1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tranh chấp về các điều kiện kinh doanh chuẩn của VLA a dispute on VLCs standard trading conditrions

8 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 241,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do Bị đơn chưa thanh toán, ngày 19/03/2019, Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn tại trọng tài nhưng sau khi bị khởi kiện Bị đơn cho rằng hai bên chưa thống nhất về cơ quan giải quyết tranh ch

Trang 1

Tranh chấp về Các điều kiện kinh doanh chuẩn của VLA

Ls Ngô Khắc Lễ Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)

"Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh" Quy định như vậy tại khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (“Luật TTTM”) tưởng đã quá rõ ràng nhưng vẫn xảy ra tranh

chấp Xin giới thiệu vụ kiện dưới đây để bạn đọc tham khảo

Tóm tắt sự kiện

Nguyên đơn (một công ty giao nhận, là hội viên của Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (“VLA”) và Bị đơn (người thuê vận chuyển) ký với nhau 02 Hợp đồng (Booking Note) số BKS5090317A ngày 09/03/2017 và số BKS504417A ngày 04/04/2017 (“các Hợp đồng”) Theo đó, Nguyên đơn cung cấp dịch vụ vận chuyển cho các lô hàng của Bị đơn Ngày 28/04/ 2017, Nguyên đơn bàn giao cho Bị đơn hàng hóa theo Hợp đồng số BKS5090317A Theo Hợp đồng, thời hạn thanh toán là 15 ngày kể từ ngày hoàn thành lô hàng Ngày 23/05/2017, Nguyên đơn bàn giao cho Bị đơn hàng hóa theo Hợp đồng số BKS5040417A với thời hạn thanh toán là 30 ngày kể từ ngày bàn giao đầy đủ chứng từ thanh toán của lô hàng Do chưa được thanh toán cho Hợp đồng số BKS5090317A, ngày 24/06/2017 Nguyên đơn đã gửi Bị đơn Văn thư số 0316/CV-PGĐ-CN yêu cầu thanh toán

số tiền nợ quá hạn cho lô hàng giao ngày 28/04/2017 là 18.403.175 đồng, và ngày 02/10/2017, Văn thư số 0117/CV-GĐ-HAN đề nghị thanh toán số tiền nợ quá hạn cho 2 lô hàng giao ngày 28/04/2017 và 23/05/2017 với tổng số tiền là 60.159.515 đồng Do Bị đơn chưa thanh toán, ngày 19/03/2019, Nguyên đơn đã khởi kiện Bị đơn tại trọng tài nhưng sau khi bị khởi kiện Bị đơn cho rằng hai bên chưa thống nhất về cơ quan giải quyết tranh chấp, trong khi Nguyên đơn khẳng định đã có thỏa thuận về vấn đề này

Phân tích của Hội đồng Trọng tài (“HĐTT”)

Trang 2

Ngoài những vấn đề khác, HĐTT đã phân tích để xem đã có thỏa thuận giữa các bên về cơ

quan giải quyết tranh chấp hay chưa "Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về

việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh" được quy định

tại khoản 1 Điều 3 Luật TTTM

Mục II.5 của các Hợp đồng nêu: “Các dịch vụ do chúng tôi [Nguyên đơn] cung cấp cho khách

hàng luôn tuân thủ theo đúng Các điều kiện kinh doanh chuẩn của Hiệp hội VLA, khách hàng

sẽ được cung cấp Các điều kiện kinh doanh chuẩn này nếu có yêu cầu” Đoạn 62 của Các

điều kiện kinh doanh chuẩn của Hiệp hội VLA (“ĐKC”) quy định: “Bất kỳ tranh chấp,

mâuthuẫn hay khiếu nại nào phát sinh từ hoặc liên quan đến ĐKC này, kể cả việc ký kết, giải thích, thực hiện, vi phạm, chấm dứt hay vô hiệu phải được đưa ra Trung tâm Trọng tài Quốc

tế Việt Nam để giải quyết chung thẩm theo Quy tắc tố tụng Trọng tài của Trung tâm này.”

