1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ và đáp án văn 8

5 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề thi học sinh giỏi cấp huyện năm học 2020 - 2021
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông ABC
Chuyên ngành Ngữ Văn 8
Thể loại Đề thi
Năm xuất bản 2020 - 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 23,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và bản thân mặt trăng hình như cũng đã thành một loài quả, ta mong chờ suốt từ trung thu năm ngoái cho đến nay...” Trích tản văn "Qua thu" - Băng Sơn Câu 3 12 điểm: Nhà phê bình Viên

Trang 1

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN

NĂM HỌC: 2020 - 2021 MÔN: NGỮ VĂN 8

Thời gian làm bài: 120 phút (không kể phát đề)

Đề thi có 01 trang

Câu 1 (3 điểm): Trong truyện ngắn Lão Hạc, Nam Cao đã kể lại việc Lão Hạc sang nhà ông giáo, muốn nhờ ông giáo giữ hộ ba sào vườn cho cậu con trai của lão

Em hãy nêu ý nghĩa của chi tiết trên bằng một đoạn văn ngắn.

Câu 2 (5 điểm): Cảm nhận của em về cái hay, cái đặc sắc của đoạn

văn sau:

"Mùa thu là mùa quả chín Không hiểu từ lúc quả còn non đến khi quả chín thì bao nhiêu màu xanh ấy bay đi đâu, biến vào đâu hết nhỉ? Còn các màu khác cũng từ đâu bay đến, từ đâu hiện ra nhuộm vào quả hay có một bàn tay khổng

lồ cầm chiếc bút vẽ vĩ đại mà phết các màu lên quả?

Màu đỏ của quả hồng Nhân Hậu Màu vàng ươm của buồng chuối trứng cuốc, màu hồng của quả bưởi đào, màu da cam của quả quýt, màu vàng chanh của quả thị cho tới màu xanh như ngọc lưu ly trong từng hạt cốm vừa mềm mại vừa thơm thoảng

Lạ hơn nữa, đến vầng trăng vào thu cũng chín vàng, ngày lễ phá cỗ, trăng tròn trịa như chiếc đĩa để ta đặt mọi loài hoa quả vào lòng đĩa cho thêm thơm, thêm sáng, thêm ngọt, thêm bùi Và bản thân mặt trăng hình như cũng

đã thành một loài quả, ta mong chờ suốt từ trung thu năm ngoái cho đến nay ”

(Trích tản văn "Qua thu" - Băng Sơn)

Câu 3 (12 điểm):

Nhà phê bình Viên Mai quan niệm: “Nhà thơ không có tài thì không thể vận chuyển được tâm linh, không có tình thì không phải là tài.”

Qua bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

… Hết…

Họ tên thí sinh: ……… SBD: ……… Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm./

Trang 2

HƯỚNG DẪN CHẤM THI HS GIỎI CẤP HUYỆN

Câu 1: 3 điểm

1 Về hình thức: Hs trình bày thành đoạn văn, diễn đạt rõ ràng, lưu loát: 0,5 điểm

2 Về nội dung: Ý nghĩa của chi tiết Lão Hạc nhờ ông giáo giữ hộ ba sào vườn: 2,5

điểm

- Là chi tiết nghệ thuật mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, góp phần thể hiện vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn Lão Hạc, tư tưởng chủ đề của tác phẩm (0,5 điểm)

- Thể hiện phẩm chất cao quý của Lão Hạc: (1,5 điểm)

+ Lão yêu thương con sâu nặng: Lão gửi ông giáo vì tin tưởng ông có thể giữ trọn vẹn mảnh vườn cho con trai mình, lão muốn bù đắp phần nào nỗi day dứt khi không có tiền cưới vợ cho con, lo lắng cho cuộc sống, cho tương lai của con

+ Lão hy sinh cả cuộc đời vì con: lão âm thầm chắt chiu, vun vén, âm thầm hy sinh; trong đói khổ, lão nhất định không bán ba sào vườn để dành dụm cho con, tất cả vì con

