The Impact of Environment in Enhancing Students’ Learning Capability Tác động của môi trường học tập trong nâng cao năng lực học tập của sinh viên Dr Nguyen Hoang Tien Tóm t ắt: Mục đí
Trang 1Scientific Conference on:
“Developing Self-studying Skills for Students in Tien Giang University”
18 August 2018, Tien Giang University, Tien Giang, Vietnam
The Impact of Environment in Enhancing Students’ Learning Capability
Tác động của môi trường học tập trong nâng cao năng lực học tập của sinh viên
Dr Nguyen Hoang Tien
Tóm t ắt: Mục đích của bài báo này nhằm nhận diện ra vai trò, tầm quan trọng và sự
tác động của môi trường học tập tới năng lực học tập của sinh viên, từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện môi trường này để nâng cao năng lực học tập của các em rất cần thiết trong môi trường đại học và trong bối cảnh hội nhập giáo dục và thị trường lao động khu vực với kỹ năng chứ không phải tri thức là chuẩn đầu ra đối với các nhà tuyển dụng
T ừ khóa: Môi trường học tập, năng lực học tập, sinh viên đại học
1 Đặt vấn đề - dẫn nhập
Từ lâu đến nay, nói đến học tập và đặc biệt học tập ở bậc đại học ta liên tưởng ngay tới những chủ thể sau: người học (1), người dạy học (2), chương trình học (đào tạo) (3), phương pháp đào tạo (4) và môi trường đào tạo (5) Đây chính là các yếu tố không thể thiếu được trong đảm bảo chất lượng cho quá trình học tập, uy tín và lợi thế cạnh tranh của các cơ sở đào tạo Chúng ta thử xem xét các yếu tố này của đại
học hàng đầu tại Mỹ như Harvard Về người học, sinh viên ĐH Harvard được tuyển chọn hết sức kỹ càng với tỉ lệ chọi không hề nhỏ, họ đến từ các nước trên thế giới với những đam mê lập nghiệp và ước vọng học tập cháy bỏng Về phía người dạy, họ là các giáo sư lâu năm, có kinh nghiệm và chung niềm đam mê giảng dạy, cả đông đảo
về số lượng lẫn đảm bảo về chất lượng Cũng giống như các sinh viên nhập học đến
Trang 2từ các nước khác nhau, giảng viên ĐH Harvard đều không hẳn hoàn toàn là người
Mỹ mà là những người đến từ châu Á, Châu Âu hay Ấn Độ, tạo nên nét đẹp và sự đa dạng về văn hóa, những với một ngôn ngữ chung được sử dụng là tiếng Anh Chương trình học cũng liên tục được cập nhập sao cho vừa phản ánh được những thay đổi diễn ra trong phạm vi kiến thức chuyên môn, vừa sát với thực tế để sinh viên tiếp cận
với những diễn biến và xu hướng mới nhất diễn ra trong thực tiền ngành nghề của mình Phương pháp đào tạo cũng được chọn lựa tùy theo đặc thù của từng môn học, đối với các môn định lượng tính toán phương pháp áp dụng sẽ khác, đối với các môn định tính cần phải trình bày quan điểm và lập trường cá nhân phương pháp áp dụng cũng sẽ khác, nhưng nhìn chung dựa trên sự cởi mở và tinh thần chia sẻ Yếu tố cuối cùng là môi trường học tập, nó thể hiện tinh thần học tập và văn hóa học đường dựa trên sự cạnh tranh và ganh đua đôi lúc khốc liệt (những cũng không thiếu yếu tố hợp tác) vì ai cũng muốn vươn lên vị trí dẫn đầu để thể hiện chính mình Điều này không
có nghĩa là không có sự hợp tác, trái lại hợp tác chính là khởi điểm cho sự cạnh tranh
để ai ai cũng phải phấn đấu vượt khó mà vươn lên Ví dụ như việc chia lớp thành nhóm là để trong lớp vừa có sự cạnh tranh với nhau (giữa các nhóm) và sự hợp tác với nhau (giữa các thành viên trong một nhóm) Bài viết này sẽ chú trọng và nhấn
mạnh vào yếu tố cuối cùng – môi trường học tập – vai trò và tầm quan trọng của nó trong việc nâng cao năng lực học tập của các sinh viên tại các trường đại học Việt Nam
2 Vai trò và tầm quan trọng của môi trường học tập
Các môn học trong các chương trình đạo tạo bậc đại học các ngành, bao gồm các khối kiến thức đại cương lẫn chuyên ngành, có thể chia thành: nhóm các môn định lượng (tính toán, giải bài tập), nhóm các môn định tính (viết báo cáo, thuyết trình), nhóm các môn ngoại ngữ văn hóa (nâng cao năng lực ngoại ngữ và khả năng giao tiếp, làm việc trong môi trường liên văn hóa) Do tính chất của các môn học thuộc 03 nhóm trình bày trên trên ta thấy vai trò và tầm quan trọng của môi trường học tập được khẳng định đối với các môn học liên quan đến nhóm ngoại ngữ, giao tiếp, văn hóa, nơi môi trường để được tiếp xúc, trải nghiệm, chia sẻ và cảm nhận sẽ luôn là yếu tố cốt lõi để giúp tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng và nâng cao năng lực, ý thức học tập của các em Tiếp sau đó là các môn định tính cần trình bày quan điểm, phản biện, tranh luận Hai nhóm môn học này có thể được kết hợp với nhau như sử dụng ngoại ngữ trong tranh luận và trình bày quan điểm về một số vấn đề xã hội và kinh doanh, tạp môi trường học tập mang tính tích hợp
Trang 3Chúng ta thử tự đặt cho mình câu hỏi sau Về các môn học tự nhiên, như toán học, sinh viên Việt Nam có thể học trong nước nhưng đạt trình độ về kiến thức và kỹ năng không thua kém gì các sinh viên nước ngoài Các giáo sư người Việt thành danh
ở hải ngoại cũng đều thuộc về các lĩnh vực khoa học tính toán (STEM - Science, Technology, Engineering, Math), ít ai thành đạt và nổi tiếng trong lĩnh vực khoa học kinh tế, chính trị, xã hội và thâm nhập sâu vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tại nước sở tại Thế nhưng sinh viên Việt Nam được đánh giá chung là thiếu hiểu biết về
xã hội và yếu về năng lực ngoại ngữ Chính sự thiếu hụt này đã trở thành những rào cản nghiêm trọng trong sự nghiệp sau này của các em Đối với các sinh viên đi du học nước ngoài về thì những kỹ năng và năng lực trong lĩnh vực này được cải thiện
rõ rệt và được các nhà tuyển dụng đánh giá cao Tại sao lại như vậy, điều cốt lõi nằm
ở chỗ môi trường học tập Môi trường học tập tại các trường đại học Việt Nam khác, môi trường học tập tại các nước Âu Mỹ khác Tuy nhiên những năm gần đây môi trường học tập tại Việt Nam cũng có những cải tiến rõ rệt và chuyển biến tích cực để rút ngắn khoảng cánh với thế giới Sau đây sẽ là một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng của môi trường học tập tại các trường đại học giúp sinh viên có thể nâng cao năng lực học tập, củng cố kỹ năng và phương pháp tự học
3 Đề xuất biện pháp cải thiện môi trường học tập
a) Về hệ thống thư viện và hạ tầng học tập khác
Học tập ở bậc đại học gắn liền với nghiên cứu (study vừa có nghĩa là học tập vừa có nghĩa là nghiên cứu) Cho nên một trường đại học tốt không thể thiếu được một hệ thống thư viện và thông tin khoa học đầy đủ và hoàn chỉnh Để nâng cao năng lực học tập, đặc biệt học tập sử dụng ngoại ngữ của các sinh viên trong trường, nhà trường nên nhập khẩu các đầu sách ngoại văn như giáo trình (textbook), tài liệu tham khảo (các đầu báo chuyên ngành được xuất bản tại nước ngoài) liên quan trực tiếp đến chuyên môn của các em Ngoài những tư liệu truyền thống đó nhà trường cũng nên cải thiện và đa dạng hóa các nguồn tài nguyên học liệu đa phương tiện (như audiobooks, visualbooks có ghi âm ghi hình các bài giảng của các giảng viên là giáo sư các trường đại học nổi tiếng trên thế giới)
b) Về việc sử dụng tiếng Anh như là một công cụ trong học tập thay vì học
ti ếng Anh xuông
Một số môn học trong chương trình giảng dạy, chẳng hạn như 30%, phải được dạy trực tiếp cho sinh viên bằng tiếng Anh theo lộ trình tăng dần nhất định (ví dụ năm đâu tiên thì chưa, những năm thứ 2 – 10%, năm thứ 3 –
Trang 430%, năm thứ 4 – 50%) Ngoài ra một không gian Anh ngữ trong trường đại học là hết sức cần thiết khiến không chỉ giúp cho sinh viên mà còn cho
cả giảng viên có điều kiện sử dụng ngoại ngữ một cách tự nhiên, không bó buộc trong hoạt động chuyên môn Điều này mở cách cửa để các giảng viên nước ngoài có cơ hội tham gia giảng dạy và truyền đạt kiến thức Điều này còn có lợi cho cả sinh viên Việt Nam được tiếp cận với các giảng viên
và sinh viên nước ngoài với những cách thức truyền đạt và tiếp thu kiến thức khác nhau hết sức đa dạng, tiến tới việc thay đổi cách thức học tập của bản than nhằm khắc phục những khó khăn hiện hữu và đạt được hiệu quả cao hơn nữa
c) Về việc đẩy mạnh các chương trình trao đổi giảng viên, sinh viên với các trường đại học nước ngoài
Trong bối cảnh hội nhập giáo dục thế giới, việc này không phải là điều gì mới, quan trọng là phải đẩy mạnh các chương trình này như thế nào để mang lại những lợi ích thiết thực cụ thể Do hạn chế về kinh phí nên chưa thể thức hiện các chương trình này một cách đại trà cho nên có thể trước mắt ta tập trung thí điểm vào các đối tượng là những sinh viên ưu tú, các chương trình tiến tiến, chất lượng cao, những năm cuối (năm thứ 3 và năm thứ 4) để các em có thể giao lưu và trải nghiệm môi trường học tập chuyên nghiệp đạt chuẩn quốc tế Thâm chí có thể tạo cơ hội cho các em năm thứ
4 có thể làm việc ở nước ngoài một thời gian ngắn, dưới một năm, trước khi về nước học nốt năm cuối hay học kỳ cuối để tốt nghiệp và nhận bằng
d) Về việc nâng cao trình độ cho các giảng viên
Trong việc nâng cao năng lực học tập của các em sinh viên, chúng ta cũng không thể không nhắc tới việc nâng cao năng lực giảng dạy của các quý thầy cô là các đối tượng trực tiếp dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho các
em Các thầy cô không giỏi lấy đâu ra trò giỏi Các thầy cô không những
phải giỏi cả về chuyên môn lẫn ngoại ngữ Các thầy cố cần phải biết cách truyền lửa cho các thế hệ sinh viên và quan trọng là dạy cho sinh viên biết cách học đại học và liên tục cải tiến phương pháp học tập xuyên suốt quá trình học tập ở bậc đại học và cao hơn nữa sau này Các thầy cố cần phải chuẩn bị đầy đủ hành trang để có thể đảm nhiệm sứ mệnh trọng trách này
4 Kết luận
Môi trường học tập là yếu tố tiên quyết quyết định về năng lực học tập và khả năng tự học của các sinh viên các trường đại học Môi trường học tập ở đây ngoài
Trang 5nghĩa cứng như cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng ốc, cần phải được hiểu theo nghĩa mềm, đó là văn hóa học đường, sự say mê học tập và sáng tạo dựa trên tinh thần vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau của các em sinh viên Cải thiện môi trường học tập nhằm nâng cao năng lực học tập của các em sinh viên cần phải được hiểu như tập hợp các giải pháp đồng bộ nhằm quốc tế hóa môi trường học tập, trao đổi, trau dồi, khám phá tri thức mới với sự trợ giúp và truyền lửa của các thầy cô dựa trên nền tảng chung
là nền văn hóa cởi mở, chia sẻ, thân thiện để có thể liên tục cải thiện và đổi mới phương pháp học tập và môi trường học tập – mái nhà thân yêu thứ hai của các em trong hành trình tri hành đạt nhân của tuổi trẻ
Tài li ệu tham khảo:
[1] Nguyễn Văn Tuấn (2009): Tài liệu bài giảng lý luận dạy học đại học TP HCM [2] http://www.ntu.edu.vn/Portals/96/Tu%20lieu%20tham%20khao/Phuong%20
[4] Nguyễn Hải Thập (chủ biên) (2017): Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn nghiệp
vụ Giảng Viên Chính NXB Giáo Dục Việt Nam Chuyên đề 10, trang 495