MỤC LỤC 1LỜI NÓI ĐẦU 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2I Nhận định chung về nhãn hiệu nổi tiếng 21 Định nghĩa 32 Đặc điểm 33 Vai trò 4II Tiêu chí để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng 41 The.LỜI NÓI ĐẦU Ngày 1112007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), sự kiện này là một dấu mốc quan trọng tạo ra nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu từ đầu thế kỉ XX kéo theo xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực thương mại. Làm cho hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Việc giao lưu thương mại, trao đổi hàng hóa giữa các nước cũng dễ dàng hơn. Đơn cử như ở thị trường Việt Nam, ngày càng có nhiều sản phẩm hàng hóa từ nước ngoài và được ưa chuộng như là nước giải khát CocaCola, quần Jean Levi’s,… Bên cạnh những hoạt động kinh doanh lành mạnh, không trái với pháp luật thì cũng xuất hiện nhiều hành vi sai trái trong cạnh tranh. Để có thể thu lợi một cách nhanh chóng, nhiều chủ thể kinh doanh đã tìm mọi cách để hưởng lợi ích không chính đáng từ thành quả đầu tư, sáng tạo của người khác. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT) có rất nhiều vi phạm khác nhau, tuy nhiên trong các đối tượng SHTT thì nhãn hiệu là đối tượng dễ bị xâm phạm quyền nhất. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, trong các loại nhãn hiệu thì nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) là loại nhãn hiệu dễ bị xâm phạm nhất. Bởi vì, đó là các nhãn hiệu lâu đời, có tiếng trên thị trường, được người tiêu dùng tin tưởng, cho nên, đối tượng vi phạm có thể dễ đạt được mục đích ban đầu về lợi ích thu được. Nhưng để được công nhận là một NHNT thì Pháp luật SHTT Việt Nam cũng đã đặt ra nhiều tiêu chí khác nhau. Bài tiểu luận này, tác giả tập trung phân tích các tiêu chí để được công nhận là một NHNT theo Pháp luật SHTT Việt Nam. Ngoài ra còn có liên hệ đến pháp luật của một số nước về NHNT để cho người đọc có cái nhìn rõ hơn về NHNT. NỘI DUNG BÀI LÀM I. Nhận định chung về nhãn hiệu nổi tiếng 1. Định nghĩa Trên thế giới, NHNT đã được đề cập từ rất lâu, được điều chỉnh tại Điều 6bis của Công ước Paris 1883 có nội dung như sau “(ii) để được bảo hộ là NHNT theo Điều 6bis, một nhãn hiệu phải được công nhận là nổi tiếng ở nước thành viên đó” . Từ đó đặt ra nguyên tắc về công nhận một nhãn hiệu là NHNT thì dựa theo các tiêu chí của mỗi nước thành viên. Điều này có một số hạn chế nhất định cho nên tại khoản 2, 3 Điều 16 của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) đã khắc phục được những hạn chế này: “(ii) quy định tiêu chuẩn công nhận một nhãn hiệu là nổi tiếng một cách mềm dẻo hơn hay nói cách khác là thừa nhận việc một nhãn hiệu có thể được coi là nổi tiếng nếu được biết đến rộng rãi trong một bộ phận công chúng có liên quan tương ứng quy định này khiến cho các tiêu chuẩn công nhận một NHNT phù hợp hơn với thực tiễn của thị trường và phản ánh đúng thực tiễn cuộc sống;”. Ngoài ra, để có thể trở thành thành viên của WTO thì một trong số những điều kiện tiên quyết mà các nước muốn gia nhập phải thực hiện đó là việc xây dựng một hệ thống Pháp luật SHTT đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn được quy định trong Hiệp định TRIPS. Vì Việt Nam là thành viên của WTO từ năm 2007 và là thành viên của Công ước Paris 1883 từ năm 1994 cho nên có trách nhiệm phải thực hiện các cam kết về bảo hộ NHNT quy định trong các điều ước quốc tế này để đảm bảo phát triển một cách bền vững. Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến thuật ngữ NHNT là Nghị định số 63CP ngày 24101996 tại Điều 6.1e: “e. không trùng hoặc không tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của người khác được coi là nổi tiếng (theo Điều 6bis Công ước Paris) hoặc với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi”. Tuy nhiên, định nghĩa chính thức NHNT lần đầu tiên được ghi nhận Nghị định số 062001NĐ – CP ngày 01022001 của Chính phủ quy định chi tiết về NHNT: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ uy tín khiến cho nhãn hiệu đó được biết đến một cách rộng rãi.” . Trước thời điểm đó, khái niệm NHNT chưa từng được đề cập trong luật. Theo như khái niệm trên, một NHNT phải đáp ứng được hai yếu tố là “được sử dụng liên tục” và “được biết đến một cách rộng rãi”. Quy định như vậy là không rõ ràng. Thứ nhất, nếu “liên tục” dưới góc độ thời gian là liên tiếp, kế tiếp mà không có sự gián đoạn thì một nhãn hiệu phải được sử dụng trong khoảng thời gian là 10 năm, 20 năm hay lâu hơn mới được coi là “liên tục”? Thứ hai, một nhãn hiệu như thế nào thì được coi là có “uy tín” để được biết đến “rộng rãi” . Đối với sản phẩm hàng hóa, “uy tín” được tạo nên bởi những yếu tố nào và nếu “được biết đến rộng rãi” là nói tới số lượng người biết đến trong nước hay ngoài nước? Năm 2005, Luật SHTT đã có quy định để khắc phục những thiếu sót này về NHNT. Theo khoản 