biết cần thiết cho sự cứu rỗi, đằng này ông không dạy rõ ràng như trong kinh sách của ông, ông không đề cập tới Thiên Chúa nguyên lý mọi sự, thì sao có thể gọi ông là th án h ?1

Khi tôi giảng như th ế trong nhà thò, trước m ặt chừng bốn chục người theo đạo này và là đồ đệ của Khổng Tử, thì tôi trách giáo dân tân tòng và không cho họ được gọi ông như t h ế nữa để khỏi phạm tới tên thánh và khỏi trái với lương tâm, thì người ta rấ t chăm chú nghe và r ấ t bằng lòng, nhưng phái của Khổng Tử ở trong nhà thờ liền rú t lui buồn nản và xấu hố nhưng vẫn ngoan cô" trong sai lầm như xưa, trừ một người đã lôi cuốn được mấy người khác, ông đã ở lại với chúng tôi, chứ không theo đám kia và ông đã nhận được lời giáo huấn đầy

đủ về các chân lý đạo Kitô và chịu phép rửa tội, tôi đặt tên là Gioan, ông đã muốn làm đồ đệ đức Giêsu Kitô hơn là môn đồ của Khổng Tử mà cho tới nay ông đã theo

Thực ra Khổng Tử - nhà hiền triết này, trong những sách ông để lại, có nhiều giáo huấn về th u ầ n phong mỹ tục: như khi ông nói, trước hết hãy sửa mình và muôn t h ế thì xét mình mỗi ngày ba lần đế sửa điều lầm lỗi Sau đó mới đem tâm trí và chuyên cần xếp đặt và điều khiển gia đình Và sau khi đã cẩn th ận chu toàn chức vụ đầu tiên này chứ không trước khi đó, thì bấy giò mối lo dìu dắt và cai trị quốc gia2

Ông còn luận về nhiều điều liên hệ tới pháp lý dân chính,

về xét xử các vụ kiện và về thi hành công lý, do đó các tiên sĩ Đàng Ngoài nghiên cứu kinh sách của ông một cách chuycn cần như chúng ta khảo sát hiến pháp hay bộ luật Ong còn

1 Xem thêm: Phép Giảng tám ngày.

2 Phép tu thân, tề gia, tri quốc, bình thiên hạ.

Trang 7

trình bày và phân giải những châm ngôn về chính trị và luật pháp tự nhiên Vì th ế ông không nói trái với những nguyên lý của Kitô giáo và cũng không nói những gì phải bác bỏ hay bị

kẻ tin theo lên án

Nhưng khi ông đề cập trong một bộ sách về nguyên lý độc

n h ất của vạn vật thì ông rơi vào một cảnh hỗn độn to lớn và

mù quáng trí khôn và lý luận không sao hiểu được Ông nhận nguyên lý đệ nhất thuộc vật thể và vô tri không đáng được kính thò T h ế nhưng ông muôn cho người ta tôn kính và thò cúng Trời mà ông công nhận đã phát sinh và thoát ra từ

nguyên lý đệ nhất mà ông chối không cho tôn thờ đó Và

những sự tôn thò này ông còn cho rằng tất cả mọi người không dồng hàng xứng đáng được thực hiện, chỉ có các bậc vua chúa trị dân mà thôi, như thể nghĩa vụ tôn giáo không chung cho người dân cũng như bậc vua chúa Lại còn đáng trách hơn nữa, trong giáo thuyết và kinh sách nhà hiền triết,

đó là ông không đề cập tới đời hằng sông và hồn bất tử, nghĩa

là ông chỉ coi con người thuộc về vật thể và nếu có hồn thì cũng là thứ hồn vật lý, chìm trong khôi và tan trong các phần than thổ, như hồn súc sinh mà thôi Ông cho con người chết

là hết, không còn gì, những yếu tô" cấp trên nhận di hài những phần tinh vi và những yếu tô" cấp dưới thì nhận di hài những phần thô kộch Rõ ràng là dưa tới vô thần và mò xấu, chỉ còn dể lại một hình ảnh, một cái bóng hay hiộn tượng bên ngoài của nhân đức

Thố mà người Đàng Ngoài, sang hay hèn, đểu có lòng tôn kính Không Tử r ấ t mực và thò kính như một Thượng

đô Iĩọ dạy con cái lòng tôn thò đó ngay từ khi chúng còn nhỏ, vì ngay ngày đầu tiên đến trường để học chữ Tàu, thì ỗng thầy trước khi n h ậ n trò làm môn đồ, đã quỳ gốì cùng

Trang 8

trò và dạy bài thứ n h ấ t cho trò biết cách phải xưng Khổng

Tử t h ế nào và phải kêu xin ngài p hù hộ cho dể được trí khôn minh mẫn và dễ dàng học n h ữ n g điều người ta chỉ

bảo cho, gọi là sáng dạ nghĩa là có bụng sáng Điều mơ ưóc

này còn tha thứ được vì họ tưởng các khoa học cũng như

th ịt th à được nh ận và chứa trong bụng; họ tin rằng từ một người chết và vô đạo, họ hy vọng n h ậ n được một trí thông minh Cả những tiến sĩ và các văn n h â n cũng rơi vào đicn cuồng này, khi họ đi thi để được bằng cấp, và khi được rồi thì tối phục dưới đất trước bàn thò ông Khổng để lỗ tạ

T hật là một dị đoan điên dại thông dụng nơi lương dân Nhưng giáo dân tân tòng chỉ nhận có đức Giẽsu Kitô là

nguyên lý tối cao và là ánh sáng soi t ấ t cả, do đó mà nảy

sinh trí minh mẫn Họ phục lạy ba lần trước ảnh Người, từ lúc còn thơ ấu, xin Người ban ơn vì được h ạn h phúc khởi

sự, được tiến bộ trong việc học h àn h và th à n h đ ạt trong thi

cử Họ còn tạ ơn Người vì những ơn huệ đã được."

(hồn) và phần Thô (xác) và khi chết hồn bay lẽn trời, xác ở lại

dưới đất Những người theo phái này có tục hiên tế, thò cúng

thất tinh, nhưng trong tất cả các thần và ngẫu tượng (idoles),

họ sùng kính đặc biệt bốn vị và một vị nữ thần Những vị thần đó là Raumu, Betolo, Raumonu, Brama và nữ thần là

Trang 9

Satibana được phụ nữ thờ phụng Nhưng vua và các quan, và

n h ấ t là các nhà Nho lại thờ Tròi."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 92]

"(Nho giáo của Khổng Phu Tử): Dù rằng xứ này có nhiều

tôn giáo, nhưng có hai tôn giáo quan trọng nhất: Thứ n h ấ t là Nho giáo của Khổng Phu Tử như người Trung Quốc gọi Người Đàng Ngoài thì gọi ông là Khổng Tử, triết gia Trung Quốc lâu dòi nhất Ồng này được tôn kính như Thánh, nổi tiếng vì sự khôn ngoan, không chỉ đối với người Đàng Ngoài, ngưòi Trung Quổc mà cả với người N h ật Bản, họ coi ông như đức Salomon chung nhất Nếu không uyên bác về Nho giáo thì không thể đạt tới bất cứ chức vị nào trong điều hay được giao những nhiộm vụ quan trọng

Tuy nhiên, chân lý và sự tinh tuý của học thuyết mà ta gọi là triết học tinh thần bao gồm những nguyên lý sau đây: Mỗi ngưòi phải biết vươn tới sự hoàn thiện, và từ đó dẫn dắt ngưòi khác đạt tói cùng trình độ ưu tú bằng tấm gương tốt về dạo đức của mình, làm sao để cùng nhau có thể đạt tới cái chân, thiện Vì th ế phải dùi mài học tập triết học, không có

nó thì không thể có ý niệm dúng và nhân sinh quan đúng về

sự vật, biết cái gì phải theo, cái gì phải tránh và chỉnh đốn

ham muôn của mình phù hợp vối lẽ phải

Đó là châm ngôn cùng loại với học thuyết về sự khôn ngoan của Trung Quốc

Nhưng những môn đồ rủa Khổng Tử, dựa trên các nguyên ]ý của ông, đã rút ra nhiều quy tắc và châm ngôn, những điều

sau này trở thành đốĩ tượng chính của tín điều và tôn giáo

của họ Họ thừa nhận có một đâng tối cao điều khiển, ngự trị

và bảo toàn mọi thứ trên đời Họ tin ở sự vĩnh hằng của th ế

Trang 10

giới, không có bắt đầu, không ai tạo ra Họ bác bỏ sự thò cúng hình ảnh, sùng bái tôn thò thần linh Họ chò đợi phần thưởng cho những điều thiện, trừng phạt cái ác Họ tin sự bất tử của linh hồn, cầu khấn ngưòi đã mất Một sô" tin rằng, linh hồn người chính trực vẫn sống sau khi đã lìa khỏi xác, còn linh hồn kẻ ác sẽ bị hủy diệt Họ cho rằng những hồn ma nhung nhúc trong không trung luôn luôn đấu tr a n h với người sông

Họ khuyên răn học trò phải tôn vinh người chết - cha me, bảng hưu - đặc biệt quan tâm thực hàn h một sô’ lễ như tôi đã

mô tả Họ còn dạy nhiều học thuyết khác hoàn toàn hợp lý, theo quan điểm của tôi, về nhiều điểm thì không thua kém các triết gia Hy Lạp

