ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC Ở PHƯƠNG TÂY VÀ NHỮNG HÀM Ý CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM Teachers’ Professional Ethics in Western Education System and Implication for
Trang 1ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC Ở PHƯƠNG TÂY
VÀ NHỮNG HÀM Ý CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM Teachers’ Professional Ethics in Western Education System
and Implication for Vietnam
TS Nguyễn Hoàng Tiến,
Dr Nguyen Hoang Tien
vietnameu@gmail.com
0708741048
Tóm tắt: Đạo đức nghề nghiệp là nền tảng trong nhân cách nhà giáo trong đó GV
ĐH có vai trò rất vai trọng, góp phần quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động sư phạm và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, các GV thực sự là tấm gương sáng để các thế hệ SV noi theo và để làm tròn sứ mệnh cao cả là cung cấp kiến thức để sinh viên học tốt chuyên ngành của mình Mọi GV phải tu dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để xứng đáng với sự tôn vinh và niềm tin yêu của xã hội Từ xưa đến nay nghề giáo luôn được xã hội tôn trọng, tôn vinh là “nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý” Xã hội càng tôn trọng nghề dạy học càng đòi hỏi rất cao nâng lực và phẩm chất đạo đức của nghề giáo Phương Tây được xem
là một trong những nơi có nền giáo dục tiên tiến nhất Bên cạnh những cơ sở vật chất hiện đại, thì đội ngũ GV đại học ở đây cũng có đạo đức nghề nghiệp rất chuẩn mực Vì vậy chúng ta nên học hỏi đạo đức nghề nghiệp ở phương Tây và góp phần phát triển cho đội ngũ GV ở Việt Nam
Từ khóa: giảng viên đại học, đạo đức nghề nghiệp, phương Tây
Summary: Professional ethics is the foundation of teacher personality in which
university lecturers play a very important role, contributing to determining the quality and effectiveness of pedagogical activities and improving the quality of education and training The teachers are really good examples for students to follow and to fulfill the noble mission of providing students with good knowledge for their major Every teacher must cultivate professional ethics to deserve the honor and belief of society From the past until now, the teaching profession has always been respected and honored by the society as "the highest profession in the noble profession" The more society respects the teaching profession, the more demanding it is that it enhances the morality and morality of the teaching profession The West is considered one of the places with the most advanced education In addition to modern facilities, the university faculty here also has a very standard professional ethics So we should learn professional ethics in the West and contribute to the development of teachers in Vietnam
Key words: university lecturers, professional ethics, Western
Trang 2I ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC – CÁCH TIẾP CẬN PHƯƠNG TÂY
I.1 Nhận định chung
Ở phương Tây các tiêu chuẩn cho GV đã được quan tâm trong các chính sách giáo dục và được tranh luận công khai ở Úc, Mỹ, Anh từ giữa những năm
1990 Sự bùng nổ tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục ở các quốc gia trên thế giới Kinh tế tri thức với tư cách yếu tố cốt yếu quyết định sự thành bại của tất cả quốc gia, dân tộc, các tổ chức và mỗi cá nhân đã buộc tất cả các quốc gia đặt chiến lược con người lên những mục tiêu hàng đầu, trong đó đặc biệt coi trọng đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của GV là chiến lược sống còn của các nước trên thế giới đặc biệt phương Tây
I.2 Ví dụ
Chuẩn nghề nghiệp GV của Úc chia theo 4 giai đoạn, được thể hiện trong
từ lĩnh vực hoạt động chức năng, từng giai đoạn phát triển nghề nghiệp của GV từ khi mới vào nghề(Graduate), thành thạo nghề(Proficient), có uy tín trong nghề(Highly Accomplished), dẫn dắt và lãnh đạo chuyên môn(Lead) Cấu trúc bộ chuẩn này đánh giá trên 3 mặt: kiến thức chuyên môn, thực hành nghề nghiệp và
sự tham gia nghề nghiệp gồm 7 tiêu chuẩn, 37 tiêu chí, 148 chỉ báo(dấu hiệu mô tả)
Về kiến thức chuyên môn có 2 tiêu chuẩn để đánh giá là: hiểu SV và hiểu
SV học như thế nào, hiểu nội dung và phương pháp giảng dạy
Về thực hành nghề nghiệp có 3 tiêu chuẩn để đánh giá là: xây dựng giáo án
và thực hiện những phương pháp dạy và học hiệu quả Tạo ra và duy trì môi trường học tập an toàn và có sự hỗ trợ Đánh giá, cung cấp phản hồi và báo cáo về quá trình học tập của SV