-> Thể hiện tình phụ tử vô cùng thiêng liêng, mãnh liệt (0,5 điểm)

Câu 2 (5 điểm)

A- Yêu cầu về kĩ năng (hình thức): 0,5 điểm

- HS có thể viết đoạn văn hoặc bài văn có dung lượng vừa phải, có bố cục hoàn chỉnh

- Đúng dạng bài cảm thụ: Phát hiện được những cái hay, cái đặc sắc, cái đẹp của đoạn văn, từ đó bộc lộ được cảm xúc, những điều tâm đắc nhất, sự rung động thật sự khi đọc đoạn văn của Băng Sơn

- Văn có cảm xúc, có hình ảnh, gợi cảm

- Câu, từ trong sáng, đảm bảo chuẩn ngữ pháp, không mắc lỗi về diễn đạt

B- Yêu cầu về nội dung: 4,5 điểm

* Nội dung chung của đoạn văn:

- Đoạn văn miêu tả bức tranh các loài quả chín vào mùa thu vô cùng sinh động, tinh tế

cả về màu sắc, hương vị…Từ đó tác giả khơi gợi tình yêu, sự trân trọng những điều đẹp đẽ, tinh túy mà thiên nhiên ban tặng cho con người

* Cái hay, cái đặc sắc của đoạn văn thể hiện ở một số điểm sau đây:

- Cách mở đầu tự nhiên mà đầy thú vị, sự liên tưởng vừa chân thực, vừa bay bổng … (Sự thay đổi màu sắc của quả từ khi còn xanh đến khi chín được liên tưởng thú vị:

màu xanh biến đi đâu mất, các sắc màu khác từ đâu hiện ra như nhuộm vào quả, như có bàn tay cầm cây bút vẽ khổng lồ mà phết màu lên quả vừa chân thực lại vừa

đầy chất thơ bay bổng với liên tiếp hai câu hỏi tu từ gợi sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước sự biến đổi vô cùng thú vị, sinh động mà tinh tế của thiên nhiên đầu thu - mùa thảo quả

Trang 3

- Sắc màu của các loại quả chín được tả rất chân thực, không tả nhiều, chỉ gợi là chính, nhưng cái hay và tinh tế ở chỗ nhà văn dùng phép liệt kê, sắp xếp các sắc màu ấy ở cạnh nhau để chúng nâng đỡ nhau, tôn nhau lên, tỏa sáng cho nhau tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc, đẹp đẽ, sinh động

- Bên cạnh đó, các hình ảnh trong đoạn văn còn gợi ra được cả hương vị thơm ngọt, thanh khiết đặc trưng của quả chín

- Đặc sắc nhất là hình ảnh vầng trăng trung thu, được liên tưởng so sánh như một loài quả chín vàng ươm, căng mọng => sự liên tưởng hợp lí (vì trăng trung thu tròn xoe, căng đầy và vàng rượi ) nhưng cũng đầy ắp chất thơ bay bổng, thú vị

=> Cách miêu tả như vậy khiến hình ảnh vầng trăng vừa đẹp, vừa hấp dẫn với trẻ em thể hiện sự quan sát và cảm nhận tinh tế của nhà văn

- Hoặc hình ảnh vầng trăng được liên tưởng so sánh như chiếc đĩa vàng để đặt những

loại quả chín lên đĩa cho thêm thơm, thêm sáng, thêm ngọt, thêm bùi => Thiên nhiên

bình dị trở nên đẹp đẽ, lung linh ; cái đẹp tiềm ẩn trong những thứ bình dị nhất, quen thuộc nhất của cuộc sống

- Nhà văn đã có cái nhìn vô cùng tinh tế, phát hiện được vẻ đẹp tiềm ẩn trong những sự vật gần gũi, bình dị vốn đã rất quen thuộc của cuộc sống (quả chín, hình ảnh vầng trăng trung thu ), và khiến cho bạn đọc thêm yêu mến, trân trọng vẻ đẹp cuộc sống, trân trọng những gì đẹp đẽ nhất, thơm thảo nhất mà thiên nhiên ban tặng cho con người

