1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING

205 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Tài Chính
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại bài giảng
Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING –––––  ––––– BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ 1 1 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA HỌC.

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

–––––  –––––

BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ

KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 2

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ

1.1 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA HỌC PHẦN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ 1.2 TOÀN CẦU HÓA

1.2.1 Khái niệm

Toàn cầu hóa thị trường

Là xu hướng chuyển dịch từ một hệ thống kinh tế mà trong đó các thị trường quốc gia là những chỉnh thể riêng biệt, bị cô lập bởi các hàng rào thương mại cũng như các cản ngại về không gian, thời gian và văn hóa để hướng tới một hệ thống mà các thị trường quốc gia hợp nhất thành 1 thị trường toàn cầu (Hill, 2020, pp 25)

Toàn cầu hóa sản xuất

Toàn cầu hóa sản xuất là xu hướng của các doanh nghiệp riêng

lẻ tiến hành phân tán các bộ phận trong quy trình sản xuất của họ tới nhiều địa điểm khác nhau trên toàn cầu nhằm khai thác lợi thế

do sự khác biệt về chi phí và chất lượng của các yếu tố sản xuất (Hill,

2020, pp 26)

Thông qua việc toàn cầu hóa quá trình sản xuất, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế kỳ vọng sẽ giảm được tổng cơ cấu chi phí hoặc tăng cường được chất lượng hoặc tính năng của sản phẩm họ cung ứng ra thị trường, nhờ đó giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường toàn cầu được hiệu quả hơn

1.2.2 Đặc điểm của toàn cầu hóa

(i) Quá trình toàn cầu hóa liên quan đến sự xuất hiện và nhân rộng của một loạt các mạng lưới liên kết ở cấp độ toàn cầu, thách thức các đường biên giới này, văn hóa, kinh tế, chính trị truyền thống

Trang 3

(ii) Các tiến bộ về thông tin liên lạc, giao thông vận tải và công nghệ sản xuất đã khiến cho dòng vốn đầu tư, hàng hóa, công nghệ và lực lượng lao động di chuyển dễ dàng hơn trên khắp thế giới (iii) Thông qua quá trình toàn cầu hóa, mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia cũng như người dân trên thế giới ngày càng gia tăng

(iv) Toàn cầu hóa đang làm giảm dần các khác biệt về mặt văn hóa Chẳng hạn, phim ảnh giúp phổ biến các giá trị văn hóa đại chúng của Hoa Kỳ hay Hàn Quốc, Ấn Độ ra khắp thế giới

(v) Quá trình toàn cầu hóa khiến cho vai trò của các quốc gia với tư cách là các chủ thể chính của quan hệ quốc tế cũng trở nên bị suy giảm

1.2.3 Nội dung của toàn cầu hóa

(i) Toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của các luồng giao lưu quốc tế về hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố (ii) Sản xuất như vốn, công nghệ, nhân công

(iii) Toàn cầu hóa thể hiện qua sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trên phạm vi khu vực và toàn cầu

(iv) Toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng số lượng, quy mô và vai trò ảnh hưởng các doanh nghiệp xuyên quốc gia (TNCs – Transnational Corporations) và MNCs đến nền kinh tế thế giới

1.2.4 Động lực dẫn đến toàn cầu hóa

1.2.4.1 Việc dỡ bỏ các rào cản trong các hoạt động thương mại, đầu tư trong các lĩnh vực

Bao gồm dịch vụ, công nghệ, sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia và

lãnh thổ trên phạm vi khu vực và toàn cầu cùng với sự hình thành và tăng cường các quy định, nguyên tắc, luật lệ chung với cơ chế tổ chức

để điều chỉnh và quản lý các hoạt động, giao dịch kinh tế quốc tế theo hướng tự do hóa là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Hiện nay có nhiều quan điểm phản đối toàn cầu hóa và nghiêng

Trang 4

về chủ nghĩa dân tộc hay có xu hướng quay về chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch nhằm giải quyết công ăn việc làm và phá vỡ thế thâm hụt cán cân thương mại trong quan hệ song phương, điển hình là Hoa Kỳ và

họ đã chứng minh thuyết phục lập luận để rời bỏ TPP và ngay cả cân nhắc nên hay không nên rời WTO nhằm giải quyết công ăn việc làm cho người dân

1.2.4.2 Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ

Có tác động mạnh mẽ đến quá trình toàn cầu hóa, là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình này Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ bao gồm những phát minh, sáng chế, các biện pháp

kỹ thuật tiên tiến, các giống mới, các phương pháp công nghệ hiện đại, các lý thuyết và phương thức quản lý mới trong mọi lĩnh vực được

áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh làm tăng năng suất lao động, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội với chi phí thấp hơn, giá rẻ hơn, làm tiền đề thúc đẩy sự hình thành và phát triển phân công, chuyên môn hóa lao động, sản xuất và kinh doanh theo ngành nghề, vùng lãnh thổ và giữa các quốc gia Nhờ đó, trao đổi quốc tế về hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động và tri thức ngày càng tăng

1.2.5 Các quan điểm ủng hộ và phản đối toàn cầu hóa

1.2.5.1 Quan điểm ủng hộ

Quan điểm này cho rằng toàn cầu hóa sẽ tạo ra những khả năng mới, những cơ hội mới để nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh; mở rộng được thị trường quốc tế cho hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất; do vậy tăng khả năng tiêu thụ và tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh trên phạm vi toàn cầu Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, cải thiện mức sống trên toàn thế giới nhờ tăng trưởng kinh tế và tăng cường khả năng mọi người dân trên thế giới được tiếp cận với hàng hóa, dịch vụ đa dạng phong phú với giá cả và chi phí hợp lý hơn

1.2.5.2 Quan điểm phản đối

Trang 5

Toàn cầu hóa cũng kéo theo nhiều tác động khác, chẳng hạn như, người di cư có thể gây ra áp lực tiền lương đối với những công nhân

có tay nghề thấp ở các quốc gia mà họ đến Bằng cách cho phép các

DN chuyển hoạt động sang các thị trường có mức lương thấp hơn, việc loại bỏ các rào cản thương mại có thể có tác dụng tương tự như tạo ra sức ép cạnh tranh và loại bỏ các DN nội địa tại chính quốc Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư quốc tế dẫn đến các DN FDI tạo sức ép cho các DN nội địa về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý Những yếu tố này đã góp phần làm tăng sự bất bình đẳng ở nhiều quốc gia

1.3 TỔNG QUAN KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ

1.3.1 Một số khái niệm

Kinh doanh quốc tế

KDQT là tổng thể các hoạt động giao dịch, kinh doanh được tạo

ra và thực hiện giữa các DN, cá nhân và tổ chức giữa các quốc gia nhằm thỏa mãn các mục tiêu của các DN, cá nhân, tổ chức đó Hoạt động KDQT diễn ra giữa các DN, cá nhân, tổ chức (gọi chung là DN) thuộc hai hay nhiều quốc gia và trong môi trường kinh doanh rộng lớn, đa dạng và phức tạp trên phạm vi toàn cầu

Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các giao dịch có tính chất kinh doanh, giữa các doanh nghiệp có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau hướng đến thực hiện liên tục một, một số hoặc tất

cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến thương mại hàng hóa và dịch vụ trên các thị trường vượt qua biên giới của hai hay nhiều quốc gia với mục đích sinh lợi KDQT cũng có

thể chỉ là những hoạt động đơn thuần liên quan tới việc xuất khẩu hay nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của một DN Nhưng cũng có thể KDQT là những mạng lưới kinh doanh đa quốc gia, hoặc xuyên quốc gia hoặc trên phạm vi toàn cầu Những mạng lưới này có hệ thống quản trị và kiểm soát rất phức tạp mà hoạt động đầu tư vào sản xuất

Trang 6

được quyết định ở một nơi, hệ thống phân phối và tiêu dùng lại được phát triển ở một khu vực khác trên thế giới

Quản trị Kinh doanh quốc tế

Quản trị kinh doanh quốc tế là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện các kế hoạch, lãnh đạo và kiểm tra, kiểm soát quá trình kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu và phát triển công việc kinh doanh quốc tế Bản chất của quản trị KDQT là các nhà quản trị sử dụng mọi phương pháp, công cụ và biện pháp để tác động lên quá trình KDQT của các DN nhằm làm tăng hiệu quả kinh doanh của các quá trình đó và nhờ đó mà nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN

1.3.2 Yêu cầu và đặc điểm của Kinh doanh quốc tế

◆ Yêu cầu

Muốn kinh doanh ở môi trường toàn cầu một cách hiệu quả, trước hết DN cần phải nghiên cứu, đánh giá môi trường kinh doanh nơi mà DN muốn thâm nhập; tiếp đến là môi trường kinh doanh của quốc gia, tiềm lực và khả năng kinh doanh của DN để từ đó quyết định áp dụng các hình thức kinh doanh cho phù hợp với môi trường

và quốc gia đã lựa chọn

Do hoạt động KDQT diễn ra trong môi trường khu vực và toàn cầu, nên các nhà quản trị và kinh doanh phải am hiểu những kiến thức về khoa học xã hội như văn hóa, địa lý, lịch sử, chính trị, luật, kinh tế Kiến thức địa lý rất quan trọng vì nó giúp các nhà quản lý, kinh doanh quyết định lựa chọn địa điểm, số lượng, chất lượng các nguồn lực trên toàn cầu để khai thác

◆ Đặc điểm

– KDQT là hoạt động kinh doanh với sự tham gia của các DN,

cá nhân từ hai quốc gia trở lên

Trang 7

– KDQT luôn hướng tới các môi trường mới, xa lạ và rộng lớn Các DN hoạt động trong môi trường này thường gặp phải rủi ro lớn hơn Các rủi ro này thường gặp là những rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh

– KDQT diễn ra trên các thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt, với các đối thủ cạnh tranh có nhiều kinh nghiệm Điều này đòi hỏi các DN phải luôn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

– KDQT đòi hỏi các DN phải xác định được chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thị trường và từng đối tác Các hoạt động chức năng của DN phải được thay đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh

– KDQT tạo điều kiện cho các DN có uy tín để nâng cao vị thế

và thị phần của mình trên thị trường quốc tế KDQT tạo điều kiện cho DN gia tăng lợi nhuận ngày càng lớn Điều này khó có thể đạt được đối với những DN chỉ thực hiện kinh doanh trong quốc gia

1.3.3 Mục tiêu của kinh doanh quốc tế

– Mở rộng tiêu thụ hàng hóa: Số lượng và giá trị hàng hóa

(doanh số) thực hiện phụ thuộc vào số lượng khách hàng quan tâm đến sản phẩm hay dịch vụ của DN và khả năng thanh toán của khách hàng cho những sản phẩm và dịch vụ đó

– Tìm kiếm các nguồn lực ở nước ngoài: Đối với mỗi quốc gia,

các nguồn lực (vốn, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, lao động) sẵn có không phải là vô hạn mà chỉ có giới hạn, thậm chí hiếm và khan hiếm

Do vậy, thông qua việc tìm kiếm, mở rộng thị trường ở nước ngoài, các DN có điều kiện vươn tới và sử dụng các nguồn lực mới

– Đa dạng hóa trong kinh doanh: Các nhà kinh doanh thường

tìm mọi cách để tránh những biến động bất lợi trong hoạt động kinh doanh

Trang 8

1.3.4 Các hình thức KDQT

1.3.4.1 Xuất khẩu hàng hóa/dịch vụ

Hình thức kinh doanh XK thường là hoạt động KDQT cơ bản, đầu tiên của nó là bước thâm nhập thị trường nước ngoài đơn giản và nhanh nhất, từ đây mở ra những giao dịch KDQT cho mỗi DN Kinh doanh xuất khẩu là hoạt động KDQT đầu tiên mà DN thường áp dụng (Hill, 2014) Hoạt động này vẫn được tiếp tục duy trì và mở rộng ngay

cả khi DN đã thực hiện đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của mình

– Các hình thức xuất khẩu phổ biến

+ Xuất khẩu trực tiếp (Direct export)

Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu thông dụng hàng đầu hiện nay Theo đó, bên mua hàng và đơn vị bán hàng sẽ trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương với nhau Với điều kiện hợp đồng này phải tuân thủ và phù hợp với pháp luật của từng quốc gia, đồng thời đúng tiêu chuẩn của điều lệ mua bán quốc tế Bên xuất khẩu có thể

là đơn vị trực tiếp sản xuất ra mặt hàng, hoặc là DN thương mại thu gom hàng trong nước rồi ký kết hợp đồng ngoại thương với đơn vị nước ngoài

Xuất khẩu trực tiếp có thể được áp dụng đối với mọi loại hình doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ Ưu điểm của phương thức này là các DN sẽ được chủ động hơn trong hoạt động trao đổi, mua bán Thương hiệu sẽ có tính chính danh, khẳng định được vị thế doanh nghiệp Điều này góp phần tạo điều kiện phát triển về sau của DN trên trường quốc tế

+ Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác – Entrusted export)

Nếu áp dụng hình thức xuất khẩu này, bên bán hàng sẽ ủy thác quyền cho một đơn vị khác để thực hiện các thủ tục xuất khẩu Bên

Trang 9

nhận ủy thác lúc này sẽ đứng ra thực hiện hợp đồng ngoại thương với danh nghĩa của mình

+ Gia công xuất khẩu (Export processing)

Gia công hàng xuất khẩu là gì? Đây là hình thức xuất khẩu đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ gần đây Với loại hình này, thì

DN trong nước phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam

sẽ đóng vai trò bên nhận gia công Cụ thể họ sẽ nhận tư liệu sản xuất

từ nước ngoài như máy móc, nguyên vật liệu Sau đó sẽ dựa vào đơn đặt hàng để sản xuất hàng hóa theo yêu cầu Số lượng hàng được sản xuất ra sẽ căn cứ chỉ định của người đặt hàng mà xuất khẩu ra nước ngoài

+ Xuất khẩu tại chỗ (On-spot export)

So với các loại hình XK cơ bản, thì XK tại chỗ là hình thức khá tiện lợi và được ưa chuộng bởi những ưu thế nổi bật Người mua vẫn

là một doanh nghiệp nước ngoài, nhưng hàng hóa không cần phải vượt qua biên giới quốc gia mà hoạt động xuất khẩu thực hiện ngay trên lãnh thổ của đơn vị bán hàng Do đặc thù của hình thức này nên bên XK không cần thiết mua bảo hiểm, thuê giao nhận vận tải, do vậy DN sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn Ví dụ, DN A tại Tân Bình bán lô hàng cho một DN B ở nước ngoài và giao hàng theo

sự chỉ định của B cho C trong khu chế xuất Tân Thuận, Quận 7 thì được xem là hình thức XK tại chỗ

+ Tạm xuất tái nhập, tạm nhập tái xuất

Với tạm nhập tái xuất, nước chủ nhà chỉ được xem là trạm trung chuyển để lưu giữ hàng tạm Hàng hóa chỉ được nhập vào lãnh thổ một thời gian trước khi xuất sang nước thứ ba Với tạm xuất tái nhập,

có nhiều cách thức triển khai trong kinh doanh quốc tế, gồm: Tạm nhập – Tái xuất, Tạm xuất – Tái nhập, quá cảnh Tuy nhiên đáp ứng đúng mục tiêu KDQT thì chỉ có hình thức tạm nhập (tạm mua 1 lô hàng về quốc gia mình sau khi đã làm xong thủ tục thông quan nhập khẩu), sau đó tìm thị trường thứ ba để xuất đi để hưởng chênh lệch

Trang 10

về giá Các cách thức còn lại chủ yếu phục vụ cho các mục tiêu gửi hàng viện trợ, hàng gửi đi triển lãm hay hội chợ quốc tế

+ Mua bán đối lưu (Buying and Selling hosting)

Là một hình thức trao đổi hàng hóa Lúc này bên bán đồng thời

là bên mua, ngược lại, bên mua cũng đồng thời là bên bán Để thực hiện được giao dịch thì hàng hóa phải có giá trị tương đương Tên gọi khác của phương thức này là hàng đổi hàng hoặc xuất nhập khẩu liên kết Hình thức này ít xảy ra trong bối cảnh hiện nay

+ Xuất khẩu theo nghị định thư giữa các Chính phủ

Thường diễn ra giữa các quốc gia có mối quan hệ mật thiết Chính phủ hai bên sẽ tiến hành ký kết nghị định (thường là để gán nợ) Các DN trong nước sẽ dựa vào văn bản ký kết với các chỉ định

và hướng dẫn cụ thể để thực hiện xuất khẩu hàng hóa Hình thức này

ít xảy ra trong bối cảnh hiện nay

Các hình thức hợp đồng trong kinh doanh quốc tế

+ Cấp phép kinh doanh (License)

License là hợp đồng thông qua đó một DN (người cấp giấy phép) trao quyền sử dụng những tài sản vô hình cho một DN khác (người được cấp giấy phép) trong một khoảng thời gian nhất định và nhận được một khoản tiền nhất định từ phía người được cấp giấy phép do

sử dụng tài sản đó Những tài sản vô hình này thường rất đa dạng như: Nhãn hiệu (tên mậu dịch, tên thương mại các hàng hóa/dịch vụ), kiểu dáng công nghiệp, bí quyết công nghệ (bí quyết kỹ thuật), phát minh, sáng chế Gắn liền với những tài sản vô hình này có nhiều loại hợp đồng cấp giấy phép như độc quyền hoặc không độc quyền, hợp đồng sử dụng bằng phát minh, sáng chế hay nhãn hiệu, bí quyết công nghệ Một DN có công nghệ, bí quyết kỹ thuật hoặc uy tín nhãn hiệu cao có thể sử dụng hợp đồng License để tăng thêm lợi nhuận cho DN

mà không cần đầu tư thêm

Trong KDQT, License được thực hiện dưới dạng chuyển giao các nhãn hiệu thương mại là điều kiện rất quan trọng đối với hình

Trang 11

thức này Một số DN lớn, đặc biệt là các MNCs, TNCs đang thực hiện các hoạt động kinh doanh trên cơ sở sự nổi tiếng của nhãn hiệu sản phẩm của họ Cần lưu ý rằng trong những hợp đồng cấp giấy phép người bán không muốn cung cấp thông tin mà không có sự đảm bảo chi trả và người mua không muốn trả tiền nếu không có những thông tin đáng giá (Griffin & Pustay, 2015) Trên thực tế hình thức License có những ưu và nhược điểm sau đây:

Ưu điểm: Giúp các DN tiếp cận được thị trường khó xâm nhập,

giúp các DN nhanh chóng mở rộng thị trường, hạn chế rủi ro về tài chính, thích hợp với kinh doanh một số nhóm sản phẩm hàng hóa như quốc gia giải khát, sách báo, ấn phẩm, phần mềm, giúp cho việc giao nhận hàng và mức độ dịch vụ trong thị trường địa phương được cải tiến,

Hạn chế: Có thể làm tiết lộ bí mật và kinh nghiệm đã tích lũy

qua nhiều năm, tạo ra nhiều đối thủ cạnh tranh mới trong tương lai, khó kiểm soát được đối với các hoạt động của bên nhận License cả

về số lượng và chất lượng sản phẩm, sự ứng xử bị động với thị trường, có thể dẫn tới loại bỏ một số thị trường xuất khẩu, trong hoạt động License chi phí điều chỉnh cho phù hợp với môi trường địa phương, chuyển giao và kiểm soát cao

