Cùng với chủ nghĩa yêu nước thì trong truyền thống văn hóa của dân tộc VN với những giá trị vănhóa tốt đẹp như tinh thần kiên cường bất khuất, tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết cộn
Trang 1Nội dung 1, Những tiền đề tư tưởng lý luận HCM
Thứ nhất, là giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
Với lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống tốt đẹp củadân tộc ta và đó chính là chủ nghĩa yêu nước, giá trị này chính là hành trang mang theo của HCM trongquá trình ra đi tìm đường cứu nước Chủ nghĩa yêu nước được hình thành trong quá trình đấu tranhdựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua hàng nghìn năm lịch sử, trở thành động lực lớn cho dân tộctrong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Chủ nghĩa yêu nước luôn đứng đầu bảng giá trị trong
truyền thống văn hóa của dân tộc Việt, “là dòng sữa tinh thần nuôi sống dân tộc Việt Nam từ thời lập quốc cho đến ngày nay và mãi mãi về sau” Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực
sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người Việt nam Chính vì lẽ đó
HCM đã đúc kết thành chân lý: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”
Cùng với chủ nghĩa yêu nước thì trong truyền thống văn hóa của dân tộc VN với những giá trị vănhóa tốt đẹp như tinh thần kiên cường bất khuất, tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết cộng đồng, tinhthần khoan dung, nhân nghĩa thủy chung; tinh thần lạc quan yêu đời; tinh thần trọng trí thức, hiền tài…ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng HCM
Thứ hai, Tinh hoa văn hóa nhân loại.
HCM đã ảnh hưởng rất nhiều những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại,trước hết là văn hóa phươngĐông (như Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Phật giáo…) trong đó, Nho giáo là ảnh hưởng sâu đậm đối với
sự hình thành tư tưởng của Người, Người đã chắt lọc những mặt tích cực hợp lý, loại bỏ những tiêu cực
để xây dựng một xã hội tốt đẹp Những mặt tích như: Những chuẩn mực để tu dưỡng đạo đức trong xãhội của Nho giáo; Tư tưởng về một xã hội Đại đồng của Khổng Tử; Tư tưởng lấy dân làm gốc; tưtưởng hành đạo giúp đời; hay Nho giáo là luôn đề cao việc học, coi trọng hiền tài…Còn những mặt tiêucực mà HCM phê phán như: Nho giáo phân chia xã hội thành những đẳng cấp khác nhau trong xã hội,người tiểu nhân và người quân tử, kẻ lao tâm và người lao lực; tư tưởng trọng nam khinh nữ; những hủtục lạc hậu, tư tưởng trông chờ ỷ lại, tâm lý tự ti, thụ động, coi khinh lao động chân tay…
Trang 2Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn như: Dân sinh, dân quyền và dân quốc, đó là dân tộc thì
được độc lập, dân quyền thì được tư do và dân sinh thì được hạnh phúc Đặc biệt, sau khi Lênin lãnhđạo cách mạng Tháng Mười thành công, thì Tôn Trung Sơn đã có những tư tưởng tiến bộ, ông chủ
trương “Thân Nga, liên cộng, phù trợ công nông” nghĩa là thân với nước Nga Xô Viết để chống chủ
nghĩa đế quốc, liên minh với Cộng sản, ủng hộ giai cấp công nông trong sự nghiệp CM
Về Phật giáo, HCM đã kế thừa những mặt tích cực hợp lý và loại bỏ những yếu tố hạn chế Về mặt
tích cực như: những tư tưởng về cứu khổ cứu nạn, Phật giáo lên án sự phân chia xã hội thành các giaicấp và chủ trương thực hiện bình đẳng trong xã hội, Phật giáo phái thiền tông còn đề cao lao độngchống lười biếng Những hạn chế như những tư tưởng trong triết học Phật giáo mang tính duy tâm, khóthực hiện
Về văn hóa phương Tây, đó là Người nghiên cứu tư tưởng của những nhà khai sáng Pháp như
Rútxô, Môngtexkiơ, Vônte, Điđờrô…đó là tinh thần pháp luật, khế ước xã hội hay học thuyết về tamquyền phân lập Những tư tưởng của các ông là nền tảng, cơ sở cho CMTS sau này như CM Anh, Mỹ,Pháp Những cuộc CM này đã đóng góp vào trong giá trị văn minh của nhân loại là xã hội công dân vànhà nước pháp quyền đã ra đời Sau này khi nghiên cứu các bản Tuyên Ngôn Độc lập của CM Mỹ(1776), Tuyên Ngôn Nhân quyền và dân quyền của CM Pháp (1791), HCM đã nhận thức được tính tấtyếu về quyền con người và quyền dân tộc mà 2 cuộc CM đó đã xác lập
- Về chủ nghĩa Mác – Lênin, HCM nắm vững thế giới quan và phương pháp luận mà trong đó hạt
nhân là phép biện chứng để vận dụng vào quá trình CM Người từng nhắc nhở chúng ta rằng, chúng tahọc CN Mác là học cái tinh thần của phép biện chứng, chứ không phải là học thuộc lòng từng câu từngchữ Học CN Mác – Lênin là phải sống với nhau cho có tình có lý, chứ không phải thuộc dăm ba câu
CN Mác để đi lòe thiên hạ Học CN Mác là để làm CM, cứu dân cứu nước, để cải tạo thế giới Đó làđiều cốt lõi trong CN Mác – Lênin mà HCM tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển ở Việt Nam
Trang 3Nội dung 2: Độc lập dân tộc là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa.
a) Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa:
- Đấu tranh chống CNTD, giải phóng dân tộc:
HCM không bàn về vấn đề dân tộc nói chung.Xuất phát từ nhu cầu khách quan của dân tộcVN,đặc điểm của thời đại, Người dành sự quan tâm đến các thuộc địa, vạch ra thực chất của vấn đề dântộc ở thuộc địa là vấn đề đấu tranh chống CNTD, xóa bỏ ách thống trị, áp bức bóc lột của nước ngoài,giải phóng dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập Nhà nước dân tộc độc lập
- Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc: Từ thực tiễn phong trào cứu nước của dân tộc và nhânloại, HCM khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới là CNXH
Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là 1 vấn đề hết sức mới mẽ.Từ 1 nướcthuộc địa đi lên CNXH phải trải qua nhiều giai đoạn chiến lược khác nhau.Trong cương lĩnh chính trịđầu tiên của ĐCSVN,Người viết: “làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới xã hội Cộng sản”con đường đó xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh của các nước thuộc địa, nó hoàn toàn khác biệt với các nước đãphát triển đi lên CNTB ở phương Tây.Đây là nét độc đáo trong tư tưởng HCM
b) Độc lập dân tộc là ND cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa:
- Hồ Chí Minh tiếp cận quyền dân tộc từ quyền con người được xác lập từ giá trị cách mạng thế giới mang lại.
HCM tiếp cận quyền con người hoàn toàn khác với các học giả tư sản và những nhà tư tưởnghay triết học của nhân loại, cách tiếp cận của Người hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc, Người xuất phát từtruyền thống dân tộc, từ đặc điểm của thời đại và con người hiện thực để xem xét và giải quyết vấn đềquyền con người Với cách xem xét đó thì quyền con người ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết
thông qua một cuộc CM hiện thực Nhận thức về quyền con người của HCM là sự kế thừa những giá trị
tư tưởng trong 2 bản Tuyên ngôn Độc lập của CM Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của CM Pháp (1791) Trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của CM Pháp khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Như vậy, từ quyền con người mà thành
tựu các cuộc CM Mỹ và Pháp đưa lại, HCM đã nâng lên thành quyền dân tộc, Người khẳng định:
Trang 4“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Từ lý luận về quyền con người mà 2 cuộc CM Mỹ và Pháp xác lập, khi lý luận
xâm nhập vào thực tiễn, cụ thể là thực tiễn của CM Việt Nam đã hình thành một khái niệm mới, đó làquyền dân tộc HCM đã nâng quyền con người lên thành quyền dân tộc là hợp với lẽ tự nhiên, vì quyềncon người nằm trong quyền dân tộc, vi phạm quyền dân tộc, điều đó cũng có nghĩa là vi phạm quyềncon người Điều này nó trái với chân lý đã được khẳng định trong Tuyên Ngôn của CM Mỹ và Pháp
Với cách tiếp cận này, HCM đã đặt quyền con người vào trong quyền dân tộc, muốn giải phóngcon người thì phải giải phóng dân tộc, vì không thể có tự do cho mỗi con người, nếu dân tộc còn nô lệ
- Nội dung của độc lập dân tộc
Độc lập dân tộc đã trở thành một giá trị thiêng liêng của dân tộc Việt Nam HCM đã kế thừanhững truyền thống văn hóa của dân tộc VN được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử Đó là ý thức về
sự thể hiện chủ quyền của dân tộc, tiêu biểu như Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi đã khẳng định:
“Như nước Đại Việt ta từ trước; Vốn xưng nền văn hiến đã lâu; núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” Hay như Lý Thường Kiệt cũng từng khẳng định tương tự: “Sông núi nước Nam vua Nam ở; Rành rành định phận ở sách trời” Đây là những tư tưởng thể hiện ý thức độc lập tự chủ
của dân tộc đã được ghi nhận Đó là một lẽ tự nhiên
Kế thừa những tư tưởng đó, khi VN mất độc lập, dưới sự thống trị của TD Pháp, Nguyễn TấtThành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc.Trong quá trình hoạt động cứu nước,