Câu 3 (12 điểm)

A Yêu cầu về kĩ năng (hình thức):

- Bố cục bài viết phải hoàn chỉnh, chặt chẽ

- HS có kĩ năng làm bài nghị luận văn học, cụ thể là có kĩ năng phân tích, bình, thể

hiện

được sự cảm thụ, rung động đối với một tác phẩm thơ giàu giá trị nhân văn như Ông

đồ

(HS có thể trình bày theo những cách khác nhau, không gò bó, nhưng phải bám sát ý kiến nhận xét, việc phân tích, bình, đánh giá đều phải hướng đúng vào vấn đề mà ý kiến đề cập tới)

- Không sa đà vào tình trạng kể lể, diễn xuôi ý thơ

- Biết liên hệ hợp lí để mở rộng và có cách nhìn thấu đáo, toàn diện về vấn đề được đặt

ra trong bài thơ

- Văn viết

có hình ảnh, diễn đạt lưu loát, trôi chảy; dùng từ, đặt câu chuẩn xác

B Yêu cầu về nội dung:

điểm 1.Mở

bài

- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm…

- Dẫn ý kiến…

1,0

Trang 4

2

Thân

bài

2.1

* Giải thích ý kiến:

- Cái tài là khả năng, năng lực, tài hoa, cá tính sáng tạo trong sáng tác thơ ca

- Cái tình là lòng yêu thương, sự quan tâm, chia sẻ, cảm thông của người nghệ sĩ với con người và cuộc đời

- Nếu không có tài thì không thể vận chuyển tâm linh, biến những tư tưởng tình cảm của tác giả thành tác phẩm nghệ thuật Nếu không có tình thì tài cũng bằng thừa

=> Viên Mai khẳng định tài và tình là hai yếu tố không thể thiếu được thiếu được trong sáng tạo nghệ thuật

Khái quát: Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị phải có hình thức nghệ thuật đặc sắc, nghĩa là người nghệ sĩ phải có tài năng thơ ca Còn cái tình của nghệ sĩ làm nên hồn thơ, là yếu tố hình thành nên những tác phẩm nghệ

thuật hướng về con người và cuộc đời Bài thơ Ông đồ là kết tinh từ nét độc

đáo về nghệ thuật và sâu sắc về tình cảm, cảm xúc của nhà thơ Vũ Đình Liên: là sự trân trọng trước nét đẹp văn hóa Việt, là niềm hoài cổ, sự đồng cảm, tiếc nuối trước một thế hệ ông đồ đã vắng bóng và suy tàn…

2.2 Chứng minh:

* Bài thơ Ông đồ là kết tinh từ tài năng của Vũ Đình Liên (nét độc đáo

về nghệ thuật)

- Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện kể về con người, về cuộc đời theo trình tự thời gian

- Thể thơ ngũ ngôn, ngắn gọn nhưng hàm ý sâu sắc với ngôn ngữ bình dị mà

cô đọng, đầy gợi cảm…

- Giọng thơ khi sâu lắng thiết tha, khi ngậm ngùi, chua xót giúp nhà thơ thể hiện cảm xúc chân thành của mình

- Trong bài thơ có những câu thơ rất đẹp, chọn lọc hình ảnh đặc sắc, giàu sức gợi tả, mượn cảnh để tả tình (tả cảnh ngụ tình) ; nghệ thuật đối lập tương phản: ông đồ thời hưng thịnh với ông đồ thời suy tàn; đặt sự cô đơn, bẽ bàng của ông đồ bên cạnh sự đông vui náo nức của phố phường ngày tết

để làm nổi bật sự vô tâm của người đời và tình cảnh bị bỏ rơi, cô đơn, đáng thương của ông đồ….; nghệ thuật so sánh “hoa tay thảo những nét/ như phượng múa rồng bay” …; nghệ thuật nhân hóa “Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng trong nghiên sầu” …; câu hỏi tu từ: “Người thuê viết nay đâu?/

“Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?” gieo vào lòng người nhiều dư vị thể hiện sự xót xa, tiếc nuối…, nghệ thuật kết cấu đầu cuối tương ứng qua hình ảnh ông đồ và hoa đào…

-> Với tài năng nghệ thuật, ngòi bút tinh tế, điêu luyện kết hợp với hồn thơ giàu thương cảm và niềm hoài cổ, Vũ Đình Liên có vị trí xứng đáng trong

phong trào Thơ mới, đặc biệt qua bài Ông đồ.

1,0

0,5

3,0

Trang 5

* Bài thơ Ông đồ mang tư tưởng, tình cảm, cảm xúc chân thành của nhà

thơ Vũ Đình Liên đằng sau mỗi câu chữ:

- Bài thơ thể hiện những rung cảm tâm linh giống nòi, đó là niềm vui, sự tự

hào, mến mộ, trân trọng thời kì vàng son của thế hệ ông đồ, tự hào về bản

sắc văn hóa dân tộc (Dẫn chứng, phân tích)

- Bài thơ thấm đượm nỗi buồn, sự tiếc thương, ngậm ngùi, chua xót của nhà

thơ khi bản sắc văn hóa của dân tộc đang bị mai một, dần chìm vào quên

lãng

+ Cảm xúc nổi bật là nỗi xót xa, cảm thương cho tình cảnh đáng thương của

ông đồ: bị bỏ rơi, bị gạt ra khỏi cuộc sống đang mải miết ngập đầy cái mới

của phương Tây

+ Chua xót trước thái độ bạc bẽo, phũ phàng của người đời với những thế hệ

trước như ông đồ; chua chát trước sự thờ ơ, vô cảm, bạc bẽo, phũ phàng của

người đời: chỉ vì chạy theo cái mới của ngày hôm nay mà quay lưng lại với

những điều tốt đẹp trong quá khứ

(Dẫn chứng, phân tích.)

- Tấm lòng của Vũ Đình Liên: day dứt, ân hận, thay lời cho thế hệ sau gửi

lời tri ân chân thành, thấm thía đến thế hệ trước Nhắc nhở thế hệ sau về thái

độ, cách ứng xử với "cái cũ" khi tiếp nhận "cái mới": cuộc sống phải thay

đổi, tiếp cận cái mới, cái hiện đại là một quy luật tất yếu; nhưng không vì

thế mà có thái độ rũ bỏ, quay lưng lại với "cái cũ" một cách phũ phàng, bạc

bẽo Phải biết trân trọng, gìn giữ nét đẹp truyền thống, như vậy mới là cách

ứng xử có văn hóa, mang tính nhân văn

=> Chính điều này mới lay động, chạm tới cảm xúc bạn đọc, và làm nên giá

trị nhân văn của tác phẩm

4,0

- Liên hệ tới những bài thơ cùng chủ đề, cảm hứng….( như nỗi niềm hoài cổ

qua bài “Qua đèo Ngang” - Bà huyện Thanh Quan….)

- Khẳng định về sức thuyết phục của cảm xúc, tâm huyết của người nghệ sĩ

gửi gắm vào tác phẩm thơ, khẳng định sức sống của tác phẩm và sự thuyết

phục bởi những tâm tư, tình cảm, tâm huyết Vũ Đình Liên gửi vào tác phẩm

- Yêu cầu đặt ra đối với người sáng tác cũng như mỗi tác phẩm văn chương:

mỗi nhà văn không ngừng tìm tòi sáng tạo cái mới, cái hiện đại nhưng đồng

thời phải giữ gìn, trân trọng nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc

1,5 điểm

3

Kết

bài

- Khái quát lại vấn đề

- Khẳng định tính đúng đắn của nhận định

- Liên hệ bản thân nói riêng và thế hệ trẻ nói chung…

1,0

* Lưu ý: Trên đây là những gợi ý và định hướng chung, giám khảo cần vận dụng

linh hoạt dựa trên thực tế bài làm của học sinh Khuyến khích những bài có cảm nhận sâu sắc và sáng tạo trong cách viết

Ngày đăng: 17/10/2022, 12:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w