Không nên nghĩ rằng những người khôn ngoan nhất, ưu

tú nhất trong số họ có đầu óc thiển cận đến mức tin rằng

người chết cần thức ăn vì thê phải cúng như tôi đã nói ở bên

Tư tưởng của họ cao hơn: Dạy chúng ta như thế, mục đích của họ là tỏ rõ tình yêu và lòng kính trọng đổì với cha mẹ dã qua đời, đồng thời qua đó dạy cho con cái bạn bè, đó là cách tôn vinh chính mình khi mình chưa chết Tuy nhiên, số dông chỉ phán xét qua những cái họ thực m ắt nhìn thấy, tin vào cái đó như tin vào nhiều điều hão huyền trong mê tín dị đoan của họ

Tóm lại, dù tôn giáo này không có chùa chiền, cũng không

có nơi thờ thượng đế, không có linh mục để truyền bá học thuyết, không có quy tắc áp đặt hay tu ân thủ, và dù nó đế cho mỗi người tự điều khiển hàn h vi của mình, không gây nên tai tiếng, nó vẫn có môn đồ là các vị vua, hoàng tử, các vị tai to m ặt lớn và những người có học trong Vương quốc

Thời xưa, chỉ có vua dưới đâ"t mới được quyền dâng lễ lên vua trên trời: Nhưng từ khi thống soái tiếm quyển thì ông ta

Trang 11

cũng tự phong cho mình đặc quyền vựơng giả ấy Tự ông thực hành dâng lễ ở Soái phủ trong trường hợp có thiên tai như hạn hán, đói kém, bệnh dịch Không người nào được phép dâng lễ cho thượng đế mà không bị ghép vào tội chết."

[Samuel Baron 2008 (1723): 1985-86]

2- P h ậ t giáo

"Có ngưòi thò kính thần Phật kể ở trên; cứ chung chung

mà nói thì họ ít sùng Phật (nơi họ chỉ cầu những lợi lộc trần gian), một phần vì họ thông minh, họ nhận ra sự giả trá của thứ đạo này, một phần vì không đủ chư tăng xứng đáng, những vị này không thuộc phái nhà nho1, lại không đủ tư cách dể thuyết phục; hoặc vì họ ưa ngành võ bị hơn2, đặc biệt

là pháo binh và súng ông mà họ tỏ ra rất thiện nghệ."

[Giuliano Baldinotti 1626 (1629, 1903)]

"Vé giáo phái dị doan thứ hai của người Đàng Ngoài: Giáo

phái thứ hai người Đàng Ngoài tin theo (gọi là Đạo Thích),

Người sáng lập đạo này, theo kinh sách của họ, và tập truyền

của họ, là con một ông vua Ân Độ, người Nhật gọi là Xaca, ngưòi Tàu gọi là Xechia và người Đàng Ngoài gọi là Thích Ca,

mỗi nơi dọc sai đi một chút Họ nói là ngài sống vào khoảng

một ngàn năm trước công lịch3 Thân phụ ngài là Tịnh Phạn

cai trị nước Ân Độ cùng một thòi VỚI vua Salomon Đức Thích

1 ở đây hé mở cho chúng ta nhận thấy sự xung đột giữa hai khuynh hướng Phật và Khổng, Phật giáo và Khổng giáo Phật giáo thịnh hành nhất vào đời Lý - Trần, nhưng sang đời Nguyễn thì Nho giáo được tôn trọng hơn.

2 Trịnh Tráng ở miền Bắc phải đương đầu với Nguyễn Phúc Nguyên ở miền Nam, cho nên việc tập luyện về võ nghệ rất mực quan trọng, nhất là so với lực lượng xứ Nam, xứ Bắc đuối thế hơn nhiều.

3 Về Phật giáo, xem thêm Borri và Phép Giảng tám ngày.

Trang 12

Ca chưa đầy mười bảy tuổi thì đã kết duyên với một công chúa trẻ tuổi tên là Adulala, con gái một vua Ân khác Hai

năm sau thì sinh hạ được một con gái tên là H ầu La Nhưng

( ) ngài đã r ú t lui ẩn dật trong rừng hẻo lánh, ngoài ý của

t h â n phụ ngài (người rấ t không bằng lòng), cũng như vợ ngài,

bà rắt phàn n àn về sự ly thân này Sau năm năm, ngài trở vê

cung điện vua cha ( ), nỗ lực phổ biến học thuyết của mình trong tâm trí dân chúng Nhưng vì do những nguyên lý đệ nhâ't của lý trí, tính tự nhiên con người không nhận sai lầm

và khó bỏ được niềm tin tưởng từ bên trong cho biết là có một

th ầ n thánh, nghĩa là một hiện hữu và nguyên nhân đệ nhất làm cội nguồn cho t ấ t cả những gì không thể có hiện hữu tự mình được, nên ngài không tìm được kẻ tin theo ngài và làm môn đệ ngài Đức Thích Ca bực tức vì không được kết quả trong công việc, liền dựa vào lời bàn của thần th án h quen thuộc đã gieo rắc một thứ chuyện hoang đường về thần thánh ( ) Thê là có th à n h quả ngay đến nỗi trong bốn mươi năm hoạt động , vừa dựa vào quyền thế, vừa dựa vào ma thuật, ngài đã cho th à n h lập và phổ biến khắp Ân Độ tín ngưỡng trước đây chưa ai biết

Ngài còn khôn khéo làm cho dân chúng theo tư tưởng mà ngài đã nghiền ngẫm, đó là những thưởng công trên trời đối vói kẻ lành và hình phạt dưới địa ngục đôi với kẻ dữ Do cách này mà đạo được lan tràn ở Ân Độ ( )•

Ngài nói là tấ t cả những gì ngài giảng dạy chỉ là một bức màn che, m àn che những bí quyết về thân xác mà ngài đã giải thích sơ lược ( )• T hế rồi sau khi đã giảng dạy như vậy thì ngài qua đời

Đạo Thích Ca do ngài khởi xướng bởi đâu mà truyền đạt

từ An qua T rung Quốc, rồi sau đó vào Lối Đàng Ngoài như

Trang 13

chúng tôi đã nói, lúc đó chỉ là một tỉnh nội thuộc nước Tàu

T hật khó mà biết đích xác vì sự viộc đã cũ kỹ lắm rồi Nếu theo sử liệu Tàu thì do một sứ thần Trung Quổc đã được vua Hán Minh Đế phái tới Tây phương để thỉnh chính đạo, theo

như Thượng dế đã báo cho ông trong mộng Đáng lẽ ông phải

qua Tây phương, như lệnh và việc Người ủy thác cho ông, nhưng ngại đường xa và những khó khăn h àn h trình, ông đã

dừng lại ở Ân Độ Ớ đây ông học hỏi người Balamôn, được

biết kinh sách và pháp thuyết Phật (nghĩa là) nh à hiền triết, tên người ta đặt cho Thích Ca như chúng tôi đã nói Ong đã dưa vê cho vua Trung Quốc là người đầu tiên cho gia nhập vào nước mình đạo giáo này "

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 41-43]

"(Tông phái thứ hai): Tông phái thứ hai do một người ẩn dật

tôn là Chacabout (Bụt Thích Ca) được tuyệt đại đa sô" nhân dân

tin theo Ong dạy cho người ta Thuyết luân hồi (Transmigration

des ames) Những ngươi theo giáo phái này phải theo đúng

mơòi lời răn của đức P h ật (Thập giới):

1 K h ô n g được g iế t người.

2 Không được ăn trộm.

3 Không được làm ô u ế thân thể

4 Không được nói dối.

5 Không được lăng nhục người khác

6 Không được nói hai lòi

7 K hông được th e o t h ị dục.

8 Không được đại ngôn

9 Không được quá giận

10 Không ngu muội

Trang 14

Những ai đi tu thì phải thoát tục, từ thiện với người nghèo, diệt dục và tĩnh tầm Ông lại còn thuyết rằng sau cuộc đời trần tục này, còn có mười nơi nữa là hoan lạc và khổ ải, rằng kẻ nào mặc dù đã cố gắng theo đầy đủ thuyết giảng của ông mà còn không thực hiện điểu nào đó, thì kẻ đó sau khi chết tất phải đầu thai làm nhiều kiếp trong ba nghìn năm rồi mới được tới nơi Cực lạc Nhưng kẻ nào theo được đúng thuyết pháp của ông thì dược một phần thưởng đặc biệt là không phải chịu kiếp luân hồi như những kẻ khác Chính người đó đã phải chịu mưòi kiếp luân hồi trước khi hưởng vinh quang hiện thời, vì rằng trong những năm đầu của cuộc đời, người đó không nhận thức được những điểu bí ẩn cao siêu

đó Chính Đức Phật là một trong những nhà truyền giáo lón nhất ở châu Á Ông truyền đạo của mình sang cả Vương quốc Xiêm, Nhật Bản và từ đó truyền vào Đàng Ngoài1."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 92-93]

"(Phật giáo): Tôn giáo thứ hai là P h ậ t giáo thò thần Phật

tử phần lớn là những người đói rách, bình dân, đặc biột là phụ nữ và hoạn quan Học thuyết của họ dựa trên sự tôn thò hình ảnh và lòng tin vào thuyết luân hồi Họ cúng bái ma quỷ

để chúng không làm hại họ, họ tin vào vị thần linh gồm ba người hợp nhất Họ sông trong chùa và theo lối sông khổ hạnh Họ nghĩ rằng việc làm của họ đem đến cho họ những giá trị, trong lúc vô sô" kẻ ác sẽ phải chịu các cuộc tr a khảo và

vô sô kẻ mê tín điên rồ khác Họ cũng không có linh mục dể giảng và truyền bá đạo Họ chỉ có thầy (Sayes) hay SƯ (Tavernier đã gọi nhầm là linh mục) Họ cũng có những bà vãi

1 Điều này không đúng với thực tế lịch sử.

