Giáo trình Y học cổ truyền do Bộ môn Y học cổ truyền – Trường Đại học Y dược Cần Thơ biên soạn theo chương trình đào tạo của Trường được các thầy thuốc chuyên khoa có kiến thức và kinh n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
BỘ MÔN Y HỌC CỔ TRUYỀN
Giáo trình
Y HỌC CỔ TRUYỀN
(Dành cho sinh viên: Y đa khoa, Y học dự phòng
Răng hàm mặt, Điều dưỡng)
NĂM 2019
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Y học cổ truyền là chương trình học quan trọng trong chương trình Y khoa của Việt Nam Các kiến thức và kỹ năng về Y học cổ truyền giúp nâng cao năng lực
của thầy thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe người dân
Giáo trình Y học cổ truyền do Bộ môn Y học cổ truyền – Trường Đại học Y dược Cần Thơ biên soạn theo chương trình đào tạo của Trường được các thầy thuốc chuyên khoa có kiến thức và kinh nghiệm sâu về lĩnh vực Y học cổ truyền biên soạn
sẽ giúp cho sinh viên, các thầy thuốc các kiến thức, kỹ năng cơ bản về Y học cổ truyền trong thực hành
Xin giới thiệu với sinh viên, các đồng nghiệp quyển giáo trình và mong rằng
sẽ hữu ích cho các bạn trong công việc
Chào trân trọng Trưởng khoa Y
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình Y học cổ truyền do Bộ môn Y học cổ truyền - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ biên soạn nhằm mục đích cung cấp kiến thức về Y học cổ truyền cho các sinh viên đại học ngành Y đa khoa, Y học dự phòng, Răng hàm mặt, Điều dưỡng Trong chương trình đào tạo, ngoài những kiến thức về Y học hiện đại, sinh viên cần được trang bị thêm các kiến thức cơ bản về Y học cổ truyền để sau này có thể vận dụng vào công tác khám và chữa bệnh bằng Đông Tây y kết hợp
TM Bộ môn Thạc sĩ Lê Thị Mỹ Tiên
Trang 7MỤC LỤC
LỊCH SỬ NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM ……… 1
CÁC HỌC THUYẾT CƠ BẢN CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN ……… 9
NGUYÊN NHÂN BỆNH ………28
CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN ……….36
ÐƯỜNG KINH VÀ HUYỆT ………49
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC ……… 81
THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN ……… 92
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH NỘI KHOA ……….139
ĐÁP ÁN CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ ………166
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….167
Trang 9LỊCH SỬ NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
MỤC TIÊU
1 Trình bày sơ lược về lịch sử nền Y học cổ truyền Việt Nam qua các thời kỳ
2 Trình bày được ý nghĩa và biện pháp của việc kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại
NỘI DUNG
1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Y học cổ truyền Việt Nam (còn gọi là Y học dân tộc Việt Nam hay Đông y), đã
có trên 4000 năm lịch sử Nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh để bảo vệ sức khỏe và Y học cổ truyền Việt Nam đã không ngừng kế thừa và phát triển qua các thời kỳ lịch sử
1.1 Thời kỳ dựng nước (Thời kỳ Hùng Vương) (Khoảng năm 2900 trước Công
nguyên đến năm 111 trước Công nguyên)
