lý luận của chủ nghĩa mác lê nin về con người và sự vận dụng trong việc xây dựng con người việt nam phát triển toàn diện
Trang 1NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
1
Trang 2
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI: 3
1.1: Con người là thực thể sinh học – xã hội: 3
1.2: Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình: 5
1.3: Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người: 7
1.4: Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử: 8
1.5: Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội: 10
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN: 12
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
LỜI MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài: Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề con người Trước Mác vấn đề con người chưa được giải đáp một cách khoa học Con người trong tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội Phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn nhân loại Nhờ có chủ nghĩa Mác, Đảng Cộng Sản Việt Nam nhìn nhận được vai trò của con người
Trong thực tế, không ít người rẽ ngang đi tìm khả năng phát triển đó trong chủ nghĩa tư bản Nhiều người trở về phục sinh và tìm sự hoàn thiện con
2
Trang 3người trong các tôn giáo và hệ tư tưởng truyền thống, con người lại “sáng tạo”
ra những tư tưởng, tôn giáo mới cho “phù hợp” hơn với con người Việt Namhiện nay Song nhìn nhận lại một cách thật sự khách quan và khoa học sự tồntại của chủ nghĩa Mác - Lênin trong xã hội ta, có lẽ không ai phủ nhận đượcvai trò ưu trội và triển vọng của nó trong sự phát triển con người
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về conngười tại hội nghị lần IV của ban chấp hành trung ương khoá VII, Đảng ta đã
đề ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàndiện với tư cách là “động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời làmục tiêu của chủ nghĩa xã hội Đó là “con người phát triển cao về trítuệ,cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu nguồn gốc, bảnchất con người và sự vận dụng lý luận của Mác trong việc xây dựng conngười Việt Nam
Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề con người, em đã chọn đềtài “Lý luận của chủ nghĩa Mác – lênin về con người và sự vận dụng trongviệc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.”
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI:
1.1: Con người là thực thể sinh học – xã hội:
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa hai yếu tốsinh
học và yếu tố xã hội
Đối với Mác, con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ pháttriển cao nhất của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử,sáng tạo nên tất cả các thành tựu của văn minh và văn hóa
3
Trang 4Đầu tiên là yếu tố sinh học, về phương diện sinh học: con người là mộtthực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xã hội “Bảnthân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việccon người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có củacon vật” Điều đó có nghĩa rằng con người cũng như mọi động vật khác phảitìm kiếm thức ăn, nước uống, phải “đấu tranh sinh tồn” để ăn uống, sinh đẻcon cái, tồn tại và phát triển Nhưng không được tuyệt đối hóa điều đó Khôngphải đặc tính sinh học, bản năng sinh học, sự sinh tồn thể xác là cái duy nhấttạo nên bản chất của con người, mà con người còn là một thực thể xã hội Khixem xét con người, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, không thểtách rời hai phương diện sinh học và xã hội của con người thành nhữngphương diện biệt lập, duy nhất, quyết định phương diện kia
Không chỉ là một thực thể sinh học, mà con người cũng còn là một bộ
phận của giới tự nhiên “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người đời
sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên” 1 Conngười phục tùng các quy luật của giới tự nhiên, các quy luật sinh học như ditruyền, tiến hóa sinh học và quá trình sinh học của giới tự nhiên Về mặt thểxác, con người sống bằng sản phẩm tự nhiên Vì thế con người phải dựa vàogiới tự nhiên, gắn bó với giới tự nhiên, hòa hợp với tự nhiên mới có thể tồn tại
và phát triển
1 C.Mác và Ph.Ăngghen(2000), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.42, tr.135
4