Trang 15

sông quanh chùa, đôi khi ở ngay trong chùa Các bà vãi thường được mời tham gia các buổi lễ với trông, kèn và nhạc

cụ khác Họ sông phần lớn nhờ có bô' thí và khuyến giáo

Tóm lại, các tôn giáo này đã truyền bá rấ t rộng giả tưởng

và những trò lô" bịch của họ, thực tế đã gieo rắc sự ly giáo và bịp bợm của họ tại một phần hay toàn bộ vùng phương Đông rộng lớn Đàng Ngoài, Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Ĩj0an, Campuchia, Xiêm (Thái Lan), bồ Biển Coromandel (Côromanđen), bò Biển Bongale Nó được du nhập từ Trung Quốc vào hai vùng cuối cùng nói trên như sau:

Một Hoàng đế Trung Hoa được biết có một luật rất hay truyền bá ở phương Tây, rất có hiộu quả trong việc dạy cho dân sự khôn ngoan và đức hạnh Ong cũng biết rằng, các nhà bác học và truyền giảng đều là những người ưu tú vì đời sông gương mẫu và việc làm kỳ diệu của họ Hoàng đế bòn phát một sô" hiền triết đi tìm bằng được đạo luật đó mang về Trung Quốc Các sứ giả này đi lang thang trong ba năm thì đến Hinđoustan hay nước Malaban (Malaba) Họ thấy tôn giáo này r ấ t phổ cập và được kính nể BỊ quỷ sứ đánh lừa và chính bản thân họ cũng không muôn lang thang thêm nữa, họ nghĩ

đã tìm ra cái họ cần, th ế là không khách khí chút gì, họ lấy luỏn mười hai cuốn sách về chuyện hoang đường, kèm một sô" giai thích Họ trở về Trung Quốc, được Hoàng đế đón tiếp vui mừng và niềm nở Hoàng đế hẹ lệnh ngay lập tức phải dạy cho t ấ t cả dân chúng học thuyết này Từ đó, học thuyết ấy đã bám rỗ trong sự mù quáng thảm hại

Tỏi phải nói một điều làm vinh dự cho Giatô giáo Luật mỏi mà Hoàng đô Trung Hoa nghe nói là bản phổ biến đầu tiôn của Kinh Phúc âm giảng cho người Do Thái và người

Gentil của các thánh tông đồ Bài thuyết giáo ấy có kèm

Trang 16

nhiều điều kỳ diệu nên không lạ gi khi tiếng tăm của nó vang tận những nơi xa xôi Điều đó càng đúng theo những tính toán chính xác nhất thì thòi gian Hoàng đế Trung Hoa được biết về học thuyết trùng khớp vối thòi gian xuât hiện Đấng Cứu thế Nếu các nhà hiền triết được Hoàng đế phái đi làm tròn nhiệm vụ thì không những đê quốc Trung Hoa mênh mông mà cả những nước chư hầu rộng lớn ngày nay đang chìm đắm trong tà giáo và mê tín dị đoan có thể được cải tạo

và đi tới ánh sáng của Giatô giáo

[Sam uel Baron 2008 (1723): 1986]

"(Sãi ông và gia dinh ở các chùa, việc tụng kinh bằng tiếng cổ

Ân Độ): Thế nhưng ở xứ này không thây có những cộng đồng

các sư như ở Trung Quốc, mỗi sãi ông (tức thầy sãi chính yếu)

ở một phòng sát cạnh chùa với bà vợ và con cái cùng những thầy sãi khác cũng làm việc trong chùa, coi như người phục dịch và thường là những người hy sinh đời mình để phụng thờ thần thánh, v ề các con của thầy sãi thì họ không để cho thừa kế chức vụ, trong khi còn sông họ tìm cho mộl chức vụ

khác khá hơn, vì t h ế ỏ xứ này có dư luận không tốt đối với các

thầy sãi; để thừa kế công việc, họ đặt một trong những thầy phục dịch mà họ cho là có khả năng hơn, có lòng nhiệt th àn h săn sóc chùa chiền và thần thánh hơn

Sô" các thầy phục dịch không những được dùng trong chùa chiền mà cả trong các đám tang kẻ giàu sang, không phải để chôn cất, việc này thuộc về người khác, như chúng tôi sẽ nói sau, mà để tụng kinh cầu hồn ở giữa ngã ba đường phô", họ dựng bàn thò với những đồ tang, các thầy đứng th àn h hai hàng và suốt đêm tụng niệm theo cung điệu rất bi thảm, với tiếng nặng nề và cao thấp không đều Người ta còn nghe hát

Trang 17

những kinh bằng thứ tiếng chính người hát cũng không hiểu,

họ nói là các bậc tiền bôi truyền lại, người ta cho là những kinh theo tiếng cổ Ân Độ từ buổi đầu đã truyền lại cùng với

dị đoan."

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 45]

"(Chùa chiền và sư sãi): ớ Vương quốc Đàng Ngoài, ngoài

những thành thị là nơi có nhiều chùa chiền, còn thì hầu như làng nào cũng có chùa của làng ấy, mỗi chùa ít ra có hai vị sư

và hai thầy sãi Nhưng có chùa có tới 40 vị sư sống với nhau, dưới quyền của vị sư tổ Họ tin vào đức P hật Thích Ca và họ

thồ một con dê (bouc) Họ deo ở cổ một chuỗi tràng hạt có 100

hạt to bằng gỗ, tay thì chông gậy, ở đầu gậy có một con chim bằng gỗ bóng loáng Họ đi xin bô" thí để sông Sư các nước đi cầu thực một cách nghiêm nghị, còn ở đây trái lại sư sãi đi

k h â \ thực một cách r ấ t khiêm nhường, chỉ xin đủ dùng thôi; nêu còn thừa thì sau khi ăn xong, họ đem cho những ngưòi đàn bà góa không thể làm lụng để kiếm ăn được và cho những trẻ mồ côi Luật lệ cho phép họ lấy vợ, miễn là họ ra khỏi nơi Lu hành Thường thường họ dự vào những đám tang của những đại gia, đọc kinh, gõ mõ, hay thổi kèn, đồng thời cho đánh chuông lớn trong chùa."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 96]

"(Sư sãi ở chùa chiền: giới luật không quá nghiêm khắc, sư sống

nhờ voo của bố thí, sư có thể xem bói, quan lại có sư riêng): Có

nhiều tu sĩ ngoại giáo ở những ngôi chùa ấy Người ta nói

rằ n g giới luật buộc họ phải tuân theo những nguyên tắc khổ hạnh, ví như không được gần đàn bà, nhất là phải kiêng nhịn tấl cả mọi Ihức uôYig mạnh và phải sông trong cảnh thanh đạm Tuy nhiên, không có vẻ gì tỏ ra rằng họ thực hiện các

Trang 18

luật lệ ấy một cách đúng mực Nhưng vì họ hầu như chỉ sông nhò vào đồ cúng bái mà người ta đem đến biếu trong khi họ

lại rất đông, cho nên giới tu sĩ thường rấ t nghèo.

Đồ cúng mà người ta mang đến để biếu tu sĩ thông thường gồm một vài nắm gạo, một cơi trầu hoặc một món quà đại loại như thế Một trong những điều làm cho dân chúng tìm tới đây là để xem bói - điều mà giới tăng lữ tự cho là mình có khả năng Bởi th ế họ cảm thấy mếch lòng nếu ai đó tỏ vẻ dị nghị

về sự hiểu biết của họ hoặc hoài nghi về giáo lý họ đang phụng sự Họ sống trong những nếp nhà nhỏ và tồi tàn ngay cạnh chùa và họ luôn ở đấy để dâng lên thần thánh những lòi cầu xin của kẻ bần dân - những người rấ t hay tới đây với mục đích ấy Bởi người nghèo không có thời gian cầu nguyện n h ất định, hoặc giả với họ ngày nào cũng như ngày nào, ngoại trừ những ngày lễ hàng năm của họ Người nghèo viết ra những điều họ muôn cầu xin và đem đến cho tu sĩ Vị tu sĩ đọc to điều cầu xin trước tượng thần rồi đcít tờ giấy có lồi cầu kh ẩn trong một bình hương; người cầu xin luôn phủ phục trong quá trình hành lễ

Tôi cho rằng quan lại và những nhà giàu sang ít khi đến chùa nhưng họ lại có một tăng lữ riêng - người đọc các bản cầu xin ở ngay nhà hoặc sân của gia chủ Có vẻ như quan lại

có cảm nhận về bậc thần thánh tốt hơn so vói dân thưòng bởi

vì trong sân vườn của họ không có tượng thần đặt trưốc người hành lễ mà người ta chỉ việc ngước mắt nhìn lên trời

Khi họ ngỏ lòi cầu xin như vậy, họ cho sửa soạn rấ t nhiều món thịt ngon và tập hợp tất cả gia nhân vào trong sân nơi hành lễ Ngưòi ta bày biện các món thịt ấy lên trên một cái bàn - chỗ người ta đặt thêm 2 bình hương - sau đó vị quan đưa cho tu sĩ một tờ giấy để ông này đọc to lên: mở đầu là một

Trang 19

bài kể lể những thứ mà đức Thượng đế đã ban cho ông quan

nọ ví như sức khỏe, của cải, danh vọng, ân điển của đức vua và tuổi thọ nếu ông ta đã già rồi Cuối cùng là lòi cầu xin len đức Thượng đê để Ngưòi tiếp tục ban cho những ân huệ, thậm chí ban cho nhiều thêm nữa."