Từ khi có lớp người nguyên thuỷ quần tụ trên đất nước ta, Y học dân tộc Việt Nam đã bắt đầu hình thành Lúc đầu, trong quá trình tìm kiếm thức ăn, người xưa đã phát hiện các vị thuốc để phòng và trị bệnh Đồng thời trong sinh hoạt lao động, các phương pháp chích, lể, châm cứu, xông hơi, nắn bó, đắp rịt thuốc cũng đã được sáng tạo để giải quyết bệnh tật Những kinh nghiệm về cuộc sống như ăn, mặc, ở, làm nhà, đào giếng, nấu ăn, sưởi ấm cũng được tích lũy dần Tất cả những yếu tố đó đã hình thành nền Y học cổ truyền
Dưới thời các Vua Hùng, tổ tiên ta đã tìm ra các loại cây có chất bổ để ăn chống đói, dùng hành, gừng, tỏi làm gia vị khi ăn thức ăn thịt cá cho đỡ tanh, dễ tiêu, làm bánh chưng, bánh dày để dành được lâu, có tục ăn trầu cho ấm người, thơm miệng và tống khí độc qua đường mũi miệng
Theo sách “Long uý bí thư”, đến đầu thế kỷ II trước Công nguyên đã có hàng trăm vị thuốc được phát hiện như Sử quân tử, Cát căn, Sen, Quế
1.2 Thời kỳ đấu tranh giành độc lập lần thứ I (Năm 111 trước Công nguyên đến
năm 938)
Trong gần 1000 năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, nền Y học cổ truyền Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển Trong thời gian này, có sự giao lưu giữa Y học cổ truyền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc
Trang 101.3 Thời kỳ độc lập với các Triều đại Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần - Hồ (Năm 938
- 1406)
1.3.1 Triều nhà Ngô, Đinh, Lê (938-1010)
Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc ách thống trị của phong kiến Trung Quốc, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam Các triều Ngô, Đinh, Lê đã chú trọng phát triển Y học cổ truyền, nhưng không còn thấy tài liệu ghi chép về tình hình y học trong thời kỳ này
1.3.2 Triều nhà Lý (1010 - 1224)
Triều đình thành lập Ty thái y chăm sóc sức khỏe cho vua, quan trong triều Thời kỳ này, việc chữa bệnh bằng phù phép được thịnh hành Năm 1136 nhà sư Nguyễn Chí Thành tức Nguyễn Minh Không (Gia Viễn, Ninh Bình) đã chữa khỏi bệnh “hoá hổ” cho vua Lý Thần Tông bằng tâm lý liệu pháp, sau đó ông được phong làm Quốc sư
1.3.3 Triều nhà Trần (1224 - 1399)
- Việc chống mê tín dị đoan đã thúc đẩy y học phát triển mạnh hơn
+ Triều đình thành lập Viện thái y và đã tuyển dụng thầy thuốc qua thi cử từ năm 1261
+ Viện thái y tổ chức đi hái thuốc hoang ở núi An Tử (Đông Triều), quân y đã trồng thuốc ở Vạn An Dược Sơn (Hưng Đạo, Chí Linh, Hải Hưng) để tự túc Năm
1362, triều đình chủ trương phát thuốc cho quân đội và nhân dân để chống quân xâm lược Nguyên Mông
- Thời kỳ này đã xuất hiện một số danh y như Phạm Công Bân, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh
Tuệ Tĩnh (1330 - ?) tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh (Cẩm Vũ, Cẩm Giàng, Hải Hưng), đỗ tiến sĩ nhưng không làm quan mà đi tu Ông đã có công xây dựng nền móng cho Y học cổ truyền Việt Nam: mở các cơ sở chữa bệnh cho nhân dân ở các chùa thuộc huyện Giao thuỷ và Cẩm Giàng, gây phong trào trồng thuốc để có sẵn thuốc tại chỗ, biên soạn các bộ sách như “Nam dược thần hiệu”, “Thập tam phương gia giảm” (sau đổi tên là “Hồng Nghĩa Giác tư y thư”) Tuệ Tĩnh được suy tôn là vị
“Thánh thuốc Nam”, ông là người đầu tiên nêu cao khẩu hiệu “Nam dược trị Nam