20 Điều 4 Luật SHTT Việt Nam 2005, NHNT là nhãn hiệu được nhiều người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”. Tùy vào mỗi căn cứ mà sẽ có các loại nhãn hiệu khác nhau, nếu căn cứ vào danh tiếng của nhãn hiệu thì có nhãn hiệu thông thường và NHNT. Vì bản chất của NHNT cũng là một loại nhãn hiệu đặc biệt, khác biệt với nhãn hiệu thông thường ở chỗ NHNT có các tính chất như là được biết đến và mức độphạm vi được biết đến. Nếu không có các tính chất này thì nhãn hiệu đó cũng được coi là nhãn hiệu thông thường hoặc nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi (đây được xem là một loại nhãn hiệu trung gian đứng giữa nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu thông thường. Loại nhãn hiệu này cũng tồn tại trong pháp luật Trung Quốc và được gọi là “mark with substantial influence”, có thể tạm dịch là “nhãn hiệu có ảnh hưởng nhất định”) . Tuy nhiên, ở vế thứ hai của định nghĩa về phạm vi được biết đến là trên toàn lãnh thổ Việt Nam, theo tác giả quy định này đã đi xa hơn so với quy định tại khoản 2 Điều 16 Hiệp định TRIPS và khuyến nghị của WIPO năm 1999 ở chỗ “trên toàn lãnh thổ Việt Nam”. Bởi vì, cả hai văn bản này chỉ yêu cầu khi đánh giá liệu một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, các nước thành viên sẽ xem xét đến sự biết đến rộng rãi nhãn hiệu của nhóm công chúng tương ứng” . Bởi vì, “Nhóm công chúng tương ứng” ở đây có nghĩa là nhóm công chúng nhất định mà sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ hướng tới. Còn “trên toàn lãnh thổ Việt Nam” thì có thể hiểu là hàng hóa hoặc dịch vụ đó phải được biết đến ở mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là tiêu chí này sẽ không được đáp ứng nếu có một hoặc vài nơi trên lãnh thổ Việt Nam chưa biết đến hàng hóa hoặc sản phẩm đó. Hoặc tiêu chí này còn có thể hiểu là hàng hóa hoặc dịch vụ đó phải được mọi người dân của Việt Nam biết đến không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội được gọi tắt là người tiêu dùng đại chúng. Cho nên khái niệm này của Pháp luật Việt Nam chưa hoàn toàn phù hợp với Hiệp định TRIPS và khuyến nghị của WIPO năm 1999. Ngoài ra, khi quy định như khoản 20 Điều 4 Luật SHTT thì cũng có thể rút ra một hệ quả đó là có thể một nhãn hiệu đã nổi tiếng trên thế giới từ lâu, tuy nhiên nếu nhãn hiệu này không được người tiêu dùng Việt Nam biết đến, thì nhãn hiệu này cũng không được coi là nổi tiếng theo quy định của pháp luật SHTT Việt Nam. 2. Đặc điểm Vì NHNT cũng là một loại nhãn hiệu cho nên NHNT cũng mang đầy đủ các đặc điểm của nhãn hiệu. Tuy nhiên, NHNT cũng có những đặc điểm riêng của mình đó là: Thứ nhất, một NHNT phải là một nhãn hiệu có tính phân biệt rất cao, thông qua một NHNT, người tiêu dùng có thể phân biệt ngay loại hàng hóa hoặc dịch vụ đó so với các loại hàng hóa và dịch vụ khác. Thứ hai, NHNT thường có tính phổ biến cao, một NHNT là một nhãn hiệu được biết đến ở nhiều khu vực địa lý khác nhau. Thứ ba, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thường có giá trị kinh tế rất lớn, nó cấu thành một bộ phận tài sản quan trọng trong khối lượng tài sản của doanh nghiệp, trong thực tế một số doanh nghiệp còn có thể sử dụng NHNT của mình như một loại vốn để đưa vào các hoạt động đầu tư kinh doanh. Cuối cùng NHNT là đối tượng dễ bị xâm phạm, bởi NHNT là nhãn hiệu có tính phổ biến và giá trị thương mại cao, tiềm tàng khả năng bị xâm phạm quyền SHTT . 3. Vai trò NHNT cũng chính là nhãn hiệu cho nên vai trò của NHNT cũng chính là vai trò của nhãn hiệu. Nhãn hiệu có chức năng chủ yếu là một phương tiện phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Từ chức năng chủ yếu trên, nhãn hiệu có những vai trò rất to lớn đối với thương mại, kinh tế xã hội như sau: • Giúp người tiêu dùng lựa chọn một cách thuận lợi các hàng hóa, dịch vụ theo các nhu cầu riêng của mình như chất lượng, giá cả, sở thích, thói quen…của mình. • Thúc đẩy các cơ sở kinh doanh không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, tính năng, sự hấp dẫn…của hàng hóa, dịch vụ để nâng cao uy tín nhãn hiệu của mình, dẫn đến kích thích sự phát triển sản xuất, kinh doanh. • Nhãn hiệu là công cụ tiếp thị hữu hiệu, một phương tiện quảng cáo, xúc tiến thương mại hiệu quả nhất. Mọi hoạt động tiếp thị, quảng cáo hay xúc tiến thương mại đều thực hiện chủ yếu dựa trên nhãn hiệu và nhằm mở rộng việc kinh doanh hàng hóa mang chính nhãn hiệu đó. • Nhãn hiệu là một trong những cơ sở để các cơ quan pháp luật phân biệt hàng thật với hàng giả, hàng nhái nhằm xử lý kịp thời các vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, đảm bảo cho môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng . II. Tiêu chí để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng 1. Theo pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 1.1. Các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng Để được công nhận là