[VVilliam Dampier 2007 (1699, 1931): 77-78]

"(Chúa bắí nhà sư di lính): Họ vốn là những người có cuộc

sông lười nhác, vô dụng và khôn khổ Khi em tôi ở xứ này, chúa là kẻ thù của những ke lang thang lêu lổng (vagabonđs) Chúa cho gọi một phần lớn sư sãi là những kẻ lười nhác vô dụng đôn trước mặt Khi họ tới nơi, chúa chọn trong bọn họ những người khỏe mạnh nhất, thân thể cường tráng nhất và phái họ di làm lính đóng ở biên thùy.M

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 94]

quái Người sáng lập là Lão T ừ , nhà ma thuật đồi xưa rất

đanh tiếng, đã có và còn có rấ t nhiều đồ đệ có uy tín với chúa

và tất cả kẻ sang trọng trong nước Chẳng có gì đáng khen, chính chúa và các quan trong phủ cùng bị truyền nhiễm Điều làm cho giáo phái này dưdc uy tín đó là việc chữa lành các bộnh làm cho dư luận tin theo Tuy trong nước cũng có

1 Thực ra không phải lý thuyết uyên thảm của Lão Tử trong Đạo đức kinh,

nhưng là những phù phép ma thuật.

Trang 20

lương y r ấ t có khả năng chữa bệnh, th ế nhưng những người

có t h ế giá vẫn quen chạy đến các thầy phù thủy mà họ rấ t tin, những người này quả quyết dùng bùa ngải để chữa bệnh, chứ không cần thuốc của lương y

T hế nên khi có ai ngã bệnh thì liền sai gia nhân ra phô"

chợ, nếu bệnh nhân không thể đi dược, để hỏi một thầy p h á p

của giáo phái này (không bao giờ thiếu, n h ấ t là những người nghèo và mù sống bằng nghề này) xem bởi đâu và tại ai mà người này mắc phải bệnh

Vì họ mê muội tin rằng họ chỉ lâm bệnh vì có người trong

họ hàng hay tổ tiên đã mất, nhưng không được con cháu cúng

tế cho phải đạo hiếu Thế là thầy pháp ném một đồng tiền lên như để bắt thăm, sau đó ông quả quyết bởi ngưòi họ hàng nào

đó làm cho sinh bệnh Người bệnh tin và theo lời ông được tin như lồi thần thánh không được hồ nghi, bệnh nhân cho mời một thầy pháp khác tới nhà để thầy dùng phẩm vật và đồ cúng cầu khân người mà thầy pháp trước cho là kẻ đã gây nên bệnh Thầy liền cho dọn một ít thịt ngon để làm nguôi lòng người quá cố Người ta dựng một bàn thò nhỏ trên đó thầy gieo quẻ để xem bệnh nặng nhẹ thê nào Cách gieo quẻ như sau Ngưòi ta làm thịt một con gà, cắt lây hai chân ném vào chậu nước sôi, rồi xem kỹ cách đặt và hướng các móng chân để biết điềm chết hay khỏi Nếu có nguy cơ thì vào khuya thầy cầu khấn hồn giận dữ người đã mất, rung chuông đặt trên bàn thờ để mời hồn tới Rồi thầy gọi hồn mà thầy tôn

là chúa, thầy van nài hồn phù hộ chống đổì kẻ gây nên bệnh hoạn Nếu thấy bệnh thêm nặng thì thầy lên cơn nguyền rủa hồn người thân quyến đó và suốt đêm rung chuông inh ỏi làm cho bệnh nhân đau đầu khó chịu và không ngủ nghỉ dược Rồi giả tảng như hồn ngưòi chết đã hưởng hương khói và mùi th ịt

Trang 21

ngon, thầy cho đem về nhà để vợ con cùng thầy hưởng dùng Vào buổi sáng thầy cho dọn một thuyền nhỏ bằng sậy và giấy đưa ra bến sông gần đó, có gia nhân người bệnh và mấy lính bồng súng đi theo Theo lệnh thầy pháp, gia nhân cho thuyền

chìm xuông nước như thể dìm hồn người quá cố, còn lính thì

bắn ba bôn phát súng để làm cho hồn hãi sợ không dám trở

vê nữa Nếu sau đó, bệnh nhân (như thỉnh thoảng xảy ra) dược phục hồi sức khỏe thì thầy pháp đắc thắng nhận thành công này là do quyền phép mình và đòi công khá cao Trái lại ihầy sẽ rút lui xâu hố nếu bệnh nhân chết, không nhận được

gì do phù phép của Ihầy Mới đây xảy ra cái chết của hoàng

tử con cả của chúa, hoàng tử còn trẻ, tài giỏi và có nhiều triển vọng, chúa đã trao cho một phần lớn việc trị nước để tập luyện ngay khi chúa còn sông ỉ)ể chữa bệnh, các thầy pháp

đã vô ích sử dụng hết các phép và đưa ra hết các bí quyết ma thuật, nhưng khi thấy bệnh càng nặng thì các thầy dùng tới phương dược cuối cùng Các thầy cho đưa bệnh nhân sang một nhà khác xa lạ và dem một người khác đặt trên giường bệnh dể cho thần chết tuyệt vọng gieo họa đã sửa soạn chông lại hoàng tử trẻ tuổi Nhưng th ần chết không khi nào chịu sự chèn ép của võ lực, hay bị ma thuật lừa dôi, thần đã tới tìm bệnh nhân trong giường xa lạ và vừa diệt sự sống vừa diệt hêl các niềm hy vọng đẹp đẽ của chúa và của toàn quôc

Ớ đây tôi không muôn bỏ một sáng kiến điên rồ thỉnh

th o ản g họ dùng khi bệnh n h ân sắp lìa đời hay bất th ần có triệu chứng nguy hiểm hồn chuẩn bị ra khỏi th â n xác Lúc

dó họ th ắ n g yên cương cho ngựa và chuẩn bị hành trình đón hồn sắp ra đi trong khi bạn bò vây quanh giường khóc lóc thảm thiết, gọi tên người bệnh đổ cầm hãm tinh th ầ n sắp lìa bỏ họ, cho tới khi tắt thở và hồn khôn nạn được đem

Trang 22

đi, không phải trên lưng ngựa đã sẵn sàng mà do ma quỷ dẫn xuông địa ngục."

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 46-48]

"(Tông phái thứ ba): Tông phái thứ ba là phái của Lanthu

(Lão Tử) Người Nhật và người Trung Hoa rấ t tin những lòi dạy bảo của Lão Tử, người Đàng Ngoài lại càng tin hơn Que hương của Lão Tử là Trung Quốc Lão Tử là một trong những pháp sư nổi tiếng và thông thái nhất ở phương Đông, ồ n g có rất nhiều môn đệ Họ muôVi gây uy tín cho ông và để cho đám dân đen tin rằng Lão Tử đã được sinh ra một cách kỳ lạ, rằng

mẹ ông mang thai ông trong khoảng 70 năm và sinh ra ông nhưng vẫn trinh trắng Ồng đã truyền cho dân chúng một phần học thuyết của Đức Phật Nhưng điều làm cho dân chúng tin theo ông là ông bao giò cũng khuyên họ làm điều thiện và cho xây dựng cơ sở chữa bệnh ở tất cả những thành thị chưa có phòng bệnh."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 93-94]

4- Thiên Chúa giáo

"(Giáo sĩ Giuliano Baldinotti đến Thăng Long vào năm 1626):

Nhân dịp có mấy thương gia người Bồ lấy tàu đi xứ Đàng Ngoài, hành trình cho tới đây chưa ai thực hiện1, nên Bê

1 Các thương gia người Bổ, người Hà Lan thường cho tàu lần theo bờ biển Đàng Trong cho tới Quy Nhơn, Quảng Ngải hoặc Hội An, rồi mới chiếu thẳng để đi Trung Quốc và Nhật Bản Vỉ thế Đàng Ngoài mãi vể sau mới được người ngoại quốc tới Mới đây Pierre Yves M anguin đã chứng minh điểu này một cách rõ rệt, dựa vào các giấy tờ của các nhà hàng hải Bổ vào thế kỷ 16, 17 và 18 (P.Y.M anguin, Les Portugais sur les côtes du Viet Nam

et du Champa, EFEO, Paris 1972).

Trang 23

trcn nắm lấy cơ hội sai tôi và thầy Giuliô Piani người Nhật, làm tuyên uý và đồng thời cũng dể tôi xem xét tình hình ở xứ

đó có chịu nhận lòi Thiên Chúa

Với ý đó, chúng tôi trẩy đi từ Ma Cao ngày mồng 2 tháng 2 năm 1626, ngày lễ Đức Mẹ dâng mình Chúng tôi lênh đênh trcn biển ba mươi sáu ngày1, một phần vì thiếu kinh nghiệm

về cuộc hành trình còn quá mới mẻ, một phần vì có cơn bão lớn nổi lên; cơn bão này chỉ yên khi chúng tôi ném xuông biển một di vật của th á n h Phanxicô Xaviê2

Ngày mồng 7 tháng 3 chúng tôi tới xứ Đàng Ngoài, qua một con sông chảy từ đất liền dài mười tám dặm Được tin chúng tôi tới, ch úa3 phái bôn thuyền chiến đón chúng tôi, những thuyền này đi theo chúng tôi suốt khúc sông để hộ vệ chúng tôi khỏi bọn cướp biển.”

Xem Hành trình và truyền giáo của A de Rhodes: hai lần người ta ném xuống

biển một sợi tóc của Đức Trinh Nữ (!).