Về pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài, các Hợp đồng được ký ngày 09/03/2017 và ngày 04/04/2017 là thời điểm Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (“Luật TTTM”) có hiệu lực nên chịu sự điều chỉnh của Luật TTTM và các văn bản hướng dẫn có liên quan, đồng thời chịu sự điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự năm 2015 (“BLDS”)

Tại văn bản số 0507 ngày 09/07/2019, Bị đơn cho rằng (i) hồ sơ vụ tranh chấp mà Bị đơn gửi tới Trung tâm trọng tài ngày 19/06/2019 là thiện chí của Bị đơn để Trung tâm trọng tài

có cơ sở làm việc với Nguyên đơn về trường hợp có liên quan tới Bị đơn, (ii) trên thực tế, hai bên chưa có thỏa thuận tranh chấp sẽ giải quyết tại cơ quan nào

Nguyên đơn cho rằng tại Đơn khởi kiện và tại văn thư số 0219/CV-PGD-CT ngày 11/07/2019, Nguyên đơn dựa vào quy định tại các Hợp đồng có dẫn chiếu ĐKC và Mục 62 của ĐKC Theo đó, Nguyên đơn khẳng định rằng các quy định này là cơ sở hợp pháp để giải quyết vụ việc tại Trung tâm trọng tài

Về hình thức, thoả thuận trọng tài giữa hai bên được xác lập bằng văn bản dưới dạng một điều khoản trọng tài trong hợp đồng, phù hợp với Điều 16 Luật TTTM Cụ thể, khoản 2 Điều

16 Luật TTTM quy định: “Các hình thức thỏa thuận sau đây cũngđược coi là xác lập dưới

dạng văn bản: d) Trong giao dịch, các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa

Trang 3

thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác; đ) Qua trao đổi về đơn khởi kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.”

Mục II.5 của các Hợp đồng dẫn chiếu trực tiếp tới ĐKC và ĐKC có thể hiện thỏa thuận trọng tài như trích dẫn trên đây Như vậy, căn cứ điểm d khoản 2 Điều 16 Luật TTTM, thỏa thuận

trọng tài giữa các bên đáp ứng tiêu chí “xác lập dưới dạng văn bản” Tại Mục III.3 của Đơn

khởi kiện, Nguyên đơn có nêu căn cứ của việc khởikiện là thỏa thuận trọng tài quy định tại Mục II.5 của các Hợp đồng cũng như Mục 62 của Điều kiện kinh doanh chuẩn Tuy vậy, trong Bản tự Bảo vệ, Bị đơn không phủ nhận hay phản đối thỏa thuận trọng tài Nguyên đơn

đã nêu tại Đơn khởi kiện

Từ các phân tích trên đây, HĐTT nhận thấy thoả thuận trọng tài được xác lập phù hợp với quy định của pháp luật, không thuộc các trường hợp vô hiệu quy định tại Điều 18 Luật TTTM hoặc trường hợp không thể thực hiện được

Về phạm vi của thỏa thuận trọng tài, Mục 62 của ĐKC nêu rõ các tranh chấp được giải

quyết bằng trọng tài bao gồm “Bất kỳ tranh chấp, mâu thuẫn hay khiếu nại nào phát sinh từ

hoặc liênquan đến ĐKC này, kể cả việc ký kết, giải thích, thực hiện, vi phạm, chấm dứt hay vô hiệu” Do vậy, HĐTT nhận thấy cần xác định rõ phạm vi của thỏa thuận trọng tài nàycó bao

gồm tranh chấp giữa Nguyên đơn và Bị đơn trong vụ tranh chấp hay không

Mục 15 của ĐKC quy định: “ĐKC này áp dụng cho tất cả các dịch vụ logistics bất kể đó là

dịch vụ giao nhận, vận chuyển, lưu kho, phân phối hoặc các dịch vụ khác tương tự như dịch

vụ Logistics do Công ty – với tư cách là người giao nhận hoặc người kinh doanh dịch vụ Logistics – cung cấp, vận hành, thực hiện, tìm mua để thực hiện hoặc tạo ra kể cả trường hợp họ cung cấp vận đơn hoặc chứng từ khác tương tự dựa trên cơ sở hợp đồng vận chuyển

ký kết giữa một bên là người vận chuyển khác với kháchhàng.” Trong đó, “Công ty” được hiểu

là hội viên VLA, người cung cấp các dịch vụ căn cứ vào các quy định nêu trong ĐKC, trong trường hợp này là Nguyên đơn; “Khách hàng” được hiểu là người ra chỉ thị bao gồm cả người

ký gửi hàng, người giao hàng, người nhận hàng và chủ hàng mà Công ty cung cấp dịch vụ