NHNT, lần đầu tiên các tiêu chí đánh giá NHNT được quy định rõ ràng trong Điều 75 của Luật SHTT, theo đó: “1. số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu thông qua quảng cáo; 2. phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; 3. doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp; 4. thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; 5. uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; 6. số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; 7. số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; 8. giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.” Đó là những tiêu chí được sử dụng khi đánh giá một nhãn hiệu có được coi là NHNT hay không, đây là một bước nhảy vọt đáng chú ý trong việc quy định pháp luật về NHNT. Để đánh giá sự nổi tiếng của một nhãn hiệu, không nhất thiết phải đánh giá tất cả các tiêu chí trên mà tuỳ từng trường hợp cụ thể. Nếu so sánh 8 tiêu chí để được công nhận NHNT được quy định tại Điều 75 L
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Người thực hiện:
MSSV:
Lớp:
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
I Nhận định chung về nhãn hiệu nổi tiếng 2
1 Định nghĩa 2
2 Đặc điểm 3
3 Vai trò 3
II Tiêu chí để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng 4
1 Theo pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 4
1.1 Các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng 4
1.2 Điểm bất cập 5
2 Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật nước ngoài 7
2.1 Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng theo Pháp luật Nhật bản 7
2.2 Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng theo Pháp luật Hoa Kỳ 8
III Thực trạng áp dụng các tiêu chí để xác định nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam 9
IV Các giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động công nhận nhãn hiệu nổi tiếng 10
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
I Danh mục văn bản pháp luật 13
II Danh mục các tài liệu tham khảo 13
Trang 3Từ viết tắt Nghĩa
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 11/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO),
sự kiện này là một dấu mốc quan trọng tạo ra nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế Việt Nam Ngoài
ra, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu từ đầu thế kỉ XX kéo theo xu thế hội nhập quốc
tế ngày càng sâu rộng trong lĩnh vực thương mại Làm cho hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường như hiện nay Việc giao lưu thương mại, trao đổi hàng hóa giữa các nước cũng dễ dàng hơn Đơn cử như ở thị trường Việt Nam, ngày càng có nhiều sản phẩm hàng hóa từ nước ngoài và được ưa chuộng như là nước giải khát CocaCola, quần Jean Levi’s,…
Bên cạnh những hoạt động kinh doanh lành mạnh, không trái với pháp luật thì cũng xuất hiện nhiều hành vi sai trái trong cạnh tranh Để có thể thu lợi một cách nhanh chóng, nhiều chủ thể kinh doanh đã tìm mọi cách để hưởng lợi ích không chính đáng từ thành quả đầu tư, sáng tạo của người khác Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT) có rất nhiều vi phạm khác nhau, tuy nhiên trong các đối tượng SHTT thì nhãn hiệu là đối tượng dễ bị xâm phạm quyền nhất
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy, trong các loại nhãn hiệu thì nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) là loại nhãn hiệu dễ bị xâm phạm nhất Bởi vì, đó là các nhãn hiệu lâu đời, có tiếng trên thị trường, được người tiêu dùng tin tưởng, cho nên, đối tượng vi phạm có thể dễ đạt được mục đích ban đầu về lợi ích thu được Nhưng để được công nhận là một NHNT thì Pháp luật SHTT Việt Nam cũng đã đặt ra nhiều tiêu chí khác nhau
Bài tiểu luận này, tác giả tập trung phân tích các tiêu chí để được công nhận là một NHNT theo Pháp luật SHTT Việt Nam Ngoài ra còn có liên hệ đến pháp luật của một số nước về NHNT để cho người đọc có cái nhìn rõ hơn về NHNT
Trang 5NỘI DUNG BÀI LÀM
I Nhận định chung về nhãn hiệu nổi tiếng
1 Định nghĩa
Trên thế giới, NHNT đã được đề cập từ rất lâu, được điều chỉnh tại Điều 6bis của Công ước Paris
1883 có nội dung như sau “(ii) để được bảo hộ là NHNT theo Điều 6bis, một nhãn hiệu phải được công
nhận là nổi tiếng ở nước thành viên đó”1 Từ đó đặt ra nguyên tắc về công nhận một nhãn hiệu là NHNT thì dựa theo các tiêu chí của mỗi nước thành viên Điều này có một số hạn chế nhất định cho nên tại khoản 2, 3 Điều 16 của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT
(Hiệp định TRIPS) đã khắc phục được những hạn chế này: “(ii) quy định tiêu chuẩn công nhận một
nhãn hiệu là nổi tiếng một cách mềm dẻo hơn hay nói cách khác là thừa nhận việc một nhãn hiệu có thể được coi là nổi tiếng nếu được biết đến rộng rãi trong một bộ phận công chúng có liên quan tương ứng - quy định này khiến cho các tiêu chuẩn công nhận một NHNT phù hợp hơn với thực tiễn của thị trường và phản ánh đúng thực tiễn cuộc sống;”
Ngoài ra, để có thể trở thành thành viên của WTO thì một trong số những điều kiện tiên quyết mà các nước muốn gia nhập phải thực hiện đó là việc xây dựng một hệ thống Pháp luật SHTT đáp ứng đầy
đủ các tiêu chuẩn được quy định trong Hiệp định TRIPS Vì Việt Nam là thành viên của WTO từ năm
2007 và là thành viên của Công ước Paris 1883 từ năm 1994 cho nên có trách nhiệm phải thực hiện các cam kết về bảo hộ NHNT quy định trong các điều ước quốc tế này để đảm bảo phát triển một cách bền vững
Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến thuật ngữ NHNT là Nghị định số 63/CP ngày
24/10/1996 tại Điều 6.1e: “e không trùng hoặc không tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa
của người khác được coi là nổi tiếng (theo Điều 6bis Công ước Paris) hoặc với nhãn hiệu hàng hóa của người khác đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi” Tuy nhiên, định nghĩa
chính thức NHNT lần đầu tiên được ghi nhận Nghị định số 06/2001/NĐ – CP ngày 01/02/2001 của
Chính phủ quy định chi tiết về NHNT: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được sử dụng liên tục cho
sản phẩm, dịch vụ uy tín khiến cho nhãn hiệu đó được biết đến một cách rộng rãi.” 2 Trước thời điểm
đó, khái niệm NHNT chưa từng được đề cập trong luật Theo như khái niệm trên, một NHNT phải đáp
ứng được hai yếu tố là “được sử dụng liên tục” và “được biết đến một cách rộng rãi” Quy định như vậy là không rõ ràng Thứ nhất, nếu “liên tục” dưới góc độ thời gian là liên tiếp, kế tiếp mà không có
sự gián đoạn thì một nhãn hiệu phải được sử dụng trong khoảng thời gian là 10 năm, 20 năm hay lâu
hơn mới được coi là “liên tục”? Thứ hai, một nhãn hiệu như thế nào thì được coi là có “uy tín” để được biết đến “rộng rãi” Đối với sản phẩm hàng hóa, “uy tín” được tạo nên bởi những yếu tố nào và nếu “được biết đến rộng rãi” là nói tới số lượng người biết đến trong nước hay ngoài nước?3 Năm
2005, Luật SHTT đã có quy định để khắc phục những thiếu sót này về NHNT Theo khoản 20 Điều 4
Luật SHTT Việt Nam 2005, "NHNT là nhãn hiệu được nhiều người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên
toàn lãnh thổ Việt Nam” Tùy vào mỗi căn cứ mà sẽ có các loại nhãn hiệu khác nhau, nếu căn cứ vào
1 Hà Thị Nguyệt Thu, “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [https://www.tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/599] (truy cập ngày 25/10/2021)
2 Hà Thị Nguyệt Thu, “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [https://www.tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/599] (truy cập ngày 25/10/2021)
3 Sblaw, “Quy định pháp luật về nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT)” [https://luatsu-vn.com/quy-dinh-phap-luat-ve-nhan-hieu-noi-tieng-nhnt/] (truy cập ngày 25/10/2021)
Trang 6danh tiếng của nhãn hiệu thì có nhãn hiệu thông thường và NHNT Vì bản chất của NHNT cũng là một loại nhãn hiệu đặc biệt, khác biệt với nhãn hiệu thông thường ở chỗ NHNT có các tính chất như là được biết đến và mức độ/phạm vi được biết đến Nếu không có các tính chất này thì nhãn hiệu đó cũng được coi là nhãn hiệu thông thường hoặc nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi (đây được xem là một loại nhãn hiệu trung gian đứng giữa nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu thông thường Loại nhãn hiệu này cũng tồn tại trong pháp luật Trung Quốc và được gọi là “mark with substantial influence”, có thể tạm dịch là “nhãn hiệu có ảnh hưởng nhất định”)4
Tuy nhiên, ở vế thứ hai của định nghĩa về phạm vi được biết đến là trên toàn lãnh thổ Việt Nam, theo tác giả quy định này đã đi xa hơn so với quy định tại khoản 2 Điều 16 Hiệp định TRIPS và khuyến
nghị của WIPO năm 1999 ở chỗ “trên toàn lãnh thổ Việt Nam” Bởi vì, cả hai văn bản này chỉ yêu cầu
"khi đánh giá liệu một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, các nước thành viên sẽ xem xét đến sự biết đến rộng rãi nhãn hiệu của nhóm công chúng tương ứng” 5 Bởi vì, “Nhóm công chúng tương ứng” ở đây
có nghĩa là nhóm công chúng nhất định mà sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ hướng tới Còn “trên toàn
lãnh thổ Việt Nam” thì có thể hiểu là hàng hóa hoặc dịch vụ đó phải được biết đến ở mọi nơi trên lãnh
thổ Việt Nam, nghĩa là tiêu chí này sẽ không được đáp ứng nếu có một hoặc vài nơi trên lãnh thổ Việt Nam chưa biết đến hàng hóa hoặc sản phẩm đó Hoặc tiêu chí này còn có thể hiểu là hàng hóa hoặc dịch vụ đó phải được mọi người dân của Việt Nam biết đến không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị
xã hội được gọi tắt là người tiêu dùng đại chúng Cho nên khái niệm này của Pháp luật Việt Nam chưa hoàn toàn phù hợp với Hiệp định TRIPS và khuyến nghị của WIPO năm 1999 Ngoài ra, khi quy định như khoản 20 Điều 4 Luật SHTT thì cũng có thể rút ra một hệ quả đó là có thể một nhãn hiệu đã nổi tiếng trên thế giới từ lâu, tuy nhiên nếu nhãn hiệu này không được người tiêu dùng Việt Nam biết đến, thì nhãn hiệu này cũng không được coi là nổi tiếng theo quy định của pháp luật SHTT Việt Nam
2 Đặc điểm
Vì NHNT cũng là một loại nhãn hiệu cho nên NHNT cũng mang đầy đủ các đặc điểm của nhãn hiệu Tuy nhiên, NHNT cũng có những đặc điểm riêng của mình đó là:
Thứ nhất, một NHNT phải là một nhãn hiệu có tính phân biệt rất cao, thông qua một NHNT, người tiêu dùng có thể phân biệt ngay loại hàng hóa hoặc dịch vụ đó so với các loại hàng hóa và dịch vụ khác Thứ hai, NHNT thường có tính phổ biến cao, một NHNT là một nhãn hiệu được biết đến ở nhiều khu vực địa lý khác nhau
Thứ ba, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng thường có giá trị kinh tế rất lớn, nó cấu thành một bộ phận tài sản quan trọng trong khối lượng tài sản của doanh nghiệp, trong thực tế một số doanh nghiệp còn có thể
sử dụng NHNT của mình như một loại vốn để đưa vào các hoạt động đầu tư kinh doanh
Cuối cùng NHNT là đối tượng dễ bị xâm phạm, bởi NHNT là nhãn hiệu có tính phổ biến và giá trị thương mại cao, tiềm tàng khả năng bị xâm phạm quyền SHTT6
3 Vai trò
4 Phan Ngọc Tâm, Lê Quang Vinh (2019), “Hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam - Một số giải pháp”,
Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam, (03), tr 12.
5 Hà Thị Nguyệt Thu, “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [https://www.tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/599] (truy cập ngày 25/10/2021)
6 Lê Thị Quỳnh, “Nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ” [http://luatviet.net.vn/nhan-hieu-noi-tieng-theo-quy-dinh-cua-luat-so-huu-tri-tue/n20170524045758213.html] (truy cập ngày 25/10/2021)
Trang 7NHNT cũng chính là nhãn hiệu cho nên vai trò của NHNT cũng chính là vai trò của nhãn hiệu Nhãn hiệu có chức năng chủ yếu là một phương tiện phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Từ chức năng chủ yếu trên, nhãn hiệu có những vai trò rất to lớn đối với thương mại, kinh tế - xã hội như sau:
Giúp người tiêu dùng lựa chọn một cách thuận lợi các hàng hóa, dịch vụ theo các nhu cầu riêng của mình như chất lượng, giá cả, sở thích, thói quen…của mình
Thúc đẩy các cơ sở kinh doanh không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, tính năng,
sự hấp dẫn…của hàng hóa, dịch vụ để nâng cao uy tín nhãn hiệu của mình, dẫn đến kích thích sự phát triển sản xuất, kinh doanh
Nhãn hiệu là công cụ tiếp thị hữu hiệu, một phương tiện quảng cáo, xúc tiến thương mại hiệu quả nhất Mọi hoạt động tiếp thị, quảng cáo hay xúc tiến thương mại đều thực hiện chủ yếu dựa trên nhãn hiệu và nhằm mở rộng việc kinh doanh hàng hóa mang chính nhãn hiệu đó
hàng giả, hàng nhái nhằm xử lý kịp thời các vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, đảm bảo cho môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng7
II Tiêu chí để một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng
1 Theo pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
1.1 Các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng
Để được công nhận là NHNT, lần đầu tiên các tiêu chí đánh giá NHNT được quy định rõ ràng trong
Điều 75 của Luật SHTT, theo đó: “1 số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông
qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu thông qua quảng cáo; 2 phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; 3 doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp; 4 thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; 5 uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; 6 số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; 7 số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; 8 giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.” Đó là
những tiêu chí được sử dụng khi đánh giá một nhãn hiệu có được coi là NHNT hay không, đây là một bước nhảy vọt đáng chú ý trong việc quy định pháp luật về NHNT Để đánh giá sự nổi tiếng của một nhãn hiệu, không nhất thiết phải đánh giá tất cả các tiêu chí trên mà tuỳ từng trường hợp cụ thể
Nếu so sánh 8 tiêu chí để được công nhận NHNT được quy định tại Điều 75 Luật SHTT với 6 yếu
tố để một nhãn hiệu có được coi là NHNT hay không theo Bản khuyến nghị của WIPO năm 1999 Chúng ta có thể thấy rằng, về cơ bản 8 tiêu chí tại Điều 75 Luật SHTT thực chất chính là 6 yếu tố được khuyến nghị bởi WIPO Pháp luật Việt Nam đã đã tách một số nội dung của 6 yếu tố thành các tiêu chí riêng, chẳng hạn như tiêu chí số 1 và 3 của Điều 75 hoàn toàn nằm trong phạm vi của yếu tố số 1 theo
Bản khuyến nghị WIPO, cụ thể “số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua
việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo” và “doanh
số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán
7 Diệp Thị Thanh Xuân (2009), Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và pháp
luật Việt Nam, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, tr 19.
Trang 8ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp” trùng với phạm vi xem xét của yếu tố số 1 “mức độ biết hoặc công nhận nhãn hiệu bởi bộ phận công chúng có liên quan” Các tiêu chí số 2, số 4 và số 5 là “phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành”, “thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu” và “uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu” có ý nghĩa tương tự như các
yếu tố của Bản khuyến nghị WIPO quy định, yếu tố số 2“thời gian, quy mô và khu vực địa lý sử dụng
nhãn hiệu”, yếu tố số 3 “thời gian, quy mô và khu vực địa lý của bất kỳ hoạt động quảng bá nhãn hiệu bao gồm quảng cáo hoặc quảng bá và giới thiệu tại các triển lãm, hội chợ đối với hàng hóa/dịch
vụ mang nhãn hiệu”, yếu tố số 4 “thời gian và khu vực địa lý mà nhãn hiệu đã được đăng ký và/hoặc
đã được nộp đơn đăng ký trong chừng mực mà chúng phản ánh việc sử dụng hoặc công nhận nhãn hiệu” và yếu tố thứ 5 “hồ sơ thực thi thành công quyền độc quyền nhãn hiệu, đặc biệt là phạm vi
mà nhãn hiệu được công nhận là nổi tiếng bởi cơ quan có thẩm quyền”
Mặt khác, quy định tại Điều 75 Luật SHTT là một quy định mở, dựa vào các tiêu chí này các tổ chức, cá nhân sẽ thu thập các chứng cứ liên quan đến quá trình nhãn hiệu được sử dụng để yêu cầu các
cơ quan chức năng xem xét, đánh giá Cũng cần phải lưu ý rằng, các tài liệu khác cũng có thể cung cấp
để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét khi đánh giá NHNT như tài liệu chứng minh việc đầu tư, chi phí cho quảng cáo, tiếp thị cho nhãn hiệu; các vụ việc xâm phạm, tranh chấp và các quyết định, phán quyết của tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền; số liệu khảo sát người tiêu dùng biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng, quảng cáo, tiếp thị; xếp hạng, đánh giá uy tín nhãn hiệu của tổ chức quốc gia, quốc tế, phương tiện thông tin đại chúng; giải thưởng, huy chương mà nhãn hiệu đã đạt được; kết quả giám định của tổ chức giám định 8 Việc ghi nhận NHNT được quy định rõ trong Điểm 42.4 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/2/2007, theo đó, khi NHNT được công nhận theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc theo quyết định của Cục SHTT thì NHNT đó sẽ được ghi nhận vào Danh mục NHNT được lưu giữ tại Cục SHTT
1.2 Điểm bất cập
Thông qua việc xem xét các tiêu chí nêu trên, tác giả nhận thấy việc quy định 8 tiêu chí để được công nhận là NHNT tại Điều 75 Luật SHTT có một số điểm bất cập như sau9:
Thứ nhất, sự không khớp nhau giữa định nghĩa NHNT tại Điều 4 và tiêu chí đánh giá NHNT tại
Điều 75 Luật SHTT Cụ thể, theo quy định tại Điều 4: "NHNT là nhãn hiệu được nhiều người tiêu dùng
biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”, tuy nhiên ở tiêu chí đánh giá NHNT tại khoản 6, khoản
7 Điều 75 thì lại có các tiêu chí như là số lượng quốc gia công nhận bảo hộ hay là số lượng quốc gia coi
nó là NHNT thì dường như những tiêu chí này là để đánh giá một nhãn hiểu có sự nổi tiếng ở phạm vi Thế giới Mặt khác, khi cần được chứng nhận NHNT, trong đó có tiêu chí này, thì các chủ thể kinh doanh phải cung cấp số lượng quốc gia mà nhãn hiệu đã được đăng ký là bao nhiêu?, vấn đề về việc quy định số lượng người tiêu dùng cũng giống như vậy
Thứ hai, trong số các tiêu chí đánh giá NHNT được quy định tại Điều 75 thì pháp luật không có quy định rõ là phải đáp ứng đầy đủ tất cả các tiêu chí này mới được công nhận là NHNT hay chỉ cần đáp ứng một số tiêu chí trong tám tiêu chí này hay là ngoài các tiêu chí được quy định tại Điều 75 còn xem xét đến các yếu tố khác, các tiêu chí khác nếu nó có liên quan hay không thì Điều 75 không xác định rõ
mà chỉ liệt kê ra 8 tiêu chí để được công nhận là NHNT chứ không quy định rõ
8 Hà Thị Nguyệt Thu, “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [https://www.tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/599] (truy cập ngày 25/10/2021)
9 Hà Thị Nguyệt Thu, “Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” [https://www.tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/599] (truy cập ngày 25/10/2021)
Trang 9Thứ ba, pháp luật cũng không nói rõ đối với NHNT phạm vi người tiêu dùng ở đây là người như thế nào? Là người tiêu dùng gắn liền với việc sử dụng đối với nhãn hiệu đối với sản phẩm mang nhãn hiệu
đó hay là tất cả người tiêu dùng thuộc mọi lĩnh vực ngành nghề trên lãnh thổ Việt Nam thì pháp luật cũng không nói rõ Quy định này, vô hình trung đã loại bỏ những nhãn hiệu của các sản phẩm đặc thù khỏi đối tượng để được công nhận là NHNT như là các thiết bị trong lĩnh vực ngân hàng hay máy quét kiểm tra an ninh,…
Thứ tư, việc chia nhỏ 6 yếu tố thuộc Bản khuyến nghị WIPO thành 8 tiêu chí tại Điều 75 Luật SHTT là không cần thiết Điều này dễ gây nhầm lẫn khi áp dụng pháp luật và gây khó khăn cho việc hướng dẫn các chủ nhãn hiệu cung cấp chứng cứ10 Ví dụ tiêu chí số 1 và 3 quy định rằng “số lượng
người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo” và “doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp”, chỉ cần
gộp cả 2 tiêu chí lại chúng ta sẽ nhận được yếu tố số 1 của Bản khuyến nghị WIPO có tính chất và
yêu cầu tương đương “mức độ biết hoặc công nhận nhãn hiệu bởi bộ phận công chúng có liên quan”.
Cuối cùng, tại tiêu chí thứ 5 của Điều 75 Luật SHTT thì quy định chứng minh trực tiếp tiêu chí “uy tín” trong khi Bản khuyến nghị của WIPO thì không hề đề cập đến Việc quy định như vậy đã gây ra khó khăn cho chủ nhãn hiệu Bởi vì, chủ nhãn hiệu sẽ không thể cung cấp được bằng chứng nào để giúp cơ quan hữu quan thấy ngay lập tức và trực tiếp uy tín của nhãn hiệu từ chính bằng chứng đó, kể
cả dù có thông qua xem xét bằng chứng xác thực nhãn hiệu đang xem xét là rất uy tín, nổi tiếng bởi các
cơ quan tổ chức khác bao gồm cả báo chí Hơn nữa, bản chất của “uy tín” vốn là vô hình, nằm sâu bên trong tập hợp nhiều thông tin và bằng chứng khác nhau được cung cấp, chỉ có thể cảm nhận được hoặc đánh giá được bằng cách suy luận từ việc đánh giá tổng hợp toàn bộ các yếu tố cần phải đánh giá chứ không phải là tìm cách đánh giá nó một cách trực tiếp11
Trong Bản án số 1388/2012/KDTM-ST ngày 13/9/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là Công ty Interbrand Group và bị đơn là Công Ty Cổ phần Thương Mại Quốc
tế (Interbrand JSC) Trong bản án có đoạn: “Căn cứ các tài liệu do công ty Interbrand cung cấp và cơ
sở dữ liệu hiện có, Cục SHTT trả lời quý tòa như sau: 1 Nhãn hiệu Interbrand của công ty Interbrand
đã được sử dụng và được thừa nhận rộng rãi trên thế giới,… 2 Nhãn hiệu Interbrand của công ty Interbrand đã được sử dụng và được biết đến tại Việt Nam, 3 Kết luận: Do nhãn hiệu Interbrand của Công ty Interbrand có số lượng người tiêu dùng và người sử dụng biết đến rộng rãi thông qua việc sử dụng dịch vụ và phương tiện quảng cáo liên tục từ năm 1974 tại nhiều quốc gia trên thế giới, doanh số đạt được từ dịch vụ mang nhãn hiệu cũng như tổng số giá trị của các thương hiệu được công ty Interbrand định giá rất lớn, dịch vụ mang nhãn hiệu đã đạt được uy tín rộng rãi, đồng thời nhãn hiệu
đã được sử dụng và được biết đến tại Việt Nam thông qua các phương tiện truyền thông Căn cứ các quy định về NHNT tại khoản 20 Điều 4, Điều 75 Luật SHTT và khoản 2 Điều 6 Nghị định 103/2006/ NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, Cục SHTT xác nhận nhãn hiệu Interbrand của Interbrand Group được xác định là NHNT trong lĩnh vực định giá và tư vấn xây dựng thương hiệu tại thời điểm ngày 21/3/2006.” 12
10 Phan Ngọc Tâm, Lê Quang Vinh, (03) tr 11.
11 Phan Ngọc Tâm, Lê Quang Vinh, (03), tr 12.
12 Đỗ Văn Đại, Nguyễn Phương Thảo (2013), “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, (02
(75)), tr 47-57.
Trang 10Có thể thấy, trên thực tế, Cục SHTT chỉ có thể dựa vào bằng chứng do đương sự cung cấp, thể hiện
sự hạn chế về mặt chứng cứ Trong các phần lập luận của Cục SHTT để công nhận nhãn hiệu Interbrand của Interbrand Group là NHNT trong lĩnh vực định giá và tư vấn xây dựng thương hiệu, vì chưa có một văn bản nào hướng dẫn về việc áp dụng một số hay toàn bộ tiêu chí tại Điều 75 Luật SHTT để công nhân NHNT nên trong trường hợp này Cục SHTT đã trải dài phân tích lập luận cả 8 tiêu
chí (i) “được sử dụng và thừa nhận rộng rãi trên thế giới” nhưng không nói rõ là được thừa nhận ở
nước nào? Thừa nhận ở lĩnh vực nào hay là tất cả các lĩnh vực mà công ty này hoạt động? số lượng các
quốc gia đó là bao nhiêu? (ii) nói chung chung là “người tiêu dùng” mà không nói rõ là người tiêu dùng đối với dịch vụ nào? Có phải là người tiêu dùng liên quan hay không? (iii) “được biết đến tại
Việt Nam” mà không nói cụ thể là được biết đến trên toàn lãnh thổ Việt Nam hay một phần đáng kể của
lãnh thổ Việt Nam (iv) Sử dụng thêm tiêu chí về doanh số, giá trị nhãn hiệu, có uy tín rộng rãi Nhưng
dù đã phân tích đầy đủ cả 8 tiêu chí, xong trong các lập luận đó đều chưa thật sự thỏa đáng vì thiếu bằng chứng cũng như vần còn những bất cập trong các quy định pháp luật Từ đó, làm cho bản án này mất đi tính thuyết phục
2 Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật nước ngoài
Đa số các nước trên thế giới mà là thành viên của Công ước Paris 1883 hoặc thành viên của WTO đều quy định trong pháp luật của quốc gia mình và thực tiễn bảo hộ các NHNT, nhưng nội dung và cách thức công nhận và bảo hộ có khác nhau Định nghĩa về NHNT không đồng nhất ở các nước, nhưng đa phần các nước áp dụng theo các tiêu chí đánh giá do WIPO đưa ra Đa số các nước đều sử dụng một khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng”, riêng Cộng đồng châu Âu sử dụng hai khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” và “nhãn hiệu rất nổi tiếng” Cơ quan quốc gia có thẩm quyền công nhận NHNT thường là
cơ quan SHCN quốc gia và toà án, tại một số nước chỉ là cơ quan SHCN hoặc toà án Nói chung, các nước không lập một danh mục các NHNT của mình mà giải quyết theo từng vụ việc một trong quá trình cấp đăng ký nhãn hiệu hoặc xét xử tranh chấp tại toà Chỉ có Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan là lập danh sách NHNT, nhưng chỉ là của các doanh nghiệp trong nước, nhằm phục vụ cho mục đích xúc tiến thương mại hoặc trao đổi thông tin với nước khác13
2.1 Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng theo Pháp luật Nhật bản 2.1.1 Khái quát
Theo quy định của pháp luật Nhật Bản về NHNT, NHNT được hiểu một cách chung chung là NHNT đối với người tiêu dùng thông qua việc sử dụng trên những hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể Ở Nhật Bản, người ta phân chia ra ba mức độ của một nhãn hiệu về mức độ nổi tiếng đó là nhãn hiệu thông thường, NHNT và nhãn hiệu rất nổi tiếng Đặc biệt, ở Nhật Bản pháp luật điều chỉnh đối với NHNT đó là Luật Nhãn hiệu Nhật Bản (商標法 - Japanese Trademark Law)
Trong Luật Nhãn hiệu Nhật Bản, tại Điều 4-1-10 quy định sẽ từ chối việc nộp đơn của một bên hoặc tuyên bố việc đăng ký những nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với NHNT cho những sản phẩm dịch vụ trùng hoặc tương tự là vô giá trị Như vậy, có thể thấy phạm vi bảo hộ của Điều 4-1-10 tương tự so với các quy định của Điều 6Bis Công ước Paris
Thực tế ở Nhật Bản một nhãn hiệu được xem là nổi tiếng thì không cần thiết phải nổi tiếng đối với người sử dụng cuối cùng mà chỉ cần các chuyên gia trong lĩnh vực đó biết đến là đủ Và nhãn hiệu đó cũng không cần thiết phải được biết đến trên phạm vi cả nước mà chỉ cần được biết đến trên một địa
13 Hà Trần, “Tiêu chí và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng” [https://phapluattructuyen.com/tieu-chi-va-bao-ho-nhan-hieu-noi-tieng] (truy cập ngày 25/10/2021)