3 Trịnh Tráng (1623-1657) Thành Đô Vương Như sẽ thấy sau, lúc này, để đương đấu với Đàng Trong, Trịnh Tráng cần sự giúp đỡ của ngoại quốc, vì biết

quản chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng đã được một lực lượng về võ khí đáng

kể do người Bồ cung cấp Miền Nam tiếp xúc với người Bổ sớm hơn miền Bắc.

Trang 24

Thanh Hóa, ngày 19 tháng 3, lễ th á n h Giuse1 Đấng tôi nhận

là quan thầy trong công trình lớn lao này Chúng tôi liền dặt tên cho cửa biển này và từ đó gọi là cửa th á n h Giuse

Tàu chúng tôi chưa vào tới bờ thì đã thấy r ấ t đông người

tụ tập để xem hàng hóa trong tàu Tôi liền bắt đầu giở hàng hóa của tôi ra và cho họ biết tôi có một thứ hàng quý hơn và

rẻ hơn tấ t cả những hàng khác, tôi sẽ biếu không nếu ai muốn, đó là đạo thật, đường th ật ban hạnh phúc Tôi giảng một bài ngắn, bởi vì đạo trong ngôn ngữ của họ có nghĩa là đàng, đường Chúa cho trong mẻ thứ n h ấ t này, ngay trước khi đặt chân lên đất, có hai người r ấ t thông minh sa lưới và nhất quyết xin chịu phép rửa tội Tôi đã rửa tội cho họ sau đó

ít lâu cùng tấ t cả gia đình."

[Alexandre de Rhodes 1994 (1653): 69]

"(Cảm hóa người bằng lời nói thật, không dôi trá): Khi tôi bắt

đầu giảng và ngay trước khi chúa cho tôi một nhà thờ đầu tiên, thì có một bà còn trẻ trong họ hàn g nhà chúa, chồng mói mất, vì rấ t yêu chồng, nên khi nghe nói tôi cầu nguyện cho các vong linh thì bà mời tôi và xin tôi cho bà biết có liều thuốc nào hiệu nghiệm để chữa chồng bà mới qua đòi được mây tháng nay Bà sẽ không tiếc gì, tôi muốn đòi hỏi gì thì bà bằng lòng dâng cúng

Tôi cho bà biết là vì đạo tôi giảng, tôi buộc mình không được nói dối, trong bất cứ trường hợp nào Và điềụ bà xin, tôi không thể nói sự thật chẳng đẹp lòng bà Tôi đôn đất nước này để đem liều thuốc có bảo đảm cho người còn sống, miễn

là họ muôn dùng, còn vê các vong linh người đã chết trong sai

1 Giáo hội Công giáo Việt Nam đã nhận thánh Giuse là quan thầy, đấng bảo hộ Nhà thờ lớn Hà Nội là nhà thờ kính thánh Giuse, lễ ngày 19 tháng 3.

Trang 25

lầm, thì tôi chẳng chữa chạy được gì, mà chỉ còn khóc lóc thương người xấu sô".

Bà nàv chỉ đáp lại tôi bằng đôi mắt và thở dài, không nghĩ đến viộc trở lại, nhưng chúa đã cho một bà sang trong khác đã

dự vào câu chuyện, bà này lý luận, nếu ông này muôn đưa lời dôì trá trong lòi giảng thì ông chỉ cần bảo bà kia rằng ông có thể chữa chạy cho chồng bà kia được và bà kia sẽ dâng cho ông một phần gia tài, vả chẳng ai có thể vạch sự gian dối đó được Nhưng vì trong cơ hội tốt để làm giàu, ông đã kiên trì nói sự thật, thì phải tin rằng ông không lừa gạt trong đạo ông giảng

và lời ông nói là sự thật, vì th ế tôi xin theo và xin vào con dường cứu rỗi ông giảng dạy Sau đó ít lâu, bà này tới gặp tôi,

kế lại câu chuyện và cho tôi biết ý dịnh của bà Tôi liền bắt đầu dạy giáo lý cho bà, và sau đó rửa tội cho bà Và tôi thầm phục th ế lực của ơn thánh và tinh thần của dân tộc này

[Alexandre de Rhodes 1994 (1653): 67- 68]

"(Dấu thánh cho trẻ sơ sinh): 0 đây tôi thêm một điều đặc

biột làm cho ta tưởng đức tin đạo Kitô đã gia nhập nước Đàng

Ngoài này Đó là khi một trẻ vừa lọt lòng mẹ thì người ta

dùng mực hay phấm hồng vạch hình thập tự trên trán: lần đầu Liôn tôi thấy võ trên trán dứa bổ, tôi đã hỏi cha mẹ vì cớ nào họ làm như vậy ỉỉọ trả lời là đô cho ma quỷ (thù địch của dứa bó) không làm hại trẻ hay gây tai họa cho đứa bé Tôi gạn hỏi thôm xem họ biết tại sao hình đó có phép trừ tà ma thì họ không thể dáp gì hơn là họ giữ một tục lộ có từ lâu đời mọi người trong nưóc này đểu làm Đâv là một dấu hiộu khá hiển nhiên tỏ ra niềm tin vào đức Ki tỏ xưa kia đã được rao giáng cho họ và ơn cứu rỗi bởi cây thánh giá họ đã nhận được

mà ngày nay họ còn kính cẩn giữ lại dấu hiệu Chúng ta tin

Trang 26

vào Thiên Chúa nhân từ, rồi đây sẽ đổ cho dâu hiệu vạch trên trán đó chuyển qua tâm hồn hết mọi lương dân."

[A lexandrede Rhodes 1994 (1651): 65-66]

"Tới đây là phần tôi đã trung thành lượm được nói vể tình hình tài sản vật chất, vê phong tục và dị đoan của người Đàng Ngoài làm cho chúng ta ái ngại cho một nưốc rất tài ba lỗi lạc và có rất nhiều kiến thức lịch thiệp và thánh thiện lại nhiễm sai lầm và bị xiềng xích khôn đôn của tà ma hung hãn Nhưng cũng làm cho chúng ta hy vọng, ánh sáng Phúc âm và

ơn đại thắng của Chúa Cứu Thế sẽ cởi bỏ hết các ảo tưởng cầm buộc tâm trí đêm ngày và phá tan mọi gông cùm giam giữ họ và sẽ chỉ dẫn cho họ nhận biết thánh danh, đức tin và vâng theo Thiên Chúa sự thật Việc này đã được thực hiện nơi một sô' đông giáo dân tân tòng trở lại đạo Công giáo, như chúng tôi sẽ nói ở quyển sau."

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 73-74]

"(Thiên chúa giáo ở Đàng Ngoài và Thăng Long trong so sánh với Thái Lan, lợi thê hơn so với Tin lành của Công giáo là Công giáo có thờ ngấu tượng): ( ) Còn vối Đàng Ngoài, vị linh mục

cho biết, dân cư nhìn chung tin vào Cơ đốc nhưng triều đình lại nghiêm ngặt câ^m đoán

Giáo sĩ sống ở đây không dám mặc nhiên công khai công việc truyền đạo của mình mà phải khép mình dưới danh nghĩa thương nhân thay vì giói tăng lữ Đây là trở ngại lớn đổi với công việc truyền giáo ở Đàng Ngoài nhưng các giáo sĩ vẫn tìm được đường đi để đưa các con chiên thoát khỏi sự mê muội và vì thê đến nay dã có khoảng 14.000 người đã dược cải đạo, nhiều người nữa đang được cải hóa hàng ngày Ông ta

Trang 27

nói với tôi rằng ở đây có hai giám mục, tôi đoán họ đều là

ngườ; Pháp iVIỘt người dược phong là giám mục Ascalon và ngườ' kia là giám mục Auran ơ dây có 10 linh mục châu Au

và 3 linh mục người bản dịa được tấn phong là linh mục của Giáo hội La Mã

Tôi dược cho biết rằng các vị giám mục người Pháp này không được sông ở Kẻ Chợ, cũng không được đi đến đó nếu khóng có giâV phép của quan trấn thủ Bản thân giấy phép

đó cũng chỉ có thổ có được nếu như có sự ưu ái của một sô" quan lại sông ở Kẻ Chợ, những ngưòi cho rằng các giám mục

và các người truyền giáo sinh ra là đổ biểu diễn các công việc tọp nhẹp hay dại loại như thế Nhưng nhà truyền giáo ở đây dểu thông thạo việc sửa chữa các loại dồng hồ - những việc

mà dân dịa phương vốn kém hiểu biết - và điều này là một lợi

t h ế đổ quan lại triệu tập họ lên Ke Chợ Khi đã lôn đến kinh

đô rồi họ sẽ biên một việc cỏn con vôn cần không quá õ đên 6 giờ dồng hồ đổ hoàn thiện thành một việc có vẻ khó khăn và cần gấp đôi thời gian, thậm chí phải vài ngày mới làm xong dược Theo cách này họ có thời gian rảnh để thuyết giảng giáo ]ý trong khi lưu trú tại Ke Chợ Họ cũng tranh thủ thời gian này dể tụ tập vối ngươi Anh và người Hà Lan, những người luôn thịnh tình chào dón họ

Tôi dược thông báo một cách có cơ sở rằng những người

dược cải dạo thường là những người nghèo và trong những ngày giáp hạt, việc phân phát gạo cứu đói còn góp phần cải đạo Lốt hớn các bài truyền giáo Ngay cả những người dược

*

cho là đã cải dạo - theo kiểu tràng hạt hay ảnh thánh - thì họ ngay lập Lức suy giảm niềm tin khi nhìn thấy ruộng đồng tươi tốt lúa và không bao lâu sau sẽ chẳng còn là con chiôn

Trang 28

như khi linh mục ban phát thức ăn đồ uống cho họ trong lúc đói ăn Bởi thê" tôi không thể nghĩ gì hơn là các con chiên Đàng Ngoài này - những người vốn có những khái niệm sâu sắc về vị thần tối cao của mình - lại có thể bị đưa đến chỗ tin theo Thiên Chúa chỉ bởi những người nhiệt th àn h và tối bụng, ở mức độ hiện nay, dường như không có vẻ gì là dạo

Thiên chúa lại có khả năng đơm hoa kết trái ở xứ sở này.