Trang 4

quy định trên, có thể thấy rằng giao dịch giữa các Bên là giao dịch cung cấp dịch vụ logistics, thuộc phạm vi điều chỉnh của ĐKC

Bên cạnh đó, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan của các Bên được quy định không chỉ trong các Hợp đồng mà còn trong ĐKC mà các Hợp đồng có dẫn chiếu Cụ thể, vấn đề

mà các Bên đang tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thanh toán – được quy định trong cả các Hợp đồng (Điều 4.3) lẫn ĐKC (Mục 44-45) Do vậy, tranh chấp phát sinh từ giao dịch giữa các Bên, cụ thể là tranh chấp phát sinh từ các Hợp đồng, cũng được coi là tranh

chấp “phát sinh từ hoặc liên quan đến ĐKC” Nói cách khác, tranh chấp giữa các Bên thuộc

phạm vi của thỏa thuận trọng tài và vì thế, HĐTT có thẩm quyền đối với tranh chấp giữa các Bên phát sinh từ các Hợp đồng

Hãy lưu ý là muốn áp dụng ĐKC thì cần ghi rõ trong chứng từ như hợp đồng, hóa đơn, báo

giá… rằng “các dịch vụ do chúng tôi cung cấp cho khách hàng luôn tuân thủ theo đúng Các

điều kiện kinh doanh chuẩn của Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, khách hàng sẽ được cung cấp Các điều kiện kinh doanh chuẩn này nếu có yêu cầu”, (hoặc ghi với

nội dung tương tự) và khi cần thì dịch sang tiếng Anh./

-

Trang 5

A dispute on VLA's Standard Trading Conditions (STC)

Lawyer Ngo Khac Le | Arbitrator of VIAC

"Arbitration agreement is an agreement between the parties to settle by arbitration a dispute which may arise or has arisen" Such provisions in Clause 1, Article 3 of the Law on Commercial Arbitration 2010 ("LCA") seem to be too clear but there are still disputes So, I

would like to introduce the case below for readers’ reference

Summary of the facts

The Claimant (a forwarding company - a member of Vietnam Logistics Business Association (VLA) and the Respondent (Shipper) signed 02 Contracts (Booking Notes) No BKS5090317A dated 09/03/2017 and BKS504417A dated 04/04/2017 ("Contracts") Accordingly, the Claimant provided transport services for the Defendant's shipments On 28/04/2017 Claimant delivered the shipment under the contract No BKS5090317A to the Respondent with the payment term of 15 days from the date of completion of the shipment

as stipulated by contract On 23/05/2017, the Claimant handed over the Respondent the goods under the Contract No BKS5040417A with a payment term of 30 days from the date

of handover of all payment documents for the shipment Due to the unpaid amount for the Contract No BKS5090317A, on 24/06/2017 the Claimant sent the Respondent Letter No 0316/CV-PGĐ-CN requesting payment of overdue debts for the shipment delivered on 28/04/2017 being VND 18,403,175, and on 02/10/2017, Letter No 0117/CV-GĐ-HAN requesting payment of overdue debts for 02 shipments delivered on 28/04/2017 and 23/05/2017 with the total amount of VND 60,159,515 Due to the Respondent's unpaid amount, on 19/03/2019 the Claimant sued the Respondent at the arbitration but after being sued, the Respondent thought that the two parties had not agreed on the institution of dispute resolution while the Claimant confirmed having arbitration agreement on this issue

Trang 6

Among other things, the Tribunal has analyzed to see if there was an agreement between

the parties on the institution of dispute resolution "Arbitration agreement is an agreement

between the parties to settle by arbitration a dispute which may arise or has arisen" as

provided for in Clause 1, Article 3 of the LCA Section II.5 of the Contracts stated: “The services provided by us [Claimant] to customers always in compliance with the Standard Trading conditions of VLA, and customers will be provided with the STC if required" Paragraph 62 of the STC stipulated: "Any dispute, conflicts or claim arising out of

or in relation to this STC, including the signing, interpretation, performance, breach, termination or invalidation must be referred to Vietnam International Arbitration Centre for final settlement in accordance with its Rules of Arbitration.”