nhân” Ông nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ, tóm tắt
trong 14 chữ: “Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện
hình”
1.3.4 Triều nhà Hồ (1400 - 1406)
Trang 11Tuy thời gian tồn tại ngắn ngủi nhưng đã có thầy thuốc Nguyễn Đại Năng gây dựng nền móng của khoa châm cứu Việt Nam, đã để lại quyển sách đầu tiên về châm cứu của Việt Nam là “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca”
1.4 Thời kỳ đấu tranh giành độc lập lần thứ II (Năm 1407 đến 1427)
Phong kiến nhà Minh lại xâm lược nước ta Chúng vơ vét sách vở, thuốc, đưa các sĩ phu, danh y Việt Nam về Trung Quốc (trong đó có Tuệ Tĩnh), khiến cho Y học
cổ truyền nước ta không phát triển
1.5 Thời kỳ độc lập với các triều đại Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn (Năm 1428 đến
1883)
1.5.1 Triều nhà Hậu Lê (1428 - 1788)
- Có nhiều chủ trương tiến bộ trong việc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân
+ Bộ luật Hồng Đức có quy chế cho ngành y: xử phạt thầy thuốc kém y đức, quy chế vệ sinh xã hội, quy chế về pháp y: khám án mạng, khám thương tích, mổ tử thi
+ Tuyên truyền vệ sinh bảo vệ nòi giống: ban hành luật cấm phá thai và chống tảo hôn, quy định tuổi thành hôn (nam ít nhất 18 tuổi, nữ 16 ít nhất 16 tuổi)
+ Về tổ chức y tế, ở triều đình có Viện thái y đứng đầu, Sở lương y chữa bệnh cho quân đội, Tế sinh đường (các tỉnh) chữa bệnh cho nhân dân, làm công tác phòng chống dịch bệnh
+ Mở các kỳ thi tuyển lương y, tổ chức các khoa giảng ở Viện thái y, hiệu đính
và tái bản các trước tác y học, biên soạn các sách y học mới
- Một số danh y Triều Lê đã có công đóng góp cho sự phát triển Y học cổ truyền như Nguyễn Trực, Chu Doãn Văn, Hoàng Đôn Hoà, Đào Công Chính, Lê Đức Vọng,
Lê Hữu Trác
Lê Hữu Trác (1720 - 1791), hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (Văn Xá, Yên Mỹ, Hưng Yên) Các tác phẩm của ông như: bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”, “Vệ sinh yếu quyết”, “Lĩnh Nam bản thảo” Hải Thượng Lãn Ông được suy tôn là Y tổ của Y học cổ truyền Việt Nam Đóng góp lớn của ông là đã truyền lại việc trị bệnh phải theo đường hướng bệnh cảnh nước ta và nhấn mạnh phương pháp điều trị bằng cách điều hoà Thuỷ Hoả để giải quyết các bệnh khó, bệnh nguy cấp
1.5.2 Triều nhà Tây Sơn (1789 – 1801)
Thời kỳ này chiến tranh liên miên, mất mùa, dịch bệnh nhiều
Thời kỳ này cũng có một số danh y như Nguyễn Hoành, Nguyễn Gia Phan (tức Nguyễn Thế Lịch), Nguyễn Quang Tuân
1.5.3 Triều nhà Nguyễn (1802 – 1883)
Trang 12Tổ chức y tế thời nhà Nguyễn giống thời nhà Hậu Lê Các bộ sách của Tuệ Tĩnh, Hải Thượng được tái bản
Một số danh y thời này như Nguyễn Quang Lượng, Lê Đức Huệ, Lê Trác Như, Dương Khải
1.6 Thời kỳ Pháp thuộc (Năm 1884 đến 1945)
Dưới thời Pháp thuộc, y tế nhà nước do Tây y đảm nhiệm Mặc dù thực dân Pháp có chủ trương tiêu diệt nền văn hoá dân tộc ta trong đó có nền Y học cổ truyền, loại bỏ Y học cổ truyền ra khỏi tổ chức y tế nhà nước, nhưng nhân dân ta vẫn ủng hộ duy trì, cho nên trong thời kỳ này Y học cổ truyền nước ta vẫn không ngừng phát triển, đại đa số nhân dân ta nhất là ở nông thôn và miền núi vẫn giải quyết bệnh tật của mình bằng thuốc cổ truyền