Người Anh và người Hà Lan ở vùng đất phương Đông này đều là những kẻ chẳng mấy nhiệt thành trong việc khuếch trương thanh th ế tôn giáo của họ - những người châu Âu khác cũng thế cả, ý tôi là những nhà truyền giáo, nhâ't là người Bồ - hơn là những kẻ thuyết giáo mù quáng Nhưng thực ra mà nói bởi những nhà truyền giáo Giatô La Mã là những người duy n hất vượt qua đại dương và lục địa dể thu phục người cải đạo nên có vỏ như họ có thuận lợi hơn so với các mục sư Tin Lành ở các quốc gia thò ngẫu tượng phương Đông Mọ chỉ việc đưa các linh vật, cho việc hành lỗ như người địa phương dã từng quen thuộc từ trước và chẳng hê hấn gì lắm để hoán dổi

từ các tượng thần ngoại giao sang ảnh thánh, những thứ có thể cứu cho cả các linh hồn nghèo khổ mà họ cải đạo vốn chỉ được hướng dẫn bằng cảm quan

Nhưng ở Đàng Ngoài cũng vậy, cư dân dược sinh ra với một niềm tin vào các vị thần linh hoặc các nhân vật anh hùng riêng của họ, vì thố khó mà có thể làm cho họ chuyển các thần tượng của họ sang một dạng mới nếu chúng ta không những kiến giải sâu sắc hơn để khẳng dịnh rằng những điều thay đổi đó có ý nghĩa hơn nhiều so với những gì

mà các nhà truyền giáo thường có thể cố gắng giúp đỡ họ."

[William Dampier 2007 (1699, 1931): 115-118]

Trang 29

B TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN

(THỜ CÚNG, GIỖ CHẠP, BÓI TOÁN, VÀNG MÃ)

"(Những dị đoan của người Đàng Ngoài và Tháng Long): Dân

xứ này thờ dị đoan Nhiều ngưòi theo ảo th u ậ t người Calđê1 Người khác theo thầy tướng thầy bói; người khác lại theo triết gia khổ hạnh An Độ2 Nhiều người thờ một pháp sư bản

xứ gọi là "Zinum"3: họ cúng t ế vị này vì họ sợ Người ta kể rằng thủ cấp vị pháp sư này bị chặt thì có phép làm khô cằn

cây cỏ và phá hoại vưòn ruộng, giết các giống vật khi mắt

nhìn tới Người ta giữ thủ cấp đó trong thành phô" sinh quán của ngài, thành này xa phủ chúa chừng bôn ngày đàng, nơi sinh sông các con cháu dòng họ."

[Giuliano Baldinottỉ 1626 (1629, 1903)]

"Vé một ít dị doan của người Đàng Ngoài: Để hiểu một trong

những dị đoan chung còn thịnh hành nơi ngươi Đàng Ngoài

đúng hơn, nơi tấ t cả ngưòi nước An Nam, thì phải biết họ

chia ngày làm mười hai giò, mỗi giò của họ bằng hai giờ của

ta Mưòi hai giờ có mưòi hai biểu hiệu Mười hai tháng trong năm cũng có mười hai biểu hiệu như thế Cũng theo những biểu hiộu này, mỗi ngày trong năm luân chuyển qua một vòng và mỗi năm trong th ế kỷ Họ ghép những biểu hiệu đó với mươi ký hiệu k h á c 1 làm thành một vòng sáu mươi năm, cuối cùng lại bắt đầu trở lại Nhưng trong cách nhận định

1 Thuộc miền Cận Đông, nơi có nhiều pháp thuật và phù chú.

2 Có thể chỉ Phật tổ.

3 Zinum không rõ là ai, có thể là "dị nhân" chăng?

4 12 địa chỉ: tý, sửu, dần, mão, thin, tị, ngọ, mùi, thản, dậu, tuất, hợi (chuột, trâu, hổ, mèo, rồng, rắn, ngựa, dè, khỉ, gà, chó, lợn) 10 thiên can: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý.

Trang 30

toán học đó, có điều vướng trở tâm trí họ và thường làm cho

họ sợ sệt (bởi vì họ r ấ t tò mò) là khi họ biết rõ rệt giờ sinh và theo dấu hiệu nào họ đã sinh ra thì họ tưởng rằng sự rủi ro

tiền định của họ đều tùy thuộc tất cả vào s ố tử vi, hoặc năm,

tháng, ngày và giờ nữa Thế cho nên họ không dám khởi công

làm một việc gì quan trọng trong năm, tháng, ngày, giò theo cách tính toán học của họ đã được xếp đặt và lệ thuộc vào dấu hiệu đó làm cho họ sợ gặp rủi ro trong công việc đã trù liệu Tuy kinh nghiệm là mẹ chân lý thỉnh thoảng đã dạy họ biết rằng dù họ có tinh tú và sô" tử vi, họ có thể t r á n h được bất hạnh mà thời gian và giờ không may làm cho họ sợ Hẳn họ cũng thấy thí dụ đáng ghi nhớ xảy ra cho chúa Đàng Trong,

bị đạo binh chúa Đàng Ngoài tấn công Chúa Đàng Ngoài đã chọc thủng biên giới, lúc đó có các nhà toán học cùng đi với ngài và theo ngài Họ cho ngài xem trong đồng hồ chiêm tinh thấy giờ phải sửa soạn xông đánh quân địch là một giờ nguy hiểm vì có dấu hiệu rủi ro Nhưng chúa hoặc vì bực mình hoặc vì khinh thường những nhận định mơ hồ, liền lấy chân đạp đồng hồ và phán: T hật vậy à, như thê ta sẽ thấy quân địch xông vào lãnh thổ ta mà ta khoanh tay không dám đấy lui sao, như th ế ta bó tay chịu tai họa lớn lao m ất nước và kẻ ngoại lai xâm chiếm ư? Rồi quay về phía quân sĩ đang chò quyết định và mệnh lệnh, ngài cao giọng quả quyết phán: Gắng lên, gắng lên, bớ quân sĩ, hãy cầm vũ khí, vì là giờ tốt bênh vực chính nghĩa và sẽ là một giờ may mắn cho chúng ta

và rủi ro cho quân địch, nếu chúng ta đuổi họ ra khỏi lãnh thổ ta và bắt chúng bỏ chạy Thế là chúa cũng đứng lên vối quân sĩ chông lại địch đã vào khá sâu trong lãnh địa và sau

khi cổ động cố gắng của quân sĩ, chúa quyết định tiến công và

cuối cùng bắt địch phải rú t lui T hế mà chính lại là giò mà

Trang 31

người Đàng Trong (cũng tin dị đoan như người Đàng Ngoài) được coi như giò rủi ro, nhưng lại thành giờ may mắn.

Vì tin dị đoan mà họ còn giữ một sô" điều ngộ nghĩnh khác tỏ ra trí óc họ còn yếu và ảo tưởng còn mạnh, làm cho

ma quỷ, khôn thay, được vui thích Đó là điểu thường làm cho họ rấ t mực áy náy trong những việc tốt và khẩn cấp mà

họ nắm trong tay Nếu buổi sáng lúc ra khỏi nhà để làm việc gì tốt và hệ trọng tới kết quả của công ăn việc làm mà

gặp đàn hà chứ không phải đàn ông, thì họ trở về và rầu ri

ngồi ở nhà, vì cho rằn g việc này (nếu cứ tiếp tục) sẽ hỏng, cho dù họ biết rằng nếu bỏ thì sẽ mất Cũng vậy, khi ra khỏi nhà, b ấ t cứ vào giờ nào, nếu họ h ắ t hơi hoặc người nào

họ gặp khi vừa ra khỏi nhà, thì họ không dám tiếp tục đi, nhưng dành trở về nhà, vì sợ có tai họa xảy ra cho họ nếu

họ cứ tiên h àn h và đi tới nơi họ đã định Họ còn r ấ t nhiều kiông kỵ dị đoan lương dân r ấ t tin theo Trái lại hết những người bỏ đạo huyền hoặc và những dị đoan điên dại, họ được giải thoát (như đã có rất nhiều người và mỗi ngày mỗi thêm), những người này tin theo và thờ Thiên Chúa thật,

i i ọ công nh ận những chân lý của đạo Kitô và những sai trái cùng vô lý của lầm lạc."

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 61-62]

"(Những dị (loan cửa người Đàng Ngoài và Thăng Long):

Những mê tín dị đoan của dân tộc này nhiều lắm, có thể viết thành một cuốn sách Nhưng tôi chỉ kế lại vài tục chính mà thôi Những thầy đồ cổ học nhìn vào một cái gương để đoán tiến dịnh và tự khoe có thể nói cho những người đến xem rằng họ sẽ trở thành ông gì, bà gì, công việc của họ thuận lợi như thế nào

Trang 32

Cũng có người dâng rượu cho người chết, tưới rượu lên hài cốt; họ chỉ làm vậy đôi với tổ tiên để họ phù hộ cho được khỏe mạnh, giàu sang.