Regarding the laws and regulations governing the arbitration agreement, the Contracts signed on 09/03/2017 and 04/04/2017 were the time when the LCA took effect, so governed by the LCA and relevant documents, and by the Civil Code 2015 (“Civil Code”) In the document No 0507 of 09/07/2019, the Respondent said that (i) the dispute file that the Respondent sent to the Arbitration Centre on 19/06/2019 is the Respondent's goodwill

to it so that it had grounds to work with the Claimant on the case involving the Respondent, (ii) in fact, the two parties has not agreed on any institution to resolve the dispute

The Claimant said that in the Request for Arbitration and in the Document No 0219/CV-PGD-CT of 11/07/2019, the Claimant based on the provisions of the Contracts incorporating the STC and Section 62 of the STC Accordingly, the Claimant affirmed that these provisions were the legal basis for resolving the case at the arbitration centre

In terms of form, the arbitration agreement between the two parties was made in writing

in the form of an arbitration clause in Contracts in accordance with Article 16 of the LCA Specifically, Clause 2, Article 16 of the LCA stipulates: “The following forms of agreements are also considered to be made in writing: d) In transactions, the parties refer to a document that expresses the arbitration agreement such as contracts, documents, company charter and other similar documents; dd) Through exchanges of the Request for Arbitration and the

Trang 7

Statement of Defence which indicates the existence of an arbitration agreement made by one party and the other does not deny."

Section II.5 of the Contracts referred directly to the STC and the STC indicated the arbitration agreement as cited above Therefore, based on Point d, Clause 2, Article 16 of LCA, the arbitration agreement between the parties met the criterion "established in writing" In Section III.3 of the Request for Arbitration, the Claimant stated that the grounds

of the request for arbitration are the arbitration agreement prescribed in Section II.5 of the Contracts as well as Section 62 of the STC However, in the Statement of Defence, the Respondent did not deny or object the arbitration agreement which the Claimant referred

to in the Request for Arbitration

From the above analysis, the Tribunal found that the arbitration agreement was established

in accordance with the laws and regulations, not falling into the invalid cases specified in Article 18 of the LCA or in cases where it was not possible to perform Regarding the scope

of the arbitration agreement, Section 62 of the STC stated that disputes resolved by

arbitration included "Any dispute, conflict or claim arising out of or relating to this STC,

including the signing, explanation, performance, breach, termination or void " Therefore, the

Tribunal found that it was necessary to clearly determine whether the scope of this arbitration agreement included the dispute between the Claimant and the Respondent in the case

Section 15 of the STC states: “These STC shall apply to all logistics services, irrespective of whether they concern freight forwarding, carriage, warehousing, distribution of goods or other services common to the logistics services provided, handled, performed, procured or rendered by the Company acting either as Freight Forwarder or as Logistics Service Provider even in case when the Company procures a Bill of Lading or other similar document evidencing a contract of carriage between a person other than the Company and the Customer", In this case it was the Claimant "Customer” meant any party giving instructions, including the shipper, consignor, consignee, the owner of the goods or their behalf upon whose request the Company provided any services, in this case it was the

Trang 8

Respondent From the above provisions, it could be seen that the transactions between the Parties were transactions which provided logistics services, which were subject to the scope of the STC

In addition, the implementation of related rights and obligations of the Parties was stipulated not only in the Contracts but also in the STC to which the Contracts referred Specifically, the problem that the Parties were in dispute relating to payment obligations was stipulated in both the Contracts (Article 4.3) and the STC (Section 44-45) Therefore, disputes arising from transactions between the Parties, namely disputes arising from Contracts, were also considered as disputes "arising from or in relation to the STC" In other words, disputes between the Parties fell within the scope of the arbitration agreement and

as such, the Tribunal had jurisdiction over disputes between the Parties arising out of the Contracts

Notes should be that if you wanted to apply for STC, you needed to specify in the documents such as contracts, invoices, quotations, etc that "the services we provide to our customers always comply with the Standard Trading Conditions of Vietnam Logistics Business Association, customers will be provided with these Standard Trading Conditions

if required " (or you could write this in similar content), and when needed, translate it into English

-

Ngày đăng: 17/10/2022, 17:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w