- Một số danh y trong thời kỳ này gồm: Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Văn Trung,
Lê Tư Thuý, Vũ Đình Phu, Đỗ Thế Hồ, Nguyễn An Nhân, Đinh Nho Chấn, Nguyễn
1.7.2 Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1954 - 1975)
Mở đầu thời kỳ này, Hồ Chủ tịch đã viết thư gởi cho Hội nghị ngành y tế ngày
27/2/1955, trong thư người viết: “Trong những năm bị nô lệ thì y học của ta cũng
như các ngành khác bị kiềm hãm Nay chúng ta đã độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp Chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu chữa bệnh của nhân dân ta Y học cũng phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng”
Cũng trong thư người nhấn mạnh: “Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý
báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc Bắc Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây” Thư
của Hồ Chủ tịch đã làm bản đề cương để phát triển nền Y học cổ truyền Việt Nam
Trang 13Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ 3, thứ 4 xác định việc xây dựng ngành y
tế như sau: “Nhiệm vụ công tác y tế là bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân
lao động, nhằm phục vụ đời sống, phục vụ sản xuất, phục vụ quốc phòng… Thừa kế
về pha1tt huy các kinh nghiệm quý báu về Đông y, nghiên cứu những nguồn dược liệu trong nước Cần kết hợp chặt chẽ giữa Y học cổ truyền và Y học hiện đại trog công tác y tế, trên các mặt phòng bệnh, chữa bệnh, sản xuất thuốc men, đào tạo cán
bộ và nghiên cứu khoa hoc…”
- Về tổ chức bộ máy y tế:
+ Hội Đông y và Viện Đông y được thành lập năm 1957 Hội Đông y là nơi tập hợp qui tụ các người hành nghề đông y và yêu thích đông y thành một lực lượng cho nền y tế nhân dân để cùng nhau góp sức phát triển Đông y theo định hướng xã hội chủ nghĩa Viện Đông y là nơi tập trung nhiều lương y danh tiếng, nhiều bác sĩ, dược
sĩ thừa kế và nghiên cứu Đông y trên cơ sở khoa học để từ đó gạn lọc lấy phần tinh tuý của Đông y và là cánh tay đắc lực của Bộ Y tế trong việc chỉ đạo quản lý phát triển Đông y trong cả nước
+ Các bộ môn Đông y trong các Trường trung học y tế và Đại học Y khoa được thành lập (Bộ môn Đông y Trường Đại học Y Hà Nội: 1962)
+ Thành lập các Bệnh viện Đông y các Tỉnh và Khoa Đông y tại các Bệnh viện
đa khoa
- Các thành tựu đạt được trong giai đoạn này:
+ Tổ chức: đã tập hợp được lực lượng đông đảo thầy thuốc Đông y theo sự hướng dẫn chỉ đạo của y tế nhà nước đóng góp trong việc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân
+ Đào tạo: đã đưa được Đông y vào các trường đào tạo y tế từ sơ cấp, trung cấp đến đại học, đã đào tạo được nhiều bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền, trang bị được thêm kiến thức cơ bản về Đông y cho các y bác sĩ Tây y, bổ túc kiến thức Đông y cho các lương y đang hành nghề, đào tạo lương y trẻ
+ Nghiên cứu khoa học: các hội nghị nghiên cứu châm cứu và thuốc nam được
tổ chức hàng năm, thực hiện thành công một số đề tài nghiên cứu điều trị bằng thuốc nam và châm cứu, xuất bản các sách về Đông y, dịch và in được các bộ sách kinh điển của Đông y Việt nam ra tiếng Việt như bộ “Tuệ Tĩnh toàn tập” (Nam Dược Thần Hiệu, Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư) và bộ “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh”