+ Đại lý đặc quyền hay nhượng quyền kinh doanh (Franchise)

Đại lý đặc quyền (Cullen & Parboteeah, 2005) là hình thức kinh doanh thông qua đó một DN (bên cấp phép) cấp quyền sản xuất sản phẩm, quy trình sản xuất, thương hiệu của họ cho một DN có trụ sở tại 1 quốc gia khác (bên được cấp phép), bên đưa ra đặc quyền vẫn tiếp tục thực hiện sự giúp đỡ đối với hoạt động kinh doanh của đối tác và đổi lại thì họ sẽ nhận được một khoản tiền (chi phí) từ phía đối tác ấy

Trong KDQT, sự khác nhau cơ bản giữa hợp đồng cấp phép và nhượng quyền không chỉ dừng ở nhượng quyền thương mại hay kinh doanh mà bên nhượng quyền tiếp tục hỗ trợ cho bên nhận nhượng quyền việc sử dụng tài sản vô hình của mình trong hoạt động kinh

Trang 12

doanh Việc hỗ trợ trong franchise thường về cách tổ chức về tiếp thị quản lý chung, thậm chí có thể đưa ra đặc quyền yêu cầu bên nhận đặc quyền mua hàng hóa hoặc nguyên vật liệu cung cấp để bảo đảm được chất lượng hàng hóa và dịch vụ đặc quyền giống như nhau trên toàn cầu Việc thực hiện kinh doanh thông qua hợp đồng đại lý đặc quyền rất thích ứng với các vùng khác nhau trên thế giới và với một sự điều chỉnh nhỏ ở thị trường địa phương (quốc gia sở tại) Trong điều kiện

đó, việc sử dụng hợp đồng đại lý đặc quyền vẫn cho phép các nhà kinh doanh tạo ra và thu được lợi nhuận rất cao Những kết quả do thực hiện hợp đồng đại lý đặc quyền đều mang lại lợi ích cho cả 2 nhóm: cung cấp cho người giao đặc quyền một dòng thu nhập mới và người nhận đặc quyền có điều kiện, cơ hội để cho sản phẩm và dịch

vụ tiếp cận nhanh chóng với thị trường, tránh được nhiều rủi ro

+ Hợp đồng quản lý (Management contract)

Là những hợp đồng thông qua đó một DN thực hiện sự giúp đỡ của mình đối với một DN khác bằng việc cung cấp những nhân viên quản lý nhằm hỗ trợ thực hiện các chức năng quản lý tổng quát hoặc chuyên môn sâu trong một khoảng thời gian nhất định để thu được một khoản thù lao từ sự giúp đỡ đó

Các trường hợp phổ biến áp dụng hợp đồng quản lý đó là: (i) Trường hợp giấy phép đầu tư nước ngoài đã bị chính phủ quốc gia

sở tại thu hồi và chủ đầu tư được mời đến để tiếp tục giám sát hoạt động cho đến khi những nhà quản lý địa phương được đào tạo có đủ khả năng tiếp quản dự án Trong trường hợp này cơ cấu quản lý hầu như không thay đổi mặc dù tư cách thành viên của ban lãnh đạo thay đổi (ii) Trường hợp khi một DN được yêu cầu điều hành một công việc kinh doanh mới mà ở đó họ có thể bán nhiều thiết bị của họ (iii) Trường hợp khi một DN nước ngoài được mời đến để quản lý hoạt động của một DN đang hoạt động để đảm bảo cho hoạt động của DN

có hiệu quả hơn (iv) Trường hợp khi DN mở rộng hoạt động kinh doanh sang lĩnh vực hoặc thị trường mới mà họ còn thiếu kiến thức

và kinh nghiệm cần thiết Khi đó DN ký hợp đồng thuê DN nước ngoài tham gia quản lý

Trang 13

+ Hợp đồng theo đơn đặt hàng (Contract by order)

Đây là hợp đồng thường diễn ra với các dự án quá lớn và các sản phẩm gồm nhiều chi tiết, bộ phận phức tạp mà một DN duy nhất khó

có thể thực hiện được Chẳng hạn như việc thăm dò, khai thác dầu khí hoặc phát minh và sản xuất ra một loại máy bay mới thì người ta

sử dụng hợp đồng theo đơn đặt hàng theo từng bộ phận công việc, từng chi tiết sản phẩm

+ Hợp đồng xây dựng và chuyển giao (BOT-Build Operate Transfer)

Dự án xây dựng và chuyển giao liên quan đến hợp đồng nhằm xây dựng những tiện nghi hoạt động sau đó chuyển giao cho người chủ để thu được một khoản tiền thù lao khi những công trình này đi vào hoạt động Các DN thực hiện các hợp đồng xây dựng và chuyển giao thường là những nhà sản xuất các thiết bị công nghiệp và họ sẽ cung cấp một số thiết bị của mình cho dự án Những DN này phổ biến là những DN xây dựng, ngoài ra cũng có thể là DN tư vấn, nhà sản xuất Khách hàng của những dự án xây dựng và chuyển giao này thường là một cơ quan nhà nước, họ ra sắc lệnh buộc một sản phẩm nhất định nào đó phải được sản xuất ở một địa phương và dưới sự bảo hộ của họ Ở hình thức kinh doanh này, có nhiều hợp đồng xây dựng và chuyển giao thực hiện tại những khu vực hẻo lánh, hiểm trở

Vì vậy, cần phải xây dựng rất nhiều nhà ở và du nhập nhân công đến

đó Đồng thời, phải xây dựng toàn bộ cơ sở hạ tầng ở những điều kiện địa lý xấu nhất do đó chi phí tăng ảnh hưởng đến lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh nói chung của DN

Đầu tư nước ngoài (Foreign Investment)

Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ quốc gia của người đầu

tư sang quốc gia tiếp nhận đầu tư nhằm xây dựng nhà máy sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ

Đầu tư nước ngoài có một số đặc trưng cơ bản như sau: Sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác Vốn được huy động

và các mục đích thực hiện các hoạt động kinh tế và kinh doanh Đầu

Trang 14

tư nước ngoài có hai hình thức cơ bản đó là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI)

FDI cũng là một trong những hình thức KDQT phổ biến được các DN lựa chọn áp dụng Đây là một bộ phận của đầu tư nước ngoài được thực hiện khi sự điều khiển, quản lý gắn liền với quá trình đầu

tư, tức gắn quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn của người đầu tư với nhau FDI là hình thức đầu tư phổ biến nhất vì giúp DN cọ sát với thị trường, tận dụng được các nguồn lực

FDI có các đặc điểm sau:

+ Các chủ đầu tư phải đóng góp một khối lượng vốn tối thiểu theo quy định của từng quốc gia Luật Đầu tư nước ngoài ngoài của Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án

+ Sự phân chia quyền quản lý của các DN phụ thuộc vào mức

độ đóng góp vốn Nếu đóng góp 100% vốn thì DN hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài ngoài điều hành và quản lý

+ Lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần

+ Thường được thực hiện thông qua việc xây dựng DN mới

và mua lại toàn bộ hoặc từng phần DN đang hoạt động hoặc sáp nhập các DN với nhau

+ Gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư

+ Gắn liền với các hoạt động kinh doanh của MNCs và TNCs Hoạt động KDQT còn gắn với hoạt động đầu tư gián tiếp Hiện nay, đầu tư gián tiếp cũng có vai trò quan trọng đối với quốc gia và

sự lựa chọn của DN khi kinh doanh ở nước ngoài Trong đầu tư gián tiếp, quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn (hay tài sản) Người

Trang 15

có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành các dự án đầu tư, họ thu lợi dưới hình thức lợi tức cổ phần FPI

là hình thức đầu tư mà bên sở hữu vốn và bên sử dụng vốn không gắn liền với nhau, thường phổ biến dưới dạng đầu tư trên thị trường chứng khoán nhắm vào các cổ phiếu của các DN có khả năng sinh lờicao hoặc mục đích lâu dài muốn thâu tóm, mua lại DN khi số lượng

cổ phiếu đã đủ lớn (Nguyễn Đông Phong và cộng sự, 2010)

- Hàng đổi hàng – phương thức kinh doanh quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển

Hàng đổi hàng (Buyback, Barter) là phương thức đầu tư mà giá trị của các trang thiết bị cung cấp được hoàn trả bằng chính các sản phẩm mà các trang thiết bị đó làm ra Phương thức này liên quan tới hai hợp đồng quan hệ mật thiết với nhau và cân bằng nhau về mặt giá trị Ở một hợp đồng, nhà cung cấp đồng ý xây dựng nhà máy hoặc cung cấp các công nghệ của nhà máy cho phía đối tác Trong hợp đồng khác nhà cung cấp đồng ý mua lại sản phẩm mà công nghệ đó sản xuất ra với khối lượng tương ứng với giá trị thiết bị hoặc nhà máy

đã đầu tư Hàng đổi hàng nảy sinh khi các đối tác tham gia kinh doanh thiếu ngoại tệ mạnh và họ cũng không có được ngoại tệ thông qua tín dụng ngân hàng Phương thức này cũng hay được sử dụng khi các đối tác thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm nhất là thị trường quốc tế

+ Ưu điểm của hàng đổi hàng

Khắc phục tình trạng thiếu ngoại tệ mạnh: Trong hình thức kinh

doanh này không có dòng lưu chuyển tiền tệ giữa các đối tác kinh doanh hay nói cách khác các đối tác kinh doanh không phải sử dụng ngoại tệ mạnh Điều này đáp ứng được yêu cầu tiết kiệm nguồn ngoại

tệ khan hiếm của các quốc gia đang phát triển

Tránh rủi ro trong thanh toán quốc tế: Hình thức này giúp DN

tránh được những rủi ro trong thanh toán quốc tế, đặc biệt là rủi ro

do sự thay đổi của tỷ giá hối đoái do các bên không sử dụng tiền tệ trong thanh toán

