Môn Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại bao gồm: Kiến thức về những tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn
Trang 1
- - - - - - - -
Á K Ế K ỆM
DẠY HỌC VĂN BẢN KỊCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 - THPT
Trang 2II Thực trạng dạy học kịch bản văn học trong nhà trường hiện nay 11
III Định hướng dạy học văn bản kịch trong chương trình ngữ văn 11 14
Trang 3Ặ Ấ Ề í do chọn đề tài
So với các bộ môn học khác được học trong nhà trường, văn học là bộ môn vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Văn chương vốn có khả năng nhanh nhạy nhất trong việc đi vào tâm hồn bạn đọc, lắng đọng, kết tinh trong tâm hồn họ, không chỉ giúp họ hiểu cuộc đời, hiểu con người mà còn mang đến cho họ những bài học quí báu, những triết lí nhân sinh thế sự để đời
Môn Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại bao gồm: Kiến thức về những tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một số tác phẩm, đoạn trích văn học nước ngoài, hình thành những tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành, ứng dụng Quan trọng nhất, văn học bỗi dưỡng tình yêu tiếng việt, văn hoá, yêu thương quê hương đất nước, tinh thần dân chủ nhân văn…Nhưng để đạt được những mục tiêu dạy học đó, đứng trước một tác phẩm văn chương nói chung, giáo viên thật khó định ra một cách dạy chung bởi mỗi bài, mỗi tác phẩm có những nét đặc thù riêng của loại thể Chính
vì vậy, nó càng đòi hỏi người thầy phải xác định được loại thể của từng tác phẩm, từ đó xác định cho mình một phương pháp, biện pháp dạy học phù hợp
Kịch là một trong những loại hình nghệ thuật biểu diễn được đưa vào giảng dạy, học tập ở nhà trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, song văn bản kịch chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn so với các thể loại văn bản văn học khác Tâm lý phổ biến của đ ời sống văn học nhà trường là ít quan tâm đến kịch bản văn học, dạy học chay, dạy học lý thuyết suông hoặc tiếp cận với kịch như với văn bản khác Kinh nghiệm thưởng thức kịch thường là hạn chế, tài liệu viết về kịch không nhiều khi thiết bị hỗ trợ cho tiết dạy còn thiếu thốn nên các giờ học kịch bản văn học chưa đạt tối ưu yêu cầu cần đạt Có khi học xong trích đoạn kịch, học sinh không phân biệt được sự khác nhau giữa kịch với một văn bản truyện Thực tế này sẽ làm mất đi yêu cầu khoa học thực tiễn trong dạy học, sẽ giảm đi niềm yêu thích, hứng thú của thầy trò, không đạt mục tiêu dạy học nói chung Như chúng ta đã biết, kịch được giảng dạy trong nhà trường không phải với tính chất là một loại hình nghệ thuật mà là trên phương diện văn học, nhưng kịch không đơn thuần giống như tự sự bởi nó là
m ộ t b ộ môn nghệ thuật, nó có mối quan hệ với sân khấu như hình với bóng Việc thưởng thức một tác phẩm thuộc thể loại kịch không giống với mọi tác phẩm văn học khác Do vậy, việc dạy học kịch bản văn học đã gặp không ít khó khăn so với các thể loại văn học khác Thực tế là việc dạy học kịch vẫn xem nhẹ đặc trưng nghệ thuật kịch mà nặng về khai thác phần
“xác” của kịch - phần văn bản, mới chỉ chú trọng khai thác nội dung mà
Trang 4chưa chú ý sự hoà kết giữa yếu tố văn học và sân khấu trong kịch Những thực trạng nêu trên đã khiến việc dạy học kịch chưa mang lại hiệu quả như mong muốn
Trong thời đại đổi mới dạy học, với sự trăn trở, tìm tòi các phương pháp dạy học mới, rất nhiều giáo viên đã mạnh dạn đề xuất những cách làm hay, những sáng kiến tốt để quá trình dạy học đạt mục tiêu cao nhất Và bản thân tôi nhận thấy cần xem xét việc dạy học kịch bản văn học một cách khoa học và tích cực, vừa đảm bảo yêu cầu về đặc trưng thể loại vừa khiến cho bài học tạo được hứng thú với học trò, bởi đa số các đoạn trích kịch được dạy học trong chương trình THPT đều rất giàu triết lí nhân sinh Vì
vậy, tôi chọn đề tài SKKN “Dạy học văn bản kịch trong Chương trình Ngữ
văn 11- THPT theo quan điểm tích cực”, mong muốn chia sẻ một vài kinh
nghiệm với bạn bè đồng nghiệp, cùng vượt qua thực tế dạy học kịch bản văn học hiện nay Và quan trọng nhất, qua đề tài này và qua việc đọc - hiểu đoạn trích kịch đúng với đặc trưng thể loại, phù hợp yêu cầu đổi mới dạy học bộ môn, người viết mong muốn các em học sinh có cái nhìn chân thật, cách sống đúng đắn, kiếm tìm những giá trị vững bền để hoàn thiện nhân cách, vươn tới chân - thiện -
mĩ
II ác dụng của đề tài:
Góp phần nâng cao chất lượng học tập, tạo hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn cho học sinh nói chung và học sinh trường THPT số 1 Văn Bàn nói riêng Giúp học sinh đạt yêu cầu Chuẩn kiến thức kĩ năng bài học một cách nhẹ nhàng thông qua những hình thức tích cực song vẫn đảm bảo quan điểm dạy học theo đặc trưng thể loại kịch
Góp phần giải quyết tình trạng lười học, chán học và tâm lí thờ ơ, xa lạ với môn học Ngữ văn của học sinh trong nhà trường hiện nay Từ đó tạo điều kiện cho giáo viên hứng khởi hơn trong những giờ dạy văn bản kịch
Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về phương pháp dạy học văn, kiến thức về tác giả, tác phẩm, bổ sung vào kiến thức bồi dưỡng chuyên môn giảng dạy, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dục học sinh
Chia sẻ, thể nghiệm những cách làm có tính chất phát hiện trong thực tiễn dạy học với bạn bè đồng nghiệp
Trang 5Kịch là một trong 3 phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình)
Kịch vừa thuộc sân khấu, vừa thuộc văn học Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch Song nói đến kịch là phải đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ, lời nói ( Riêng kịch câm thì không diễn tả bằng lời)
Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung đột muôn thuở mang tính nhân loại (như giữa thiện và ác, cao cả và thấp hèn, ước mơ và hiện thực ) Những xung đột ấy được thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của các nhân vật và theo những quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch Trong kịch thường chứa đựng nhiều kịch tính, tức là những sự căng thẳng do tình huống tạo ra đối với nhân vật
Phần lớn kịch được xây dựng trên hành động bên ngoài với những diễn biến của chúng và theo những nguyên tắc có sự đấu tranh chống lại của các nhân vật
Tuy nhiên, cũng có hành động bên trong, qua đó nhân vật chủ yếu là suy ngẫm và chịu đựng một tình huống xung đột bên trong hết sức căng thẳng
Trong kịch, những lời phát biều của các nhân vật (Trong đối thoại hoặc độc thoại) nói lên hành động, ý chí và sự tự khám phá tích cực của họ có một ý nghĩa quyết định Còn những lời trần thuật (Câu chuyện kể của nhân vật về những điều đã qua, sự thông báo của người dẫn truyện, những lời chỉ dẫn của tác giả trong kịch bản) chỉ đóng vai thứ yếu và nhiều khi không cần đến
* Về mặt kết cấu:
Vở kịch thường chia thành nhiều hồi, cảnh, nhằm tạo ra sự trùng khớp giữa thời gian, địa điểm và hành động kịch đồng thời làm cho cái được trình diễn mang màu sắc xác thực của đời sống Qua các thế kỷ khác nhau, mối quan hệ giữa ba yếu tố: Thời gian, địa điểm, hành động trong kết cấu của kịch không ngừng thay đổi tuỳ theo quan niệm của người sáng tạo và quy mô, tầm vóc của những sự kiện biến cố được phản ánh
Trang 6Trên cấp độ loại hình, kịch bao gồm nhiều thể loại: Bi kịch, hài kịch, chính kịch, cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau
* Ở cấp độ thể loại:
Là một khái niệm kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học-sân khấu có
vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này, kịch cũng gọi là chính kịch (hoặc kịch dram) Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng của con người bình thường nhưng mục đích chính không phải là cười nhạo, chế diễu các thói hư tật xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối với xã hội Và cũng giống với bi kịch, kịch chú trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt, song những xung đột của nó cũng không căng thẳng đến tột độ, không mang tính chất vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể giải quyết được ổn thoả Còn các tính cách của kịch thì không có gì đặc biệt, phi thường
Kịch hình thành như một thể loại vào nửa sau thế kỷ XVIII qua sáng tác của các nhà khai sáng ở Pháp và Đức như Đi-đơ-rô (1713-1784), Bô-méc–se (1732-1799), G.E Let xing (1729-1781) Nó hướng về những lợi ích tinh thần đạo đức, về lý tưởng của các lực lượng dân chủ tiến bộ đương thời Trong quá trình phát triển của kịch, tính kịch bên trong của nó ngày càng cô đọng, dồn nén hơn Nó cũng tiếp nhận những thủ pháp nghệ thuật, những phương tiện biểu đạt của các thể loại văn học sân khấu khác như bi hài kịch, kịch hề để tăng thêm sức hấp dẫn và tác động nghệ thuật của nó đối với công chúng
Ở Việt Nam kịch ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX với những sáng
tác như “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long, “Kim Tiền” của Vi Huyền Đắc Từ
sau Cách mạng tháng Tám, kịch ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn học - sân khấu và xã hội ở nước ta
1.2 ặc trưng của kịch
1.2.1 Xung đột kịch
Do tính chất loại biệt của sự phản ánh, kịch lấy xung đột làm nội dung phản ánh Nghệ thuật kịch bao giờ cũng phản ánh cuộc sống trong một quá trình nhất định, ở trạng thái khách quan, dưới dạng trực tiếp, cụ thể sinh động như đang diễn
ra trước mắt người xem Nó hoàn toàn khác hẳn với hội hoạ, điêu khắc, chỉ phản ánh cuộc sống tập trung trong một khoảnh khắc nhất định; nó cũng không giống với âm nhạc và thơ trữ tình lấy việc phản ánh tâm trạng, tình cảm của con người trước một sự kiện nào đó làm nội dung chủ yếu Chính tính chất đặc biệt ấy buộc nghệ thuật kịch phải chọn những chất liệu có tính chất động làm cơ sở cho nội dung kịch, nghĩa là nó phải phản ánh cuộc sống trong sự vận động của nó Mà đã nói tới vận động là không thể không nói tới xung đột
Trang 7Lấy xung đột trong đời sống làm cơ sở cho sự sáng tạo nghệ thuật, nhà viết kịch đến với hiện thực bằng con đường ngắn nhất Pha-đê-ép đã từng khẳng định:
“Xung đột là cơ sở của kịch” Thực tế trong sự vận động của hình tượng thơ cũng
có bộc lộ mâu thuẫn giữa những trạng thái tình cảm khác biệt của cảm xúc: Vui và buồn, hạnh phúc và đau khổ Trong các tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, yếu tố mâu thuẫn tồn tại ngay trong sự vận động của cốt truyện và trong sự phát triển của các tính cách nhân vật Với kịch, yếu tố xung đột mang một sắc thái thẩm mỹ khác Nhà viết kịch hiện đại Xô Viết Ác-bu-dốp đã cho rằng:
“Trong kịch không có những yếu tố tuỳ hứng mà người nghệ sĩ có quyền dùng khi điều khiển số phận những con người trong các tiểu thuyết và truyện ở đây có một khuôn khổ rất chặt chẽ, không có thì giờ để mạn đàm, giải thích, luận bàn” Sự khác biệt ấy chính là tính chất tập trung cao độ của sự xung đột kịch, sự chi phối trực tiếp đến cấu trúc tác phẩm, đến nhịp độ vận động dồn dập khác thường của cốt truyện
Xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch nhằm xác lập lên những quan hệ mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu của tác phẩm kịch Thiếu xung đột, tác phẩm kịch sẽ mất đi đặc trưng cơ bản đầu tiên của thể loại, sẽ là những “vở kịch tồi” Vì vậy người viết kịch phải tạo được những xung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, tính khái quát lớn lao nhưng phải hết sức chân thực, nghĩa là xung đột mang tính điển hình hoá
Thiếu ý nghĩa điển hình, tác phẩm kịch chỉ là sự mô phỏng những mâu thuẫn vụn vặt, tầm thường của đời sống Thiếu ý nghĩa chân thực, tác phẩm kịch chỉ là sự giả tạo, là những dòng lý thuyết suông Công chúng tìm đến với kịch là tìm đến một sự đồng cảm hoặc phản bác đối với tác giả trước những vấn đề quan trọng của đời sống Nghệ thuật kịch luôn là diễn đàn tư tưởng của cuộc sống, là mối giao cảm sâu xa giữa tác giả và khán giả
Nói tới xung đột kịch ta cần chú ý đến vai trò tư tưởng của người viết Phản ánh những xung đột trong đời sống, người viết muốn gửi gắm một ý nghĩa tư tưởng nào đó tới khán giả, như Pô-gô-đin – nhà viết kịch Xô Viết nổi tiếng, khi ông nói
tới mối quan hệ giữa xung đột và tư tưởng: “Xung đột là điều kiện quan trọng đầu
tiên của tác phẩm, nó mang lại cho tác phẩm kịch sự sống và sự vận động Nhưng xung đột bao giờ cũng phụ thuộc vào một cái cao nhất và cũng là linh hồn của nó,
đó là tư tưởng chủ đề của của tác phẩm” Mối quan hệ giữa hai yếu tố này là mối
quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, nhưng tư tưởng chủ đề là cái gốc, có tính chất quyết định
1.2.2 Hành động kịch
Theo Arixtốt “Hành động là đặc trưng của kịch” Nếu xung đột được coi là
điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm, thì hành động lại là yếu tố duy trì sự vận
Trang 8hành của tác phẩm Trong mối giao lưu đó, xung đột là nơi quy tụ, chọn lọc và tổ chức hành động kịch Tính kịch của tác phẩm nằm trong xung đột nhưng xung đột lại là yếu tố để giải toả nằm trong xung đột ấy Hành động kịch thường phát triển theo hướng thuận chiều với xung đột kịch Xung đột càng căng thẳng thì thiên hướng hành động càng trở nên quyết liệt, vì thế sức hấp dẫn của tác phẩm tăng lên
Hành động kịch cần được hiểu trong tình huống thống nhất vẹn toàn của nó
Hành động kịch không phải là những hành động đơn lẻ, ngắt quãng mà là một chuỗi hành động liên tục xoay quanh trục xung đột Hành động kịch ở đây chính là cốt truyện kịch được tổ chức một cách thống nhất, chặt chẽ trong khuôn khổ của một chính thể nghệ thuật Các cốt truyện bằng hành động ấy xoáy vào trung tâm xung đột bằng sự liên kết theo một quy luật riêng: quy luật nhân quả Mọi hành động trong tác phẩm kịch dù trực tiếp hay gián tiếp đều dựa trên luật nhân quả
Hình thức nhân quả trực tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất là nguyên nhân sinh ra hành động thứ 2 và có thể cho đến hết
Hình thức nhân quả gián tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất có khi là nguyên nhân của hành động thứ tư hoặc thứ 5
Trong thực tế: Hình thức nhân quả trực tiếp thường được dùng trong các