Trang 5Về yếu tố xã hội: Đặc trưng quy định khác biệt giữa con người với thếgiới loài vật là mặt xã hội Với phương thức biện chứng duy vật, triết học Mácnhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tínhhiện thực xã hội của nó Mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cảivật chất “Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏitrạng thái thuần túy là loài vật” 2 Nếu con vật phải sống dựa hoàn toàn vàocác sản phẩm của tự nhiên, dựa vào bản năng thì con người lại sống bằng laođộng sản xuất, bằng việc cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra các vật phẩm để thỏamãn nhu cầu của mình Nhờ có lao động sản xuất mà con người về mặt sinhhọc có thể trở thành thực thể xã hội, thành chủ thể của “lịch sử có tính tựnhiên”, có lý tính, có “bản năng xã hội” Lao động đã góp phần cải tạo bảnnăng sinh học của con người, làm cho con người trở thành con người đúngnghĩa của nó Lao động là điều kiện kiên quyết, cần thiết và chủ yếu quyếtđịnh sự hình thành và phát triển của con người cả về phương diện sinh học lẫnphương diện xã hội Trong hoạt động, con người không chỉ có các quan hệ lẫnnhau trong sản xuất, mà còn có hàng loạt các quan hệ xã hội khác Tính xã hộicủa con người chỉ có trong xã hội loài người, con người không thể tách khỏi
xã hội và đó là điểm cơ bản làm cho con người khác với các động vật khác.Hoạt động và giao tiếp của con người đã sinh ra ý thức người Tư duy, ý thứccủa con người chỉ có thể phát triển trong lao động và giao tiếp xã hội vớinhau Từ đó, ngôn ngữ xuất hiện và phát triển
Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành
và phát triển của con người luôn bị quy định bởi ba hệ thống quy luật khácnhau nhưng thống nhất với nhau: Hệ thống các quy luật tự nhiên, hệ thốngcác quy luật tâm lý - ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học củacon người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí, hệ thống cácquy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người quan hệ giữa
2 ập, Sđd, t.20, tr.673
5
Trang 6mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hộitrong mỗi con người là thống nhất
Chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng nhưnhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặtsinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưngbản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải đượcnhân hoá để mang giá trị văn minh của con người, và đến lượt nó, nhu cầu xãhội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thốngnhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người
1.2: Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người sản xuất
ra những tư liệu sinh hoạt của mình:
“Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nóichung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng tự phânbiệt với ssúc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinhhoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định.Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếpsản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” 3
3 C Mác và Ph Ăngghen(1995), Toàn tập, Sđd, t.3, tr.29
C.Mác và Ph.Ăngghen(1994), Toàn t
6
Trang 7“Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ởchỗ: loài vượn may mắn lắm chỉ hái lượm trong khi con người lại sản xuất.Chỉ riêng sự khác biệt duy nhất nhưng cơ bản ấy cũng khiến ta không thểchuyển - nếu không kèm theo những điều kiện tương ứng - các quy luật củacác xã hội loài vật sang xã hội loài người” 4
Các nhà tư tưởng trước C Mác cũng đã có những ý kiến khác nhau về sựkhác biệt giữa con người và các động vật khác với tư cách là những dấu hiệu
về nội hàm của khái niệm con người Quan niệm của triết học Mác - Lênin về
sự khác biệt giữa con người và các động vật khác thể hiện tính chất duy vậtnhất quán: xác định sự khác biệt đó dựa trên nền tảng của sản xuất vật chất.Lao động, tức là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của mình, tạo ra con người và xãhội, thúc đẩy con người và xã hội phát triển Đây là điểm khác biệt căn bản,chi phối các đặc điểm khác biệt khác giữa con người với con vật Quan niệmnày được Ph.Ăngghen tiếp tục làm rõ trong tác phẩm “Tác dụng của lao độngtrong biến đổi thành người”5
Điều cần lưu ý là bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tựnhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phânbiệt giữa con người và thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấycũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấyđược bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cáiphổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là duy cái duy nhất Do đó cầnphải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cánhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội
Chúng ta có thể lấy ví dụ con vật sống nhờ vào tự nhiên Con người saukhi biết sản xuất vật chất thì ngày càng phát triển, quyền hạn đặc biệt đókhông bắt nguồn từ cơ bắp mà xuất phát từ tinh thần và trí thức Ong làm tổ
4 C Mác và Ph Ăngghen(1996), Toàn tập, Sđd, t.34, tr.241
5 ập, Sđd, t.20, tr.641-823
7
Trang 8ong, chim làm tổ chim, và hải ly xây những đập nước Nhưng những sảnphẩm như thế hoàn toàn là thuộc phần bản năng của chúng Một loài chimnhất định làm tổ theo cùng cách từ thế hệ này sang thế hệ khác Điều này chothấy rằng tổ là một sản phẩm của bản năng Trong việc làm nhà, cầu, hay bất
kỳ vật dụng nào khác, con người sáng chế và tuyển chọn Họ là những nghệ sĩthực sự, trong khi con vật thì không Thêm nữa, chỉ có con người mới chế tạomáy móc để tạo năng suất Đây là một biểu hiện nữa về năng lực đặc biệt củacon người trong vai trò một người tạo ra các thứ
1.3: Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người:
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin phê phán quan niệm củaFeuerbach đã xem xét con người tách khỏi điều kiện lịch sử cụ thể và hoạtđộng thực tiễn của họ, xem xét con người chỉ như là đối tượng cảm tính, trừutượng, không có hoạt động thực tiễn Feuerbach đã không nhìn thấy nhữngquan hệ hiện thực, sống động giữa người với người trong đời sống xã hội, đặcbiệt là trong sản xuất Do vậy, Feuerbach đã tuyệt đối hóa tình yêu giữa ngườivới người Hơn nữa, đó cũng không phải là tình yêu hiện thực mà là tình yêu
đã được lý tưởng hóa
Phê phán quan niệm sai lầm của Feuerbach và của các nhà tư tưởng khác
về con người, kế thừa các quan niệm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại
và dựa vào những thành tựu của khoa học, chủ nghĩa Mác khẳng định conngười vừa là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa là sản
phẩm của lịch sử xã hội loài người và của chính bản thân con người
C Mác đã khẳng định trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức rằng, tiền đề của
lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là những con người hiện thựcđang hoạt động, lao động sản xuất và làm ra lịch sử của chính mình Cần lưu ý
C.Mác và Ph.Ăngghen(1994), Toàn t
8
Trang 9rằng con người là sản phẩm của lịch sử và của bản thân con người, nhưng conngười, khác với các động vật khác, không thụ động để lịch sử làm mình thay
đổi, mà con người còn là chủ thể của lịch sử
Từ khẳng định ấy ta có thể nhìn được rằng trên thực tế hiện nay loài người đã từng bước tiến sâu vào các thiết bị máy móc, đưa nền văn minh nhânloại phát triển nhảy vọt nhờ sản xuất ra rất nhiều công trình vĩ đại, ta có thể thấy rõ loài người đang tự tạo ra lịch sử Làm cho họ trở thành những con người như đang tồn tại Họ là sản phẩm của lịch sử khi tận mắt chứng kiến sự thay đổi của khoa học, là sản phẩm của bản thân con người khi chính họ đã tạo nên các thiết bị máy móc ấy
1.4: Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử:
Con người vừa là sản phẩm của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, nhưngđồng thời Bởi vậy, quan trọng hơn con người luôn là chủ thể của lịch sử - xãhội C.Mác đã khẳng định “ Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng conngười là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục cái học thuyết ấy quênrằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục
cũng cần phải được giáo dục” Trong tác phẩm Biện chứng của tự
nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng : “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển
dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấykhông phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việclàm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do
ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theonghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sửcủa mình một cách có ý thức bấy nhiêu” Con người và động vật đều có lịch
sử của mình, nhưng lịch sử con người khác với lịch sử động vật
Lịch sử của động vật “là lịch sử nguồn gốc của chúng và sự phát triểndần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy
9
Trang 10không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng có tham dự vàoviệc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và khôngphải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật hiểutheo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch
sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” 6
Hoạt động đầu tiên khiến con người tách khỏi với con vật đó là chế tạocông cụ lao động Nhờ vậy, mà con người đã tạo ra lịch sử của mình “Sángtạo ra lịch sử” là bản chất con người, phải dựa vào các những điều kiện quákhứ, thế hệ trước để lại Một mặt con người phải tiếp tục các hoạt động củathế hệ trước mặt khác phải tiến hành hoạt động mới Khi con người tạo ra lịch
sử thì con người luôn là chủ thể lịch sử và cũng là sản phẩm của lịch sử Con người tồn tại phát triển trong môi trường xác định Là toàn bộ điềukiện tự nhiên xã hội, vật chất tinh thần, quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đếnđời sống con người và xã hội Một mặt, con người là một phần của tự nhiên,
để sống và phát triển vào phụ thuộc quan hệ với tự nhiên Thu nhận và sửdụng nguồn lực tự nhiên phù hợp với bản thân Mặt khác, con người phải tuântheo quy luật tự nhiên và các quá trình như cơ học, vật lý, hóa học, sinh học,tâm sinh lý, Đối với mặt sinh học, con người như tiểu vũ trụ có cấu trúcphức tạp, là hệ thống mở, biến đổi không ngừng và thích nghi nhanh chóng.Bên cạnh đó nó còn cải biến giới tự nhiên để thích ứng và biến đổi bản thânchính nó
Không những vậy, con người còn tồn tại ở môi trường xã hội Con người
là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội Môi trường xã hộ còn là một phần của tựnhiên ảnh hưởng trực tiếp đến con người, là tiền đề để con người phát triển Môi trường xã hội, cá nhân phải có quan hệ với môi trường tự nhiên, tác độngqua lại lẫn nhau, chi phối và quy định
6 ập, Sđd, t.20, tr.476
C.Mác và Ph.Ăngghen(1994), Toàn t
10
Trang 11Ngày nay mọi thứ đều phát triển nhiều môi trường được phát hiện ra.Như môi trường thông tin, kiến thức, điện, hấp dẫn, sinh học, cận tâmlý, Tuy nhiên
có những môi trường mới được phát hiện và nghiên cứu Nhưng chúng đềuthuộc về môi trường tự nhiên hoặc môi trường xã hội Phạm vi, tính chất,cùng với vai trò, tác động đến con người là khác nhau Chúng là những hiệntượng, quá trình cụ thể của môi trường tự nhiên, xã hội và có tác động, ảnhhưởng đến một khía cạnh thuộc phạm vi hẹp
Vận dụng vào thực tiễn ta thấy: Đầu tiên con người là chủ thể tạo nênlịch sử, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân ta, nhândân Việt Nam là những người đã đẩy lùi sự xâm lược của kẻ thù, viết nên lịch
sử nước Việt Nam độc lập tự do như ngày hôm nay Công lao của các vị anhhùng vô cùng lớn Tiếp theo, con người cũng là sản phẩm của lịch sử, khichúng ta chứng kiến cảnh nước nhà lầm than, nhân dân có cuộc sống đau khổchính là
11
Trang 12động lực khiến cha ông ta cầm súng đứng lên đâu tranh giành lại độc lập dântộc, tạo nên những người anh hùng của lịch sử và vang tiếng đến thời nay
1.5: Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội:
Là thực thể sinh học – xã hội, con người khác xa những thực thể sinh họcđơn thuần Cái khác này không chỉ thể hiện ở chỗ cơ thể của con người cómột trình độ tổ chức sinh học cao hơn, mà chủ yếu là ở chỗ con người có mộtlượng rất lớn các quan hệ xã hội với những cấu trúc cực kỳ phức tạp Là thựcthể sinh vật – xã hội, con người đã vượt lên loài vật trên cả 3 phương diện:quan hệ với tự nhiên, quan hệ với cộng đồng (xã hội) và quan hệ với chínhbản thân mình Cả ba quan hệ đó, suy đến cùng đều mang tính xã hội, trong
đó quan hệ giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các quan
hệ khác Cho nên, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã chorằng: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cánhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòanhững quan hệ xã hội” 7
Luận đề của Mác chỉ rõ mặt xã hội trong bản chất con người Đó cũng là
sự bổ khuyết và phát triển quan điểm triết học về con người của Phoiơbắc –quan điểm xem con người với tư cách là sinh vật trực quan và phủ nhận hoạtđộng thực tiễn của con người với tư cách là hoạt động vật chất, cảm tính Luận điểm trên của Mác còn phủ nhận sự tồn tại con người trừu tượng,tức con người thoát ly mọi điều kiện hoàn cảnh lịch sử xã hội; đồng thờikhẳng định sự tồn tại con người cụ thể, tức là con người luôn sống trong mộtđiều kiện lịch sử cụ thể, trong một thời đại xác định và thuộc một giai – tầngnhất định Và trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình,con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả
7 C.Mác và Ph Ăngghen(1995), Toàn tập, Sđd, t.3, tr.11
12