Trang 16

Tăng chất lượng hàng hóa chế biến: Thông qua hình thức này

nhiều quốc gia đang phát triển có được các thiết bị hiện đại để chế biến sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng của thị trường thế giới

Thực hiện được marketing quốc tế: Vai trò này thể hiện rất rõ

khi các quốc gia đang phát triển thông qua các DN đa quốc gia tiếp cận được với thị trường quốc tế Ngược lại, hình thức này cũng giúp cho các DN đa quốc gia, các hãng sản xuất và chế tạo máy móc thiết

bị bán được sản phẩm của họ cho các quốc gia đang phát triển

– Hàng đổi hàng được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:

+ Hàng đổi hàng chỉ thực hiện được khi cả hai phía đối tác nhận được sự bảo lãnh của các ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò là người đứng ra bảo đảm cho cả hai phía thực hiện hợp đồng hàng đổi hàng + Phải đảm bảo chất lượng của các hàng hóa trong trao đổi Trong trường hợp này, các bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau

+ Phải đảm bảo có sự tăng trưởng về xuất khẩu hoặc thị phần, giúp cho đối tác từng bước xâm nhập thị trường mới

+ Phải được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng đôi bên cùng

có lợi

Hàng đổi hàng có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia đang chuyển đổi Thực tế đã chỉ ra rằng hàng đổi hàng có ý nghĩa quan trọng trong phát triển các ngành công nghiệp chế biến, nhất là chế biến nông sản

Sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản góp phần ổn định

và phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động ở các quốc gia đang phát triển Hàng đổi hàng là phương thức đầu tư mới của các đối tác quốc gia ngoài vào Việt Nam Phương thức này sẽ tạo điều kiện cho các DN Việt Nam phát triển tạo thêm việc làm ổn định, từng bước xâm nhập thị trường thế giới Tuy nhiên, đây là phương thức mới trên cơ sở quan hệ kinh tế bình đẳng với các quốc gia tiên tiến

Trang 17

Việt Nam cần có những quy định và hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện cho phương thức này phát triển

1.3.5 Vai trò của kinh doanh quốc tế

– Giúp cho các tổ chức kinh tế thoả mãn nhu cầu và lợi ích của

họ về trao đổi sản phẩm, về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến; – Giúp cho các quốc gia tham gia sâu rộng vào quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu; – Tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho các DN khai thác triệt để các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia;

– Mở rộng các hoạt động KDQT, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học và chuyển giao công nghệ, giúp cho các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội cải tiến lại cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia;

– Thông qua các lĩnh vực hoạt động của KDQT, các DN ở các quốc gia đang phát triển có thể tiếp thu kiến thức Marketing, mở rộng thị trường trong kinh doanh thương mại quốc tế, tăng tính cạnh tranh sản phẩm;

– Cung cấp cho thị trường nội địa các yếu tố của quá trình sản xuất, từ đó nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo tính cạnh tranh cho sản phẩm, đảm bảo cho hàng hóa đứng vững trên thị trường nước ngoài

1.3.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến kinh doanh quốc tế

◆ Các điều kiện kinh tế

Nền kinh tế thế giới thời gian qua càng khẳng định rằng những điều kiện kinh tế có tác động rất mạnh đến khối lượng giao dịch giữa các DN KDQT Song sự gia tăng thương mại và đầu tư luôn có xu hướng biến đổi nhanh hơn sự thay đổi của nền kinh tế Sự thay đổi về mức giàu có trên thế giới đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ giá trị hàng hóa lưu chuyển quốc tế Tỷ lệ mậu dịch quốc tế đang có

Trang 18

xu hướng tăng nhanh hơn tỷ lệ tổng sản phẩm thế giới ở một thời kỳ dài Thông qua các chính sách, công cụ kinh tế vĩ mô mà nhà quốc gia thực hiện sự điều tiết khối lượng và giá trị hàng hóa từ quốc gia ngoài vào và đặc biệt họ sẽ làm giảm bớt khối lượng và mặt hàng nhập khẩu khi nền kinh tế đang bị trì trệ Còn các DN KDQT chỉ mở rộng kinh doanh ở quốc gia ngoài khi nhu cầu ở đó vẫn gia tăng đều đặn trong một thời kỳ dài Ngày nay trong KDQT, nhóm các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ uống, mặt hàng truyền thống và mặt hàng chứa nhiều nguyên vật liệu tự nhiên giảm nhanh về tỷ trọng Trong khi đó, tỷ trọng kinh doanh các mặt hàng chế biến, các mặt hàng có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao, các mặt hàng mới đang có xu hướng tăng nhanh Điều này đang tác động rất lớn đến lĩnh vực KDQT nói chung, thương mại và đầu tư nói riêng Chính vì vậy, việc đa dạng hóa các hình thức và mặt hàng kinh doanh, việc quyết định chọn lựa chọn hình thức kinh doanh nào, mặt hàng nào, lĩnh vực nào có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần tạo cho DN những điều kiện, cơ hội để vươn lên thực hiện kinh doanh một cách hiệu quả.Ngoài ra xu hướng

mở cửa thị trường của hầu hết các quốc gia bằng cách giảm và gỡ bỏ dần các rào cản thuế quan và phi thuế quan đã tạo thuận lợi cho KDQT phát triển nhanh về số lượng lẫn hiệu quả như hiện tại

Trang 19

◆ Điều kiện chính trị, xã hội và quân sự

Sự ổn định hay bất ổn về chính trị, xã hội là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh và kết quả kinh doanh của các DN Hệ thống chính trị và các quan điểm về chính trị,

xã hội suy đến cùng đều tác động trực tiếp đến phạm vi, lĩnh vực, mặt hàng, đối tác kinh doanh

1.3.7 Sự hình thành các liên minh liên kết về kinh tế, chính trị

và quân sự

Việc hình thành các khối liên kết về kinh tế, chính trị và quân sự

đã góp phần làm tăng hoạt động kinh doanh giữa các quốc gia thành viên làm giảm mậu dịch với các quốc gia không phải thành viên

Để khắc phục tình trạng này, các quốc gia thành viên thường đàm phán và ký kết với các quốc gia ngoài khối những hiệp định, thỏa ước từng bước nới lỏng hàng rào “vô hình” tạo điều kiện cho hoạt động KDQT mở rộng và phát triển Bên cạnh những hiệp định song phương và đa phương giữa các quốc gia đã và đang được ký kết, các

tổ chức đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng có vai trò quan trọng đối với KDQT Chính những tổ chức này đã cung cấp vốn cho những chương trình xã hội và phát triển cơ sở hạ tầng như nhà ở, đường giao thông, bến cảng, các công trình điện, quốc gia Việc cho vay vốn của các tổ chức này đã kích thích mậu dịch và đầu tư trực tiếp của các

DN Thông qua đó các quốc gia, các DN có thể mua được những máy móc, thiết bị cần thiết từ quốc gia ngoài, xây dựng mới hoặc nâng cấp các kết cấu hạ tầng và do đó thúc đẩy các hoạt động KDQT có hiệu quả

1.4 LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ

1.4.1 Khái niệm

Liên kết kinh tế quốc tế là sự thành lập một tổ hợp kinh tế giữa các quốc gia dựa trên nền tảng những quy định chung về phối hợp,

Trang 20

điều chỉnh và làm tăng cường sự thích ứng lẫn nhau giữa các thành viên nhằm thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển (Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương, 2015)

1.4.2 Nguyên nhân

Do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất vượt ra khỏi phạm vi của quốc gia và sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã thúc đẩy phân công lao động quốc tế phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Để tương thích với trình độ phát triển cao đòi hỏi phải hình thành định chế cho sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế phù hợp với mục tiêu của các thành viên đó chính là biểu hiện của liên kết kinh tế quốc tế (Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương, 2015)

– Liên kết kinh tế quốc tế là hình thức phát triển cao của phân công lao động quốc tế, là sự hoạt động tự giác của các thành viên nhằm điều chỉnh có ý thức và phối hợp các chương trình phát triển kinh tế với sự thỏa thuận có đi có lại của các thành viên

– Thể hiện sự liên kết về các hoạt động kinh tế diễn ra trong quá trình tái sản xuất giữa các chủ thể ở các quốc gia Đây chính là bước quá độ trong quá trình vận động, phát triển kinh tế thế giới theo xu thế toàn cầu hóa

– Là giải pháp dung hòa giữa hai xu hướng: bảo hộ mậu dịch

và tự do mậu dịch, là khuôn khổ cho quá trình cạnh tranh giữa một nhóm quốc gia hay các tập đoàn kinh tế nhằm đảm bảo cho lợi ích của các thành viên liên kết và lợi ích khu vực

Trang 21

1.4.4 Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế

◆ Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân

Đây là hình thức liên kết kinh tế ở tầm vi mô để lập ra các DN quốc tế Các DN này tổ chức sản xuất dịch vụ và khoa học kỹ thuật, được thành lập dựa trên các Hiệp định liên chính phủ hoặc các hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các tổ chức tư nhân ở các quốc gia khác nhau nhằm triển khai hoạt động kinh doanh ở nhiều quốc gia

Sự ra đời của các DN quốc tế tác động khá quan trọng đối với nền kinh tế thế giới, thể hiện trên các mặt sau:

– Thúc đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới, qua

đó thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển;

– Sự liên kết giữa các tập đoàn kinh tế lớn của các quốc gia thúc đẩy nhanh tiến trình tích tụ và tập trung tư bản quốc tế tạo tiền đề phát triển khoa học kỹ thuật toàn cầu;

– Giúp giảm dần khoảng cách về trình độ kỹ thuật giữa các quốc gia;

– Giúp các quốc gia khai thác và sử dụng những lợi thế của mình một cách hiệu quả;

– Cung cấp nguồn vốn cho các quốc gia đang phát triển

◆ Liên kết kinh tế quốc tế Nhà nước

Liên kết kinh tế quốc tế nhà nước là sự liên kết giữa các quốc gia thông qua hiệp định ký kết của Chính phủ nhằm phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các thành viên tham gia

Trang 22

– Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế Nhà nước:

Thỏa thuận mậu dịch ưu đãi (Preferential Trade Arrangement)

Đây là hình thức lỏng lẻo nhất, thấp nhất trong các hình thức liên kết Hình thức này quy định các hàng rào mậu dịch đối với các quốc gia thành viên là thấp hơn so với các quốc gia không tham gia Hình thức này hiện nay ít được sử dụng nữa (phổ biến trước chiến tranh thế giới lần thứ hai)

Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area)

Đây là hình thức liên kết kinh tế mà các thành viên cùng nhau thỏa thuận thống nhất một số vấn đề nhằm mục đích tự do hóa trong buôn bán về một hoặc một số nhóm hàng nào đó

Liên minh thuế quan/đồng minh thuế quan (Customs Union)

Đây là hình thức liên kết quốc tế với nội dung là bãi miễn thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các thành viên Tuy nhiên có điểm khác biệt với khu mậu dịch tự do là thiết lập biểu thuế chung đối với các quốc gia ngoài liên minh

Liên minh kinh tế (Economic Union)

Là loại hình liên kết đạt ở trình độ cao về sự di chuyển hàng hóa, dịch vụ, sức lao động và tư bản một cách tự nguyện giữa các thành viên, đồng thời có biểu thuế quan chung cho các quốc gia không phải

là thành viên

Liên minh tiền tệ (Monetary Union)

Đây là hình thức cao nhất trong đó tiến tới thành lập một khối thống nhất dựa trên lĩnh vực tiền tệ bao gồm: xây dựng chính sách kinh tế chung trong đó có chính sách ngoại thương, hình thành đồng tiền chung thống nhất thay cho đồng tiền riêng của từng quốc gia của các quốc gia thành viên, thống nhất chính sách lưu thông tiền tệ, xây dựng hệ thống ngân hàng Trung ương của các quốc gia thành viên,

Trang 23

xây dựng chính sách tài chính tiền tệ, tín dụng chung đối với các quốc gia ngoài liên minh và các tổ chức tiền tệ quốc tế

1.5 CÁC CHỦ THỂ THAM GIA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ

Gồm ba loại chủ thể cơ bản sau đây:

1.5.1 Các chủ thể ở cấp độ quốc tế

Đây là những chủ thể quốc tế, các tổ chức hoạt động với tư cách

là những thực thể độc lập, có địa vị pháp lý rộng hơn địa vị pháp lý của chủ thể quốc gia Các tổ chức quốc tế xuất hiện do quá trình quốc

tế hóa đời sống kinh tế và sự phát triển của liên kết kinh tế quốc tế gồm: (i) Liên hiệp quốc và các tổ chức chuyên môn của nó như: UN, UNDP, UNICEPT, UNIDO; (ii) Các liên kết kinh tế quốc tế khu vực như: ASEAN, APEC, AFTA, NAFTA; WTO; (iii) Tổ chức tài chính quốc tế: ADB, IMF, WB

1.5.2 Các chủ thể kinh tế ở cấp độ quốc gia

Bao gồm các nền kinh tế quốc gia độc lập trên thế giới và các vùng lãnh thổ Các chủ thể kinh tế quốc tế này được coi là các chủ thể đầy đủ về mặt chính trị cũng như về mặt kinh tế và luật pháp Ngày nay, các quốc gia và vùng lãnh thổ đều là các chủ thể độc lập Quan

hệ giữa các chủ thể này được đảm bảo bằng các hiệp định quốc tế kết theo những điều khoản của công ước quốc tế Các chủ thể được phân chia theo trình độ phát triển kinh tế

1.5.3 Các doanh nghiệp/tập đoàn quốc tế

◆ Công ty đa quốc gia

Công ty đa quốc gia (Multinational corporation-MNC) hoặc MNE (Multinational Enterprise), là khái niệm để chỉ các công ty được thành lập do vốn đóng góp từ các công ty ở nhiều quốc gia khác nhau Thị trường hoạt động sẽ được mở rộng ở nhiều quốc gia, tham gia sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các

Trang 24

MNC/MNE lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia

và có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia, cũng như đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa MNCs là thuật ngữ dùng để chỉ các DN mà vốn của nó thuộc sở hữu của các DN và cá nhân thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, và do đó phạm vi hoạt động kinh doanh của nó cũng diễn

ra ở trên lãnh thổ nhiều quốc gia khác nhau Trong trường hợp này, người ta chú ý đến tỷ trọng vốn đóng góp của từng bên và cũng chưa quan tâm đến sức mạnh kinh tế của các DN đó Công ty đa quốc gia

là Công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau (khác với Công ty quốc tế: chỉ là tên gọi chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó)

◆ Công ty xuyên quốc gia

Công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation – TNC) là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn, có cơ cấu tổ chức gồm công ty mẹ và hệ thống công ty chi nhánh ở nước ngoài, theo nguyên tắc công ty mẹ kiểm soát tài sản của công ty chi nhánh thông qua góp vốn cổ phần TNC được thành lập do vốn đóng góp của các công

ty trong cùng quốc gia nhằm mở rộng thị trường hoạt động ở nhiều quốc gia và khống chế việc kiểm soát, tiêu dùng những sản phẩm của

DN để có thể thu được lợi nhuận tối đa TNC được sử dụng một cách tương đối phổ biến trong các sách báo kinh tế, dùng để chỉ những DN

có trụ sở chính ở nào đó, nhưng mạng lưới hoạt động được mở rộng sang nhiều quốc gia khác với hệ thống các DN con, các chi nhánh, các văn phòng đại diện DN xuyên quốc gia có sức mạnh kinh tế to lớn, giữ vai trò chi phối một lĩnh vực thị trường liên quan đến nhiều quốc gia Bởi vậy, nó có khả năng vượt qua khỏi tầm kiểm soát của một chính phủ Những DN này được phát triển một cách mạnh mẽ trong vài thập kỷ gần đây và ngày càng có tác động to lớn đối với các quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 25

1.6 CÁC LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.6.1 Lý thuyết trọng thương

Cho rằng một quốc gia càng tích luỹ được nhiều vàng bạc thì càng trở nên giàu có và hùng mạnh hơn, các tác giả trọng thương lập luận rằng thương mại quốc tế và sự phồn thịnh của các quốc gia Nghiên cứu kinh tế học nói chung, thương mại quốc tế nói riêng được coi là khởi đầu từ các quan điểm của trường phái trọng thương vào các thế kỷ XVII và XVIII Vào thời gian đó, vàng và bạc được

sử dụng với tư cách là tiền tệ và tạo nên kho của cải của các quốc gia Một quốc gia được coi là giàu có và hùng mạnh hơn nếu như có được càng nhiều vàng bạc muốn vậy, phải phát triển mạnh thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương và trong ngoại thương phải thực hiện xuất siêu Các học giả trọng thương lập luận rằng, đối với một quốc gia, xuất khẩu là rất có ích vì nó kích thích sản xuất trong nước đồng thời dẫn đến dòng kim loại quý đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia đó Ngược lại, nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia vì làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trong nước, và hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của của cải quốc gia do phải dùng vàng bạc chi trả cho nước ngoài Như vậy sức mạnh và sự giàu có của quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Để đạt mục tiêu và sự thịnh vượng đó, các nhà trọng thương còn đề nghị nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thông qua luật pháp và các chính sách kinh tế Cụ thể

về mặt chính sách, các học giả trọng thương kiến nghị nhà nước phải thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch, theo đuổi chủ nghĩa dân tộc về kinh tế Nghĩa là nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp

◆ Những điểm tích cực và hạn chế của nội dung quan điểm

Các lập luận trên của trường phái trọng thương không phải là hoàn toàn vô lý Trên thực tế, khi năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì việc khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu

Trang 26

là điều đáng hoan nghênh Cũng có khi quốc gia gặp khó khăn trong thanh toán với nước ngoài cho nên mong muốn tạo ra được mức thặng dư trong hoạt động ngoại thương để bù đắp thiếu hụt đó Thậm chí ngay cả khi chưa có nhu cầu tức thời về vàng bạc nhưng quốc gia vẫn có thể mong muốn tích lũy càng nhiều vàng bạc càng tốt để đề phòng những bất trắc trong tương lai Vào thế kỷ XVIII tích lũy được nhiều vàng bạc còn giúp quốc gia có được nguồn lực cần thiết để tiến hành chiến tranh Trong bối cảnh có khả năng nổ ra chiến tranh thì việc bảo hộ các ngành công nghiệp có tầm quan trọng chiến lược cũng là điều hợp lý Cuối cùng, các học giả trọng thương đã có lý khi cho rằng sự gia tăng lượng vàng bạc (tức mức cung tiền tệ) trong nền kinh tế sẽ có tác dụng kích thích hoạt động sản xuất