tư tưởng về độc lập chủ quyền dân tộc của HCM luôn thống nhất trước sau như một Bao giờ cũngnung nấu một ý chí, quyết tâm để đấu tranh giành độc lập dân tộc Đó là một khát vọng cháy bỏng củaHCM và độc lập đã trở thành một nguyên tắc bất biến Khát vọng đó được Người thể hiện rất rõ khi
sáng lập ra ĐCSVN (1930), Người xác định mục tiêu chính trị của Đảng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”
Khi trở về trực tiếp lãnh đạo CM Việt Nam, Người chủ trì Hội nghị TW lần thứ 8(5.1941) và
trong thư Kính cáo đồng bào, chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy” Khi thời cơ thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa đã đến, Người đưa ra quyết tâm “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn này cũng phải giành cho được độc lập dân tộc” CM Tháng Tám thành công, Người khẳng định cho thế giới biết khát vọng của dân tộc VN : “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Trang 5Đối với HCM, hoà bình chân chính trong nền độc lập dân tộc để nhân dân xây dựng cuộc sống
ấm no hạnh phúc cũng là quyền cơ bản của dân tộc Hoà bình không thể tách rời độc lập dân tộc, và
muốn có hoà bình thật sự thì phải có độc lập thật sự HCM đã nêu: “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoà bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ độc lập và chủ quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước Những tư tưởng đó đã tạo nên chân lý có giá trị lớn nhất cho mọi thời đại:“Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.
Nói tóm lại nội dung về độc lập dân tộc trong tư tưởng HCM bao gồm những vấn đề sau:
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với các quyền tự do cơ bản
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với quyền tự quyết dân tộc, quyền lựa chọn con đường pháttriển dân tộc mà không phụ thuộc bên ngoài
- Độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH
- Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm
Trang 7Nội dung 3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
a) Về mục tiêu:
+ Mục tiêu chung, đó là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nd Nói một cách đơn giản,
CNXH là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trước hết là nhân dân laođộng Đây là mục tiêu cao nhất của CNXH Mục tiêu của CNXH theo quan niệm của HCM đã khẳngđịnh tính ưu việt của CNXH so với các chế độ đã tồn tại trong lịch sử là chỉ ra nhiệm vụ giải phóng conngười một cách toàn diện
Quá trình xây dựng CNXH là lâu dài, HCM cho rằng: “chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta…”, HCM đã đề cập đến các mục tiêu cụ thể
như:
+ Mục tiêu chính trị: Xuất phất từ việc xem CNXH là một lý tưởng chính trị - xã hội, là phong
trào hiện thực là xu thế tất yếu nhằm giải phóng những người lao động ở các nước tư bản và thuộc địa.Cho nên, chế độ chính trị mà chúng ta xây dựng là chế độ dân chủ, do nhân dân lao động làm chủ, Nhànước là của dân, do dân và vì dân
+ Mục tiêu kinh tế: Nền kinh tế XHCN với công-nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên
tiến, bóc lột bị xoá bỏ dần, cải thiện đời sống nhân dân và kết hợp các lợi ích kinh tế
+ Mục tiêu văn hoá - xã hội: văn hoá là mục tiêu cơ bản, đó là việc: xoá mù chữ, phát triển nghệ
thuật, thực hiện nếp sống mới, nâng cao dân trí Đặc biệt là pải kết tinh và kế thừa những giá trị củanhân loại, nhưng vẫn bảo tồn và phát huy được bản sắc văn hóa và những truyền thống nghìn năm vănhiến của dân tộc, nhằm biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươivui hạnh phúc Theo HCM không có văn hóa, thiếu tri thức, dân tộc sẽ mất đi độc lập tự cường, tự chủ
và vì vậy văn hóa không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu lớn của CM
+ Mục tiêu con người(quan hệ xã hội): Theo HCM, CNXH là công trình tập thể của nhân dân.
Do đó, nếu không có con người thì sẽ không có CNXH
Trước hết, để xây dựng CNXH thì phải có con người XHCN, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữacon người với con người Đó là con người có lý tưởng XHCN, đấu tranh cho lý tưởng của XHCN Conngười biết hy sinh lợi ích các nhân vì tập thể.Thứ hai, con người XHCN phải luôn gắn tài năng với đạođức Người quan niệm: Có tài mà không có đức là hỏng, có đức mà không có tài thì không thể làm việcđược
Trang 8b) Về động lực của chủ nghĩa xã hội
Phát huy các nguồn động lực về vật chất và tư tưởng cho việc xây dựng CNXH: vốn, khoa họccông nghệ, con người (năng lực của con người); trong đó lấy con người làm động lực quan trọng và
quyết định “CNXH chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người” Nòng cốt là công – nông – trí thức.
Phát huy động lực con người trên cả hai phương diện: cộng đồng và cá nhân Phát huy động lựccủa cộng đồng là phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết - động lực chủ yếu để phát triển đất nước.Phát huy sức mạnh của cá nhân trên cơ sở kích thích hành động gắn liền với lợi ích vật chất chính đáng
của người lao động, “phải chăm nom đến chỗ ăn, chỗ ở, việc làm của nhân dân”, “Nếu dân đói, Đảng
và Chính phủ có lỗi Nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi”.
HCM coi trọng động lực về kinh tế, phát triển sản xuất, kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sảnxuất, làm cho mọi người, mọi nhà trở nên giàu có, ích quốc lợi dân, gắn liền với phát triển kinh tế - kỹthuật, kinh tế - xã hội Tác động cả về chính trị và tinh thần trên cơ sở phát huy quyền làm chủ củanhân dân lao động và ý thức làm chủ, HCM cũng quan tâm đến văn hoa, khoa học, giáo dục Đó lànhững động lực bên trong, tiềm tàng của sự phát triển Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng nhất là trong
vấn đề thực hiện công bằng xã hội phải theo nguyên tắc: không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.
Tránh bình quân, Người nêu khẩu hiệu 3 khoán và 1 thưởng,thưởng phạt công minh Sử dụng vai tròđiều chỉnh các nhân tố tinh thần khác như: văn hoá, đạo đức, pháp luật đối với hoạt động của conngười Đó là những động lực bên trong quan trọng
Ngoài ra HCM còn nêu các động lực bên ngoài như kết hợp với sức mạnh thời đại, tăng cườngđoàn kết quốc tế, sử dụng những thành quả KH-XH thế giới
Giữa nội lực và ngoại lực,HCM xác định rất rõ nội lực là quyết định nhất, ngoại lực là rất quantrọng Để phát huy cao độ những động lực của CNXH, cần phải khắc phục những cản trở kìm hãm Đólà: Căn bệnh thoái hoá, biến chất của cán bộ; Chủ nghĩa cá nhân; Chống tham ô lãng phí; Chống bèphái mất đoàn kết nội bộ; chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều; chống lười biếng
Trang 9Nội dung 4: Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng
Thứ nhất, là nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong học thuyết về Đảng kiểu mới Nguyên tắc này, vừa bảođảm quyền chủ động, sáng tạo của mọi thành viên trong tổ chức, vừa bảo đảm thống nhất ý chí và hành
động vì sự nghiệp chung Nguyên tắc tập trung dân chủ là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phải
phục tùng cấp trên, cá nhân phải phục tùng đoàn thể để đảm bảo sức chiến đấu của toàn Đảng(tất nhiên,
ý kiến cá nhân được tôn trọng và bảo lưu ý kiến) Dân chủ là cơ sở bảo đảm cho tập trung thống nhất.Tập trung dựa trên cơ sở dân chủ làm cho Đảng ta thống nhất ý chí cùng hành động trở thành một tổchức chính trị tiên phong
Thứ hai, là nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách
Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
là dân chủ tập trung.Tập thể lãnh đạo, nghĩa là mọi vấn đề đều đưa ra trước chi bộ bàn bạc thảo luận đểcùng nhau giải quyết, một vấn đề có nhiều ý kiến, nhiều người sẽ cho nhiều ý kiến hay Khi đã bàn bạc
đi đến thống nhất, thì giao cho một người phụ trách để tránh tình trạng trông chờ, ỷ lại làm cho côngviệc không trôi chảy Lãnh đạo mà không tập thể thì dễ dẫn đến tệ bao biện,chuyên quyền độc đoán
Thứ ba, là nguyên tắc tự phê bình và phê bình
Nguyên tắc này là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh, thông qua nguyêntắc này để giúp nhau cùng tiến bộ, tăng cường sự đoàn kết, Người nhắc nhở mỗi cán bộ đảng viên,hàng ngày phải kiểm điểm, tự phê bình sửa chữa như soi gương, rữa mặt hàng ngày Được như vậy thìtrong cơ thể Đảng sẽ không có bệnh mà mạnh khỏe vô cùng Mục đích của nguyên tắc tự phê bình vàphê bình là chỉ ra khuyết điểm, sữa chữa khuyết điểm để cùng nhau tiến bộ Cho nên, khi phê bìnhđồng chí mình, thì trước hết phải tự nhận lấy khuyết điểm của mình trước HCM cũng đặc biệt lưu ý,khi phê bình không được thêm, không được bớt, không phải bới lông để tìm vết, để nhằm mục đích nóixấu, hay hạ bệ đồng chí mình Để cho tự phê bình và phê bình có hiệu quả, HCM yêu cầu, khi phê bình
phải hợp với hoàn cảnh, phải có nghệ thuật và đặc biệt là phải có văn hóa Phê bình phải trên tinh thần
tình đồng chí, thương yêu đùm bọc lẫn nhau
Trang 10Thứ tư, là nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác
Đây là sức mạnh to lớn của Đảng Kỷ luật phải do lòng tự giác của mỗi đảng viên về nhiệm vụcủa họ đối với Đảng Việc đề cao kỷ luật Đảng đối với mỗi cán bộ đảng viên từ trên xuống dưới là điềukiện tăng thêm uy tín và sức mạnh của Đảng HCM mỗi đảng viên phải phục tùng kỷ luật Đảng vô điềukiện, tất cả các đảng viên đều bình đẳng trước Điều lệ Đảng Chấp hành kỷ luật Đảng, là tất cả mọiđảng viên đều nói và làm đúng theo Nghị quyết của Đảng
Thứ năm, là nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng
Đoàn kết theo HCM là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân tộc ta Người căndặn các đồng chí đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắtmình Để thực hiện đoàn kết, Người yêu cầu phải thực hiện dân chủ nội bộ, thường xuyên thực hiện tựphê bình và phê bình thằng thắn nghiêm túc Đối với HCM, là cán bộ đảng viên, chúng ta không chỉ cónhiệm vụ đoàn kết trong Đảng mà còn phải đoàn kết rộng rãi trong xã hội và đặc biệt là phải có nhiệm
vụ thực hiện đoàn kết giữa các đảng anh em trên thế giới, nối lại sự đoàn kết giữa ĐCS Trung Quốc vàĐCS Liên xô, trên tinh thần phê bình có tình có lý được xác lập trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin
Ý nghĩa của các nguyên tắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay :
- Định hướng cho công tác tổ chức, sinh hoạt Đảng, đảm bảo cho Đảng ta thật sự là một Đảngcầm quyền trong sạch,vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng trong giai đoan mới
- Xác định rõ các vấn đề trong tổ chức, sinh hoạt Đảng : Mở rộng dân chủ gắn liền với tăngcường kỷ cương, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, tăng cường trách nhiệm của
cá nhân Đảng viên trong giai đoạn mới
Trang 11Nội dung 5: Vai trò của đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam
a) Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.
- Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc có những nét rất đặc sắc vì đây không chỉ là tư tưởng thuần tuý
mà tư tưởng đó đã được hoá thân vào cương lĩnh, đường lối, chiến lược nên có thể gọi là chiến lược đại đoànkết Vì đây là vấn đề có tinh xuyên suốt qua các giai đoạn cách mạng, lâu dài, sống còn, vì nó có tinh nguyêntắc, có hệ quan điểm, hệ giải pháp được đưa vào cuộc sống và thể hiện hết sức sinh động
- Đại đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sứcmạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh để chiến thắng kẻ thù Với ý nghĩa đó, HCM đã rút ra một
kết luận có tính chân lý, đó là: “Đoàn kết làm ra sức mạnh, Đoàn kết làm ra sức mạnh của chúng ta Đoàn kết
là then chốt của thành công Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết; thành công thành công đại thành công Đoàn kết
là điểm mẹ, điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt” Đoàn kết của chúng ta được thể hiện rất rõ
là: Toàn dân chỉ có một lòng: quyết không làm nô lệ; quyết không chịu mất nước và cũng chỉ có một mục đích:quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành mộtbức tường đồng xung quanh Tổ quốc Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào khi đụng đầu vào bức tường
đó, chúng đều bị thất bại Nhờ có sự đồng tâm hiệp lực mà với gậy tầm vong và súng hỏa mai lúc đầu, chúng ta
đã liên tiếp thắng địch Nhờ sự đoàn kết mà lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộcxâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lạiquyền dân chủ thực sự cho nhân dân
b) Đoàn kết dân tộc là mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc
Tư tưởng này, được HCM thể hiện rất rõ trong thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp (1923) Mở đầu
Người viết: “Chúng ta phải làm gì? Đối với tôi, câu trả lời rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh
họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập” Tư tưởng đại đoàn kết
của HCM hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể, đã trở thành chiến lược đoàn kết củaĐảng ta Sớm nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, năm 1925, Người đã thành lập VN Thanh niên CMđồng chí hội Đây là tổ chức hạt nhân để sau khi về nước họ quy tụ toàn dân VN cùng tiến tới đồng tình, đồngsức, đồng lòng, đồng minh nhằm cứu nước nhà
Người căn dặn cán bộ rằng, chuẩn bị đấu tranh trước hết phải tuyên truyền mạnh mẽ để lôi cuốn đa số
quần chúng tham gia Chính vì vậy mà Người nói, nhiệm vụ huấn luyện của ta là, thứ nhất, là đoàn kết; thứ hai
là làm cách mạng kháng chiến để giành độc lập… và điều đó được thể hiện rất rõ trong mục đích của Đảng ta
là: Đoàn kết toàn dân phụng sự Tổ quốc, khi giành được chính quyền, HCM chủ trương không ngừng tăngcường củng cố vững chắc hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội làm cho mục đích cuộc cách mạng của dân,
Trang 12do dân và vì dân ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực cho toàn dân, đồng thời ngày càng huy động được đôngđảo nhất dân chúng, không bỏ sót một ai vào khối đại đoàn kết toàn dân.
Nội dung 6: Xây dựng một Nhà nước thực sự do nhân dân lao động làm chủ
Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn đề cơ bản của chính quyền là
ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ quyền lợi cho ai Năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách Mệnh, HCM chỉ rõ:
“Chúng ta đã hy sinh làm kách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” Sau khi giành độc lập, Người khẳng định “nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Đó là điểm khác nhau giữa nhà nước ta với nhà nước bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử.
a) Nhà nước của dân
Đó là một Nhà nước thể hiện đầy đủ tư tưởng bao nhiêu quyền hạn đều của dân, nhân dân là chủ thể của
quyền lực nhà nước, nguồn gốc của quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân Điều 1 Hiến pháp nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà (1946) nói: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Điều 32, viết: Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết thực chất
đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ đề ra khá sớm ở nước ta
Theo HCM, trong nhà nước của dân, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, mà trước hết là quyềnbầu ra nhà nước, bầu ra chính quyền các cấp Nhà nước chỉ là tổ chức do dân lập ra để thực hiện quyền lực nhân
dân Chủ trương tổng tuyển cử của HCM thể hiện rõ tinh thần đó: “Tổng tuyển cử là một dịp để cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà; do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật là một chính phủ của toàn dân”.
Tư tưởng HCM về nhà nước của dân không chỉ bao hàm ý nghĩa nhà nước do dân tín nhiệm bầu ra, mà
còn là dân phải kiểm soát nhà nước Người đã từng nhắc nhở: “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát
và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ thật trung thành, tận tụy của nhân dân ta” Nhân
dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra khôngxứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân
Nhà nước của dân thì mọi người dân là chủ, người dân có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật khôngcấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ
để thực thi quyền làm chủ của người dân Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền của dân, chỉ làcông bộc của dân