1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của chính phủ tới đổi mới công nghệ để phát triển nông nghiệp bền vững The impact of government-initiated technology change on development of sustainable agriculture

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên kinh nghiệm này, trong việc cân nhắc cách chính phủ tác động đến sự đổi mới và sự hấp thu công nghệ cho các hệ thống nông nghiệp bền vững, bài báo này chấp nhận quan điểm mục ti

Trang 1

Tác động của chính phủ tới đổi mới công nghệ

để phát triển nông nghiệp bền vững

The impact of government-initiated technology change

on development of sustainable agriculture

TS Nguyễn Hoàng Tiến,

ĐH Thủ Dầu Một vietnameu@gmail.com

01208741048

Abstract: This paper explores the assumption that it is possible for conventional intensive

agricultural systems to be as sustainable as any other type of agricultural system The paper describes the policy environment in which innovative technology for agriculture is developed The relevant policies, solutions and regulations, at national and international levels, are those designed to promote technological innovation, environmental protection and biodiversity, trade liberalization Although some policy initiatives are encouraging the development of new technology, it is more usual to find that there is a need for policymakers to be better informed by outside their specialist area and those policy initiatives to be better integrated by across functional areas

Keywords: agricultural system, government, sustainability,

Tóm tắt: Bài báo này tìm hiểu giả thiết rằng các hệ thống nông nghiệp thâm canh có thể

đạt được tính bền vững như bất kỳ hệ thống nông nghiệp nào khác Bài báo mô tả môi trường chính sách trong đó có sự phát triển công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp Các chính sách, giải pháp và quy định liên quan, ở cấp quốc gia và quốc tế nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, tự do hóa thương mại Mặc dù một

số sáng kiến chính sách đang khuyến khích phát triển công nghệ mới, nhưng thường thấy rằng các nhà hoạch định chính sách cần phải được thông tin tốt hơn bên ngoài lĩnh vực chuyên môn của mình và những sáng kiến chính sách này được tích hợp tốt hơn giữa các lĩnh vực chức năng

Từ khoá: chính phủ, hệ thống nông nghiệp, tính bền vững,

1 Dẫn nhập

Ở nhiều nơi trên thế giới, các hệ thống nông nghiệp khác nhau hiện đang cùng tồn tại, từ các hệ thống hữu cơ cho đến các hệ thống thâm canh truyền thống Các

hệ thống hữu cơ và thâm canh từng được bàn luận xem cái nọ hay cái kia bền vững Nhưng theo Myers và Simon (1994), hình thức nông nghiệp thực sự bền vững duy nhất là hữu cơ và xã hội đó phải chấp nhận hình thức này do áp lực dân số trên thế giới ngày càng gia tăng và lối sống mà họ đang tận hưởng Mục tiêu duy nhất của

hệ thống này là đảm bảo tính bền vững của môi trường, vượt qua lợi ích của tất cả các bên liên quan nhằm phòng ngừa rủi ro môi trường liên quan đến các hệ thống nông nghiệp (Tait và Morris, 2000) Do đó, khi dân số trên thế giới sử dụng các hệ thống nông nghiệp hữu cơ, lối sống và mô hình tiêu dùng sẽ cần được điều chỉnh đáng kể Mặt khác, quan điểm mục tiêu cạnh tranh đối với các hệ thống nông nghiệp chấp nhận rằng, để đáp ứng một nhu cầu đa dạng của nhân loại ngày càng đông, các thỏa hiệp cần được bổ sung liên quan đến hàng loạt các mục tiêu như hướng tới cách sử dụng cân bằng đất nông nghiệp lâu dài với khả năng kinh tế, giảm thiểu tác hại môi trường, đáp ứng nhu cầu công cộng về thực phẩm và cung cấp các lợi ích cảnh quan có nguồn gốc từ nông nghiệp (Legg, 2000) Quan điểm này cho phép lợi ích của tất cả các bên liên quan đối với bất kỳ sự phát triển hoặc hoạt động nào được cân bằng trong phương trình chính sách tổng thể Nhưng nó có nguy cơ gây ra sự cân bằng cho phép những thông lệ không bền vững tiếp tục lộng

Trang 2

hành mà không có kiểm soát Việc thiết kế và phát triển các hệ thống nông nghiệp trong tương lai sẽ phụ thuộc vào quan điểm phát triển bền vững mà các nhà hoạch định chính sách và các cố vấn của họ áp dụng Sự lựa chọn này sẽ phụ thuộc vào bản chất, giá trị và sự quan tâm của họ cũng như các bằng chứng khoa học Xem xét hàng loạt các hệ thống nông nghiệp cho thấy, hệ thống canh tác có năng suất cao hoặc trên đất đai màu mỡ thường rất bền vững trong điều kiện nông nghiệp thuần túy, ít nhất là 50 năm (Tait và Morris, 2000) Trong từ điển thuật ngữ mục tiêu cạnh tranh, đây là những hệ thống nông nghiệp có thể duy trì tính bền vững dưới góc độ kinh tế và nông nghiệp nếu có thể nuôi sống dân số thế giới ngày một đông lên, và nếu cần thiết có thể giữ lại một số đất canh tác dành cho các mục tiêu đa dạng sinh học và cảnh quan (Avery, 1993) Trong môi trường nông nghiệp mỏng manh, trên đất biên, sườn dốc, đất ít phì nhiêu hoặc khu vực có lượng mưa thấp, hệ thống nông nghiệp rộng lớn dựa trên phương pháp hữu cơ có thể tồn tại trong nhiều thế kỷ với mức năng suất thấp Chúng có xu hướng trở nên không bền vững một khi các thông

lệ thay đổi trong nỗ lực cải thiện sản lượng Ví dụ thông qua chế độ canh tác hoặc tưới tiêu phù hợp, phương pháp hữu cơ sẽ sử dụng đầu vào hóa chất hoặc chăn thả quá mức

2 Cơ sở lý luận

a) Phát triển nông nghiệp bền vững

Phát triển nông nghiệp bền vững là một khái niệm xã hội liên quan đến việc quản lý tài nguyên thiên nhiên với mục đích có lợi cho con người Do đó, khái niệm này mở ra các cách giải thích khác nhau tùy thuộc vào quan điểm và giá trị làm nền tảng cho mục đích đó Farrell và Hart (1998) đã mô tả hai quan điểm cạnh tranh về tính bền vững

- Quan điểm giới hạn phê phán tập trung vào những lo ngại về khả năng vận

chuyển và hạn chế nguồn lực của trái đất và nhu cầu bảo tồn tài sản tự nhiên để cung cấp các dịch vụ và giá trị quyết định về sự sống còn của nhân loại

- Quan điểm các mục tiêu cạnh tranh tập trung vào cân bằng các mục tiêu xã

hội, kinh tế và sinh thái nhằm đáp ứng hàng loạt các nhu cầu của con người, bao gồm sức khỏe, tri thức và tự do chính trị cũng như môi trường lành mạnh và các nhu cầu về vật chất khác

Phần lớn các cuộc tranh luận về tính bền vững của hệ thống nông nghiệp đều dựa trên phạm vi có thể hỗ trợ một mức độ đa dạng sinh học động thực vật hoang dã nhất định tại các trang trại Đối với hầu hết nông dân theo định hướng thương mại (hữu cơ hoặc thông thường), sự hiện diện của động vật hoang dã dẫn tới cắt giảm năng suất và được xem là không mong muốn (Carr và Tait, 1991) Trường hợp nông dân muốn cạnh tranh (bền vững về mặt kinh tế), các nhà hoạch định chính sách chấp nhận rằng họ không có khả năng khuyến khích đa dạng sinh học như là một trong những mục tiêu chính tại khu vực canh tác của các trang trại Đối với các khu vực không canh tác khác, có thể giảm thiểu tác động của hệ thống nông nghiệp đối với đa dạng sinh học hoang dã bằng cách sử dụng hiệu quả công nghệ sạch Do

đó, việc áp dụng quan điểm mục tiêu cạnh tranh, các hệ thống nông nghiệp thông thường không có tác động tiêu cực về môi trường, ngoại trừ trong bối cảnh đa dạng sinh học của khu vực canh tác Đa dạng sinh học tối đa ở cấp khu vực có thể đạt được nhờ các hệ thống sản xuất cây trồng đáp ứng nhu cầu sản xuất, môi trường, đa

Trang 3

dạng sinh học và thẩm mỹ, kết hợp mạnh mẽ các hệ thống canh tác hữu cơ và thông thường (Dawson, 2000) Điều kiện quan trọng nhất ở đây là phải tránh việc tăng cường một cách không phù hợp các hệ thống nông nghiệp ở các vùng nhạy cảm hoặc sử dụng quá nhiều các đầu vào công nghệ như thuốc trừ sâu hoặc phân bón Tỷ

lệ lý tưởng của các loại hệ thống canh tác khác nhau trong một khu vực sẽ phụ thuộc vào sự cân bằng giữa nhu cầu nông học, cảnh quan và đa dạng sinh học và tiềm năng đa dạng của diện tích đất để đáp ứng nhu cầu đó

b) Cải thiện tính bền vững của hệ thống nông nghiệp

Trọng tâm của hầu hết các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp đối với các hệ thống nông nghiệp tích hợp hữu cơ và liên quan là hướng tới sự bền vững mà

bỏ qua nhu cầu canh tác trên những khu đất màu mỡ nhất Gần như ở khắp mọi nới

trên thế giới có hai mô hình nông nghiệp tương phản: triết lý giác ngộ hiện đại, dựa

trên tính hợp lý khoa học và các công nghệ liên quan để đưa ra các giải pháp cho

các vấn đề; triết lý hậu hiện đại, quay trở lại một kỷ nguyên trước của sự hài hòa

với thiên nhiên, tránh công nghệ như một giải pháp cho các vấn đề canh tác Quan điểm chính trị-xã hội phản ánh bản chất của các cuộc tranh luận tác động đến chính sách canh tác hơn là đi sâu vào sự thật về bản chất của nó Ở một bên là các hệ thống nông nghiệp thông thường hoặc thâm canh và ở phía bên kia là các hệ thống hữu cơ Ở giữa, thuật ngữ các hệ thống nông nghiệp tích hợp được cả hai bên tranh luận tuyên bố Các hệ thống hữu cơ thường được miêu tả là các hệ thống canh tác bền vững một cách toàn diện và các hệ thống thông thường thì ngược lại Tuy nhiên, như đã được lập luận trong bài báo này, không có lý do gì để cả hai không thể bền vững như nhau; và cả hai đều hoàn toàn bình đẳng với nhau vì chúng có thể hoạt động như hệ thống có tổ chức của các thành phần liên kết và hành vi của hệ thống có lẽ sẽ hoàn toàn bị thay đổi, nếu các thành phần được thêm vào hoặc bị loại

bỏ Bản chất hệ thống này được khẳng định trong cả hai trường hợp bởi những khó khăn của nông dân khi vượt qua ranh giới phân chia các hệ thống và sự dễ dàng tương đối để có thể di chuyển theo hai hướng đến hoặc từ phân chia đó

Dựa trên kinh nghiệm này, trong việc cân nhắc cách chính phủ tác động đến

sự đổi mới và sự hấp thu công nghệ cho các hệ thống nông nghiệp bền vững, bài báo này chấp nhận quan điểm mục tiêu cạnh tranh về tính bền vững Điều này có thể cung cấp các chính sách cần thiết để đối phó với bản chất phức tạp và tính liên kết giữa các hệ thống nông nghiệp hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập WTO Đổi mới công nghệ có vai trò quan trọng trong việc cải thiện tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp thông qua một loạt các cải tiến về kỹ thuật, công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, giảm tải lượng độc tố, thay thế bằng các giải pháp

an toàn hơn, giảm tải lượng chất dinh dưỡng trong đất, giảm tổn thất khí nitơ (Pitkin

và công sự, 1996; Scottish Natural Heritage, 1996; Tait và Pitkin, 1995) hoặc giảm lượng năng lượng không tái tạo được sử dụng trong chu kỳ canh tác Bài viết tập trung vào các hệ thống nông nghiệp thâm canh thường trên các loại đất màu mỡ nhất vì chúng ta sẽ dựa vào các hệ thống này để nuôi cả nhân loại ngày một đông lên trong môi trường chính sách hỗn loạn Có thể hiểu rằng, toàn cầu hóa các hệ thống sản xuất thực phẩm và tự do hóa thị trường khiến nông dân chịu áp lực ngày càng tăng và họ sẽ phản ứng lại bằng nhiều biện pháp phòng ngừa rủi ro hơn trước đây Nông dân những nhà cung cấp cho thị trường hàng hóa sẽ chịu áp lực để đảm bảo rằng họ có một vụ mùa tốt về chất lượng và số lượng trong năm khi giá cây

Trang 4

trồng cao Nhưng họ sẽ phải đưa ra quyết định về sử dụng phân bón và kiểm soát dịch hại đầu vào trước khi có thông tin về giá thị trường liên quan Việc áp dụng công nghệ mới có thể được các nông dân chấp nhận và có tác động lớn hơn và nhanh hơn đến tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp hơn bất kỳ lựa chọn nào khác hiện có

3 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết nghiên cứu tác động của chính phủ tới đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ để phát triển nông nghiệp bền vững Bài viết nghiên cứu về thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững của các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), nơi có nền nông nghiệp phát triển nhất trên thế giới Đây cũng là nơi mà tác động của chính phủ tới phát triển nông nghiệp bền vững thông qua đổi mới sáng tạo và áp dụng khoa học công nghệ đáng được coi là mô hình kiểu mẫu để các nước đi sau như Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng Bài viết tổng hợp lại kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài (được giới thiệu trong phần tài liệu tham khảo) về hiện trạng phát triển nông nghiệp bền vững tại các nước phát triển nhất của EU dưới

sự tác động của môi trường chính sách và khoa học công nghệ vừa minh bạch vừa chặt chẽ Do vậy, phương pháp nghiên cứu của tác giả sẽ là phân tích, so sánh và tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu có từ trước đây Từ những phân tích nhận định, dựa trên điều kiện thực tế của Việt Nam, đặc biệt là thực trạng những vùng sâu vùng xa để phát triển thâm canh bền vững dựa trên lợi ích kinh tế của người dân, xã hội, môi trường và các đối tượng hữu quan Kết luận nghiên cứu của tác giả sẽ chỉ

ra những điều kiện tiên quyết để đạt được điều này, nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước đi tiên phong trong lĩnh vực thâm canh bền vững

4 Kết quả nghiên cứu

a) Pháp triển nông nghiệp bền vững tại châu Âu

Chính phủ ngày càng hoạt động trong bối cảnh quốc tế và sự tự do hành động quốc gia đang giảm dần Tuy nhiên, như thông tin từ các báo cáo chính sách quốc gia gần đây cho thấy, có sự khác nhau đáng kể về các quy định và chính sách

ở mỗi nước châu Âu Sự ủng hộ cho cải cách CAP (Common Agricultural Policy –

chính sách nông nghiệp chung) và loại bỏ cơ chế hỗ trợ nông nghiệp được coi là mạnh nhất ở Anh, Pháp và Tây Ban Nha, vì các nước này tin rằng phần lớn cộng đồng nông nghiệp của họ sẽ có thể tồn tại và thậm chí có thể thịnh vượng trong nền kinh tế thị trường tự do Tuy nhiên, tại các quốc gia cũng có những quan điểm ủng

hộ cho việc duy trì các hệ thống hiện tại Đan Mạch và Hà Lan, trong số các quốc gia được nghiên cứu, có lịch sử phát triển chính sách lâu nhất để hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu và khuyến khích phát triển các hóa chất bền vững về môi trường hơn, thường đi trước các chính sách của EU Tuy nhiên, ngay cả ở những nước này, nhiều nông dân nhận thấy canh tác thương mại luôn luôn cần phải dựa vào thuốc trừ sâu ở một mức độ nào đó Mối quan tâm về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cao hơn ở Anh, Pháp và Tây Ban Nha Nhưng ở Pháp và Tây Ban Nha, tính bền vững của việc cung cấp nước và sử dụng cho mục đích tưới tiêu là những vấn đề chính Mối quan tâm của công chúng về cây trồng biến đổi gen đã tăng lên nhanh chóng ở hầu hết các nước châu Âu trong hai năm qua, đáng chú ý nhất là ở Anh và Pháp Các phản ứng chính sách đối với những lo ngại này ở các nước châu Âu cũng ngày

Trang 5

càng trở nên lỗi thời với các Chỉ thị của Ủy ban châu Âu (EC – European Commission) và triển vọng hài hoà các chính sách về công nghệ sinh học ở EU đang

giảm dần (Levidow và công sự, 2000) Cũng có những dấu hiệu cho thấy những mối quan tâm này đang lan rộng đến các nơi khác trên thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ, nơi chúng có thể có tác động tức thời đến các kế hoạch của các công ty hóa chất và hạt giống Tại EU, các cải cách đối với CAP đã được thúc đẩy, trong số những điều

khác của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT – Global Agreement on Tariffs and Trade) và sau đó là của WTO là một phần của chương

trình nghị sự tự do hóa thương mại toàn cầu Hỗ trợ cho sản lượng cây trồng sẽ bị loại bỏ và các cơ chế thay thế sẽ cần phải có để tránh thiệt hại cho các lợi ích phi lương thực của nông nghiệp Chương trình nghị sự nông nghiệp cho các cuộc đàm phán này, và cũng trong OECD, đã chuyển sang bao gồm các mối quan tâm phi thực phẩm và đa chức năng (OECD, 1998) Tuy nhiên, mối quan tâm của công chúng về toàn cầu hoá vẫn còn, bao gồm cả tính bền vững của hệ thống sản xuất lương thực, tốc độ đổi mới công nghệ ngày càng nhanh và sức mạnh của các công

ty đa quốc gia trong kiểm soát thương mại nông nghiệp (Tait và Bruce, 2000) Các

đề xuất của Chương trình nghị sự 2000 (CEC, 1998) đã ban cho các cơ quan môi trường và các nhóm lợi ích có vai trò chính đáng hơn trong cuộc tranh luận về việc liệu các mục tiêu kép của việc cải thiện khả năng cạnh tranh và bảo vệ môi trường nông thôn có thể được kết hợp hay không hoặc chúng có tương thích và phải được giải quyết riêng hay không Trong bối cảnh này, các công ty phát triển các sản phẩm sáng tạo cho nông nghiệp có thể phải đối mặt với một khoảng thời gian hỗn loạn kể

cả trong môi trường pháp lý và trước mặt dư luận trong một thời gian tới Sự chậm trễ và không chắc chắn trong môi trường pháp lý và chính sách sẽ có ảnh hưởng đến bản chất và thời gian đầu tư của các công ty

b) Vai trò của chính sách KHCN và đổi mới sáng tạo trong phát triển nông nghiệp bền vững tại châu Âu

Ở hầu hết các nước châu Âu, công nghệ sinh học được xem như một lĩnh vực công nghệ mới nổi cần hỗ trợ của nhà nước nhằm khuyến khích chuyển giao kiến thức nhanh hơn từ phòng thí nghiệm ra thị trường để đảm bảo vị trí cạnh tranh của châu Âu trong nền kinh tế toàn cầu (Tait và Williams, 1999) Tuy nhiên, đầu tư nhiều vào công nghệ sinh học dược phẩm phản ánh tiềm năng lợi nhuận lớn hơn của thị trường này so với thị trường công nghệ sinh học nông nghiệp Mặc dù ngành công nghiệp hóa chất nông nghiệp được coi là cực kỳ quan trọng đối với khả năng cạnh tranh tổng thể của ngành công nghiệp châu Âu trên thị trường thế giới nhưng không được xem là cần hỗ trợ để khuyến khích sự đổi mới

Các chính sách của chính phủ nhằm hỗ trợ sự đổi mới, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ sinh học nông nghiệp, có thể giúp phát triển nhanh hơn nhiều lựa chọn công nghệ với tiềm năng cải thiện tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp bằng cách giảm sử dụng thuốc trừ sâu và cải thiện chất lượng hoặc năng suất của cây trồng Ít ai nghi ngờ về sự cần thiết, và lợi ích từ hỗ trợ từ khu vực công cho nghiên cứu cơ bản và đào tạo các nhà khoa học, kỹ sư và nhà quản lý có trình độ cao Nghiên cứu của (Chataway và Tait, 1993) cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong công nghệ sinh học nông nghiệp không thể đổi mới độc lập với chiến

lược của các công ty đa quốc gia (MNC – MultiNational Company) và thực sự nếu

họ là những người đổi mới thành công, họ sẽ bị các MNC thâu tóm Các rào cản

Trang 6

thâm nhập đối với các doanh nghiệp nhỏ trong ngành công nghiệp hóa chất và công nghệ sinh học phát sinh từ các cơ chế quản lý mạnh mẽ ở những khu vực này, chỉ các công ty lớn mới có thể chịu đựng được thời gian dẫn đầu thị trường lâu dài và

có khả năng xây dựng chuyên môn cần thiết để đối phó với hệ thống pháp luật rắc rối trên toàn thế giới (Tait và Williams, 1999) Trong hoàn cảnh hiện tại, nếu các quy định trở nên khắt khe hơn và phức tạp hơn, đóng góp của các doanh nghiệp nhỏ

và và vừa để đổi mới cho canh tác bền vững có thể được sát nhập với các chiến lược

của MNC Do đó, các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới (STI – Science, Technology and Innovation) của chính phủ ít có tác động đến chiến lược nghiên cứu

và phát triển của các MNCs Mặc dù họ có thể cung cấp hỗ trợ ngắn hạn cho các DNNVV, cho đến nay chưa có bằng chứng nào chỉ ra sự hỗ trợ này ảnh hưởng trực tiếp đến các loại sản phẩm nông nghiệp Một cách tiếp cận tích cực và tích hợp hơn đối với các chính sách STI là cần thiết nếu muốn đạt được mục tiêu phát triển các sản phẩm sáng tạo cho nông nghiệp nhanh hơn chóng hơn

5 Kết luận

Chính phủ có thể ảnh hưởng đến cả sự phát triển và sự hấp thu công nghệ cho các hệ thống nông nghiệp bền vững Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghệ của các công ty sẽ bao gồm:

- Hệ thống quy định và phê duyệt cho các sản phẩm mới tham gia thị trường, (như cho thuốc trừ sâu và cây trồng biến đổi gen); sự rõ ràng và chắc chắn của các

hệ thống này và sự thuận tiện mà các công ty có thể tiếp cận các hệ thống;

- Hạn chế sử dụng một số sản phẩm được coi là gây tổn hại đến môi trường hoặc sức khỏe;

- Chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ và cạnh tranh quốc tế

Trong khi có cơ hội để cải thiện tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp thông thường thông qua việc áp dụng công nghệ mới, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng môi trường chính sách đang gửi tín hiệu khó hiểu hoặc mâu thuẫn tới các công ty phát triển công nghệ và nông dân đang sử dụng nó Quy định của chính sách nông nghiệp chung WTO gồm cải cách đối với hỗ trợ nông nghiệp từ khuyến khích sản xuất lương thực và đổi mới công nghệ sang phát triển nông thôn ở những vùng khó khăn và các mục tiêu môi trường cụ thể như bảo tồn loài và môi trường sống (CAP Review Group, 1995) Xu hướng chính sách chung là chuyển nông dân ra khỏi các

hệ thống canh tác thông thường dựa trên công nghệ, hướng tới các hệ thống tích hợp hữu cơ và liên kết Các lập luận về nhu cầu duy trì hoặc tăng sản lượng lương thực hiện nay không quan trọng trong giới chính sách và điều này làm cho việc tập trung vào khuyến khích phát triển bền vững thông qua phát triển và sử dụng công nghệ mới trở nên khó khăn hơn Giả thuyết thúc đẩy hầu hết các sáng kiến chính sách nông nghiệp xem thặng dư lương thực sẽ tiếp tục là vấn đề chứ không phải là tài sản cho tương lai gần (Anon, 1994; Jordan và Hutcheon, 1994) Tuy nhiên, nhận định này có thể thay đổi do biến động khí hậu trong thời gian ngắn hoặc biến đổi khí hậu dài hạn ảnh hưởng đến sản xuất lương thực ở những khu vực quan trọng, dẫn đến thiếu hụt trong một vài năm và gây áp lực tăng sản lượng Phương pháp tiếp cận chính sách mạnh mẽ và thận trọng hơn sẽ cho phép lựa chọn gia tăng sản lượng lương thực mà không gây tác hại đến môi trường Điều này hàm ý một nhu cầu về một môi trường chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ và đồng thời

Trang 7

thúc đẩy khả năng cạnh tranh quốc tế của hầu hết các hệ thống sản xuất nông nghiệp trên toàn thế giới Giai đoạn đầu tiên của dự án tách động của chính sách lên công

nghệ cho nông nghiệp PITA (Policy Influence on Technology for Agriculture) đã

kiểm tra môi trường chính sách liên quan đến việc phát triển thuốc trừ sâu và cây trồng biến đổi gen ở một loạt các nước châu Âu và cũng ở cấp độ liên minh châu

Âu tập trung vào các chính sách với một loạt các tác động trực tiếp và gián tiếp đến

sự đổi mới ở cấp độ công ty và sự hấp thu công nghệ mới ở cấp độ trang trại để cải thiện tính bền vững của các hệ thống nông nghiệp:

- Các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới có thể có tác động trực tiếp đến nghiên cứu và phát triển và ra quyết định trong công nghiệp;

- Các chính sách thúc đẩy bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, điều chỉnh tác động môi trường của hệ thống nông nghiệp, trực tiếp thúc đẩy tính bền vững và

đa dạng sinh học, điều chỉnh thuốc bảo vệ thực vật và cây trồng biến đổi gen;

- Chính sách hỗ trợ trang trại và cải cách CAP (Common Agriculture Policy)

Nếu thị trường cho công nghệ mới thiếu tính chắc chắn và các hệ thống điều tiết đang ở trạng thái thông lưu thì ngành nông nghiệp trong thời gian dài sẽ không khuyến khích đầu tư vào đổi mới Tuy nhiên, đây có thể là một hiệu ứng trì hoãn, đặc biệt trong trường hợp thuốc trừ sâu và cây trồng biến đổi gen, các công ty được

sử dụng để hoạt động với thời gian dẫn là 15-20 năm, khiến thị trường ngắn hạn và biến động chính sách ít liên quan đến quyết định của họ Giai đoạn thứ hai của dự

án PITA, sau khi phân tích chính sách, bao gồm một loạt các cuộc phỏng vấn với các nhà quản lý cấp cao trong các công ty phát triển thuốc trừ sâu, công nghệ sinh học và hạt giống

Tài liệu tham khảo:

Anon (1994) Sustainable Development: the UK Strategy London: HMSO

Avery, D.T (1993), “Environmental aspects of agriculture overwhelm critics”, in Feedstuffs, 22 November

CAP Review Group (1995), European Agriculture: the Case for Radical Reform, Ministry

of Agriculture, Fisheries and Food, PB2279, p 10

CEC (1998), Agenda 2000 - Agriculture; Full Text, DGVI, Section 3, Policy Objectives for the CAP

Carr, S and J Tait (1991), “Differences in the Attitudes of Farmers and Conservationists and their Implications” in Journal of Environmental Management, N°32, pp 281-294

Chataway, J and J Tait (1993), Management of Agriculture-Related Biotechnology: Constraints on Innovation” in Technology Analysis and Strategic Management, N°5(4), pp

345-367

Conway, G.A (1998) The Doubly Green Revolution, Penguin Books, London

Dawson, K (2000), “Genetically Modified Crops: Heroes or Villains?” in M.P Cottam, D.W Harvey, R.P Pape and J Tait (Eds.), Foresight and Precaution, Proceedings of ESREL 2000, SARS and SRA-Europe Annual Conference, Edinburgh 15-17 May 2000, Balkema, Rotterdam, pp 879- 886

Farrell, A and M Hart (1998), “What does sustainability really mean? The search for useful indicators” in Environment, N°409: 4-9, pp 26-31

Giddens, A (1999) BBC Reith Lectures 1999, http://news.bbc.co.uk/hi/english/static/

events/reith_99/ HMSO (1994) Sustainable Development: the UK Strategy, Cm 2426

Jordan, V.W.L and J.A Hutcheon, (1994) “Economic viability of less intensive farming systems designed to meet current and future policy requirements: 5 year summary of the LIFE

Trang 8

project” in J Clarke et al (Eds) Arable Farming under CAP Reform Aspects of Applied Biology, N° 40 Vol 1, Association of Applied Biologists, pp 61-68

Legg, W (2000) Sustainability and Multifunctionality in Agriculture: Overview and Conceptual Framework Asian Productivity Organisation, Seminar on the Role of Multifunctionality in Agriculture Policy Reform Tokyo, 26 January-3 February 2000

Levidow, L., S Carr and D Wield (2000) “Genetically modified crops in the European Union: regulatory conflicts as precautionary opportunities” in Journal of Risk Research, N°3(3),

pp 189-208

Myers, N and J.L Simon (1994), Scarcity or Abundance? A Debate on the Environment, W.W Norton & Company, New York

Scottish Natural Heritage (1996) TIBRE Handbook, SNH Publications Section, Battleby, Redgorton, Perth (authored by Keith Dawson and Joyce Tait)

Tait, J and D Morris (2000), “Sustainable development of agricultural systems: competing objectives and critical limits”, Futures

Tait, J and R Williams (1999), “Policy Approaches to Research and Development: Foresight, Framework and Competitiveness” in Science and Public Policy, N°26(2), pp 101-112

Tait, J and P Pitkin (1995), “New Technology for Environmental Benefits: Opportunities for Industry” in Proceedings, Brighton Crop Protection Conference, Weeds, Vol 2, pp 593-602

Ngày đăng: 17/10/2022, 10:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w