Lập luận của các học giả trọng thương còn có nhiều hạn chế Chẳng hạn như việc coi vàng bạc như là hình thức của cải duy nhất của các quốc gia, gắn mức cung tiền tệ cao với sự thịnh vượng của quốc gia Coi thương mại là một trò chơi có tổng bằng không là sai lầm Các học giả này chưa giải thích được cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế, chưa thấy được tính hiệu quả và lợi ích từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi, đặc biệt họ chưa nhận thức được rằng các kết luận của họ chỉ đúng trong một số trường hợp nhất định (thực tiễn thương mại của Anh, Pháp thời bấy giờ) chứ không phải đúng cho mọi trường hợp

1.6.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

– Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế dân doanh Nếu như các tác giả trọng thương cho rằng buôn bán chỉ có

lợi cho một bên tham gia và họ ủng hộ một chính sách bảo hộ mậu dịch, thì Adam Smith lại khẳng định rằng thương mại tự do có lợi cho tất cả các quốc gia, và Chính phủ nên thực hiện chính sách “không can thiệp” vào hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và các hoạt động kinh tế nói chung

– Khẳng định nguyên tắc phân công lao động để tạo ra nhiều lợi nhuận làm cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Theo Ông, hai quốc gia tham gia mậu dịch với nhau là tự nguyện và

Trang 27

cả hai đều phải cùng có lợi Có nghĩa là quốc gia A, xét trong tương quan với quốc gia B, có thể tỏ ra có hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất mặt hàng X, và kém hiệu quả hơn (có mức bất lợi tuyệt đối) trong việc sản xuất mặt hàng Y Khi đó B là quốc gia có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng Y, và bất lợi tuyệt đối trong sản xuất mặt hàng X Như vậy theo Ông, nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối, và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối, thì sản lượng của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên và cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn

Theo Smith, cơ sở mậu dịch giữa hai quốc gia chính là lợi thế

tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối ở đây là chi phí sản xuất thấp hơn (nhưng

chỉ có lao động mà thôi)

◆ Mô hình thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối

Giả thiết của mô hình: bao gồm (1) Thế giới chỉ gồm hai quốc

gia, chẳng hạn: Nhật Bản và Việt Nam (2) Các quốc gia trên chỉ sản xuất hai mặt hàng, chẳng hạn: thép và vải (3) Không có chi phí vận tải (4) Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong quốc gia nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia (5) Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường

Trong điều kiện tự cung tự cấp, mỗi quốc gia tự sản xuất hai mặt hàng để tiêu dùng trong quốc gia Số lượng lao động cần đến ở mỗi quốc gia để sản xuất mỗi một đơn vị thép và vải như sau:

Bảng 1.1 Mô hình đơn giản về lợi thế tuyệt đối

Trang 28

Giá cả tương quan 1t = 0,4v

1v = 2,5t

1t = 2v 1v = 0,5t

Tỷ lệ trao đổi được giả định 1t = 1v

Nguồn: Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017)

Có thể thấy rằng Việt Nam là quốc gia có hiệu quả cao hơn (có lợi thế tuyệt đối) trong sản xuất vải vì để làm ra một đơn vị vải chỉ cần 3 lao động, trong khi Nhật Bản phải cần đến 5 lao động Ngược lại, Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về sản xuất thép vì quốc gia này chỉ cần 2 lao động để làm ra 1 đơn vị thép, trong khi Việt Nam phải dùng đến 6 lao động

Với lập luận như vậy, lúc đó Việt Nam sẽ tập trung toàn bộ số lao động của mình để sản xuất vải, còn Nhật Bản thì thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn trong việc sản xuất thép Sau đó hai quốc gia đem trao đổi với nhau một lượng nhất định các mặt hàng này để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong quốc gia Điều này sẽ dẫn tới gia tăng sản lượng vải và thép của toàn thế giới, và mỗi quốc gia có khả năng tiêu dùng nhiều hơn so với trường hợp tự cung tự cấp Nhật Bản lợi thêm 0,6 vải, Việt Nam lợi thêm 0,5 thép (cả hai quốc gia cùng có lợi nhưng Nhật Bản lợi nhiều hơn)

◆ Những điểm tích cực và hạn chế cơ bản của lý thuyết lợi

Đề cao vai trò của cá nhân trong hoạt động giao thương, ủng

hộ một nền thương mại tự do không có sự can thiệp của Chính phủ Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế Tuy nhiên hạn chế của lý thuyết ở chỗ chỉ có thể giải thích được một phần rất nhỏ trong mậu dịch thế giới ngày nay như giữa các quốc gia phát triển với các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên lại đồng nhất sự phân công lao động quốc tế với sự phân công lao động trong quốc gia mà không tính đến sự khác biệt rất lớn giữa các quốc gia về thể chế chính trị, phong tục tập quán Mô hình này không giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi có

Trang 29

mức bất lợi tuyệt đối (hoặc lợi thế tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng Liệu trong những trường hợp đó, các quốc gia có còn giao thương với nhau nữa không và lợi ích từ mậu dịch sẽ nằm ở chỗ nào?

1.6.3 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

– Lợi thế so sánh xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối – Lợi thế so sánh có thể đạt được ở mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế nếu như quốc gia nào đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có ít bất lợi hơn và nhập khẩu những mặt hàng

mà mình có nhiều bất lợi hơn

◆ Mô hình thương mại dựa trên lợi thế so sánh

Giả thiết của mô hình, quay trở lại mô hình thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam ở trên, các giả thiết cơ bản của mô hình vẫn không đổi Tuy nhiên lượng lao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn

vị thép và vải được cho như bảng sau:

Bảng 1.2 Mô hình giản đơn về lợi thế so sánh

Nguồn: Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017)

Các số liệu trên cho thấy Nhật Bản cần ít lao động hơn so với Việt Nam để sản xuất ra cả hai mặt hàng, tuy nhiên hai quốc gia vẫn

có thể tiến hành giao thương được với nhau và cả hai cùng có lợi

Ta nhận thấy tuy Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức độ lợi thế về sản xuất thép lớn hơn mức lợi thế về sản xuất vải (qua số liệu so sánh giữa hai tỷ số 2/12 < 5/6) do đó Nhật

Trang 30

Bản có lợi thế so sánh về mặt hàng thép Ngược lại, Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng do mức bất lợi về sản xuất vải ít hơn mức bất lợi về sản xuất thép (qua số liệu so sánh giữa hai tỷ số 6/5 < 12/2) Như vậy mặc dầu cả thép và vải ở Nhật Bản được sản xuất với hiệu quả tuyệt đối cao hơn, nhưng thép lại là mặt hàng mà Nhật có mức lợi thế tương đối lớn hơn so với vải Trái với lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh là một khái niệm có tính tương đối có nghĩa là một thế giới bao gồm hai quốc gia, hai mặt hàng, khi đã xác định được có lợi thế so sánh về một mặt hàng nào đó thì có thể rút ra kết luận là quốc gia thứ hai sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng kia

Tổng quát, khi mỗi quốc gia thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế so sánh thì tổng sản lượng tất cả các mặt hàng của toàn thế giới sẽ tăng lên, và tất cả các quốc gia sẽ trở nên sung túc hơn

◆ Những điểm tích cực và hạn chế trong Lý thuyết lợi thế

so sánh

Là một trong những quy luật quan trọng nhất của kinh tế, đặt cơ

sở nền móng cho mậu dịch quốc tế Bản chất của quy luật lợi thế so sánh cho đến nay vẫn không thay đổi, nó đúng với bất kỳ quốc gia nào Đã chứng minh được rằng tất cả các quốc gia đều có lợi khi giao thương với nhau bất kể là quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không Tuy nhiên lý thuyết này cũng bộc lộ hạn chế đó là trong chi phí sản

xuất mới chỉ tính đến một yếu tố duy nhất là lao động, trong khi các

yếu tố sản xuất khác như vốn, kỹ thuật, đất đai, trình độ của người lao động chưa được đề cập đến Do đó không thể lý giải được vì sao năng suất lao động của quốc gia này cao (hay thấp) hơn quốc gia khác Tuy nhiên chưa xác định được tỷ lệ trao đổi quốc tế, tức là giá

cả quốc tế mà chủ yếu vẫn là hàng đổi hàng Vẫn chỉ chú ý đến cung

Trang 31

mà không chú ý tới cầu sản phẩm đặc biệt là cầu trong nước Do đó không xác định được giá cả tương đối của sản phẩm dùng để trao đổi giữa các quốc gia với nhau

1.6.4 Lý thuyết Chi phí cơ hội

Theo lý thuyết chi phí cơ hội thì chi phí cơ hội của một sản phẩm

là số lượng của một sản phẩm khác mà người ta phải hy sinh để có đủ tài nguyên làm tăng thêm một đơn vị sản phẩm thứ nhất

◆ Mô hình thương mại của lý thuyết chi phí cơ hội không đổi

Giả thiết về mô hình (giống mô hình lợi thế so sánh của Ricardo) Chứng minh mô hình

Lập luận rằng: Chi phí cơ hội của mặt hàng X là số lượng mặt

hàng Y cần được cắt giảm để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa X Trong hai quốc gia, nếu quốc gia nào có chi phí cơ hội của X thấp hơn thì sẽ có lợi thế so sánh về X và ngược lại là Y Về thực chất, chi phí cơ hội cũng chính là giá cả hàng hóa tương quan

Như vậy trong mô hình thương mại Ricardo ở trên, để sản xuất thêm một đơn vị thép Nhật Bản cần chuyển 2 lao động từ ngành vải sang ngành thép tức là phải hy sinh 0,4 đơn vị vải đúng bằng giá 1 đơn vị thép tính theo vải Tương tự, chi phí cơ hội để sản xuất vải ở Việt Nam là 1 thép = 2 vải cũng đúng bằng mức giá tương quan giữa hai mặt hàng Trong mô hình giản đơn của Ricardo, chi phí cơ hội của từng mặt hàng ở mỗi quốc gia được giả định là không đổi Từ những giả định và số liệu từ mô hình Ricardo, ta thấy:

Về mặt hàng thép: Nhật Bản có chi phí cơ hội thấp hơn so với

Việt Nam: 1 thép = 0,4 vải < 1 thép = 2 vải Do đó có lợi thế về mặt hàng thép

Đối với mặt hàng vải: Việt Nam có chi phí cơ hội thấp hơn so

với Nhật Bản: 1 vải = 0,5 thép < 1 vải = 2,5 thép Do đó Việt Nam có lợi thế về mặt hàng vải

Trang 32

Kết luận: Cũng giống như những gì đạt được trong mô hình

Ricardo, tuy nhiên xác định lợi thế so sánh dựa vào khái niệm chi phí

cơ hội ưu việt hơn so với Ricardo ở chỗ không cần phải đưa ra bất kỳ giả định gì về lao động

◆ Đường giới hạn khả năng sản xuất – chi phí cơ hội

không đổi

Khái niệm chi phí cơ hội cho phép minh họa lý thuyết mậu dịch

cổ điển bằng đồ thị thông qua đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) Đường giới hạn khả năng sản xuất của là tập hợp tất cả những điểm biểu thị cho mức sản lượng của hai mặt hàng có thể sản xuất ra khi quốc gia đó sử dụng tất cả các nguồn lực và công nghệ sản xuất tốt nhất mà mình có được Lấy lại các số liệu của mô hình Ricardo

và cũng giả sử rằng mỗi quốc gia Nhật Bản và Việt Nam đều có 120 lao động Ta xét hai trường hợp sau:

• Trường hợp tự cung tự cấp

Khi đó số lượng lao động sẽ được phân bổ cho các ngành thép

và vải ở mỗi quốc gia để sản xuất ra cả hai mặt hàng

Bảng 1.3 Các phương án sản xuất thép và vải ở Nhật Bản và VN

Nguồn: Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017)

Trong đó, L: là số lượng lao động, Q: là sản lượng,

Trang 33

QT: là sản lượng thép, QV: là sản lượng vải

Bảng 1.3 cho biết các phương án sản xuất thép và vải ở Nhật Bản

và Việt Nam Nhật Bản có thể có 7 phương án sản xuất khi phân bổ lao động cho cả hai ngành và mức sản lượng thép mà Nhật Bản có thể sản xuất ra được nhiều nhất khi tập trung hết nguồn lực vào sản xuất mặt hàng này là 60, ngược lại đối với mặt hàng vải là 24 đơn vị Tương tự đối với Việt Nam là có 5 phương án sản xuất, nếu tập trung hết nguồn lực vào sản xuất mặt hàng thép tối đa Việt Nam có thể sản xuất ra được 10 đơn vị, còn đối với mặt hàng vải tối đa sản xuất ra được 20 đơn vị

Các phương án sản xuất A, B, C, D, E, F, G của Nhật Bản có xu hướng giảm dần lượng thép và tăng dần lượng vải Có thể nhận thấy rằng mỗi khi Nhật Bản cắt giảm 10 đơn vị thép thì sẽ có 20 đơn vị lao động được đổi ra và lượng lao động này đủ để sản xuất thêm 4 đơn vị vải Điều này có nghĩa là 10 đơn vị thép = 4 đơn vị vải (vì cùng cần tới lượng lao động là 20), và như vậy chi phí cơ hội của thép ở Nhật Bản sẽ là 1 đơn vị thép = 0,4 đơn vị vải

Đối với Việt Nam, lần lượt các phương án sản xuất H, K, O, L,

M đều có xu hướng giảm dần lượng thép và tăng dần lượng vải Thật vậy cứ mỗi 2,5 đơn vị thép được cắt giảm thì sẽ đổi ra được 30 lao động và lượng lao động đổi ra này đủ để sản xuất thêm 5 đơn vị vải Như vậy 2,5 đơn vị thép = 5 đơn vị vải và chi phí cơ hội của thép ở Việt Nam là 1 đơn vị thép = 2 đơn vị vải

Trang 34

Hình 1.1 Đường PPF của Nhật và Việt, trường hợp chưa có

thương mại quốc tế

Nguồn: Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017)

Dùng các số liệu về mức sản lượng ở bảng 4 trên ta có thể biểu diễn được các mức sản lượng mà Nhật Bản và Việt Nam có thể sản xuất được khi cùng sản xuất hai mặt hàng là thép và vải Nối các phương án sản xuất của Nhật Bản từ A đến G ta được một đường

thẳng dốc xuống về bên phải, đó chính là đường giới hạn khả năng

sản xuất của Nhật Bản về thép và vải khi toàn dụng nguồn lực sẵn có

(120 lao động) Hoàn toàn tương tự đối với Việt Nam, các điểm biểu diễn trên đồ thị từ H đến M và nối lại chúng tạo thành một đường thẳng gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất của Việt Nam về thép

và vải (Hình 1) Lưu ý: Cả hai đường giới hạn khả năng sản xuất trên

đều là những đường thẳng bởi vì chi phí cơ hội ở hai quốc gia là không đổi Hình dạng đường PPF đi xuống thể hiện sự đánh đổi giữa hai mặt hàng: để sản xuất thêm một đơn vị thép mỗi quốc gia phải giảm bao nhiêu đơn vị vải Độ dốc tuyệt đối của các đường này đúng bằng chi phí cơ hội hay mức giá tương quan giữa thép và vải ở mỗi quốc gia

Trang 35

Kết luận: Trong điều kiện tự cung tự cấp, Nhật Bản và Việt Nam

chỉ có thể tiêu dùng những gì mình làm ra Vì vậy đường PPF ở mỗi quốc gia chính là đường giới hạn khả năng tiêu dùng của quốc gia đó

Trường hợp có mậu dịch giữa hai quốc gia Lúc đó mỗi quốc

gia sẽ thực hiện chuyên môn hóa nghĩa là sẽ tập trung hoàn toàn vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh Trong trường hợp đã xét ở trên thì Nhật Bản sẽ chỉ sản xuất thép, còn Việt Nam sẽ chỉ sản xuất vải Với sự phân công lao động như vậy, Nhật Bản sẽ chọn phương án sản xuất A là tối ưu, tương tự Việt Nam sẽ chọn phương

án sản xuất tối ưu là M

Sau khi sản xuất được mức sản lượng tối ưu, hai quốc gia sẽ tiến hành trao đổi một lượng hàng hóa nhất định cho nhu cầu tiêu dùng Mức giá quốc tế phải nằm trong khoảng giới hạn bởi hai mức giá tương quan giữa Nhật Bản và Việt Nam là:

0,4 vải < 1 thép < 2 vải và 0,5 thép < 1 vải < 2,5 thép

Hình 1.2 Lợi ích từ thương mại quốc tế – trường hợp

chi phí không đổi

Nguồn: Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017)

Trang 36

Từ hình vẽ chứng minh rằng điểm tiêu dùng mới của Nhật Bản

và Việt Nam đều nằm trên những đường thẳng cao hơn các đường PPF trong trường hợp 1 Như vậy nhờ thương mại mà mỗi quốc gia

có lợi do đạt tới điểm tiêu dùng mới nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất ban đầu Lợi ích đạt được từ thương mại của mỗi quốc gia nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ trao đổi quốc tế giữa chúng mà

có thể quốc gia này được lợi nhiều hơn hay ít hơn, nhưng nhìn chung thì cả hai quốc gia sẽ được lợi khi tiến hành mậu dịch

– Đối với Nhật Bản: Miền lợi ích từ thương mại có thể đo lường

đó là (AG, AG’), trong trường hợp tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1 thép = 2 vải thì AG’ sẽ trùng với AG’’ và lợi ích đạt được cao nhất của Nhật Bản lúc đó là (AG, AG’’)

– Đối với Việt Nam: miền lợi ích từ thương mại có thể đo lường

đó là (MH, MH’), trong trường hợp tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1 vải = 2,5 thép thì MH’ sẽ trùng với MH’’ và lợi ích đạt được cao nhất của Việt Nam lúc đó là (MH, MH’’)

◆ Những điểm tích cực và hạn chế trong Lý thuyết chi phí cơ hội

Đã giải thích được 1 số hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh, tuy nhiên vẫn chưa lý giải được chi phí cơ hội không phải luôn luôn bằng nhau mà ngược lại có xu hướng tăng lên

1.6.5 Lý thuyết Heckscher – Ohlin về nguồn lực sản xuất vốn có

Các giả thiết:

(1) Một mô hình gồm hai quốc gia (giả sử: Nhật Bản và Việt Nam), sản xuất ra hai mặt hàng (giả sử thép và vải), sử dụng hai yếu tố sản xuất (lao động và vốn), mức độ trang bị các yếu tố sản xuất

ở mỗi quốc gia là cố định

(2) Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa hai quốc gia: nếu giá cả các yếu tố sản xuất là như nhau thì để sản xuất 1 đơn vị vải các

Trang 37

nhà sản xuất vải ở Việt Nam và Nhật Bản sẽ sử dụng lao động như nhau và lượng vốn như nhau

(3) Các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố sản xuất khác nhau và không có sự hóan vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tương quan nào

(4) Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hóa lẫn thị trường yếu tố sản xuất (mức giá trên thị trường là duy nhất và được xác định bởi cung cầu, về dài hạn giá cả hàng hóa đúng bằng chi phí sản xuất)

(5) Chuyên môn hóa là không hoàn toàn (hai quốc gia có quy mô tương đối giống nhau, không có quốc gia nào được coi là quốc gia nhỏ so với quốc gia kia)

(6) Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia, nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia

(7) Thị hiếu giống nhau giữa các quốc gia

(8) Thương mại được thực hiện tự do, không có chi phí vận chuyển

Các khái niệm chính: Lý thuyết H-O được xây dựng dựa trên 2

khái niệm cơ bản:

• Tính thâm dụng yếu tố (factor intensity)

Ví dụ: Số liệu về chi phí sản xuất/ 1 đơn vị sản phẩm như sau:

Bảng 1.4: Chi phí sản xuất 1 đơn vị sản phẩm

Chi phí sản xuất 1 đơn vị sp Vốn (K) Lao động (L)

Nguồn : Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017)

Tỷ suất (L/K)v = 4/1 > (L/K)t = 2/3 Do đó vải là mặt hàng thâm dụng lao động

Tỷ suất (K/L)v = 1/4 < (K/L)t = 3/2 Do đó thép là mặt hàng thâm dụng vốn

Trang 38

Định lý H-O: Với các khái niệm được đề cập cơ bản như trên,

định lý H-O được phát biểu như sau: Quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó

Theo ví dụ về tính thâm dụng và dư thừa ở trên khi xem xét mô hình thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam, ta nhận thấy: Việt Nam

là quốc gia dồi dào tương đối về lao động và Nhật Bản là quốc gia dồi dào tương đối về vốn Như vậy theo lý thuyết H-O, Việt Nam sẽ sản xuất và xuất khẩu vải (mặt hàng thâm dụng lao động), còn Nhật Bản sẽ tập trung sản xuất và xuất khẩu thép (mặt hàng thâm dụng vốn)

Hình 1.3 Mô hình thương mại H-O

Nguồn: Dẫn theo Huỳnh Thị Thu Sương (2017)

Xem xét mô hình hai quốc gia là Nhật Bản và Việt Nam trong đó Việt Nam dư thừa lao động và Nhật Bản dư thừa vốn Cả hai quốc gia sản xuất ra hai mặt hàng là vải và thép trong đó vải (sản phẩm thâm dụng lao động) và thép (sản phẩm thâm dụng vốn) Cụ thể:

– Trước khi có mậu dịch xảy ra:

(PV/ Pt)Việt Nam < (PV/ Pt)Nhật Bản

Trang 39

Trong đó: PV, Pt là giá cả của vải và thép

Vì Việt Nam là quốc gia dư thừa lao động, do đó giá cả tương đối của sản phẩm vải sẽ thấp hơn ở Nhật Bản Và ngược lại Nhật Bản là quốc gia dư thừa vốn nên giá cả tương đối của sản phẩm thép sẽ thấp hơn ở Việt Nam Chính sự xuất hiện khác nhau về giá cả là cơ sở để diễn ra mậu dịch

– Khi có mậu dịch diễn ra:

Việt Nam sẽ có lợi thế về vải  sẽ xuất khẩu vải sang Nhật Bản Ngược lại, Nhật Bản sẽ có lợi thế về thép  sẽ xuất khẩu thép sang Việt Nam Bằng cách Việt Nam sẽ sản xuất vải và xuất sang Nhật Bản đổi lấy thép và ngược lại Nhật Bản xuất sang Việt Nam thép và nhập vải

+ Việt Nam: sản xuất tại điểm V1, tiêu thụ tại CV bằng cách xuất khẩu LV1 vải, nhập khẩu LCV thép

+ Nhật Bản: sản xuất tại điểm N1, tiêu thụ tại C

N bằng cách xuất khẩu KN1 thép và nhập khẩu KCN vải

Khi thương mại tự do được tiến hành, giá vải sẽ tăng ở Việt Nam

và giảm ở Nhật Bản Quá trình chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi được tiếp tục cho đến khi Nhật Bản đạt tới điểm sản xuất mới là N1, còn Việt Nam tới V1, tại đó mức giá tương quan giữa thép và vải ở hai quốc gia trở nên cân bằng Nhật Bản tiêu dùng tại CN, còn Việt Nam tại CV Việc CV nằm trên đường bàng quan thấp hơn I1 so với đường bàng quan của Nhật Bản I2 chứng tỏ rằng Nhật Bản có lợi lớn hơn từ thương mại so với Việt Nam Tuy nhiên, việc quốc gia nào có lợi hơn không quan trọng, điểm mấu chốt ở đây là cả hai quốc gia đều có lợi

từ thương mại và đều đạt tới đường bàng quan cao hơn so với trường hợp tự cung tự cấp Tại mức giá quốc tế cân bằng, Nhật Bản xuất khẩu N1K thép để đổi lấy KCN vải từ Việt Nam, còn Việt Nam xuất khẩu V1L vải để đổi lấy CVL thép từ Nhật Bản Trong đó xuất khẩu của quốc gia này đúng bằng nhập khẩu của quốc gia kia, cho nên hai tam giác thương mại của Nhật Bản và Việt Nam là bằng nhau: N1K

Trang 40

= CVL và KCN = V1L Như vậy dựa trên sự khác biệt về nguồn lực dẫn đến khác nhau về giá cả là cơ sở để xuất hiện mậu dịch giữa hai quốc gia tại 1 điểm thỏa mãn cao hơn trước Đó là nguyên nhân dẫn đến mậu dịch

◆ Những điểm tích cực và hạn chế trong Lý thuyết H-O

Lý thuyết Heckscher-Ohlin dự báo rằng các nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều hàm lượng những nhân tố dồi dào tại nước đó và nhập khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều hàm lượng những nhân tố khan hiếm tại nước đó Như vậy, lý thuyết H-O

cố gắng giải thích mô hình của thương mại quốc tế mà ta chứng kiến trên thị trường thế giới Điểm ưu việt so với lý thuyết của Ricardo, lý thuyết H-O lại lập luận rằng mô hình thương mại quốc tế được xác định bởi sự khác biệt về mức độ sẵn có của các nhân tố sản xuất hơn

là bởi sự khác biệt về năng suất lao động

1.6.6 Nghịch lý Leontief

Vận dụng lý thuyết H-O, Leontief dự đoán rằng, bởi vì Hoa Kỳ dồi dào tương đối về vốn so với các nước khác nên Hoa Kỳ sẽ là nước xuất khẩu những mặt hàng thâm dụng vốn và nhập khẩu những mặt hàng thâm dụng lao động Nhưng nghiên cứu thực nghiệm của ông cho thấy một kết quả bất ngờ là ông phát hiện rằng hàng hóa xuất khẩu của Hoa Kỳ lại là hàng hóa kém thâm dụng vốn so với hàng nhập khẩu của Hoa Kỳ Vì kết quả này trái với những gì mà lý thuyết H-O đã dự báo, nó đã được biết đến với tên gọi Nghịch lý Leontief Không ai khẳng định chắc chắn tại sao ta lại quan sát được nghịch

lý Leontief Một giải thích được đưa ra là Hoa Kỳ có lợi thế đặc biệt trong sản xuất những sản phẩm mới hoặc những hàng hóa chế tạo với những công nghệ có tính đổi mới Những sản phẩm đó có thể được xem là có mức thâm dụng vốn thấp hơn so với những sản phẩm sử dụng công nghệ đã có thời gian chín muồi và trở thành thông dụng cho sản xuất hàng loạt Do vậy, Hoa Kỳ có thể xuất khẩu những hàng hóa sử dụng nhiều lao động có kỹ năng và tinh thần doanh nghiệp sáng tạo, ví dụ như các phần mềm máy tính, trong khi đó lại nhập khẩu các sản phẩm chế tạo công nghiệp nặng vốn dĩ sử dụng một

Ngày đăng: 16/10/2022, 15:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Các phương án sản xuất thép và vải ở Nhật Bản và VN - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Bảng 1.3. Các phương án sản xuất thép và vải ở Nhật Bản và VN (Trang 32)
Hình 1.1. Đường PPF của Nhật và Việt, trường hợp chưa có - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 1.1. Đường PPF của Nhật và Việt, trường hợp chưa có (Trang 34)
Hình 1.2. Lợi ích từ thương mại quốc tế – trường hợp - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 1.2. Lợi ích từ thương mại quốc tế – trường hợp (Trang 35)
Hình 1.3. Mô hình thương mại H-O - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 1.3. Mô hình thương mại H-O (Trang 38)
Hình 1.4. Các giai đoạn phát triển của đời sống sản phẩm quốc tế - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 1.4. Các giai đoạn phát triển của đời sống sản phẩm quốc tế (Trang 43)
Hình 1.5. Các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 1.5. Các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia (Trang 47)
Hình 3.1. Mô hình 4 chiến lược của Michael Porter - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 3.1. Mô hình 4 chiến lược của Michael Porter (Trang 67)
Hình 3.2: Chuỗi giá trị của Michael Porter - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 3.2 Chuỗi giá trị của Michael Porter (Trang 68)
Hình 3.3. Ma trận BCG - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 3.3. Ma trận BCG (Trang 78)
Hình 3.4. Ma trận phân tích chiến lược GE - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 3.4. Ma trận phân tích chiến lược GE (Trang 79)
Hình 3.5. Bốn chiến lược kinh doanh quốc tế - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 3.5. Bốn chiến lược kinh doanh quốc tế (Trang 84)
Hình 4.1. Cấu trúc toàn cầu theo chức năng - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 4.1. Cấu trúc toàn cầu theo chức năng (Trang 106)
Hình 4.2. Cơ cấu chức năng với Bộ phận xuất khẩu - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 4.2. Cơ cấu chức năng với Bộ phận xuất khẩu (Trang 107)
Hình 4.3. Bộ phận quốc tế với cơ cấu sản phẩm - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 4.3. Bộ phận quốc tế với cơ cấu sản phẩm (Trang 108)
Hình 4.4. Cấu trúc địa lý toàn cầu của PepsiCo - BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ  QUẢN TRỊ KINH DOANH FBA  UFM ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH  MARKETING
Hình 4.4. Cấu trúc địa lý toàn cầu của PepsiCo (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w