5 NHẬN ĐỊNH TINH THẦN NHÂN ĐẠO TRONG VĂN CHƯƠNG VÀ CÁCH ÁP DỤNG VÀO MỞ BÀI Sử dụng nhận định lí luận văn học trong bài viết một cách hợp lí giúp cho nội dung bài viết thêm sâu sắc, phần
Trang 15 NHẬN ĐỊNH TINH THẦN NHÂN ĐẠO TRONG VĂN CHƯƠNG VÀ CÁCH ÁP DỤNG VÀO MỞ BÀI
Sử dụng nhận định lí luận văn học trong bài viết một cách hợp lí giúp cho nội dung bài viết thêm sâu sắc, phần dẫn dắt được phong phú, mượt mà hơn Dưới đây, Trạm văn có trích dẫn 5 nhận định về tinh thần nhân đạo trong văn chương
và hướng dẫn bạn cách vận dụng vào mở bài
5 nhận định về tinh thần nhân đạo trong văn chương
1 Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim hòa cùng một nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết Tiếng khóc ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca… Nguồn gốc cốt yếu của văn chương chính là lòng thương người, và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài (Hoài Thanh)
2 Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy (Chekhov)
3 Nhà văn là người cho máu (Elsa Triobet)
4 Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ (Lâm Ngữ Đường)
5 Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành cây héo khô, của chim muông què quặt, của hành tinh lạnh ngắt Nhưng trước hết con hãy lắng nghe nỗi buồn của con người (Nadimetlicmet)
Cách áp dụng nhận định vào mở bài
“Người ta kể chuyện đời xưa, một nhà thi sĩ Ấn Độ trông thấy một con chim bị thương rơi xuống bên chân mình Thi sĩ thương hại quá, khóc nức lên, quả tim hòa cùng một nhịp với sự run rẩy của con chim sắp chết Tiếng khóc ấy, dịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca…” (Trích trong “Ý nghĩa văn chương” - Hoài Thanh) Nguồn gốc cốt yếu của văn chương suy cho cùng đó chính là tình thương người, thương muôn vật, muôn loài Bởi mang một trái tim luôn đau đáu với đời, quặn thắt trước những phận hồng nhan nhưng bạc mệnh mà Nguyễn Du
đã cất bút viết “Chuyện người con gái Nam Xương” Tác phẩm đã đi vào bi kịch không lối thoát của người phụ nữ đức hạnh trước nguồn cơn của tư tưởng trọng nam khinh nữ và chiến tranh phong kiến phi nghĩa
_