Có những người vào mồng một Tết lấy vôi vẽ những hình tròn, vuông, tam giác ở trước cửa Họ bảo rằng những hình đó làm cho ma quỷ phải lánh xa, n hất là hình tam giác làm cho chúng sỢ nhất

Có người xem bói chân gà để biết điềm tốt hay xâu Có những người đi về vùng thôn quê, nếu hắt hơi một lần thì họ phải trở lại nơi bắt đầu ra đi, nói rằng nếu họ đi xa hơn nữa thì n h ất định sẽ gặp phải những điểu không may Nhưng nếu

họ hắt hơi hai lần thì họ tiếp tục đi một cách vui vẻ, chẳng sợ

gì nguy hiểm trong ngày hôm đó cả

Lại có những người mê tín quá mức, nếu ra khỏi nhà mà gặp một người đàn bà thì liền trở lại nhà 2, 3 giờ sau mói lại

đi, vì họ tin rằng nếu đi xa hơn nữa thì họ sẽ gặp điều không may Nếu họ gặp một người đàn ông thì lại là một điềm tốt.Thứ quả đầu tiên mà họ hái buổi đầu năm là quả cam mà tôi đã nói ở Chương III Nó cũng là thứ quả dầu tiên họ ăn một cách trang trọng trong tuần trăng thượng tuần tháng hai Có kẻ như bị ma quỷ ám ảnh đem bỏ thuốc độc vào thứ quả đó và làm như th ế nào cho một đứa trẻ ăn quả cam dó, họ tin rằng nếu đầu độc được một người như th ế thì suốt năm họ

sẽ gặp toàn may mắn

Khi có nguyệt thực, họ nói rằng đó là một con rồng đánh nhau với m ặt trăng và cô ăn mặt trăng Để đánh đuổi con rồng, cứu lấy mặt trăng, tất cả mọi người ai có súng thì bắn hay đánh chiêng, đánh trông Trong khi dó thì nguyệt thực qua dần, vì th ế họ tin là họ đã giải thoát được m ặt trăng, cho

Trang 33

nên họ r ấ t hoan hỷ, tưởng chừng như đã thắng kẻ thù trong một trận đánh oanh liệt.

Họ cũng tin vào những giờ trong ngày và đêm Họ chia một ngày thiên nhiên tức là cả ngày lẫn đêm ra làm 12 giò, rồi họ gọi mỗi giờ bằng một cái tên như hổ, SƯ tử (sai - ND), gấu (sai - ND), ngựa, rồng, khỉ Những th á n g và ngày đều cùng m ang tên như vậy Khi đe một đứa con, người cha và

bà con liền xem ngay tên con vật của giò sơ sinh, và tin

rằ n g con vật đó có hại đôi với đứa bé Khi em tôi còn ở lại

triều đình Đàng Ngoài, đức vua đang trị vì sinh vào giờ con ngựa, thì không bao giờ ra khỏi cung vào giò đó, sợ gặp điểu không may Vị vua đó còn mê tín đến mức khi một dứa con của nhà vua chết vào th á n g năm là th án g con ngựa, vua không cho chôn xác mà lại đem thiêu xác rồi

tu n g tro xương vào trong gió

Đó là những điều lạ lùng nhất mà tôi đã thu nhận được từ Vương quôc Đàng Ngoài, qua những bản thảo của em tôi đã qua đòi tại An Độ, và qua những câu chuyện tôi vừa nghe được do nhiều người Đàng Ngoài kể lại ở Batavia và ở Bantam

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 99-100]

"(Tục thờ Trời, Mặt trảng, Tinh tú và phương vị): Có những

người Đàng Ngoài thò Trời, người khác thờ Mặt trăng, những ngưòi khác nữa thờ Tinh tú Lại có những người thờ ngũ

phương, phương thứ năm đặt ở ỊỊÌíĩa bôn phương kia mà

chúng ta đã biết, họ cùng biết nhưng mơ hồ Khi* cúng ngũ phương, họ dùng những màu khác nhau cho từng phương một Thờ phương Bắc thì họ mặc áo đen, bàn và* thịt cùng màu đen Thò phương Nam thì màu dỏ, phương Đông màu

Trang 34

xanh, phương Tầy màu trắng, còn Chính phương ở giữa dùng màu vàng."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 95]

"(Tục thờ ba vị thần trong nhà người Đàng Ngoài và Thăng Long): Người Đàng Ngoài có tục thờ ba vị th ần trong nhà: Một là Táo quân (Thần bếp), tức là ba ông đầu rau Hai là ông Tiên sư, tức là ông thần tổ bảo trợ các nghề, như nghề kim hoàn, nghề chạm khắc, nghề sơn Khi họ muốn cho đứa con nào học một trong những nghê đó, trước khi bắt tay vào việc h àn h nghề, họ lập bàn thờ Tiên sư, cúng lễ

th ần ấy để ông ta mở mang trí tuệ cho đứa con đó được tinh

ý trong học nghề Vị thần thứ ba là Buabin (ông Địa?), tức

là vị th ầ n họ cúng khi xây nhà, lập bàn thờ và họ thường mòi một vị sư đến để cúng thần Họ làm nhiều thứ thịt, viết bùa chú trên giấy vàng dâng lên; sau đó họ đem dốt- đi cùng với thắp hương Họ bày cúng nhiều thứ thịt, họ làm

t h ế để xin th ầ n đừng giáng những tai họa xuống ngôi nhà

mà họ đang muôn xây."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 94-95]

"(Ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng và sư sãi): Mỗi tháng hai lần, nghĩa là vào ngày mồng một và ngày rằm, dân mộ đạo tới đền chùa nghi ngút khói hương, họ cầu khấn và cúng

tế Họ rất kính cẩn tin theo, không một ai dù túng bâVi đến đâu cũng không đem đồ lễ tới và đặt dưới chân tượng đầy bụi bặm Rồi họ quỳ phục ít là bôn lần, m ặt sát đất, sau đó (nêu không ai đi theo) họ tụng kinh và khấn vái, bắt đầu bằng việc xưng tên mình, quê quán, tưởng như th ần thánh không biết Nếu có nhiều người và thường là như vậy, thì người nào giàu

Trang 35

sang hơn lên tiếng thỉnh cầu nhân danh tất cả, những người khác chỉ đồng tâm theo bằng việc sấp mình xuống lạy Còn các thầy sãi thì thu của lễ, dành cho thầy nhất và chính yếu

sử dụng mà không ai được biết sử dụng và phân phát thế nào Ây là chưa kể nhiều ruộng công dành riêng cho chùa chiổn chính yếu mà các thầy sãi được thụ hưởng.”

Sư sãi cũng đểu ra đó, sau khi tụng kinh xong, họ ăn những dĩa thịt đem cúng, còn lại thì bô" thí cho người nghèo Chỉ có

SƯ sãi, những người vôn sông khắc khổ mới ăn uông như vậy, còn nhà vua và các quan không coi việc đó là trọng, v ề đồ tế

lễ, chỉ có đám dân đen mói cho là quý mà thôi."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 96]

"(Thầy bói): Người Đàng Ngoài đặc biệt kính trọng hai loại

thầy ma th u ậ t và một bà cốt Thầy ma thuật thứ nhất là Tay-

bou (thầy bói) Người này chuyên đoán hậu vận Khi họ muôn

cưới gả, xây nhà, mua đất hay buôn bán gì đó, họ liền đến

xom bói để biết điều tốt xấu ra sao Thầy bói đón tiếp họ một cách ân cần, rồi bằng một giọng khiôm tốn giả mạo, họ hỏi tuổi người đương cuộc để biôt hậu vận của người ấy Thầy bói liến cầm lên một cuôn sách dày đến ba ngón tay nằm ngang, trong đó chỉ thấy có hình vẽ ngưòi, vẽ thần và các loài vật

Trang 36

sông trên mặt đất và dưới nước, nhữ ng vòng tròn hình tam giác, hình vuông Thầy bói mỗ sách ra, đồng thời bỏ vào ba đồng tiền đồng, một mặt có chữ, một m ặt không, sau khi đã lắc ba đồng tiền kỹ rồi, thầy bói liền đổ tiền xuôírig đâ't Nếu

ba đồng cùng sấp cả thì thầy chả thèm nhìn vào sách nữa, dó

là điểm rấ t xấu cho người đương cuộc Nếu một đồng sấp, hai đồng ngửa, thầy nhìn vào sách và nói cho người đương cuộc biết hết mọi chuyện Nếu ba đồng ngửa cả thì thầy hô lên rằng người trong cuộc là người may m ắn nhất."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 97]

"(Bói chân gà trong các việc, và cả khi tàu biển sắp khởi hành):

Tôi còn thêm ở đây, ma th u ậ t d ù n g chân gà để biết thành

quả của bệnh nhân Phép này được sử dụng ở toàn cõi Đàng Ngoài để biết điềm lành dữ và xem xét hiện tượng xảy ra Vì

th ế nếu họ phải khởi hành trên đ ất hay trên biển, nếu họ xuất trận cưới hỏi, khởi công làm bất cứ việc gì quan trọng, thì quẻ và hướng chân gà' nếu chỉ cho biết điềm th à n h công, lúc đó họ mới can đảm làm và không còn sợ hãi Nếu họ nhận thấy trong hướng xấu của chân gà có điềm xấu thì họ không dám tiến hành và đành bỏ cuộc Điều này cản trở khá lớn các công việc của họ Vì th ế có một lần tôi thây xảy ra ở một hải cảng, nơi có hai mươi chiếc tàu chuẩn bị đầy đủ, buồm dã căng và sẵn sàng khởi hành Thương gia người Đàng Ngoài chưa dám bắt đầu làm trước khi chưa bói chân gà Mà vì hướng không đúng nên họ phải dổi dự định, gấp buồm lại và hoãn cuộc hành trình Nhưng đồng thời tôi có m ặt trong một thuyền sắp sửa trẩy đi vì gió thuận đã thổi bất chấp điềm dữ

1 Bói chân gà: Trong tự vị A de Rhodes ghi giò: chân, cẳng gà; xem giò:

dị đoan xem chân gà để đoan điềm lành dữ.

Trang 37

chân gà mà tôi chẳng thòm để ý Tôi giục chủ thuyền (là lương dân nhưng có cảm tình với đạo ta) lên buồm, chớ bỏ cơ hội dẹp trời mời ra đi T hế là chúng tôi trẩy đi thuận buồm xuôi gió và may mắn cập bến đúng ngày chúng tôi dự tính Còn thuyền các thương gia (ngày hôm sau thời tiết xấu) không thể trẩy đi, phải đợi mười lăm hay hai mươi ngày sau, trong thòi gian đó có sóng lớn và gió rất mạnh, làm cản trở không ít công việc của họ và bắt họ phải suy nghĩ về phù phcp vô dụng và về sự tin điên rồ của họ."

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 48-49]

"(Gọi hổn, thầy pháp, bà dồng, và cách hóa giải trò ảo thuật):

Thật l à sửng sốt khi thấy người Đàng Ngoài khò dại để cho các thầy pháp lợi dụng chữa chạy cho cha mẹ họ hàng và con cái đau yêu, khi họ chết lại còn dùng chúng và chịu cho chúng thi hàn h những pháp luật điôn rồ Sau khi người ôm tắt thỏ thì thầy pháp cùng gia đình buồn sầu của người chết

đi tới nhà một cô hồn được người ta trọng nể1 Bà này khấn vái ma th u ậ t gọi hồn dưới danh hiộu người qua đời để tới nhận và yên ủi gia đình mình vừa gây nên tang tóc Hồn tức thì nhập vào thân xác bà dồng (Thiên Chúa cho phép như vậy

dể phạt tội bất trung của dân này) và lay động rất dữ dội, trôn khuôn mặt lúc thì đỏ như sắt nung, khi thì nhợt và tựa như màu mỡ gà rồi dcn dáng ghê sợ, đế tỏ ra có ngưòi dữ dằn

nhập vào bà Sau đó cô hồn làm giả tiếng ngươi chết, gọi tên

một người trong gia dinh và bàn về một công viộc trước đây

cả hai dã làm chung với nhau, lại ròn quả quyết vê cảm tưởng của mình hay đưa ra những cảm nghĩ mới để thi hành Điểu này làm cho cả gia đình khóc lóc và cảm phục, quỳ xuống đất

1 Tục gọi hổn, xem thêm Borri, II, ch.4.

Trang 38

để tôn kính hồn người họ đã nghe và thấy mới đây, lúc này họ tin là đang hiện diện Thê’ rồi họ hỏi mấy câu và hồn trả lòi không rõ, với những lòi lẽ hai nghĩa làm cho họ rấ t khố tâm

Và đừng quên xin cho thầy pháp và cho cô hồn người bạn tốt những món thịt thà hồn giả vờ là thèm thuồng Tức thì người

ta đem tới để cúng cho người quá cô" Thỉnh thoảng cũng có lần hồn không nói qua miệng cô hồn, như ng cô giãy giụa, mặt mày nhăn nhó kinh khủng, nói lảm n hảm nhiều điều như thể người quá cố nói, chiểu theo ý thầy pháp chỉ dẫn; cô xin được điều cô muốn và được kính cẩn vâng theo ngay như thể người chết hiện diện thật

Cũng có cách khác các thầy pháp dùng qua hồn người chết

để lừa gạt thiên hạ Họ cho người chết hiện qua một tấm gương thần, làm cho người chết nói và xin những điều mình muốn Nhưng có lần hỏng việc và làm cho cô hồn rất xâu hố Bởi vì hai quân binh Kitô hữu dùng lòi cầu nguyện và thế lực

cây thánh giá họ đeo ở cổ tay đổ can ngăn Mặc dầu cô hồn

suốt đêm kêu cầu và gọi hồn đến giúp, hai giáo dân trái lại suốt đêm không ngừng xin Thiên Chúa cấm không cho âm hồn làm việc trong dịp này để sự lừa gạt không dạt được kết quả và cô hồn phải xấu hổ Họ đã được Thiên Chúa nhận diều

họ xin, th ế lực của cầu nguyện đã th ắ n g t h ế lực ma thuật

Lần khác cũng xảy ra như vậy ở một công trường có rất

nhiều người kéo nhau tới xem một vụ ảo thuật mà một thầy

pháp thường quen làm trước m ặt mọi người Hắn làm cho một hình nhân làm bằng nứa đi đi lại lại trong công trường

và bẩy được một tảng đá lớn nhiều người khỏe chung sức mới nâng nổi Nhưng có một giáo dân trẻ tuổi tôn là Mathêu đi qua đó, và vì xúc động thấy sự gian tà và sự mê hoặc đồng hương, anh tin vào quyền t h ế đức Giêsu Kitô và vào th ế lực

Trang 39

cây thánh giá anh đeo trong người, anh liền kín đáo trừ ma quỷ mà thầy pháp muôn dùng vào việc này Anh lấy danh Chúa Cứu T h ế đã toàn thắng trên thập giá mà khiến tà ma phải rú t lui về địa ngục và không còn được lừa dối thiên hạ Anh bắt tà ma phải vâng lòi, trong khi đó thầy pháp cầu khẩn trước bàn thờ và khi không nhận thấy hiện diện và th ế lực của tà ma, thì giang hai tay như điên, ngồi đủ các kiểu, lúc dứng khi quỳ, hoặc phục trên đất, dùng đủ cách để giục hồn đã bỏ hắn phải trở về với hắn Suốt ba bốn tiếng đồng hồ không được gì, rồi cứ tiếp tục cho tối khuya, hắn giận dữ và như điên cuồng vi bị dân chúng chế nhạo, sau cũng nhỡ tay đánh dể bàn thà đâm ra nguyền rủa nghề mình và ma quỷ đã ruồng bỏ hắn khi hắn đang cần, rồi hắn xấu hổ lui về nhà Anh M athêu tói kể cho các cha với vẻ đắc thắng và hiên ngang Các cha khuyên anh nên từ tôn và giữ kín ơn Thiên Chúa đã ban cho anh và đừng phổ biến việc vừa xảy ra vì sợ lưdng dân lấy cớ mà ngược đãi giáo dân.”

[Alexandre de Rhodes 1994 (1651): 49-51]

"(Cầu khấn cỏ hồn): Lại còn việc (thực ra là một thứ đạo

đức trá hình bên ngoài khá đẹp), người ta săn sóc và tin mê tín dị đoan không những giúp hồn cha mẹ mà cả những người không có con cái hay họ hàng gần, như bị bỏ rơi không ai cứu

giúp gọi là cô hồn Người Đàng Ngoài có tục, vào tháng Sáu

Am lịch, theo lịch của ta củng vào chừng tháng Sáu, đốt áo hoa, họ cho rằng (trong thuyết luân hồi bịa đặt ra) những áo này có thổ cho người nghèo bị bỏ rơi dùng Hơn nữa, có một tục ngộ nghinh để giúp các cô hồn bơ vơ: trong lớp học, học sinh mỗi thán g hai lần, ngày mồng một và ngày rằm, họp nhau rảo trong th àn h xin tiền đế mua gạo nấu cháo Sau khi

Trang 40

ăn một ít cồn thì đổ' trên mái nhà, cho rằng những hồi ]ang thang đó về dùng Rồi dựng một bàn thò nhỏ trong lớp 'à đến cầu khấn các cô hồn xin cho có trí sáng để học và t*ở nên thông minÌK"

này Khi người nào đó có con mới chết, muôn biết hồr con ở

th ế giới bên kia ra sao thì ngưòi đó đến tìm bà cốt, bà ti sẽ kể cho biết rằng hồn sung sướng hay khổ sở Nhưng thưcng thì

bà cốt nói cho những ngưòi mẹ đáng thương đó rằng lhh hồn con họ được sung sướng tại nơi hồn ở và người mẹ phả tự an

ủi về tình trạng đó, trừ phi người mẹ lại muôn người ti tin là

bà ta thấy con sung sướng thì lấy th ế làm đau lòng."

[Jean - Baptiste Tavernier 2007 (1681): 98-99]

"(Đám tang, mồ mả, thầy địa lý, thời gian đê tang): Tron? khắp

cõi đất có người ở này, có lẽ không có nước nào trọng tín h và

tôn sùng hồn và xác người quá cố bằng dân nưóc Ar Nam

Điều tôi sẽ nói sau đây đủ để mà tin

Khi người nào vừa tắt thở thì họ giữ ba điều này đổ tôn kính người chết Thứ nhấl, họ kiếm cho được một quan tài lộng lẫy n hât có thể có được theo khả năng của họ cể liệm xác Những người giàu có thì sắm một cỗ quan tài chim trổ, sơn son thếp vàng rất tinh xảo và râ't đắt tiền

Thứ hai, họ lo cho có thật nhiều người đi theo đán tang Ngoài gia quyến, thông gia, bạn bè không bao giờ thiíu, còn

Ngày đăng: 18/10/2022, 06:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm