1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH điều KIỆN RA đời, đặc TRƯNG và NHỮNG ưu THẾ của sản XUẤT HÀNG hóa LIÊN hệ với THỰC TIỄN nền KINH tế VIỆT NAM

16 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 85,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng là nhân tố dẫn đến đến sự thay đổi hình thái kinh tế, từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa, và phát triển nhất chính

Trang 1

KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

-o0o -TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, ĐẶC TRƯNG VÀ NHỮNG

ƯU THẾ CỦA SẢN XUẤT HÀNG HÓA LIÊN HỆ VỚI THỰC

TIỄN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Hoàng Minh Ánh

Số thứ tự : 08

Giáo viên hướng dẫn : TS Vũ Thị Quế Anh

Hà Nội, 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

-o0o -TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, ĐẶC TRƯNG VÀ NHỮNG

ƯU THẾ CỦA SẢN XUẤT HÀNG HÓA LIÊN HỆ VỚI THỰC

TIỄN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Hoàng Minh Ánh

Số thứ tự : 08

Giáo viên hướng dẫn : TS Vũ Thị Quế Anh

Hà Nội, 2022

Trang 3

I MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và khách thể 2

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 2

II NỘI DUNG 3

1 Cơ sở lý luận của tiểu luận 3

1.1 Sản xuất hàng hóa 3

1.1.1 Khái niệm: 3

1.2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa 4

1.3 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá so với sản xuất tự cấp tự túc 4

2 Nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam 5

2.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế trước đổi mới 5

2.1.1 Về bối cảnh quốc tế 5

2.1.2 Về bối cảnh trong nước 6

3 Giải pháp cho nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay 7

3.1 Xu hướng vận động của thị trường nước ta 7

3.2 Giải pháp cho nền kinh tế 8

III KẾT LUẬN 12

IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 4

I MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người (hình thái công xã nguyên thủy), mọi hoạt động sản xuất xã hội đều mang tính tự cung tự cấp Nhu cầu của con người thời

đó bị gói gọn trong một giới hạn nhất định, do sự hạn chế của lực lượng sản xuất Chỉ đến khi lực lượng sản xuất dần phát triển và đạt được những thành tựu nhất định, nhu cầu của con người mới được đáp ứng ngày càng nhiều hơn Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng là nhân tố dẫn đến đến sự thay đổi hình thái kinh tế, từ nền kinh tế

tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa, và phát triển nhất chính là nền kinh tế thị trường. 

Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về hàng hóa của con người được đáp ứng tối đa, với số lượng hàng hóa khổng lồ Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường vẫn luôn tồn tại những hạn chế nhất định, đặc biệt là trong xã hội tư bản chủ nghĩa Tư bản chủ

nghĩa xem lợi nhuận là yếu tố quan trọng hàng đầu, dẫn đến quyền bình đẳng trong xã hội bị xem nhẹ, tạo ra sự phân hóa xã hội sâu sắc Điều này đã được Mác-Ăngghen phân tích trong quá trình nghiên cứu về các hình thái kinh tế xã hội: “Tư bản chủ nghĩa chắc chắn sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội hoàn thiện hơn, Đó là nơi mà con người

có quyền tự do, văn minh, xã hội công bằng, nền kinh tế phát triển bền vững – chế độ

xã hội chủ nghĩa. 

Từ sau khi đất nước được giải phóng hoàn toàn, Đảng ta đã xác định đưa đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa Việc thành lập Đại hội Đảng lần thứ VI được xem là

bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên Chủ nghĩa xã hội của nước ta Theo đó, việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa

dưới sự quản lý của nhà nước là chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 

Đến nay, sau hơn 30 năm thực thực hiện đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn

chế nhất định Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài tiểu luận: “Phân tích điều kiện ra

đời, đặc trưng và những ưu thế của sản xuất hàng hóa Liên hệ với thực tiễn nền kinh

tế Việt Nam” để nghiên cứu trong học phần kinh tế chính trị Mác-Lênin của mình.

Trang 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, “Nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam” đã trở thành một đề tài không còn mới, tuy nhiên vẫn thu hút được nhiều người khai thác, tìm hiểu, nghiên cứu và trình bày Ta có thể dễ dàng tìm thấy trên các trang mạng xã hội cũng như trong một

số sách, báo, tài liệu, luận án Các bài viết đã làm rõ được vấn đề sản xuất và quá

trình lưu thông hàng hóa cũng như ảnh hưởng của quá trình sản xuất hàng hóa tới sự phát triển của kinh tế Việt Nam Đánh giá các thuận lợi cũng như khó khăn thông qua các số liệu cụ thể được thống kê trong thực tế Bước đầu xây dựng các phương hướng

và biện pháp để giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong sản xuất hàng hóa Tuy nhiên thực trạng trong nước cho thấy tác động vẫn chưa triệt để, từ đó đặt ra yêu cầu phân tích kỹ hơn nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể và thiết thực hơn

3 Đối tượng và khách thể

- Đối tượng: Nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam.      

Giải pháp cho nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay.  

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống lại quan điểm của Triết học Mác-Lênin về sản xuất hàng hóa và kinh

tế thị trường, tìm ra những điểm chung và riêng của sản xuất hàng hóa Việt Nam so với thế giới Nêu ra những ưu thế và hạn chế của sản xuất hàng hóa, đề ra giải pháp giải quyết Từ đó phân tích và vận dụng chúng vào đặc điểm hoàn cảnh cụ thể, vào công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

5 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận của tiểu luận

Chương 2: Nền sản xuất hàng hóa của Việt Nam

Chương 3: Giải pháp cho nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam

Trang 6

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận của tiểu luận.

1.1 Sản xuất hàng hóa 

1.1.1 Khái niệm:

Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm không nhằm phục vụ mục đích nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán. 

Trong khái niệm này, ta có hai nội dung cần phải làm rõ: 

Thứ nhất, nếu nói rằng sản xuất hàng hóa là một kiểu tổ chức hoạt động kinh tế Vậy có những kiểu tổ chức hoạt động kinh tế nào? Và kiểu tổ chức hoạt động sản xuất hàng hóa này nó khác gì so với những kiểu tổ chức hoạt động kinh tế còn lại? 

Trên thực tế, lịch sử loài người đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức hoạt động kinh tế

cơ bản Đầu tiên là sản xuất tự cấp tự túc, thứ hai là chính là sản xuất hàng hóa Ngoài

ra, đã từng xuất hiện mầm mống của một kiểu tổ chức kinh tế thứ ba, đó là kiểu tổ chức kinh tế kế hoạch hóa tập trung Nó xuất hiện ở Liên Xô, Đông Âu, Việt Nam và một số quốc gia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Nhưng do lực lượng sản xuất chưa đạt tới trình độ thích ứng với kiểu tổ chức kinh tế này, cho nên vừa mới xuất hiện được một thời gian ngắn thì đã không tồn tại được Các quốc gia này lại phải chuyển

về sử dụng kiểu tổ chức kinh tế sản xuất hàng hóa để tiếp tục phát triển lực lượng sản xuất của mình. 

Vậy hai kiểu tổ chức kinh tế là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa có gì khác nhau? Trong sản xuất tự cấp tự túc mỗi người sản xuất tồn tại độc lập với nhau

Họ tự sản xuất, tự tiêu dùng Muốn có sản phẩm gì để thỏa mãn những nhu cầu của cuộc sống họ phải tìm cách tự mình tạo ra nó và tự sử dụng nó để thỏa mãn những nhu cầu này Ví dụ muốn có lương thực thì họ phải tìm cách hái lượm, gieo trồng Muốn có thực phẩm phải tìm cách săn bắt, chăn nuôi Muốn có quần áo để mặc phải tìm cách trồng dâu, nuôi tằm, xe tơ, dệt vải, may quần áo Muốn có nhà ở, phải tìm những hang

đá, hốc cây, gây dựng nên những túp lều đơn giản Tất cả mọi việc đó là tự làm, tự sử dụng, không có quan hệ trao đổi với nhau Sang kiểu tổ chức kinh tế sản xuất hàng hóa, giữa những người sản xuất không biệt lập, không độc lập nữa mà họ xuất hiện quan hệ mua bán trao đổi sản phẩm trên thị trường Đây chính là ý thứ hai mà khái niệm chỉ ra, sản xuất ra sản phẩm để đưa ra trao đổi mua bán trên thị trường. 

Trang 7

1.2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa 

Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của xã hội loài người Nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển khi có các điều kiện: 

Một là, phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự phân chia

lao động trong xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau Khi

đó, mỗi người thực hiện sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của họ lại yêu cầu nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu của mình,

tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau. 

Hai là, sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất Sự tách biệt về mặt

kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người sản xuất độc lập với nhau,

có sự tách biệt về lợi ích Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa C.Mác viết: “Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ

thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa”(C.Mác và

Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1993, t 23, tr 72.) Sự tách biệt về

mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất hàng hóa ra đời

và phát triển

Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất hiện khách quan dựa trên sự tách biệt về sở hữu Xã hội loài người càng phát triển, sự tách biệt về

sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất ra càng phong phú Khi còn sự tồn tại của hai điều kiện nêu trên, con người không thể dùng ý chí chủ quan mà xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa được Việc cố tình xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa, sẽ làm cho xã hội đi tới chỗ khan hiếm và khủng hoảng Với ý nghĩa đó, cần khẳng định, nền sản xuất hàng hóa có ưu thể tích cực vượt trội so với nền sản xuất tự cấp, tự túc. 

1.3 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá so với sản xuất tự cấp tự túc.

        - Sản xuất tự cung, tự cấp là sản xuất khép kín nhằm thoả mãn nhu cầu của bản

thân người sản xuất Do vậy nhu cầu chỉ dừng lại ở mức độ hạn hẹp Trái lại sản xuất hàng hóa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của thị trường, nhu cầu thị trường là động lực kích thích sản xuất

Trang 8

      - Sản xuất tự cung, tự cấp cản trở sự phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất hàng hoá thì ngược lại nó thúc đẩy sự phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất tạo điều kiện để phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng (Xuất hiện nhiều ngành nghề mới như vệ sĩ, dịch vụ nhà ở, dịch vụ giao hàng…)

      - Sản xuất tự cung, tự cấp không có cạnh tranh, chủ yếu dựa vào nguồn lực tự nhiên còn sản xuất hàng hóa đặt trong môi trường cạnh tranh là động lực to lớn để thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, sử dụng các nguồn lực sản xuất, tiết kiệm và có hiệu quả nhất

      - Sản xuất tự cung, tự cấp khả năng thoả mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần thấp kém, còn đối với sản xuất hàng hoá với quan hệ hàng hoá tiền tệ, quan hệ trao đổi người sản xuất tiêu dùng làm cho giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong nước và quốc tế ngày càng phát triển

2 Nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam.

2.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế trước đổi mới

2.1.1 Về bối cảnh quốc tế

Từ những năm của thập kỷ 80 thế kỷ trước, thế giới chứng kiến những quá trình mới diễn ra đang làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế - chính trị và xã hội nhân loại Toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế nổi bật và tất yếu chi phối thời đại; không ngoại trừ một quốc gia, dân tộc nào, nếu muốn phát triển bắt buộc phải mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Cùng với toàn cầu hoá kinh tế, cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới lần thứ 3 diễn ra với nhịp độ ngày càng mạnh mẽ, mà cốt lõi là dựa trên việc ứng dụng các phát minh khoa học công nghệ, phát triển các ngành công nghệ cao, như công nghệ truyền thông và tin học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…

Tình hình này trước hết tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới Chẳng những các lực lượng sản xuất và cơ cấu kinh tế thế giới có nhiều thay đổi theo hướng dựa vào tri thức và khoa học công nghệ, làm xuất hiện các ngành sản xuất mới có hàm lượng R&D và giá trị gia tăng cao, ngành dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọng và tỷ trọng lớn dần trong cơ cấu kinh tế quốc dân

   Như vậy, có thể thấy làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp trên thế giới cùng với quá trình toàn cầu hoá, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã tạo áp lực

Trang 9

mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới về kinh tế ở Việt Nam Chuyển sang nền sản xuất hàng hóa là hệ quả tất yếu của chúng ta

2.1.2 Về bối cảnh trong nước 

  Sau khi đất nước giải phóng cho tới năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhất là tập trung cho công nghiệp hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Nhưng nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp vẫn tăng chậm, hơn nữa,

có xu hướng giảm sút và rơi vào khủng hoảng Nền sản xuất bao cấp đã tỏ ra không còn phù hợp và kìm hãm sự phát triển của kinh tế Trong khi nguồn viện trợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hoá vật tư, nguyên liệu và hàng hoá tiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vận của đế quốc Mỹ ngăn cản Việt Nam bình thường hóa quan hệ với thế giới

Mặt khác do đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc nên nó chỉ có tác dụng phát triển kinh tế theo chiều rộng Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất

  Nếu không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào

có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa muốn nói đến tích lũy vốn để mở rộng sản xuất Thực tế những năm cuối của thập kỷ tám mươi đã chỉ rõ thực hiện cơ chế kinh tế cũ cho dù chúng ta đã liên tục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhưng hiệu quả của nền sản xuất xã hội đạt mức rất thấp Sản xuất không đáp ứng nổi nhu cầu tiêu dùng của xã hội, tích lũy hầu như không có, đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay của nước ngoài

  Trước những khó khăn, nhiều địa phương đã tìm lối thoát và đổi mới kinh tế từ

cơ sở Từ việc tổng kết thực tiễn này, năm 1979, tại Hội nghị trung ương IV, Đảng ta

đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý nền kinh tế, nhằm “cởi trói” và

để cho sản xuất “bung ra”- sản xuất hàng hóa Tiếp theo, những cải tiến quản lý thử nghiệm được bắt đầu từ năm 1981 với khoán trong nông nghiệp, điều chỉnh kế hoạch

Trang 10

và mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Có thể coi những cải tiến quản lý trong các năm 1979-1985 là các tìm tòi thể nghiệm chuẩn bị cho cải cách toàn diện (Đổi mới) nền kinh tế Song, các cải tiến cục bộ này vẫn chưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế, khủng hoảng kinh tế vẫn rất trầm trọng Vì vậy đổi mới toàn diện nền kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách ở nước ta

Đặc trưng nổi bật trong thời kỳ này là đổi mới Đại hội VI (tháng 12/1986) của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi mới toàn diện ở nước ta Sau khi phân tích phê phán nghiêm túc sai lầm, thiếu sót trong thời gian qua, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới kinh tế toàn diện cho đất nước trong thời kỳ mới Tiếp theo, các Đại hội VII (tháng 6/1991), Đại hội VIII (tháng 6/1996) và Đại hội IX (tháng 12/2001) đã tiếp tục khẳng định và bổ sung, hoàn thiện các chủ trương chính sách đổi mới kinh tế,

có đổi mới phát triển công nghiệp và thực hiện nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa Nền sản xuất này biểu hiện ở những đổi mới trong kinh tế như sau:

- Đổi mới về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và chính sách cơ cấu

- Đổi mới trong cải tạo và xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất Phê phán quan điểm nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa trước đây, Đại hội

VI đã khẳng định sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Điều này là xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội còn thấp của Việt Nam Nó cho phép có nhiều hình thức sản xuất kinh doanh đa dạng, phù hợp về quy mô, trình độ và hình thức với từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông, nhằm khai thác các tiềm năng kinh tế của xã hội Đảng coi đây là giải pháp chiến lược để giải phóng sức sản xuất và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý

  - Đổi mới cơ chế quản lý công nghiệp: Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp từ nhiều năm nay đã không tạo được động lực phát triển và gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội Do đó, Đại hội VI đã chủ trương đổi mới về cơ chế quản

lý kinh tế và chỉ ra thực chất của cơ chế mới đó là: “cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh tế kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”

     

Ngày đăng: 17/10/2022, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo_Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin_Nhà xuất bản chính trị quốc gia_2008 Khác
2. Giáo trình kinh tế học vi mô, ĐH Ngoại Thương, PGs.TS. Nguyễn Thị Tường Anh Khác
4. PGs.TS. Nguyễn Phú Trọng, Các nền kinh tế công nghiệp mới Châu Á, Tạp chí Cộng Sản số 15 (2001) Khác
7. Tạp chí cộng sản: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta - Nhận thức lý luận, thực tiễn và kiến nghị Khác
8. Tạp chí tài chính: Một số giải pháp phát triển thị trường hàng hóa trong nước 9. Nền sản xuất hàng hóa – Wikipedia Khác
10. Nguyễn Phú Trọng, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản số 966 (5- 2021) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w