kịch bản ca kịch dân tộc như tuồng, chèo, viết theo lối tự sự, có tuyến kịch rõ ràng
Còn hình thức nhân quả gián tiếp lại được dùng trong các kịch bản kịch nói, viết thành nhiều tuyến kịch, chồng chéo lên nhau, cùng song song phát triển
Mối quan hệ giữa hành động và nhân vật kịch là trục chính để xác định tính cách nhân vật Dù ở dạng nào, nhân vật kịch cũng khẳng định bản chất của mình bằng hành động: Một Ac-pa-gông keo kiệt (Môlie); Ô-ten-lô cuồng nhiệt cả tin nhưng không kém phần hung bạo, một Dex-mô-na trong trắng, ngây thơ, Iagô gian trá và hiểm độc, Hăm-lét đau đớn (Sếchx-pi-a) Bấy nhiêu tính cách là bấy nhiêu sự trăn trở, giằng xé dữ dội từ bên trong và những hành động quyết liệt ở bên ngoài
1.2.3 Ngôn ngữ kịch
Khi nói về các yếu tố của văn học Gooc-ki đã coi “ngôn ngữ là yếu tố đầu
tiên của văn học” Điều đó có nghĩa là không có ngôn ngữ sẽ không có văn học
Đối với nghệ thuật kịch, vai trò quan trọng đó của ngôn ngữ được nhiều tác giả kịch nổi tiếng trên thế giới công nhận A.N.Ốt-tơ-rốp-xki nhà sáng lập ra nền kịch Nga ở thế kỷ XIX đã coi ngôn ngữ là điều kiện đầu tiên của tính nghệ thuật Gooc-
ki trong bài “Bàn về kịch” đã khẳng định “Ngôn ngữ đối thoại có ý nghĩa to lớn và
thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tác kịch” So với các thể loại khác,
hệ thống ngôn ngữ kịch mang tính đặc thù rõ rệt
* Ngôn ngữ nhân vật: Đây là hình thái tồn tại duy nhất của ngôn ngữ kịch
So với hệ thống ngôn ngữ tự sự đây là điểm khác biệt rất rõ Ngôn ngữ tác giả, biểu
Trang 9hiện trong các lời chỉ dẫn về hoàn cảnh, về nhân vật chỉ có giá trị hướng dẫn người đọc, diễn viên, đạo diễn, hoạ sĩ trong khi đọc kịch bản, còn khi dựng trên sân khấu chúng sẽ biến mất và nhường chỗ cho tiếng nói của hoạ sĩ trong các cảnh trí, cho ngôn ngữ hành động của diễn viên Ngôn ngữ nhân vật bao gồm hai hình thức chủ yếu là đối thoại và độc thoại
* Ngôn ngữ đối thoại: Là sự đối đáp qua lại giữa các nhân vật ngôn ngữ đối thoại được coi là dấu hiệu đầu tiên của ngôn ngữ kịch Ngôn ngữ độc thoại là tiếng nói của nhân vật chỉ nói với chính mình Để nhân vật tự nói lên những uẩn khúc bên trong, các tác giả kịch nhằm khai thác chiều sâu tâm lý ở nhân vật Khi trình diễn trên sân khấu, người ta có thể thay đổi màu sắc, ánh sáng, sử dụng tiếng vọng, hoặc tái hiện những hình bóng đã lùi vào quá khứ Sân khấu hiện đại còn sử dụng
thủ pháp đồng hiện: Nhân vật tự phân thân để đối thoại cùng nhau như “Hồn
Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ Ngôn ngữ nhân vật kịch dù đối thoại
hay độc thoại trước hết đó là ngôn ngữ khắc hoạ tính cách Từ những “Lời ăn tiếng
nói” riêng của mình, nhân vật kịch “phải biểu hiện ở mức chính xác tối đa một cái
gì đó điển hình” (Gorki) Sự chính xác tối đa theo yêu cầu Gorki chính là ở chỗ:
Mỗi nhân vật với một nguồn gốc xuất thân, bản chất xã hội là một đặc điểm cá tính riêng phải có tiếng nói riêng thật phù hợp Đó là một đòi hỏi tất yếu, bởi vì bản chất của nhân vật kịch chỉ có thể được bộc lộ qua chính lời lẽ của chính họ mà thôi
Hệ thống ngôn ngữ có nhiệm vụ mô tả chân dung kịch bằng một loạt các thao tác hành động Tính hành động của nhân vật kịch không chỉ bộc lộ trong hình tượng sân khấu mà nó đã được hình thành ngay từ trong cấu tạo kịch bản văn học
Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch phải đảm bảo cho sự phát triển đầy kịch tính của cốt truyện và những phản ứng hành động theo kiểu dây chuyền của các nhân vật kịch
Tính hành động là đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ kịch, nên diễn viên kịch phải
xử lý thích hợp với hành động của nhân vật trên sân khấu
Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống
Ngôn ngữ kịch súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ Ngôn ngữ kịch vừa gần với tiếng nói hàng ngày lại vừa có tính chất văn học Trong kịch thơ và ca kịch dân tộc ngôn ngữ giàu tính ước lệ, cách điệu phù hợp với âm nhạc
Tóm lại, cái khó của một vở kịch là đòi hỏi mỗi nhân vật phải tự biểu hiện tính cách bằng lời nói và hành động Tài năng của một nhà viết kịch bộc lộ ngay trong khả năng vận dụng tối đa sức mạnh đặc biệt của ngôn ngữ hội thoại để cấu trúc tác phẩm và khắc hoạ hình tượng Ở Việt Nam, các tác giả: Nguyễn Huy Tưởng, Lộng Chương, Đào Hồng Cẩm, Lưu Quang Vũ đã thể hiện khá rõ cá tính sáng tạo của mình trong sáng tạo ngôn ngữ
Trang 101.3 Một số vở kịch được đưa vào chương trình ách giáo khoa gữ văn (theo chương trình chuẩn)
- Chương trình và sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 ( Không có)
- Chương trình và sách giáo khoa ngữ văn lớp 11:
+ Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng)
+ Tình yêu và thù hận (trích “Rômeo và Juliet” của Sếch- xpia)
- Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12: Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (trích - Lưu Quang Vũ)
2 Các văn bản kịch trong chương trình ngữ văn 2.1 ở kịch “ ũ hư ô” và đoạn trích trong K gữ văn
Trong các nhà văn Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng là tác giả có thiên hướng
rõ rệt về đề tài lịch sử Các tác phẩm của ông về đề tài này tái hiện những cột mốc lịch sử quan trọng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Vở bi
kịch Vũ Như Tô khai thác bối cảnh Thăng Long trong những năm quằn quại dưới
sự bạo tàn của Lê Tương Dực thông qua hình ảnh Cửu Trùng Đài “huy hoàng giữa cõi trần lao lực” và người nghệ sĩ “tranh tinh xảo với hóa công”: Vũ Như Tô
Thông qua vở kịch này, Nguyễn Huy Tưởng muốn đề cập đến người nghệ sĩ và bi kịch của họ, bi kịch cái đẹp bị lợi dụng Bi kịch ấy được tập trung cao nhất trong
hồi V – hồi kết của vở kịch: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài Xuyên xuốt vở kịch, Nguyễn
Huy Tưởng đã xây dựng Vũ Như Tô và Cửu Trùng Đài như một hiện thân của cái đẹp Người nghệ sĩ mong muốn tạo tác nên một tác phẩm nghệ thuật vĩnh cửu nhằm “ tô điểm cho đất nước, đem hết tài ra xây cho giống nòi một tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công” Đó là cái đẹp thuần khiết của nghệ thuật, nhằm phụng sự nhân dân, phụng sự đất nước, có giá trị tôn vinh người Việt Nhưng đáng tiếc, cái đẹp mà Vũ Như Tô mong muốn ấy đã bị lợi dụng và hoen ố bởi những dục vọng thấp hèn và toan tính chính trị của người đời Trong các hồi trước, chúng ta thấy cái đẹp đã lần lượt phải chịu những oan
khuất như bị tha hóa (Lê Tương Dực chỉ coi Cửu Trùng Đài là chốn ăn chơi hưởng
lạc chứ không phải là công trình nghệ thuật để lại cho muôn đời sau như mong
muốn của Vũ Như Tô), hiểu lầm (Nhân dân coi Cửu Trùng Đài là cội nguồn gây
nên đau khổ của họ chứ không phải là chính sách hà khắc của triều đình phong kiến
đương thời) và lợi dụng (Trịnh Duy Sản dùng Cửu Trùng Đài như công cụ thổi
bùng lên những uất ức trong lòng dân chúng, tạo nên một thời thế hỗn loạn để
thuận tiện cho âm mưu giết vua đoạt quyền của mình) Đến hồi kết Vĩnh biệt Cửu
Trùng Đài, khi tất cả những bức xúc, những mâu thuẫn không thể điều hòa được ấy
được dồn nén và bung ra một cách mạnh mẽ nhất, tất yếu cái đẹp phải gánh chịu số
phận nghiệt ngã đó là sự bức tử, sự diệt vong
Trang 11Chỉ là một đoạn trích, nhưng Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài có cấu trúc đủ như một vở kịch: Có thắt nút (mâu thuẫn), xung đột, cao trào và mở nút Với
cả vở kịch, đoạn trích này là phần cao trào rồi giải quyết mâu thuẫn lớn nhất của cả vở kịch: Xung đột giữa một bên là hôn quân Lê Tương Dực và đám bề tôi trung thành, một bên là quần chúng nhân dân đói khổ và phe phong kiến đối lập tập trung ở sự kiện xây dựng Cửu Trùng Đài và mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn xung đột giữa công dân và người nghệ sĩ trong tư tưởng nghệ thuật thông qua nhân vật chính Vũ Như Tô Cuộc đối thoại giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô
ở lớp I của hồi kịch cho thấy Vũ Như Tô là một nghệ sĩ chỉ quan tâm đến nghệ thuật mà không biết rằng tác phẩm nghệ thuật của mình gây ra bao lầm than, khổ cực cho dân chúng Mục đích nghệ thuật, niềm khao khát của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng đã đẩy Vũ Như Tô đến vị thế đối nghịch với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân Vì quá quan tâm đến nghệ thuật mà quên đi mối quan hệ của nghệ thuật với đời sống, không thể hiểu được điều Đan Thiềm nói Vũ Như Tô thà chết với Cửu Trùng Đài chứ không chịu chạy trốn Đây cũng chính là phần thắt nút của đoạn kịch
Cao trào của hồi kịch tập trung ở ba lớp cuối cùng Đó là cuộc đối đầu giữa Vũ Như Tô và những người nổi dậy Không khí, nhịp điệu của sự việc được diễn
tả theo mức độ ngày càng dồn dập thể hiện tính chất gay gắt của mâu thuẫn
và đẩy dần xung đột kịch lên đến cao trào Đoạn đối thoại giữa Vũ Như Tô và Ngô Hạch cùng đám quân sĩ thể hiện cao trào của mâu thuẫn Giữa họ không có tiếng nói chung Xung đột được giải quyết bằng sự ra đi vĩnh viễn của Cửu Trùng Đài và Vũ Như Tô Sự ra đi này nói lên rằng khi nghệ thuật mâu thuẫn với cuộc sống, nghệ thuật khó có thể tồn tại
2.2 ở kịch “Romeo và Juliet” và đoạn trích trong K gữ văn
Romeo và Juliet được coi là vở bi kịch nổi tiếng đầu tiên của Shakepeare
được viết trong khoảng những năm 1594 - 1595 gồm 5 hồi bằng thơ xem lẫn văn xuôi Nội dung vở kịch xoay quanh câu chuyện tình yêu mãnh liệt của Romeo và Juliet, tình yêu trên nền thù hận và vượt lên trên thù hận như là biểu tượng của tình yêu bất diệt Theo dõi diễn biến của vở kịch chúng ta có thể khẳng định xung đột
trọng tâm chi phối sự vận động và phát triển của các yếu tố khác trong Romeo và
Juliet chính là xung đột giữa tình yêu trong sáng, mãnh liệt giữa đôi trai tài gái sắc
này và mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ Đây không đơn giản là sự xung đột
bó hẹp của một gia đình, một dòng họ mà nó thực sự trở thành xung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Đặt vào bối cảnh thời Phục hưng khi cuộc đấu tranh giữa cái
cũ và cái mới đang diễn ra khá khốc liệt thì việc xây dựng nên một xung đột kịch như vậy có ý nghĩa rất lớn Xung đột giữa tình yêu và thù hận đã thực sự đặt ra vấn đề lớn hơn đó là sự xung đột giữa lí tưởng nhân văn cao cả với những trở lực đen tối của xã hội Và có lẽ chính ý nghĩa xã hội sâu sắc này đã làm nên sức sống cho vở
Trang 12kịch, ghi danh Romeo và Juliet vào danh sách những vở kịch thành công nhất của
Shakespeare và của kho tàng kịch thế giới
Romeo và Juliet mặc dầu có kết thúc bi thảm nhưng vẫn được coi là vở bi
kịch có âm hưởng của niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa nhân đạo Lần đầu tiên trong văn học nhân loại xuất hiện một tình yêu mộc mạc chân thành, cháy bỏng và quyết liệt của tuổi trẻ Hình ảnh Romeo và Juliet đã sẵn sàng vượt qua rào cản thù hận của hai gia đình, sẵn sàng hi sinh để giữ trọn lời thề thủy chung là một biểu tượng đẹp, một thành tựu tuyệt vời của văn hóa Phục hưng
Romeo và Juliet đã khai thác đề tài tình yêu - đề tài muôn thủa của nhân loại,
xây dựng lên biểu tượng sức mạnh của tình yêu, lòng thủy chung Nhưng không chỉ
có vậy, tác phẩm còn ghi lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhiều thế hệ bởi tác phẩm
đã xây dựng rất thành công hình tượng người phụ nữ Những phụ nữ Hi Lạp và La
Mã thường là người phụ nữ chịu đựng, người phụ nữ đón nhận tình yêu như là một định mệnh Người phụ nữ trong thời Phục hưng Ý tuy tràn đầy chất men của sự sống nhưng cơ bản vẫn mang tính lý tưởng hóa sâu sắc, chưa thoát khỏi ánh hào quang của Gia tô giáoVà sau Juliet chúng ta có nàng Simen, Juninhưng họ vẫn là người phụ
nữ dè dặt, không dám bước qua thành kiến xã hội, không dám tự chịu trách nhiệm
về những hành động của mình Ở Juliet chúng ta cảm nhận được người phụ nữ với một tình yêu trong sáng, thủy chung, mãnh liệtvà quan trọng hơn đó là người phụ nữ sinh ra để làm chủ cuộc đời mình, người phụ nữ dám đấu tranh, người phụ nữ của những hành động và lựa chọn sáng suốt và không hề có một phút ân hận về quyết định của mình
Đoạn trích "Tình yêu và thù hận" chỉ là cảnh đầu tiên của hồi II trong vở
Romeo và Juliet với 16 lời thoại, 74 câu thơ Romeo quay lại, trèo tường vào vườn
nhà Capiulet vừa lúc Juliet xuất hiện trên cửa sổ rồi hai người bày tỏ tình cảm với nhau Theo thống kê nhân vật Romeo có 8 lời thoại, nhân vật Juliet có 8 lời thoại
Dựa vào văn bản tác phẩm chúng ta có thể thấy Romeo và Juliet không đối thoại với nhau ngay từ đầu, mà chỉ thực sự nói chuyện với nhau từ lời thoại thứ 7
Sáu lời thoại đầu tiên thực chất là những lời độc thoại nội tâm được thốt lên thành tiếng, nói khe khẽ, nói một mình, nói để cho mình nghe Từ lời thoại thứ 7 trở đi ngôn ngữ chuyển sang đối thoại
Căn cứ vào những chỉ dẫn (các chữ in nghiêng), chúng ta có thể hình dung được không gian, thời gian diễn ra hành động của hai nhân vật Đó là một đêm khuya, trăng sáng khi dạ hội vừa kết thúc, nàng Juliet đứng trên ban công nhà, chàng Romeo núp dưới lùm cây dưới ban công trong vườn nhà Capiulet
Về xung đột kịch, trong đoạn trích này không xuất hiện xung đột giữa tình yêu của đôi nam nữ với mối thù hận lâu đời của hai dòng họ Hằn thù của hai dòng
Trang 13họ chỉ có tính chất phông nền để thể hiện tình yêu sâu sắc, mạnh mẽ của Romeo và Juliet
II hực trạng của vấn đề: hực trạng dạy học kịch bản văn học trong nhà trường hiện nay
Việc đưa những tác phẩm kịch vào chương trình chủ yếu nhằm tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với đủ các loại hình văn học (tự sự, trữ tình, kịch) và một số thể kịch quen thuộc: Dân gian, cổ điển, hiện đại Bên cạnh đó cũng cần có sự phân biệt: kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp (Văn học, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, nhảy múa ) trong khi đó văn học là loại hình nghệ thuật ngôn từ
Xem biểu diễn kịch trên sân khấu không giống với việc đọc một bài văn, một bài thơ Tuy nhiên kịch được dạy học trong nhà trường là kịch bản văn học có bảng phân vai, hướng dẫn nội dung về cách thức diễn vở kịch Thuận lợi của học sinh THPT là ở cấp Trung học cơ sở các em đã được tiếp cận, được giới thiệu một số đoạn trích kịch tiêu biểu: Ở lớp 7 là thể loại chèo của sân khấu dân gian Việt Nam:
Trích “Nỗi oan hại chồng”, chèo “Quan âm Thị Kính”; Ở lớp 8 trích: “Ông Giuốc
đanh mặc lễ phục”- trong vở hài kịch của Môlie “Trưởng giả học làm sang”; Ở lớp
9 là 2 đoạn trích của hai vở kịch nói hiện đại “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng,
“Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ
Song khó khăn, thiếu sót trong dạy học kịch vẫn còn đó, nên việc dạy học kịch vẫn chưa thật sự hiệu quả Nguyên nhân là do thời lượng dành cho kịch bản văn học khiêm tốn, chúng ta chỉ có: Trích đoạn Tình yêu và thù hận (Rô-me-ô và Giu-li-ét – tác giả Sếch-xpia); Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (Trích “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng), chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn 12 đưa thêm đoạn
trích kịch từ một vở kịch nổi tiếng của thập niên tám mươi, đó là “Hồn Trương Ba,
da hàng thịt” của Lưu quang Vũ Văn bản kịch không xa lạ nhưng khó tìm hiểu với
trò, khó khơi gợi yêu thích nếu chỉ tìm hiểu kịch trên trang sách Cơ sở thiết bị cho dạy học chưa phong phú Tài liệu tham khảo về kịch không phổ biến, dễ kiếm như các thể loại văn học khác Kinh nghiệm thưởng thức kịch hạn chế, kĩ năng giảng dạy chưa nhiều Bên cạnh đó, ý thức học tập và sự yêu thích kịch chưa trở thành niềm đam mê trong học sinh, các em còn quá ít hoặc chưa từng được trực tiếp xem biểu diễn kịch trên sân khấu
Trong thực tế giảng dạy, giáo viên và học sinh chưa yêu thích các giờ dạy học kịch bản văn học Đây là tâm lý ảnh hưởng lớn tới bài giảng và sự tiếp nhận của chính giáo viên Một số giáo viên tuỳ hứng giảng dạy kịch mà quên mất các lời thoại nhân vật, dẫn tới dạy học thoát ly kiến thức của hành động kịch Hầu như hoạt động liên môn để mở rộng kiến thức, đào sâu hiểu biết của học sinh với loại hình nghệ thuật tổng hợp này không có Ở một vài giờ dạy, việc bám sát đặc trưng thể loại chưa rõ, giáo viên còn tham kiến thức, sa đà vào diễn
Trang 14giải mà quên mất đặc trưng diễn của kịch Hoặc một thực trạng nữa là giáo viên dạy kịch như dạy văn bản tự sự, dạy chay, học kịch bản văn học nhưng học sinh không được xem kịch Học sinh không được khơi gợi để tưởng tượng hoạt cảnh nhân vật kịch gắn với ngôn ngữ và hành động trong xung đột cụ thể Đặc biệt với trích đoạn kịch Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, học sinh không dễ gì hiểu được những triết lí nhân sinh - nghệ thuật mà tác giả gửi gắm Khi hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản, giáo viên chưa đặt kịch trong mối tương quan với các tác phẩm cùng giai đoạn để thấy được chiều sâu của tác phẩm Một hạn chế lớn nữa trong dạy học kịch bản văn học ở nhà trường phổ thông hiện nay là các giáo viên đều nặng
về truyền thụ nội dung văn bản đặc biệt là khi học văn bản kịch nước ngoài
III ịnh hướng dạy học văn bản kịch trong chương trình ngữ văn - THPT
ướng dẫn chuẩn bị bài ở nhà:
Đây là công việc hết sức quan trọng, đặc biệt trong dạy học kịch bản văn học Có nhiều hình thức yêu cầu học sinh chuẩn bị Các yêu cầu này nên cụ thể hoá thành các câu hỏi mệnh lệnh, giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng Câu hỏi giáo viên đưa
ra có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với mọi đối tượng học sinh, kích thích ham muốn tìm hiểu và học tập của các em Để có một giờ học sôi nổi, thành công, người thầy cần nắm chắc đặc trưng thể loại, mục tiêu bài học để chuẩn bị được một hệ thống câu hỏi khoa học
huẩn bị của giáo viên:
- Giáo viên chia lớp làm 4 tổ, chuẩn bị tập kịch trước một tuần
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chọn lớp kịch để diễn (Với đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, 4 tổ nên lần lượt diễn các lớp 1,7,8,9)
- Giáo viên giới thiệu tài liệu tham khảo, băng đĩa cho học sinh, địa chỉ trên mạng để tìm tư liệu,…
- Giáo viên phân công một học sinh trong vai trò MC đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn
- Giáo viên hướng dẫn học sinh diễn kịch: Phải làm nổi bật đặc điểm, tính cách của nhân vật, xung đột và hành động kịch qua lời thoại của từng nhân vật
Chú ý tới giọng điệu, cử chỉ, nét mặt, điệu,bộ, từ ngữ, kiểu câu của mỗi nhân vật
Từ đó làm rõ chủ đề tư tưởng, ý nghĩa xã hội của đoạn trích, tác phẩm
- Học sinh diễn thử cho giáo viên xem trước, giáo viên nhận xét, góp ý, sửa chữa
- Giáo viên phải chú ý thời gian biểu diễn của học sinh
Trang 151.2 huẩn bị của học sinh:
- Học sinh nhận câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà từ giáo viên (tìm hiểu và soạn trước ở nhà)
- Tập diễn kịch theo tổ
- Diễn thử cho giáo viên xem trước, lắng nghe góp ý
- Chỉnh sửa theo yêu cầu của giáo viên để tốt hơn
2 ác hoạt động trên lớp:
2 Khởi động hấp dẫn
Đây là hoạt động khởi đầu của một tiết học Nhưng đôi khi người dạy thường xem nhẹ hoặc bỏ qua nó Có những thầy cô đơn giản hóa lời giới thiệu bài với hình thức nhắc lại bài cũ đã học gì, bài mới sẽ học gì, chính điệu đó phần nào làm giảm đi hứng thú học văn của học sinh Đây là “khúc dạo đầu” của bài giảng nhằm tạo tâm thế cho giờ dạy, tạo hứng thú cho học sinh, thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới Đưa ra mục tiêu của bài học cho học sinh Giáo viên có thể tiến hành hoạt động này bằng nhiều cách khác nhau như kể một câu chuyện, trình bày sinh động một trích đoạn của bài học mới, đưa một thông tin hấp dẫn, một số tranh ảnh, giáo cụ trực quan, đặt một số câu hỏi có tình huống cần giải quyết dựa trên vốn kinh nghiệm của học sinh, có liên quan đến phần nội dung nào
đó của bài học mới nhằm thu hút sự quan tâm của học sinh với bài học
- Giáo viên dẫn dắt học sinh vào bài
- Gọi học sinh trình bày hiểu biết của mình về cuộc đời và tác phẩm của tác giả, cho biết hoàn cảnh và mục đích sáng tác vở kịch, xác định vị trí và tóm tắt đoạn trích kịch
- Giáo viên tổ chức cho học sinh diễn kịch: một học sinh trong vai trò
MC đồng thời là người dẫn chuyện, dẫn dắt để đi vào vở diễn
- Những học sinh ở 4 tổ được phân công diễn kịch, diễn lần lượt theo trình
tự từng lớp kịch (10 phút) Khi diễn, chú ý thể hiện tính cách nhân vật, xung đột, hành động kịch
2.2 ọc phần văn bản kịch
Chúng ta đều biết tầm quan trọng của việc đọc văn bản trong giờ dạy học tác phẩm văn chương Việc đọc văn bản kịch khác với đọc văn bản trữ tình hoặc tự sự, nghị luận Trong khâu chuẩn bị bài, giáo viên cần yêu cầu học sinh đọc trước một vài lần, tìm kịch bản trên mạng để xem và so sánh lời thoại nhân vật để diễn đạt cho đúng Sau khi đọc phần văn bản, học sinh có thể tập diễn lại Trong giờ dạy học, có hai hình thức có thể vận dụng là đọc phân vai và chuyển thể thành kịch Dù sử dụng
Trang 16hình thức nào, phải đảm bảo đọc đúng giọng điệu, thể hiện đúng tâm trạng, xung đột của nhân vật qua lời thoại, có người dẫn dắt kịch bên cạnh các lời thoại Nên cho học sinh hình dung bối cảnh sân khấu, khung cảnh cụ thể của các lời thoại bên cạnh việc đọc
2.3 oạt động cắt nghĩa (lí giải sự phản ánh của văn bản)
Hoạt động phân tích và hoạt động cắt nghĩa trong cơ chế tiếp nhận tác phẩm văn chương luôn là những hoạt động hỗ trợ, bổ sung cho nhau và nhiều khi gắn kết không thể tách rời trong sự tiếp nhận Hoạt động cắt nghĩa đem lại nhận thức đúng đắn, có cơ sở cho những hiện tượng văn học có giá trị, quá trình cắt nghĩa góp phần thực hiện và điều chỉnh việc lĩnh hội trong dạy học và phân tích văn chương Nếu phân tích chỉ dừng lại ở việc vận dụng kiến thức
về đối tượng phân tích để khám phá thì "cắt nghĩa" đòi hỏi phải có một trình
độ năng lực vận dụng kiến thức văn học rộng hơn để giải thích về đối tượng
Qua hoạt động cắt nghĩa, giúp học sinh từng bước giải thích ý nghĩa của từng chữ, từng từ, từng câu và liên kết chúng lại để tìm ra được ý nghĩa khái quát của tác phẩm Trong quá trình đó, người tiếp nhận phải huy động kinh nghiệm thẩm mĩ, tư tưởng, khả năng liên tưởng, tưởng tượng, so sánh để hiểu
và hình dung ra những vấn đề tác giả nêu ra và gửi gắm trong tác phẩm Dạy học đoạn trích này, giáo viên cùng phối hợp với học sinh cắt nghĩa: Tiêu đề tác phẩm, cấu trúc đoạn trích, sơ đồ nhân vật, tư tưởng chủ đề, các hình tượng, chi tiết nghệ thuật tiêu biểu Giáo viên có thể đặt các câu hỏi sau khi cho đọc văn bản kịch
2.4 iếp nhận văn bản bằng hệ thống câu hỏi:
Đây là nhiệm vụ học tập được nêu ra trong giờ học, vừa giúp học sinh nắm vững kiến thức kỹ năng, vừa góp phần phát huy trí lực, năng lực đọc, nghe, viết, nói, liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh Trong SGK Ngữ văn đã không hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản Tuy nhiên khi tiến hành giờ dạy căn cứ vào từng đối tượng học sinh, đặc trưng thể loại, mục đích yêu cầu giờ dạy để xây dựng hệ thống câu hỏi cho phù hợp
Hệ thống câu hỏi đó cần kết nối được phần tự học, chuẩn bị bài ở nhà với bài học trên lớp Học sinh được tiếp tục mạch suy nghĩ, làm sáng tỏ thêm những gì các
em đã hiểu đã nhận thức, đã thực hành, ứng dụng và đặc biệt điều chỉnh được những gì các em hiểu, làm chưa đúng, chưa trúng
Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng có màu sắc văn học, có khả năng khêu gợi tình cảm, xúc động thẩm mĩ cho học sinh Câu hỏi phải vừa sức với học sinh, có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
2.4.1 Câu hỏi phát hiện: