1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN

93 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Khả Năng Áp Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt Lên Mặt Hàng Nước Giải Khát Công Nghiệp Tại Việt Nam
Tác giả Trương Ngọc Phong
Người hướng dẫn TS. Đinh Công Khải
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính Sách Công
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 357,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU (13)
    • 1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách (13)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (14)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (14)
    • 1.5 Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, và dữ liệu nghiên cứu (14)
    • 1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu (15)
    • 1.7 Cấu trúc luận văn (15)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT (16)
    • 2.1. Giới thiệu (16)
    • 2.2 Khung phân tíc h Kinh tế học về thuế (16)
    • 2.3 Thuế tiêu thụ đặc biệt (18)
    • 2.4 Chính sách thuế đối với nước giải khát trên thế giới (19)
    • 2.5 Lý thuyết hàm cầu tiêu dùng (20)
    • 2.6 Các mô hình nghiên cứu cầu tiêu dùng (20)
      • 2.6.1 Mô hình phương trình đơn (20)
      • 2.6.2 Các mô hình hàm cầu hệ thống (Demand Systems) (21)
    • 2.7 Tổng quan các nghiên cứu liên quan (23)
      • 2.7.1 Nghiên cứu ngoài nước (23)
      • 2.7.2 Nghiên cứu trong nước (27)
    • 2.8 Tóm tắt chương (29)
  • CHƯƠNG 3. MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ ƯỚC LƯỢNG (30)
    • 3.1 Giới thiệu chương (30)
    • 3.2 Sơ đồ nghiên cứu (30)
    • 3.3 Lựa chọn mô hình nghiên cứu (33)
    • 3.4 Các giả thuyết nghiên cứu (37)
    • 3.5 Dữ liệu nghiên cứu (37)
    • 3.6 Vấn đề ước lượng (39)
    • 3.7 Các thủ tục ước lượng mô hình (40)
    • 3.8 Tóm tắt chương (41)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN (42)
    • 4.1 Giới thiệu chương (42)
    • 4.2 Khái quát về ngành nước giải khát Việt Nam (42)
    • 4.3 Ngoại tác tiêu cực từ nước giải khát (42)
    • 4.4 Xây dựng hàm cầu nước giải khát và xác định độ co giãn (43)
    • 4.5 So sánh kết quả ước lượng độ co giãn với một số nghiên cứu trước (44)
    • 4.6 Phân tích chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát (46)
      • 4.6.1 Phân tích tính kinh tế của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát (46)
      • 4.6.2 Phân tích tính công bằng của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát (47)
      • 4.6.3 Phân tích tính đơn giản của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát (47)
    • 4.7 Phân tích tác động kinh tế của thuế đối với nước giải khát (49)
    • 4.8 Tóm tắt chương (50)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH (51)
    • 5.1 Kết luận (51)
    • 5.2 Khuyến nghị chính sách (51)
    • 5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo (53)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (54)
  • PHỤ LỤC (59)

Nội dung

GIỚI THIỆU

Bối cảnh và vấn đề chính sách

Ngành công nghiệp nước giải khát đang trở thành một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn, với tổng doanh thu đạt 11.870 tỷ VND và sản lượng tiêu thụ lên đến 2.083,06 triệu lít trong năm 2013 Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 19,35% trong giai đoạn 2009 - 2013, nhờ vào điều kiện khí hậu nóng ẩm và thị trường với dân số trẻ Mức tiêu thụ bình quân đầu người hiện chỉ đạt 23 lít/năm, thấp hơn mức trung bình thế giới là 40 lít/năm, cho thấy tiềm năng tăng trưởng lớn Dự báo, tiêu thụ nước giải khát sẽ tiếp tục gia tăng và trở thành thức uống phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ tại Việt Nam.

Tháng 2 năm 2014 Bộ Tài Chính Việt Nam đưa nước giải khát có ga không cồn vào danh mục các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất 10%, và đệ trình Quốc hội xem xét thông qua Theo Bộ Tài chính, việc lạm dụng đồ uống có thể dẫn tới các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ bị bệnh béo phì, tiểu đường, sỏi thận, loãng xương, sâu răng Dự thảo này vấp phải phản ứng mạnh mẽ từ phía các nhà sản xuất nước giải khát có ga, đặc biệt là các nhà sản xuất nước giải khát nước ngoài, họ cho rằng không có bằng chứng y học nào xác thực cho thấy nước giải khát có ga gây ra các vấn đề sức khỏe, thuế nhắm vào nước giải khát có ga là chính sách vi phạm nguyên tắc “Đối xử quốc gia”, đồng thời đưa ra các lập luận về tác động tiêu cực của thuế đến ngành sản xuất nước giải khát, cũng như nền kinh tế.

Trên thế giới, nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Phần Lan, và Pháp đã áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát, chủ yếu dựa trên hàm lượng đường Một số nước, như Ai Cập và Đan Mạch, từng áp thuế nhưng đã bãi bỏ hoặc giảm mức thuế Việc đánh thuế này gây tranh cãi với hai lập luận chính: một bên cho rằng nước giải khát gây ra vấn đề sức khỏe và cần hạn chế sử dụng, trong khi bên kia cho rằng đây là chính sách thuế không hiệu quả và gây tổn thất cho nền kinh tế Tại Việt Nam, việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt cho nước giải khát vẫn đang gây tranh cãi, và chưa có cơ sở rõ ràng để quyết định.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm phân tích hiệu quả của chính sách thuế đối với nước giải khát, đồng thời đưa ra kiến nghị về việc có nên áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng này hay không.

Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu như trên, nghiên cứu này cần phải trả lời 4 câu hỏi sau:

(1) Có tồn tại ngoại tác tiêu cực khi sử dụng nước giải khát hay không?

(2) Chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát có phải là chính sách thuế hiệu quả?

(3) Tác động kinh tế của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát lên các bên liên quan 1 như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng cho ngành nước giải khát công nghiệp, với phạm vi nghiên cứu là thị trường nước giải khát công nghiệp tại Việt Nam.

Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, và dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết kinh tế học về thuế, tập trung vào việc phân tích khả năng áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt cho mặt hàng nước giải khát tại Việt Nam Tác giả sẽ sử dụng lý thuyết về chính sách thuế hiệu quả được Stiglitz (1986) đề xuất để làm cơ sở cho phân tích này.

Các bên liên quan trong nền kinh tế bao gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất và GDP Người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi sự giảm thặng dư tiêu dùng, trong khi nhà sản xuất trải qua giảm doanh thu và thặng dư sản xuất Hơn nữa, sản lượng sản xuất giảm cũng dẫn đến sự suy giảm GDP Một hệ thống thuế được coi là hiệu quả khi đáp ứng ba tiêu chí: tính hiệu quả kinh tế, tính công bằng và tính đơn giản.

Đề tài sử dụng lý thuyết cầu tiêu dùng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nước giải khát tại Việt Nam Kỹ thuật phân tích định lượng được áp dụng để xây dựng hàm cầu và đo lường độ co giãn của cầu theo giá và thu nhập Kết quả này sẽ hỗ trợ trong việc phân tích tính kinh tế và tính công bằng của chính sách thuế liên quan đến mặt hàng nước giải khát.

Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu được trích từ bộ dữ liệu điều tra mức sống

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả kinh tế của việc áp thuế đối với nước giải khát, cung cấp cơ sở cho các nhà quản lý trong việc quyết định có nên thực hiện thuế hay không Bên cạnh đó, phân tích nhu cầu nước giải khát của hộ gia đình cũng hỗ trợ các nhà sản xuất và cơ quan quản lý xây dựng chính sách quản lý ngành hiệu quả hơn.

Cấu trúc luận văn

Luận văn này được cấu trúc thành 5 chương, bắt đầu với Chương 1, nơi giới thiệu tổng quan về chính sách, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cùng với phương pháp nghiên cứu Chương 2 tập trung vào cơ sở lý thuyết, bao gồm khung phân tích thuế, lý thuyết cầu tiêu dùng và kết quả từ các nghiên cứu liên quan Trong Chương 3, các mô hình kinh tế lượng được sử dụng để đo lường cầu tiêu dùng, các vấn đề ước lượng, và phương pháp thu thập và xử lý số liệu được trình bày Chương 4 cung cấp kết quả phân tích cùng với các thảo luận liên quan Cuối cùng, Chương 5 sẽ tóm tắt kết luận và đưa ra các khuyến nghị chính sách.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Giới thiệu

Nghiên cứu này phân tích hiệu quả của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng cho nước giải khát công nghiệp tại Việt Nam Tác giả sử dụng khung phân tích kinh tế học về thuế của Stiglitz (1986) và lý thuyết thuế tiêu thụ đặc biệt để thực hiện phân tích Đồng thời, lý thuyết cầu tiêu dùng được áp dụng để ước lượng độ co giãn của cầu theo giá và thu nhập, nhằm hỗ trợ cho việc đánh giá hiệu quả của chính sách thuế này.

Khung phân tíc h Kinh tế học về thuế

Theo Stiglitz (1986), một hệ thống thuế hiệu quả cần đáp ứng năm tiêu chí: (i) Hiệu quả kinh tế; (ii) Tính công bằng; (iii) Tính đơn giản về mặt hành chính; (iv) Tính linh hoạt; và (v) Tính trách nhiệm về mặt chính trị Trong số đó, ba yếu tố cốt lõi của chính sách thuế hiệu quả là hiệu quả kinh tế, tính công bằng và tính đơn giản, sẽ được phân tích chi tiết trong luận văn này.

Chính sách thuế hiệu quả kinh tế cần đảm bảo không can thiệp vào việc phân bổ nguồn lực và không gây ra bóp méo hành vi kinh tế Khi áp dụng thuế, tổn thất vô ích mà xã hội phải chịu phải được giữ ở mức thấp nhất Tổn thất này xảy ra do tác động của thuế lên giá cả hàng hóa; khi một mặt hàng bị đánh thuế, giá của nó tăng lên trong khi thu nhập của người tiêu dùng không thay đổi, dẫn đến giảm ngân sách chi tiêu Hệ quả là người tiêu dùng sẽ cắt giảm chi tiêu hoặc tìm kiếm sản phẩm thay thế, làm giảm lợi ích mà họ nhận được Do đó, một chính sách thuế được coi là hiệu quả khi tổn thất vô ích do thuế gây ra là tối thiểu.

Khi một loại hàng hóa có cầu hoặc cung ít co giãn theo giá, việc áp thuế lên hàng hóa này sẽ dẫn đến ít biến động trong hành vi tiêu dùng hoặc sản xuất Điều này có nghĩa là thuế đối với những mặt hàng này gây ra ít tổn thất vô ích cho xã hội Hình 2.1 dưới đây minh họa tác động này (Mankiw, 2010, tr 179-181).

Hình 2.1: Tổn thất vô ích dưới tác động của thuế

Khi cung ít co giãn, phần tổn thất vô ích

Giá (b) Cung co giãn nhiều

Khi cung co giãn nhiều, phần tổn thất vô ích càng lớn. Độ lớn của thuế càng nhỏ Độ lớn của thuế

Giá (c) Cầu co giãn ít

Cung Độ lớn của thuế

Khi cầu ít co giãn, phần tổn thất vô ích càng nhỏ.

Cầu Sản lượng Độ lớn của thuế

Khi cầu co giãn nhiều, phần tổn thất vô ích càng lớn.

Tính công bằng kinh tế trong hệ thống thuế yêu cầu đảm bảo công bằng dọc và công bằng ngang Công bằng ngang đạt được khi các đối tượng tương đồng về mọi mặt đều phải chịu thuế như nhau, ví dụ như việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên nước giải khát có đường Ngược lại, công bằng dọc yêu cầu đối xử khác nhau với các đối tượng khác nhau, với chính sách thuế yêu cầu người có khả năng chi trả cao hơn sẽ đóng thuế nhiều hơn Hệ thống thuế đạt được công bằng dọc khi hàng hóa chịu thuế có nhu cầu co giãn nhiều theo thu nhập Ngoài ra, tính đơn giản về mặt hành chính yêu cầu hệ thống thuế phải dễ quản lý và tiết kiệm chi phí, bao gồm chi phí trực tiếp cho công tác hành thu và chi phí gián tiếp mà người nộp thuế phải gánh chịu.

Tổn thất vô ích thấp: thường đạt được khi hàng hóa có cầu hoặc cung ít co giãn theo giá.

Công bằng ngang: các hàng hóa có tính chất như nhau phải được đối xử như nhau.

Chính sách thuế hiệu quả Tính công bằng

Công bằng dọc: người có khả năng chi trả cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn.

Doanh thu thuế cần phải lớn hơn chi phí hành thu để đảm bảo hiệu quả trong quản lý thuế Chi phí hành thu phụ thuộc vào bốn yếu tố chính: (1) ghi chép không bị đánh thuế, đặc biệt là chi phí kiểm tra sổ sách của các doanh nghiệp lớn; (2) tính phức tạp của hệ thống thuế, khi nhiều quy định sẽ làm tăng chi phí quản lý; (3) sự phân biệt về thuế suất, nơi các chủ thể nộp thuế có thể chuyển giao nghĩa vụ xuống mức thuế suất thấp hơn, tạo ra chi phí bổ sung; và (4) bản chất của loại thuế, với thuế thu nhập thường có chi phí hành thu cao hơn Một sắc thuế được coi là hiệu quả khi doanh thu thuế vượt qua chi phí hành thu, với ba tính chất quan trọng của chính sách thuế hiệu quả được thể hiện rõ ràng.

Hình 2.2: Khung phân tích kinh tế học về thuế

Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên đề xuất của Stiglitz (1986).

Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt (Excise Tax) là loại thuế đánh vào những mặt hàng mà chính phủ không khuyến khích sử dụng, như thuốc lá, rượu bia và xe hơi đắt tiền Các sản phẩm này thường có những đặc điểm như: tiêu dùng gây ra ngoại tác tiêu cực, cầu ít co giãn theo giá, độ co giãn của cầu theo thu nhập lớn hơn 1, và cần được chính phủ điều tiết trong sản xuất và kinh doanh (Mccarten và Stotsky, 1995).

Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt hiệu quả được xác định bằng chi phí ngoại tác tại điểm tiêu dùng tối ưu xã hội, với đặc điểm dễ quản lý và tổn thất xã hội thấp do cầu hàng hóa ít co giãn theo giá Loại thuế này ít bị phản đối vì phù hợp với đạo đức xã hội, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả khi đánh vào hàng hóa không có hàng thay thế, giúp giảm ngoại tác tiêu cực và tăng nguồn thu Tính công bằng của thuế thể hiện qua việc áp dụng lên các mặt hàng mà người có khả năng chi trả cao mới sử dụng, trong khi tính khả thi thể hiện ở chi phí thu thuế thấp nhờ vào việc dễ xác định nguồn thu và kiểm soát Nhà quản lý thuế có thể căn cứ vào doanh số của các nhà sản xuất để thu thuế, với số lượng nhà sản xuất trong lĩnh vực này rất hạn chế (Mccarten và Stotsky, 1995).

Chính sách thuế đối với nước giải khát trên thế giới

Nhiều quốc gia áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt cho nước giải khát, ví dụ như ở Hoa Kỳ, thuế soda được tính theo từng bang, với mức thuế 1,8%/lit tại Washington; tại Hà Lan, nước giải khát có ga chịu thuế tiêu dùng 2,97%/lít; và ở Phần Lan, thuế tiêu thụ đặc biệt cho đồ uống là 1,81%/lít.

Ở Croatia, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát không có cồn là 2,24% mỗi lít Tại Thái Lan, thuế suất được phân biệt cho các loại đồ uống như nước soda, đồ uống tổng hợp và nước trái cây, với mức thuế lần lượt là 25% (0,77 bath/440 cc) và 20% (0,37 bath/440 cc) Năm 2012, Pháp cũng áp dụng thuế đối với đồ uống có đường với mức thuế khoảng 2 cent cho mỗi hộp.

Một số quốc gia đã từng áp dụng thuế đối với nước giải khát nhưng sau đó đã giảm hoặc bãi bỏ Cụ thể, Ai Cập đã hạ thuế suất từ 65% xuống 25% và duy trì mức này Tại Ai-len, thuế đã được giảm từ 0,10 £/gallon trong giai đoạn 1975–1979, tiếp tục giảm 0,37 £/gallon từ 1980–1990, và giảm thêm 0,29 £/gallon trong giai đoạn 1990–1992 trước khi bãi bỏ hoàn toàn vào tháng 11/1992 Đan Mạch cũng đã áp dụng thuế đường trong đồ uống nhưng chỉ sau hơn một năm đã quyết định bãi bỏ.

Lý thuyết hàm cầu tiêu dùng

Lý thuyết kinh tế cung cấp hai phương pháp để tạo ra hàm cầu: (1) tối ưu hóa trong kinh tế học cổ điển và (2) xác định tổng số phương trình vi phân cho mỗi sản phẩm (Theil & Clements, 1987) Phương pháp tối ưu hóa cho phép xây dựng các hàm cầu đáp ứng các tính chất cơ bản như tính cộng dồn, đồng nhất, đối xứng và ngược chiều Trong nghiên cứu này, tác giả chọn phương pháp tối ưu hóa để hình thành hàm cầu, với hai cách tiếp cận thay thế lẫn nhau, hay còn gọi là cách tiếp cận đối ngẫu.

Người tiêu dùng tối đa hóa độ thỏa dụng (Max U(q)) trong điều kiện ngân sách hạn chế, dẫn đến việc hình thành hàm cầu Marshallian, phụ thuộc vào giá cả và thu nhập Hàm cầu Marshallian được thể hiện qua một công thức cụ thể (xem chi tiết tại Phụ lục 3a).

Cách thứ hai để người tiêu dùng tối thiểu hóa chi phí (Min pq) là duy trì độ thỏa dụng không đổi, với giả định rằng sự thay đổi thu nhập sẽ bù đắp cho sự thay đổi giá cả, từ đó giữ nguyên mức độ thỏa dụng ban đầu Phương pháp này dẫn đến việc hình thành hàm cầu Hicksian, một hàm phụ thuộc vào giá cả và độ thỏa dụng (Hugh Gravelle & Ray Rees, 2004, trích trong Phạm Thành Thái, 2013) (xem chi tiết tại Phụ lục 3b).

Mục tiêu nghiên cứu này là phát triển một hàm cầu cho mặt hàng nước giải khát, dựa trên giá và thu nhập, nhằm ước lượng độ co giãn của cầu theo hai yếu tố này Tác giả áp dụng phương pháp xây dựng hàm cầu Marshallian để thực hiện nghiên cứu.

Các mô hình nghiên cứu cầu tiêu dùng

2.6.1 Mô hình phương trình đơn

Mô hình phương trình đơn là các dạng hàm cầu cơ bản được sử dụng để nghiên cứu cầu tiêu dùng, bao gồm hàm log kép và phân tích Stone Mặc dù dễ ước lượng, các mô hình này bỏ qua những ràng buộc quan trọng như tính cộng dồn, tính đối xứng và tính đồng nhất, dẫn đến việc các tham số ước lượng thường kém hiệu quả Hơn nữa, mô hình phương trình đơn gặp khó khăn trong việc ước lượng các mô hình có nhiều tham số, trong bối cảnh các yếu tố ảnh hưởng đến cầu ngày càng đa dạng.

2.6.2 Các mô hình hàm cầu hệ thống (Demand Systems)

Các nhà kinh tế học đã cải tiến hệ thống phương trình hàm cầu để khắc phục nhược điểm của mô hình phương trình đơn bằng cách áp dụng các ràng buộc của lý thuyết cầu Các hàm cầu hệ thống này đáp ứng các yêu cầu như tính cộng dồn, tính đồng nhất và tính đối xứng, đồng thời được xây dựng dựa trên một hàm thỏa dụng chặt chẽ Một số mô hình điển hình bao gồm mô hình Worrking-Lesser, hệ thống chi tiêu tuyến tính của Stone, mô hình Rotterdam, hàm cầu Translog và hàm cầu AIDS.

Hàm cầu AIDS, được Deaton và Muellbauer giới thiệu vào năm 1980, là dạng hàm cầu hệ thống phổ biến nhất từ đầu những năm 1980 Hàm cầu này được xây dựng dựa trên các điều kiện giới hạn về ngân sách, với mỗi phương trình hàm cầu có thể được biểu diễn dưới dạng w i  i .

Hàm cầu AIDS là một mô hình tuyến tính, ngoại trừ dạng hàm translog của chỉ số giá lnP trong phương trình (2.2) Để khắc phục vấn đề này, chỉ số giá Stone được áp dụng.

) , hoặc chỉ số giá Laspeyres

Hàm cầu tuyến tính, được ký hiệu là LA/AIDS (Linear Approximate Almost Ideal Demand System), được phát triển để khắc phục các vấn đề khi các đơn vị đo lường giá khác nhau Các ràng buộc này đã được nghiên cứu bởi Deaton và các cộng sự, nhằm tối ưu hóa sự chính xác trong việc phân tích cầu tiêu dùng.

Muellbauer (1980) đề xuất để đảm bảo tính bền vững lý thuyết cho hàm cầu AIDS là tính cộng dồn, tính đồng nhất, và tính đối xứng (xem Phụ lục 5).

Các công thức tính các độ co giãn trong hàm cầu AIDS như sau: Độ co giãn theo chi tiêu (thu nhập):

(2.4) Độ co giãn theo giá riêng:

Và độ co giãn theo giá chéo:

Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu về tác động kinh tế của thuế đối với nước giải khát đang thu hút sự chú ý ở nhiều quốc gia như Đan Mạch, Ireland, Hoa Kỳ, Pháp và Thái Lan Các nghiên cứu này thường dựa vào độ co giãn của cầu theo giá và thu nhập để phân tích ảnh hưởng của thuế đến nhà sản xuất, người tiêu dùng và nguồn thu thuế Một trong những nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này là của Oxford Economics.

(2013), Berardi và đ.t.g (2013), Adam và Smed (2012), Alviola và đ.t.g (2010), và Zheng và Kaiser (2008)

Theo Oxford Economics (2013), chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào nước giải khát không phải là giải pháp hiệu quả cho chính phủ Nghiên cứu chỉ ra rằng nước giải khát không phải là mặt hàng xa xỉ và có cầu co giãn nhiều theo giá, khiến mục tiêu tăng doanh thu thuế không đạt được, đặc biệt ở các nước đang phát triển Hơn nữa, thuế này có thể làm giảm doanh thu từ các loại thuế khác và gây ra tình trạng mất việc làm, như đã xảy ra ở Đan Mạch và Hungary Việc áp thuế lên nước giải khát có thể làm tăng giá trong nước, khiến người tiêu dùng chuyển sang mua hàng ở quốc gia lân cận có giá thấp hơn Cuối cùng, chi phí hành chính cho việc quản lý thuế là một thách thức lớn đối với chính phủ, đồng thời cũng làm gia tăng chi phí cho các nhà sản xuất.

Nghiên cứu của Berardi và đồng tác giả (2013) về tác động của thuế nước ngọt tại Pháp cho thấy giá các loại đồ uống chịu thuế đã tăng đáng kể sau khi Chính phủ áp dụng mức thuế 7,16 € mỗi hectoliter Kết quả cho thấy thuế đã được chuyển sang giá bán gần như hoàn toàn, với nước uống có hương vị và nước trái cây tăng khoảng 6 cent/lít Chính sách thuế này không chỉ làm giảm lợi nhuận của các nhà bán lẻ mà còn gây khó khăn cho các hãng sản xuất trong việc tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến một số hãng tìm cách chuyển thuế vào giá thành sản xuất.

Nghiên cứu của Adam và Smed (2012) tại Đan Mạch phân tích tác động của các loại thuế khác nhau lên tiêu thụ nước giải khát, bao gồm nước giải khát, sữa tươi, nước uống không cồn, nước hương vị trái cây, nước đóng chai và nước ép trái cây Sử dụng mô hình AIDS với dữ liệu tiêu dùng từ 3.000 hộ gia đình trong giai đoạn 2006-2009, kết quả cho thấy độ co giãn của cầu theo giá của các mặt hàng này đều âm, với nước giải khát và nước hương vị trái cây có độ co giãn mạnh nhất Nước giải khát nhạy cảm nhất với thu nhập, trong khi sữa tươi ít nhạy cảm hơn Các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, trình độ học vấn, số lượng trẻ em và mức thu nhập cũng ảnh hưởng đến cầu Nghiên cứu phân tích ba chính sách thuế: thuế theo dung tích, thuế theo hàm lượng đường, và thuế đồng bộ Kết quả cho thấy thuế theo hàm lượng đường làm giảm tiêu thụ đường hiệu quả nhất, trong khi thuế đồng bộ không đạt mục tiêu giảm tiêu thụ do người tiêu dùng chuyển sang sản phẩm giảm giá Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nước giải khát không phải là nguyên nhân duy nhất gây béo phì, và cần có chính sách thúc đẩy tiêu thụ rau quả, cải thiện lối sống và thay đổi nhận thức thay vì chỉ dựa vào thuế.

Nghiên cứu của Alviola và đ.t.g (2010) đã sử dụng mô hình AIDS và kỹ thuật ước lượng hai bước của Heckman để phân tích cầu cho các mặt hàng đồ uống tại Hoa Kỳ, bao gồm nước trái cây, cà phê, chè, nước giải khát có ga, sữa tươi và nước uống đóng chai Kết quả cho thấy các sản phẩm này có độ co giãn của cầu theo thu nhập và giá riêng biệt, với giá trị lần lượt là 1,023; 0,733; 0,991; 1,141; 0,934; 0,873 và -0,827; -1,244; -1,483; -0,645; -1,977; -1,023 Điều này cho thấy các mặt hàng đồ uống tại Hoa Kỳ là các sản phẩm thông thường và ít co giãn theo giá Ngoài ra, các biến nhân khẩu học và kinh tế xã hội như qui mô hộ gia đình, thu nhập, chủng tộc, tính mùa vụ và khu vực sinh sống cũng ảnh hưởng đến việc tiêu dùng đồ uống, với người dân ở vùng trung tâm và phía nam có xu hướng sử dụng nhiều chè, cà phê và nước giải khát có ga, trong khi người dân ở phía đông Hoa Kỳ sử dụng phổ biến tất cả các mặt hàng này.

Nghiên cứu của Zheng và Kaiser (2008) áp dụng mô hình AIDS để phân tích cầu tiêu dùng đồ uống không cồn tại Hoa Kỳ từ năm 1974 đến 2005 Kết quả cho thấy cầu mặt hàng này có độ co giãn theo giá thấp, với giá trị từ -0,52 đến -0,27 Đặc biệt, tỷ lệ dân số dưới năm tuổi có ảnh hưởng tích cực đến cầu tiêu dùng sữa và nước giải khát, trong khi lại tác động tiêu cực đến cầu nước đóng chai Nghiên cứu khuyến nghị rằng các nhà sản xuất sữa nên tập trung vào việc phát triển sản phẩm sữa dành cho bữa ăn ngoài nhà, như cho học sinh và du khách, nhằm tăng cường sử dụng sữa và giảm tiêu thụ nước giải khát.

Nghiên cứu quốc tế cho thấy rằng cầu tiêu dùng nước giải khát chủ yếu được phân tích qua hàm cầu AIDS, với các yếu tố như giá cả, thu nhập, nhân khẩu học và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến cầu Tác giả sẽ áp dụng hàm cầu AIDS để nghiên cứu cầu nước giải khát tại Việt Nam Cầu tiêu dùng nước giải khát khác nhau giữa các thị trường, với thị trường Mỹ có cầu ít co giãn theo giá, trong khi Đan Mạch và Pháp có cầu co giãn mạnh Ngoài ra, nước giải khát không được coi là hàng xa xỉ Chính sách thuế đối với nước giải khát gây ra nhiều tranh cãi về hiệu quả kinh tế và khả năng giải quyết các ngoại tác tiêu cực.

2.7.2 Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu về thuế đối với nước giải khát còn rất hạn chế Gần đây khi Bộ Tài Chính đề xuất đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát có ga vào đầu năm 2014, Viện nghiên cứu kinh tế Trung Ương Việt Nam dưới sự tài trợ của Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AMCHAM: American Chamber of Commerce) đã thực hiện nghiên cứu đầu tiên Nghiên cứu cầu tiêu dùng nước giải khát có ga với hàm cầu log kép và dữ liệu thu thập tại 6 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, và Nha Trang) Kết quả cho thấy độ co giãn của cầu theo giá đối với mặt hàng nước giải khát có ga là -2,8 Nếu áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất 10% trên giá bán lẻ thì có thể giúp tăng thu ngân sách khoảng 234 tỷ đồng/năm, nhưng ngành công nghiệp nước giải khát có ga có thể sẽ chịu thiệu hại khoảng 851 tỷ đồng, và GDP bị thiệt hại khoảng 0,01% tương đương với 235 tỷ đồng Nghiên cứu này kiến nghị Chính phủ và các các cơ quản lý cân nhắc kỹ và có phương án giải quyết các ảnh hưởng về mặt kinh tế nếu áp thuế lên nước ngọt có ga không cồn (Trần Kim Chung và đ.t.g, 2014) Hạn chế của nghiên cứu này là tác giả đã sử dụng mô hình phương trình đơn với hàm log kép có những hạn chế đã được đề cập trong mục 2.5.1 Ngoài ra, nghiên cứu cũng chưa xem xét ảnh hưởng của các đặc điểm nhân khẩu học đến cầu nước giải khát và dữ liệu chỉ được thu thập ở 6 thành phố chưa hẳn đã đại diện cho toàn quốc.

Ngoài việc nghiên cứu cầu nước giải khát, gần đây đã có một số nghiên cứu về cầu tiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam, tiêu biểu như nghiên cứu của Phạm Thành Thái (2013).

Vu Hoang Linh (2009), và Le Quang Canh (2008).

Phạm Thành Thái (2013) đã nghiên cứu cầu tiêu dùng các sản phẩm thịt và cá ở Việt Nam dựa trên dữ liệu VHLSS 2008, sử dụng các mô hình Working-Lesser, LA/AIDS, và LA/QUAIDS để ước lượng hệ số co giãn theo giá và thu nhập Kết quả cho thấy cầu tiêu dùng thịt và cá bị ảnh hưởng bởi thu nhập, giá cả, biến nhân khẩu học (tuổi chủ hộ, quy mô hộ gia đình, trình độ học vấn, giới tính chủ hộ) và các yếu tố kinh tế xã hội (khu vực, vùng miền, nhóm thu nhập) Tất cả các sản phẩm đều có độ co giãn cầu theo thu nhập dương và theo giá âm Nghiên cứu nhấn mạnh rằng các nhà thiết kế chính sách cần phối hợp chính sách quản lý giá và chính sách thu nhập để thúc đẩy tiêu dùng thịt cá, góp phần giảm tình trạng suy dinh dưỡng ở Việt Nam Hơn nữa, cầu thực phẩm giữa thành thị và nông thôn cùng các nhóm thu nhập có sự khác biệt, do đó cần có các chính sách phù hợp và trọng điểm.

Nghiên cứu của Vu Hoang Linh (2009) sử dụng dữ liệu VHLSS 2006 để phân tích cầu thực phẩm của hộ gia đình Việt Nam, bao gồm các loại thực phẩm như gạo, thịt heo, thịt gia cầm, cá, rau, trái cây, thực phẩm khác và đồ uống, thông qua mô hình LA/AIDS Kết quả cho thấy cầu tiêu dùng thực phẩm bị ảnh hưởng bởi thu nhập, giá cả, các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, quy mô hộ gia đình, trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, tỷ lệ trẻ em và người già trong gia đình, dân tộc) và các biến kinh tế xã hội khác như khu vực, vùng miền và mùa vụ Tất cả các loại thực phẩm đều có độ co giãn theo thu nhập dương và độ co giãn theo giá riêng âm, với mức độ co giãn thấp Đặc biệt, mặt hàng đồ uống có độ co giãn cầu theo thu nhập là 1,02 và theo giá riêng là -1,01 Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt trong tiêu dùng thực phẩm giữa khu vực nông thôn và thành thị, cũng như giữa các vùng miền và nhóm thu nhập khác nhau.

Le Quang Canh (2008) đã sử dụng dữ liệu VHLSS 2004 để nghiên cứu cầu tiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam thông qua mô hình AIDS Nghiên cứu chỉ ra rằng gạo, thịt và cá được coi là hàng hóa thiết yếu, trong khi rau, trái cây và đồ uống lại được xem là hàng hóa xa xỉ Kết quả cũng cho thấy rằng các yếu tố khu vực như thành thị và nông thôn có ảnh hưởng đáng kể đến cầu tiêu dùng thực phẩm, trong khi các yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính và trình độ học vấn có tác động yếu hơn.

Các nghiên cứu trong nước về cầu tiêu dùng và chính sách thuế đối với nước giải khát vẫn còn mới mẻ Hầu hết các nghiên cứu về cầu tiêu dùng thực phẩm chủ yếu áp dụng mô hình AIDS Cầu tiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giá cả, thu nhập, nhân khẩu học và đặc điểm kinh tế xã hội Do đó, nghiên cứu này sẽ kế thừa kết quả từ các nghiên cứu cầu thực phẩm để xây dựng mô hình nghiên cứu cầu nước giải khát tại Việt Nam.

Tóm tắt chương

Trong chương 2, tác giả trình bày khung phân tích kinh tế học về thuế, bao gồm lý thuyết thuế tiêu thụ đặc biệt và lý thuyết cầu tiêu dùng Khung phân tích này chỉ ra rằng một chính sách thuế hiệu quả cần thỏa mãn ba tiêu chí: hiệu quả kinh tế, tính công bằng và tính đơn giản Nghiên cứu cho thấy hàm cầu AIDS là mô hình phổ biến và phù hợp với lý thuyết cầu tiêu dùng, được áp dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về cầu tiêu dùng nước giải khát và thực phẩm tại Việt Nam Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát không ủng hộ chính sách thuế này.

MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ ƯỚC LƯỢNG

Giới thiệu chương

Để phân tích chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt nếu áp lên mặt hàng nước giải khát có phải

Sơ đồ nghiên cứu

Xuất phát từ các câu hỏi nghiên cứu đã đề cập trong Chương 1, nghiên cứu này được thực hiện qua 3 bước như mô tả dưới đây.

Bước 1: Bước này gồm Bước 1b và Bước 1b Bước 1a tác giả trả lời câu hỏi nghiên cứu số

Nước giải khát có thể gây ra những ngoại tác tiêu cực đối với sức khỏe người tiêu dùng, theo các nghiên cứu y học Trong nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp kinh tế lượng và lý thuyết cầu tiêu dùng để ước lượng hàm cầu nước giải khát tại Việt Nam Bằng cách sử dụng dữ liệu từ VHLSS 2010, tác giả tính toán hệ số co giãn của cầu theo giá và thu nhập, nhằm hiểu rõ hơn về hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực này.

Bước 2: Tiến hành phân tích ba tính chất cơ bản của một chính sách thuế hiệu quả như đã nêu ở mục 2.2 và 2.3 Phân tích này nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu số 2: “Liệu chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng nước giải khát có thực sự là một chính sách thuế hiệu quả?” Trong đó, hệ số co giãn của cầu theo giá sẽ giúp xác định tính hiệu quả kinh tế của thuế.

(ii) Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập giúp xác định chính sách thuế có đạt được tính công bằng dọc hay không.

Bước 3 sẽ tập trung vào việc trả lời câu hỏi nghiên cứu số 3 và 4, cụ thể là liệu Chính phủ Việt Nam có nên áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt lên nước giải khát hay không Dựa trên kết luận từ Bước 2, tác giả sẽ phân tích và ước lượng tác động của thuế đối với mặt hàng nước giải khát, dựa trên giả định thuế suất mà Bộ Tài chính Việt Nam đã đề xuất vào tháng 2 năm 2014.

Các bước trong nghiên cứu này được mô tả trong sơ đồ thiết kế nghiên cứu dưới đây.

Hình 3.3: Sơ đồ nghiên cứu

Có ngoại tác tiêu cực

Tiêu thụ nước giải khát có ngoại tác tiêu cực hay không?

Không có ngoại tác tiêu cực

Chính sách thuế hiệu quả

Phân tích chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát

Chính sách thuế không hiệu quả

Hiệu quả kinh tế Tính công bằng Tính đơn giản

2 Tổn thất xã hội là nhỏ nhất

Nguồn thu thuế là lớn hơn 0.

Nguồn thu thuế là bé hơn 0.

TRthuế - TCthuế < 0 Độ co giãn của cầu theo giá Độ co giãn của cầu theo thu nhập

1b Phân tích cầu nước giải khát

- Xây dựng hàm cầu nước giải khát

- Ước tính độ co giãn

Nguồn: Tác giả xây dựng dựa trên tổng quan cơ sở lý thuyết

Công bằng ngang: Các sản phẩm tương tự như nước giải khát cũng phải chịu thuế.

Công bằng dọc: Đối tượng có khả năng chi trả cao thì nộp thuế nhiều.

Lựa chọn mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu về cầu nước giải khát trên thế giới và cầu tiêu dùng ở Việt Nam cho thấy mô hình AIDS là dạng hàm phổ biến nhất Mô hình này không chỉ đảm bảo tính bền vững về lý thuyết cầu mà còn cho phép thiết lập các ràng buộc như tính cộng dồn, tính đồng nhất và tính đối xứng Do đó, nghiên cứu này sẽ áp dụng mô hình AIDS để ước lượng cầu tiêu dùng nước giải khát.

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng cầu nước giải khát ở mỗi quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm thị trường riêng Để xây dựng hàm cầu nước giải khát tại Việt Nam một cách hiệu quả, cần xem xét không chỉ giá cả và thu nhập mà còn các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội của hộ gia đình Bảng 3.1 dưới đây tóm tắt các biến sẽ được sử dụng trong mô hình nghiên cứu kinh tế lượng.

Bảng 3.1: Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu

Các biến Định nghĩa Tác giả

Biến định lượng/định tính

Tỷ phần chi tiêu cho mặt hàng i trong 4 mặt hàng đồ uống

Log(Pj) Giá của mặt hàng j (j = 1,

Tổng chi tiêu của tất cả 4 mặt hàng có trong mô hình

H k : Các biến giả và các biến thuộc nhân khẩu học của hộ gia đình.

Log(Age) Tuổi của chủ hộ.

Adam và Smed (2012); Zheng và Kaiser (2008); Phạm Thành Thái (2013);

Vu Hoang Linh (2009); Le Quang Canh (2008)

Bảng 3.1: Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu (tiếp theo)

Các biến Định nghĩa Tác giả

Biến định lượng/định tính

Log(Hsize) Quy mô hộ gia đình

Phạm Thành Thái (2013); Vu Hoang Linh (2009); Le Quang Canh (2008)

Log(Edu) Học vấn của chủ hộ

Phạm Thành Thái (2013); Vu Hoang Linh (2009); và Le Quang Canh (2008)

Biến giả cho biến giới tính của chủ hộ (Nam

=1, 0 nếu khác; Nữ 1, 0 nếu khác)

Phạm Thành Thái (2013); Vu Hoang Linh (2009); Le Quang Canh (2008)

Biến giả cho biến khu vực (Thành thị =1, 0 nếu khác; Nông thôn 1, 0 nếu khác)

Phạm Thành Thái (2013); Vu Hoang Linh (2009); Le Quang Canh (2008)

Biến giả cho biến nhóm thu nhập, i = 1,

2, 3, 4, 5 (Nhóm 1: thấp nhất; Nhóm 5: cao nhất) trong đó, nhóm 1 (Group1) là nhóm tham chiếu

Canh (2008) + Định tính i, j 4 mặt hàng đồ uống (1: nước giải khát; 2: sữa; 3: cà phê; 4: chè)

Là nhiễu ngẫu nhiên được giả định là tuân theo quy luật phân phối chuẩn với giá trị trung bình bằng không và phương sai không đổi

Tỷ phần chi tiêu cho mặt hàng i trong bốn loại đồ uống (nước giải khát, cà phê, sữa tươi và trà) được xác định bằng cách tính tỷ lệ giữa giá trị chi tiêu cho mặt hàng i và tổng chi tiêu cho cả bốn loại đồ uống này.

Giá của các mặt hàng đồ uống, được biểu thị bằng Log(P j), có mối quan hệ nghịch biến với chi tiêu cho mặt hàng đó theo lý thuyết kinh tế vi mô; tức là khi giá tăng, chi tiêu cho đồ uống sẽ giảm.

Log(x) đại diện cho tổng chi tiêu của bốn mặt hàng trong mô hình, được xem là thu nhập dành cho chi tiêu Theo lý thuyết kinh tế học vi mô, chi tiêu cho các hàng hóa thông thường sẽ tăng lên khi thu nhập gia tăng Nghiên cứu của Adam và Smed (2012) cùng Alviola và cộng sự (2010) chỉ ra rằng nước giải khát là sản phẩm thông thường, do đó, tác giả giả định rằng các mặt hàng đồ uống trong nghiên cứu cũng thuộc loại hàng hóa này Kỳ vọng là mối quan hệ giữa biến này và biến phụ thuộc sẽ có xu hướng đồng biến.

Tuổi của chủ hộ, được thể hiện qua Log(Age), có ảnh hưởng đáng kể đến thói quen tiêu dùng Nghiên cứu của Adam và Smed (2012) chỉ ra rằng các gia đình có chủ hộ trẻ thường có xu hướng mua nhiều nước giải khát Điều này cũng được xác nhận trong các nghiên cứu của Zheng và Kaiser (2008) cùng với Phạm Thành Thái (2013) và Vu Hoang Linh.

Nghiên cứu của Le Quang Canh (2008) và các tác giả khác (2009) chỉ ra rằng tuổi của chủ hộ có tác động đáng kể đến chi tiêu cho thực phẩm Điều này dẫn đến kỳ vọng rằng mối quan hệ giữa biến tuổi và chi tiêu thực phẩm là nghịch biến.

Log(Hsize): Qui mô hộ gia đình Nghiên cứu của Adam và Smed (2012), Alviola và đ.t.g

Nghiên cứu năm 2010 chỉ ra rằng cầu nước giải khát tăng lên theo số lượng thành viên trong gia đình Các nghiên cứu tại Việt Nam của Phạm Thành Thái (2013) và Vu Hoang Linh (2009) cũng đã khẳng định mối liên hệ này.

Le Quang Canh (2008) chỉ ra rằng quy mô hộ gia đình có tác động tích cực đến nhu cầu tiêu dùng thực phẩm, do đó, mối quan hệ giữa biến này và biến phụ thuộc được kỳ vọng là đồng biến.

Nghiên cứu của Adam và Smed (2012) chỉ ra rằng khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng lên, nhu cầu tiêu thụ nước giải khát giảm xuống Điều này được giải thích bởi việc nhận thức về tác động của nước giải khát đến sức khỏe ngày càng được cải thiện theo mức độ học vấn Các nghiên cứu khác của Phạm Thành Thái (2013), Vu Hoang Linh (2009) và Le Quang Canh cũng hỗ trợ cho nhận định này.

Nghiên cứu năm 2008 chỉ ra rằng trình độ học vấn ảnh hưởng đáng kể đến cầu thực phẩm tại Việt Nam Tác giả nhận định rằng thị trường nước giải khát Việt Nam cũng phản ánh xu hướng tương tự như các thị trường khác, với nhận thức về sức khỏe tăng lên theo trình độ học vấn của chủ hộ Do đó, có thể kỳ vọng rằng mối quan hệ giữa biến này và biến phụ thuộc sẽ mang tính chất nghịch biến.

Gender: Giới tính chủ hộ, là biến giả (nam =1, nữ = 0) Nghiên cứu của Adam và Smed

Nghiên cứu năm 2012 chỉ ra rằng giới tính ảnh hưởng đến nhu cầu nước giải khát Các nghiên cứu của Phạm Thành Thái (2013), Vũ Hoàng Linh (2009), và Lê Quang Canh (2008) tại Việt Nam cho thấy khi chủ hộ là nam, nhu cầu thực phẩm của hộ gia đình sẽ cao hơn Tác giả nhận định rằng việc chi tiêu cho đồ uống ở Việt Nam tương tự như chi tiêu cho thực phẩm, do đó kỳ vọng rằng mối quan hệ giữa biến này và biến phụ thuộc sẽ đồng biến.

Khu vực sinh sống được phân chia thành hai nhóm chính: thành thị và nông thôn, với thành thị được đánh giá là 1 và nông thôn là 0 Nghiên cứu của Alviola và các đồng tác giả (2010) chỉ ra rằng nhu cầu về các loại đồ uống khác nhau giữa hai khu vực này Đồng thời, các nghiên cứu của Phạm Thành Thái (2013), Vu Hoang Linh (2009) và Le Quang Canh (2008) cho thấy người dân thành thị thường có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho thực phẩm so với người dân nông thôn Do đó, có thể kỳ vọng rằng mối quan hệ giữa khu vực sinh sống và biến phụ thuộc sẽ đồng biến.

Nghiên cứu của Phạm Thành Thái phân chia thu nhập hộ gia đình thành 5 nhóm, trong đó nhóm 1 đại diện cho thu nhập thấp nhất và nhóm 5 cho thu nhập cao nhất.

Nghiên cứu của Vu Hoang Linh (2013), Le Quang Canh (2008) và các tác giả khác chỉ ra rằng cầu tiêu thụ thực phẩm cao cấp như thịt bò và thịt gà tăng theo mức thu nhập của hộ gia đình Đối với nước giải khát, sản phẩm này có thể được xem là hàng hóa bình thường cho các hộ gia đình khá giả, trong khi lại là hàng xa xỉ đối với những hộ có thu nhập thấp Do đó, có thể kỳ vọng rằng mối quan hệ giữa biến này và biến phụ thuộc sẽ là đồng biến Các mặt hàng đồ uống được nghiên cứu bao gồm nước giải khát, sữa, cà phê và chè.

Các giả thuyết nghiên cứu

Quy luật cầu trong kinh tế học vi mô chỉ ra rằng, khi các yếu tố khác giữ nguyên, giá cả tăng sẽ dẫn đến sự giảm sút trong lượng cầu đối với hàng hóa thông thường, và ngược lại, khi giá cả giảm, lượng cầu sẽ tăng lên.

Độ co giãn của cầu theo giá thường có giá trị âm, cho thấy mối quan hệ ngược giữa giá cả và cầu tiêu dùng Nghiên cứu thực nghiệm của Adam và Smed (2012), Alviola và cộng sự (2010), cũng như Zheng và Kaiser đã chỉ ra những đặc điểm này trong cầu tiêu dùng đồ uống.

Nghiên cứu năm 2008 chỉ ra rằng độ co giãn của cầu theo giá riêng là âm Tương tự, nghiên cứu của Trần Kim Chung và các đồng nghiệp vào năm 2014 tại Việt Nam cũng xác nhận kết quả này Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm đã đề cập, giả thuyết được xây dựng nhằm kiểm định một phần lý thuyết cầu đối với các sản phẩm đồ uống tại Việt Nam.

Giả thuyết 1 (H1): Các độ co giãn của cầu theo giá riêng cho các mặt hàng đồ uống có giá trị âm.

Khi thu nhập tăng, lượng cầu đối với hàng hóa thông thường cũng tăng, cho thấy độ co giãn của cầu theo thu nhập là dương Ngược lại, với hàng hóa thứ cấp, khi thu nhập tăng, lượng cầu lại giảm, dẫn đến độ co giãn âm Đồ uống không cồn thường được xem là hàng hóa thông thường, nhưng có thể trở thành hàng hóa xa xỉ đối với người thu nhập thấp Nghiên cứu của Adam và Smed (2012) cùng Alviola và cộng sự (2010) chỉ ra rằng độ co giãn cầu theo thu nhập của đồ uống không cồn là dương, xác nhận chúng là sản phẩm thông thường Dựa trên lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm này, giả thuyết được xây dựng để kiểm định lý thuyết cầu cho sản phẩm đồ uống tại Việt Nam.

Giả thuyết 2 (H2): Các độ co giãn của cầu theo thu nhập (chi tiêu) cho các mặt hàng đồ uống có giá trị dương.

Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình tại Việt Nam năm 2010 (VHLSS 2010), do Tổng cục Thống kê thực hiện.

Bài viết này cung cấp thông tin chi tiết về thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình, cùng với các dữ liệu nhân khẩu học của các thành viên, bao gồm tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, giáo dục và y tế.

Tác giả tiến hành phân tích dữ liệu từ 9,399 hộ gia đình trong mẫu “thu nhập và chi tiêu” để nghiên cứu chi tiêu cho nước giải khát Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung vào các mặt hàng liên quan như sữa tươi, bia, cà phê uống liền và chè uống liền, được đề cập trong các nghiên cứu trước đây của Adam và Smed (2012), Alviola và cộng sự (2010), cùng với Zheng và Kaiser (2008).

Dữ liệu tiêu dùng hộ gia đình cho các mặt hàng đồ uống tại mục muc5a2 bao gồm nước giải khát (mã 146), sữa tươi (mã 143), cà phê (mã 148), và chè (mã 150) Thông tin trong dữ liệu ghi nhận khối lượng tiêu thụ (lít/tháng; kg/tháng), trị giá tiêu thụ (nghìn đồng/tháng), cùng với khối lượng mua, tự túc, và các nguồn cung cấp như được cho, biếu, tặng.

Nghiên cứu này chỉ tập trung vào các hộ gia đình mua sắm hoặc đổi hàng hóa để tiêu dùng trong tháng bình thường, không bao gồm các phần tự túc, hàng hóa nhận được từ biếu tặng, và tiêu dùng trong các dịp lễ tết Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu được mô tả trong bảng dưới đây.

Bảng 3.2: Tổng quan mẫu nghiên cứu

Có tiêu dùng Không tiêu dùng Tỷ lệ trong mẫu

Giá trị tiêu dùng lớn nhất

Giá trị tiêu dùng nhỏ nhất

Không tiêu dùng hộ nghìn đồng/tháng hộ %

Nguồn: Thống kê của tác giả từ bộ dữ liệu VHLSS 2010

Trong số 9.399 hộ gia đình được khảo sát, chỉ có 1.739 hộ, tương đương 18,5%, tiêu dùng nước giải khát tại thời điểm điều tra Chè là mặt hàng phổ biến nhất, với 5.338 hộ (56,79%) sử dụng, theo sau là sữa tươi với 2.126 hộ (22,62%) Cà phê chỉ có 875 hộ sử dụng Để giải quyết vấn đề thiếu dữ liệu từ các hộ không tiêu dùng, tác giả sẽ thu thập dữ liệu giá trong mục 3.6, nâng tổng cỡ mẫu nghiên cứu lên 3.399 quan sát Chỉ số giá cả của các mặt hàng được tính bằng cách chia tổng chi tiêu cho khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong tháng, với kết quả giá trung bình được trình bày trong Bảng 3.3.

Bảng 3.3: Giá trung bình của các sản phẩm đồ uống

Mặt hàng Đơn vị tính

Nguồn: Thống kê của tác giả từ bộ dữ liệu VHLSS 2010

Vấn đề ước lượng

Dữ liệu nghiên cứu từ bộ dữ liệu VHLSS 2010 gặp vấn đề do tỷ lệ hộ gia đình không tiêu dùng cho các mặt hàng khảo sát quá cao, với hơn 60% hộ không chi tiêu cho nước giải khát, cà phê và sữa tươi, cùng với 43% hộ không tiêu dùng chè Sự thiếu hụt này dẫn đến thiên lệch trong việc ước lượng mô hình hàm cầu khi chỉ dựa vào các quan sát dương.

Các hộ tiêu dùng bằng không không có dữ liệu về lượng và giá trị tiêu dùng, dẫn đến thiếu thông tin giá cả Để khắc phục điều này, Chern và cộng sự (2003) đã giả định rằng các hộ này đối diện với giá trung bình dựa trên thu nhập, khu vực và thời gian khảo sát Vu Hoang Linh (2009) cho rằng giá của các hộ không tiêu dùng là giá trung bình của các hộ khác trong cùng xã Phạm Thành Thái (2013) cũng giả định rằng giá của mỗi hộ gia đình tương ứng với mức thu nhập và khu vực sinh sống Nghiên cứu này cho rằng giá của hộ tiêu dùng bằng không sẽ được xác định dựa trên giá trung bình của từng loại hàng hóa tại khu vực và mức thu nhập Bộ dữ liệu VHLSS2010 đã phân chia mẫu điều tra thành 5 nhóm thu nhập và 2 vùng thành thị, nông thôn, tạo ra 10 giá trung bình cho mỗi sản phẩm, với 4 sản phẩm sử dụng cho ước lượng mô hình, tổng cộng có 40 giá trung bình được tạo ra.

Các thủ tục ước lượng mô hình

Dữ liệu khảo sát chứa các quan sát có tiêu dùng bằng không, dẫn đến việc chỉ sử dụng các quan sát dương để ước lượng sẽ gây ra sự chệch trong kết quả do thiên lệch chọn mẫu, từ đó làm giảm khả năng dự báo của mô hình.

Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc là phần ngân sách (wi) mà hộ gia đình chi cho mặt hàng i, với wi bằng không nếu không mua và dương nếu có mua Theo Chern và đồng tác giả (2003), phần chi tiêu bằng không sẽ được kiểm soát bởi một biến tiềm ẩn không quan sát được Tác giả áp dụng phương pháp ước lượng hai bước của Heckman để giải quyết vấn đề không tiêu dùng, với giả định rằng các quan sát không tiêu dùng xuất phát từ vấn đề chọn mẫu.

Thủ tục ước lượng của Heckman bao gồm hai bước chính: đầu tiên, xây dựng mô hình quyết định tiêu dùng thông qua hồi quy Probit để xác định xác suất mua sắm sản phẩm; thứ hai, tính toán tỷ lệ IMR (Inverse Mill’s Ratio) từ kết quả hồi quy Probit bằng phương pháp ước lượng tối đa IMR là biến kết nối giữa quyết định tham gia tiêu dùng và phương trình cầu, giúp giải quyết vấn đề thiên lệch chọn mẫu nếu tham số π có ý nghĩa thống kê Sau khi thực hiện quy trình này, toàn bộ 9.399 quan sát trong bộ dữ liệu VHLSS2010 sẽ được sử dụng để ước lượng hàm cầu đồ uống tại Việt Nam.

Tỷ lệ IMR sau đó được đưa vào mô hình LA/AIDS để ước lượng Hàm cầu có bổ sung biến IMR được viết lại như sau:

4  4  6 w i  i   ij ln p j   i ln x   w i ln p i    ik H k   ij IMR U i (3.8) j  i1

 w i ln p i là chỉ số Laspeyres i1

Do ràng buộc cộng dồn tạo ra ma trận hiệp phương sai suy biến, một phương trình cần được loại bỏ trước khi tiến hành ước lượng Trong nghiên cứu này, phương trình hàm cầu của mặt hàng chè đã được loại bỏ Đồng thời, các ràng buộc về tính đồng nhất và tính đối xứng cũng được áp dụng cho các tham số trong quá trình ước lượng mô hình (xem chi tiết tại Phụ lục 7).

Tóm tắt chương

Trong Chương 3, tác giả tóm tắt sơ đồ nghiên cứu với ba bước chính: Bước 1 gồm hai nội dung, tìm hiểu ngoại tác tiêu cực của nước giải khát và ước lượng hàm cầu, xác định độ co giãn của cầu theo thu nhập và giá Bước 2 phân tích ba tiêu chí của chính sách thuế hiệu quả, trong khi Bước 3 đánh giá hiệu quả của chính sách thuế và ra quyết định đánh thuế Mô hình nghiên cứu sử dụng là mô hình AIDS, kết hợp với các biến nhân khẩu học và kinh tế xã hội để nghiên cứu cầu tiêu dùng nước giải khát tại Việt Nam Tác giả cũng trình bày cách trích lọc dữ liệu từ bộ dữ liệu VHLSS 2010 và các thủ tục ước lượng mô hình cùng với các phương pháp xử lý vấn đề không tiêu dùng của hộ gia đình.

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 17/10/2022, 08:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Tổn thất vơ ích dưới tác động của thuế - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
Hình 2.1 Tổn thất vơ ích dưới tác động của thuế (Trang 17)
Hình 2.2: Khung phân tích kinh tế học về thuế - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
Hình 2.2 Khung phân tích kinh tế học về thuế (Trang 18)
khác, mơ hình phương trình đơn khó ước lượng các mơ hình có nhiều tham số trong khi các yếu tố ảnh hưởng đến cầu ngày càng được mở rộng (xem chi tiết tại Phụ lục 4). - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
kh ác, mơ hình phương trình đơn khó ước lượng các mơ hình có nhiều tham số trong khi các yếu tố ảnh hưởng đến cầu ngày càng được mở rộng (xem chi tiết tại Phụ lục 4) (Trang 21)
Hình 3.3: Sơ đồ nghiên cứu - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
Hình 3.3 Sơ đồ nghiên cứu (Trang 31)
3.3 Lựa chọn mơ hình nghiên cứu - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
3.3 Lựa chọn mơ hình nghiên cứu (Trang 33)
Bảng 3.1: Các biến được sử dụng trong mơ hình nghiên cứu (tiếp theo) - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
Bảng 3.1 Các biến được sử dụng trong mơ hình nghiên cứu (tiếp theo) (Trang 34)
Bảng 3.2: Tổng quan mẫu nghiên cứu - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
Bảng 3.2 Tổng quan mẫu nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.3: Giá trung bình của các sản phẩm đồ uống - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
Bảng 3.3 Giá trung bình của các sản phẩm đồ uống (Trang 39)
Tỷ lệ IMR sau đó được đưa vào mơ hình LA/AIDS để ước lượng. Hàm cầu có bổ sung biến IMR được viết lại như sau: - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
l ệ IMR sau đó được đưa vào mơ hình LA/AIDS để ước lượng. Hàm cầu có bổ sung biến IMR được viết lại như sau: (Trang 41)
Sau khi thực hiện các thủ tục tính tỷ lệ IMR (xem Phụ lục 8), mơ hình hàm cầu LA/AIDS cho 4 mặt hàng đồ uống ở Việt Nam được ước lượng theo phương pháp SUR (Seemingly Unrelated Regression) - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
au khi thực hiện các thủ tục tính tỷ lệ IMR (xem Phụ lục 8), mơ hình hàm cầu LA/AIDS cho 4 mặt hàng đồ uống ở Việt Nam được ước lượng theo phương pháp SUR (Seemingly Unrelated Regression) (Trang 43)
Kết quả ước lượng với mơ hình LA/AIDS cho thấy hầu hết các tham số trong mơ hình hồi qui đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, các hệ số hồi qui trong mơ hình hàm cầu mặt hàng chè được xác định bằng ràng buộc tính cộng dồn - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
t quả ước lượng với mơ hình LA/AIDS cho thấy hầu hết các tham số trong mơ hình hồi qui đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, các hệ số hồi qui trong mơ hình hàm cầu mặt hàng chè được xác định bằng ràng buộc tính cộng dồn (Trang 44)
Bảng 4.6: So sánh độ co giãn giữa các nghiên cứu khác nhau - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
Bảng 4.6 So sánh độ co giãn giữa các nghiên cứu khác nhau (Trang 45)
(a) Cách tiếp cận tối ưu và hình thành cầu tiêu dùng - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
a Cách tiếp cận tối ưu và hình thành cầu tiêu dùng (Trang 61)
Phụ lục 4: Các dạng hàm cầu mơ hình phương trình đơn - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
h ụ lục 4: Các dạng hàm cầu mơ hình phương trình đơn (Trang 67)
dụng mơ hình phương trình đơn sẽ bỏ qua tác động của các hàng hóa liên quan đến lượng cầu của hàng hóa đang xét khi giá của những hàng hóa liên quan thay đổi. - Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại VN
d ụng mơ hình phương trình đơn sẽ bỏ qua tác động của các hàng hóa liên quan đến lượng cầu của hàng hóa đang xét khi giá của những hàng hóa liên quan thay đổi (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w