Về sự tham gia nghề nghiệp có 2 tiêu chuẩn để đánh giá: tham gia học tập bồi dưỡng chuyên môn, tham gia nghề nghiệp với đồng nghiệp và hội nhập với cộng đồng
I.3 Kết luận
Đạo đức nghề nghiệp của các GV ĐH ở phương Tây rất chuẩn mực và tiên tiến Qua đó cho thấy đội ngũ giảng viên có vai trò rất vai trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục Vì sản phẩm mà họ tạo ra là sự tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách – sức lao động” Do vậy giáp viên cần phải đạt
“Chuẩn về đạo đức tư cách người thầy”, một trong những biện pháp đó là luôn tăng cường tính kỉ cương, sư phạm để mọi người trong đội ngũ đều có phẩm chất tốt, là tấm gương sáng cho sinh viên
Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các chuẩn mực đạo đức phản ánh những yêu cầu và đòi hỏi của xã hội, của bản thân nghề nghiệp đối với người làm việc trong lĩnh vực đó mà cụ thể đối với giảng viên là những người lao động sư phạm, đây là yếu tố cơ bản giúp cho họ làm tốt nhiệm vụ của mình Đạo đức nghề nghiệp
sư phạm được hình thành thông qua giảng dạy các môn chính khóa, thông qua các hoạt đông ngoại khóa, thông qua tập thể lớp học và thông qua sự tự rèn luyện của
Trang 3giảng viên, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò quan trọng và quyết định đến kết quả hình thành các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của giảng viên Do đó các trường đại học ở phương Tây rất chú trọng đào tạo đạo đức nghề nghiệp cho giảng viên và đặt nhiệm vụ này lên hàng đầu
II ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC – CÁCH TIẾP CẬN CỦA Á ĐÔNG
II.1 Nhận định chung
Ở Á Đông khi nói đến đạo đức tức là nói đến những lời nói và tập tục biểu hiện mối quan hệ giữa người với người Giáo dục đạo đức là quá trình tổ chức hoạt động truyền thụ và rèn luyện nhằm hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất Mỗi người hành nghề dù ở lĩnh vực nào đều phải thấm nhuần đạo đức chung của xã hội, đều phải mang tron mình những giá trị phổ quát của nhân loại và của dân tộc Đạo đức nghề nghiệp nói chung không thể tách rời nền tảng đạo đức chung của mỗi người Do đó vai trò và vị trí của người giảng viên cũng được coi trọng và tôn vinh Tư tưởng về người GV với những yêu cầu cao về đạo đức đã hình thành rất sớm trong lịch sử giáo dục ở Á Đông
II.2 Ví dụ
Khổng Tử(551-479 TCN) là người sáng lập ra học thuyết đạo đức của nho giáo thời phong kiến Trung Hoa, ông cho rằng người thầy giáo trước hết phải là người mẫu mực về đạo đức để làm tấm gương cho học trò noi theo Muốn vậy, người thầy giáo phải: “Học nhi bất yếm, hối nhi bất quyện”(học không biết chán, dạy không biết mỏi), “Vô ý, vô cố, vô chấp, vô ngã”(không riêng tư, không định kiến, không cố chấp, không vị mình), “Bất tứ giáo: Quái, Lực, Loạn, Thần”(không dạy những điều quái dị, vũ lực, phản loạn, quỷ thần) Phải có tinh thần đoàn kết,
đó là phẩm chất quan trọng của người thầy giáo Phải có tâm huyết với nghề, có ý thức giữ gìn danh dự lương tâm thầy giáo, thương yêu giúp đỡ đồng nghiệp trong công việc và trong công tác Theo Khổng Tử người thầy giáo luôn coi trọng đạo đức trong nhân cách con người, đó là việc giáo dục lòng nhân ái, biết sống có trên dưới, trung thực, thủy chung, có kỉ cương từ gia đình đến xã hội Ông luôn tâm niệm trau dồi đạo đức của ông thầy để người thầy luôn là tấm gương sáng cho trò noi theo Muốn vậy thì thầy phài dạy không biết mệt mỏi để trò không biết chán và tình cảm thầy trò như tình cha con
II.3 Kết luận
Ngày nay những ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo trình dạy học ngày càng nhiều, các phương tiện dạy học ngày càng phát triển hiện đại nhưng chỉ có tác dụng giảm nhẹ sức lao động, tăng thêm năng lực dạy học chứ hoàn toàn không thể thay thế vai trò của GV Theo quan niệm Á Đông giảng viên phải giáo dục cho sinh viên về tâm hồn, đạo lí, công lí… thông qua việc dạy chữ và dạy người
III ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC – CÁCH TIẾP CẬN Ở VIỆT NAM
III.1 Nhận định chung
Trang 4Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ GV và cán bộ quản lí các cơ sở giáo dục ĐH cần được coi trọng vì đây là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục đại học Bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là một trong hai yếu tố tốt tạo thành nhân cách tốt của GV Họ chính là những hình mẫu chuẩn mực cho sinh viên noi theo không phải ở năng lực chuyên môn mà trước hết phải ở đạo đức, lối sống tác phong và văn hóa giao tiếp ứng xử
III.2 Ví dụ
Ngày nay trong quá trình hội nhập kinh tế và tri thức đội ngũ các nhà giáo trong đó có các GV sư phạm đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức từ xã hội và các nhà trường, với những yêu cầu cao về năng lực chuyên môn
và cũng như sự hoàn thiện nhân cách đáp ứng những chuẩn mực của nghề giáo Theo đó GV cần gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, yêu nghề gắn bó tận tụy với nghề, giữ gìn phẩm chất uy tín và danh dự của nghề giáo, thương yêu tôn trọng và đối xử công bằng với SV, đoàn kết công tác, luôn giúp đỡ đồng nghiệp có lối sống lành mạnh, tác phong mẫu mực, phong cách làm việc khoa học Song song với đó GV không ngừng đổi mới phương pháp giáo dạy, cập nhật kiến thức khoa học Ngoài ra GV cần phải biết vận dụng các PPDH ĐH đồng thời cũng cần tìm hiểu nắm bắt nhanh kịp thời những đổi mới trong chương trình dạy học Phải thường xuyên tự học, tự nghiên cứu và tích cực đào tạo bồi dưỡng để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học.Đặc biệt, GV cần có ý thức “quy trình hóa” các PPDH mới, các phương tiện giảng dạy hiện đại để việc dạy học ở nhà trường sư phạm không bị lạc hậu lỗi thời Tại các trường ĐH đào tạo GV giữ vai trò đặc biệt quan trọng Họ vừa là người trực tiếp tham gia vào công tác đào tạo chuyên môn, NVSP cho SV- những giáo viên tương lai Vì thế phát triển toàn diện năng lực và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ GV trong các trường khoa sư phạm là một vấn đề cần thiết, nhất là khi đang xây dựng chương trình GDPT mới
III.3 Kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: đối với người Việt Nam nói riêng người phương Đông nói chung, một tấm gương sáng còn hơn trăm bài diễn thuyết do vậy nhà giáo phải là tấm gương mẫu mực, luôn nêu gương về đạo đức để những giá trị tốt đẹp của người thầy được nhân lên trở thành phổ biến ở người học Đạo đức của họ gắn với đặc trưng của nghề dạy học, vừa dạy người, vừa dạy chữ, vừa dạy nghề Bác còn dạy rằng:”Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức Ví như bảo học trò phải dậy sớm mà giáo viên thì trưa mới dậy.Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con” Tuy nhiên, vẫn còn một số nhà giáo thiếu tâm huyết với nghề, không tuân thủ những quy chuẩn của đạo đức nghề nghiệp, danh dự, lương tâm nhà giáo như nhận phong bì, chạy trường, chạy điểm, lạm thu tiền quỹ,…Những hiện tượng trên xuất phát từ những yếu kém trong trau dồi đạo đức nghề nghiệp của bộ phận GV Vì thế cần phải sớm có các giải pháp khắc phục có hiệu quả
Trang 5IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I V.1 Kết luận
Các giảng viên phải thực sự là tấm gương sáng về đạo đức để SV noi theo Đạo đức nghề nghiệp của GV có vai trò rất quan trọng, góp phần quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động sư phạm và nâng cao9 chất lượng giáo dục – đào tạo của đất nước Mỗi GV phải luôn rèn luyện đạo đức nghề nghiệp để xứng đáng với sự tôn vinh và niềm tin yêu của xã hội Đồng thời, GV luôn làm mới chính mình bằng những tri thức mới, những thông tin mới, bài giảng mới Cần thuyết phục người học bằng chính sự uyên bác về kiến thức, trình độ chuyên môn và trí tuệ của mình Các GV cần có thái độ kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những nhận thức, hành vi không đúng, những biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín, phẩm giá, tư cách của GV
I V 2 Kiến nghị
-Các GV ở Việt Nam cần học tập tiếp thu nền giáo dục tiên tiến của các nước bạn, đặc biệt là các trường ĐH ở phương Tây
-Bộ giáo dục và đào tạo thường xuyên tổ chức các hội nghị, sự kiện để các
GV có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, trao dồi, học tập lẫn nhau
-Khuyến khích đưa các hoạt động rèn luyện đạo đức nghề nghiệp vào các khóa tập huấn của GV
TÀI LIỆU KHAM KHẢO
1 https://www.tienphong.vn
2 vncsp.hnue.edu.vn
3. Nguyễn Đăng Tiến, (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng
tháng 8 -1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4 www.tapchicongsan.org.vn
5 tcnn.vn
6. Đoàn Huy Oánh (2004), Sơ lược lịch sử giáo dục, Nxb Đại học Quốc gia
TP HCM