+ Điều trị: đã điều trị được nhiều loại bệnh khó thuộc các lĩnh vực khác nhau (nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa)
Những thành tựu đạt được trên đây tại miền Bắc đã một phần chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ tại miền Nam (các thầy thuốc Đông y, thuốc Đông y và các tài liệu nghiên cứu Đông y đã đạt được)
Trang 14Trong giai đoạn này Đông y Việt Nam đã bước đầu được nhiều nước trên Thế giới lưu ý đến
1.7.3 Thời kỳ thống nhất nước nhà (từ 1975 đến nay)
- Sau năm 1975, nền Đông y Việt nam lúc này đổi tên là Y học dân tộc Việt Nam và cũng được nhanh chóng phát triển tại miền Nam
+ Thành lập Viện Y học dân tộc, tỉnh hội Y học dân tộc (Viện Y học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh: 1976)
+ Thành lập bộ môn Y học dân tộc trong các trường Đại học, trung học y tế (Bộ môn Y học dân tộc Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh: 1976, Bộ môn
Y học dân tộc Trường Đại học Cần Thơ: 1985)
+ Xây dựng bệnh viện Y học dân tộc và khoa Y học dân tộc ở các bệnh viện đa khoa ở hầu hết các tỉnh
+ Xuất bản các sách báo Y học dân tộc và mở các lớp giảng dạy Y học dân tộc vừa căn bản vừa nâng cao ở nhiều nơi (thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Biên Hoà, Sông Bé, Tiền Giang, Đồng Tháp )
+ Các thầy thuốc đóng góp nhiều công sức cho nền Y học cổ truyền trong thời
kỳ này như: bác sĩ Trương Thìn (câu lạc bộ Y học dân tộc của thành phố Hồ Chí Minh), Lương y Nguyễn Trung Hoà, Giáo sư hán học Huỳnh Minh Đức, lương y Lê Quí Ngưu, lương y Hoàng Duy Tân… (Hội Y học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh), thầy thuốc Vương Sanh (câu lạc bộ châm cứu Sông Bé)
+ Phát triển châm cứu: trong thời kỳ này nền Y học cổ truyền Việt Nam, cụ thể
là châm cứu Việt Nam, được các thầy thuốc Việt Nam giới thiệu ra nước ngoài, vì vậy nhiều nước trên thế giới như các nước Đông Âu, Anh, Pháp, Mỹ, Canada, nhiều nước ở Châu Phi biết đến châm cứu Việt Nam, nhiều nước đã mời các thầy châm cứu Việt Nam sang nước họ giảng dạy và điều trị bệnh bằng châm cứu, trong đó người có đóng góp nhiều là Giáo sư Nguyễn Tài Thu Do nhu cầu phát triển trong giai đoạn này nên đã thành lập Viện châm cứu Việt Nam năm 1982 và Hội châm cứu Việt Nam năm 1968
Nhìn chung từ khi được nhà nước quan tâm, nền Y học cổ truyền càng ngày càng phát triển và chính Y học cổ truyền đã góp phần làm vẻ vang nền y học Việt Nam tại nước ngoài
2 KẾT HỢP Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ Y HỌC HIỆN ĐẠI
2.1 Ý nghĩa
- Là một cuộc cách mạng trong y học để xây dựng một nền Y học Việt Nam có đầy đủ tính chất khoa học dân tộc và đại chúng Đó là những kinh nghiệm hiện đại nhất được áp dụng trong hoàn cảnh nước ta, kết hợp với kinh nghiệm lâu đời của cha
Trang 15ông, với nguồn dược liệu phong phú, với phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc độc đáo nhất
- Đoàn kết và thống nhất được đội ngũ đông đảo cán bộ làm y tế của nước ta, bao gồm cán bộ y tế thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau của Y học hiện đại với các người làm công tác Y học cổ truyền chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp ở các phòng chẩn trị Y học cổ truyền, các hội Y học cổ truyền trong cả nước
- Mang tính cần kiệm, tự túc tự cường để xây dựng đất nước
2.2 Biện pháp
- Về nhận thức và tư tưởng: cần khắc phục một số tư tưởng sai lầm của một số cán bộ y tế như coi nhẹ giá trị và phương pháp chữa bệnh bằng Y học cổ truyền vì chịu sự ảnh hưởng của sách vở nước ngoài cũng như khuynh hướng hẹp hòi trước việc tiếp thu nền Y học cổ truyền
- Việc tổ chức kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại phải được xây dựng
từ trung ương đến địa phương
- Kế thừa những kinh nghiệm chữa bệnh quý báu của nền Y học cổ truyền: con người, bài thuốc, tài liệu cổ
- Đẩy mạnh việc đào tạo cán bộ Y học cổ truyền
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu về Y học cổ truyền
- Đẩy mạnh việc vận dụng Y học cổ truyền vào dự phòng và điều trị bệnh, hiện đại hóa các phương tiện chẩn đoán và điều trị bằng Y học cổ truyền
- Khuyến khích việc tìm kiếm, di thực, trồng và sử dụng các loại dược liệu, các thành phẩm bào chế bằng nam dược
Trang 16CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Phương pháp chữa bệnh được Hải Thượng Lãn Ông nhấn mạnh để giải quyết các bệnh khó, bệnh nguy cấp là:
a Âm Dương cân bằng
b Hải Thượng Lãn Ông
c Nguyễn Đại Năng
d Phạm Công Bân
3 Phương pháp chữa bệnh bằng “Toa căn bản” được áp dụng trong thời kỳ chống Pháp xuất phát từ:
a Người Trung Quốc tại Việt Nam
b Nhân dân miền núi phía Bắc
c Đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên
d Quân dân y Nam bộ
4 Bộ môn YHCT của trường Đại học Y Dược Cần Thơ thành lập năm:
a 1985
b 1976
c 1962
d 1957
5 Ý nghĩa kết hợp Y học hiện đại và Y học cổ truyền:
a Mang tính cần kiệm, tự túc tự cường để xây dựng đất nước
b Đẩy mạnh việc đào tạo cán bộ YHCT
c Đẩy mạnh công tác nghiên cứu YHCT dân tộc
d Kế thừa những kinh nghiệm chữa bệnh quý báu của nền YHCT
Trang 17CÁC HỌC THUYẾT CƠ BẢN CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN
3 Trình bày được chức năng sinh lý của khí, huyết, tinh, tân dịch
4 Trình bày chức năng của các tạng phủ trong cơ thể con người
5 Trình bày được cấu tạo, vai trò của hệ kinh lạc và hành trình của khí huyết trong
hệ kinh lạc
1 THUYẾT ÂM DƯƠNG
Âm dương là một cặp phạm trù của triết học cổ đại đông phương, là lý luận giản
dị, đối lập, thống nhất của người xưa Người xưa đã vận dụng học thuyết âm dương
để giải thích nhiều vấn đề trong y học và giải thích mối quan hệ giữa người và thế giới tự nhiên, đã kết hợp học thuyết âm dương với y học
1.1 Khái niệm cơ bản
Âm dương là khái quát hai thuộc tính đối lập nhau của những sự vật hay hiện tượng có mối liên quan tương hỗ trong tự nhiên
Khởi đầu, khái niệm âm dương rất thô sơ, ví dụ như vùng sáng hướng về phía mặt trời là dương và vùng tối phía sau lưng mặt trời là âm Về sau, hàm ý dần được
mở rộng, ví dụ: cao là dương và thấp là âm, sáng là dương và tối là âm, nhiệt là dương
và hàn là âm
Thuộc tính âm dương của sự vật không phải tuyệt đối mà chỉ là tương đối Tùy theo đối tượng so sánh mà thuộc tính của sự vật có thể tuộc âm hoặc thuộc dương, ví
dụ nước ở 60oC là dương so với 10oC và là âm so với 100oC Trong lòng một sự vật
có thể phân chia hai mặt âm dương, trong mỗi mặt âm dương đó lại có thể tiếp tục phân chia âm dương, tức là trong âm dương lại có âm dương, ví dụ ban ngày là dương, ban đêm là âm, trong ban ngày thì sáng là dương trong dương và chiều là âm trong dương, trong ban đêm thì đầu hôm là âm trong âm, gần sáng là dương trong âm
1.2 Đặc tính của âm dương
1.2.1 Âm dương giao cảm và hỗ tàng
- Âm dương giao cảm
Trang 18Là chỉ về trong quá trình vận động của hai khí âm dương có sự tương hỗ cảm ứng mà giao hợp với nhau Âm dương giao cảm là nguồn cội sinh thành và biến hoá của vạn vật trong vũ trụ Dương khí của trời đi xuống, âm khí của đất đi lên, hai khí
âm dương này gặp nhau ở giữa, giao cảm hoà hợp, sinh ra vũ trụ và vạn vật, thúc đẩy chúng phát triển và biến hoá
- Âm dương hỗ tàng
Là chỉ trong bất kỳ một mặt nào của hai mặt âm dương tương hỗ đối lập đều hàm chứa bên trong mặt còn lại, tức trong âm có dương và trong dương có âm
1.2.2 Âm dương đối lập chế ước
Đối lập là tương phản, ví dụ trên và dưới, trời và đất, động và tĩnh, nước và lửa
Âm dương tương phản sẽ dẫn đến chế ước, ví dụ nóng ấm xua tan hàn lạnh, thuỷ có thể dập tắt hoả, lửa có thể làm sôi nước
Kết quả của sự chế ước làm cho sự vật ở trạng thái cân bằng động Ví dụ, về mặt chức năng sinh lý của người, chức năng hưng phấn thuộc dương, ức chế thuộc
âm, hai mặt này luôn chế ước lẫn nhau để cơ thể đạt được trạng thái cân bằng động
và cũng là trạng thái sinh lý thường Nếu mối quan hệ đối lập chế ước của âm dương thất điều, phá vỡ sự cân bằng động, thì sẽ sinh ra bệnh tật
1.2.3 Âm dương hỗ căn hỗ dụng
Âm dương hỗ căn là chỉ hai mặt âm dương tương hỗ đối lập trong tất cả mọi sự vật hay hiện tượng có quan hệ về nguồn gốc và nương tựa nhau để tồn tại Ví dụ: phía trên là dương, dưới là âm, nếu không có phía trên thì làm sao phân định được phía dưới và ngược lại; hàn là âm, nhiệt là dương, không có khái niệm nhiệt thì không thể
có khái niệm hàn được
Âm dương hỗ dụng là chỉ hai mặt âm dương tương hỗ bổ sung, thúc đẩy và giúp đối phương cùng phát triển Ví dụ: chất dinh dưỡng được cơ thể hấp thu và chuyển hóa từ thức ăn (thuộc âm) sẽ giúp cơ thể tạo ra sức sống, sự vận động, sức đề kháng (thuộc dương); các hoạt động của cơ thể thí dụ như ăn uống (thuộc dương) giúp bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể (thuộc âm)
1.2.4 Âm dương tiêu trưởng bình hành
Âm dương tiêu trưởng (tiêu = tiêu hao, trưởng = gia tăng) là chỉ về tỷ lệ của lượng âm và dương hàm chứa trong mỗi sự vật không phải là bất biến mà sẽ không ngừng tiêu trưởng biến hoá Ví dụ về khí hậu: Đông chuyển Xuân rồi Hạ, khí hậu từ lạnh dần chuyển ấm biến nóng, là quá trình “dương trưởng âm tiêu”; Hạ chuyển Thu rồi Đông, khí hậu từ nóng dần chuyển mát rồi lạnh, là quá trình “âm trưởng dương tiêu” Ví dụ về vòng đời con người: giai đoạn từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, âm tinh cùng với sự tăng trưởng của dương khí mà tăng trưởng theo, nhờ thế con người
Trang 19mới sinh trưởng về thể chất và phát triển về chức năng sinh dục sinh sản, đó là quá trình “âm trưởng dương trưởng”; giai đoạn trưởng thành đến lúc lão hoá, dương khí cùng với sự suy giảm của âm tinh mà suy giảm theo, cơ thể con người lão suy về thể chất và suy giảm về chức năng sinh dục sinh sản, đó là quá trình “dương tiêu âm tiêu”
Âm dương bình hành (bình hành = thăng bằng) là chỉ hai mặt âm dương trong quá trình vận động tiêu trưởng luôn duy trì trạng thái bình hành Hai mặt âm dương tuy trong trạng thái không ngừng vận động nhưng vẫn duy trì thế cân bằng động ổn định, sự mất thăng bằng sẽ gây ra sự xáo trộn sự vật và phát sinh bệnh Âm suy nhiều
sẽ dẫn đến dương kháng, dương suy nhiều sẽ dẫn đến âm thịnh
1.2.5 Âm dương chuyển hoá
Âm dương chuyển hoá là chỉ thuộc tính của một sự vật trong một điều kiện nhất định có thể chuyển hoá sang hướng đối nghịch, tức là sự vật thuộc dương sẽ chuyển hoá thành thuộc âm và ngược lại Ví dụ về nhiệt độ: khí hậu mùa hè nóng nực (thuộc dương) sẽ chuyển thành lạnh lẽo (thuộc âm) ở mùa đông, người bệnh sốt rét đang rét run lại chuyển thành sốt cao
Sự tương hỗ chuyển hoá của âm dương biểu hiện dưới hình thức từ từ nhưng cũng có thể là hình thức đột biến Ví dụ: bốn mùa trong năm hàn thử giao thoa, chuyển hoá ngày đêm đều thuộc hình thức từ từ; mùa hè nóng nực lại có mưa đá hoặc trong bệnh cấp tính đang sốt cao đột ngột hạ sốt tay chân lạnh là hình thức đột biến
1.3 Vận dụng học thuyết âm dương trong y học
1.3.1 Thuyết minh về kết cấu tổ chức cơ thể người
Học thuyết cho rằng cơ thể là do âm dương kết hợp mà thành một chỉnh thể hữu cơ mà các kết cấu tổ chức lại đều có thể dựa vào vị trí đặc điểm chức năng của
nó mà phân định thuộc tính âm dương Ví dụ: bên ngoài là dương bên trong là âm, phía lưng là dương phía bụng là âm, khí thuộc dương huyết thuộc âm, kinh lạc thuộc dương tạng phủ thuộc âm, phủ thuộc dương tạng thuộc âm, kinh dương thuộc dương kinh âm thuộc âm
1.3.2 Giải thích về chức năng sinh lý cơ thể người
Hoạt động sống bình thường là kết quả của sự hiệp đồng duy trì thăng bằng âm dương Ví dụ: thăng (lên trên), giáng (xuống dưới), xuất (ra ngoài), nhập (vào trong)
là hình thức vận động cơ bản của khí cơ (hoạt động của khí), trong đó thăng và xuất thuộc dương, giáng và nhập thuộc âm, nếu thăng giáng xuất nhập thăng bằng thì không bệnh, ngược lại sẽ là bệnh lý
1.3.3 Giải thích những biến hoá bệnh lý của cơ thể người
Sự phát sinh và phát triển của bệnh tật liên quan tới chính khí và tà khí Chính khí là chỉ về khả năng đề kháng bệnh tà và hoạt động cơ năng của cơ thể, là khả năng
Trang 20thích ứng với hoàn cảnh bên ngoài và có năng lực bù đắp những tổn thương của tổ chức, cơ quan Tà khí là chỉ về tất cả các tác nhân gây bệnh Chính khí gồm âm khí
và dương khí Tà khí cũng có âm tà và dương tà Quá trình bệnh tật phát sinh và phát triển đa số là quá trình tà chính phân tranh và kết quả của quá trình đấu tranh đó gây nên hiện tượng âm dương thiên thắng hoặc thiên hư (thiên = thiên lệch)
Âm dương thiên thắng tức là âm tà hoặc dương tà quá mạnh Trường hợp này
sẽ biểu hiện trạng thái phần âm hoặc phần dương cao hơn mức bình thường Nếu dương thắng sẽ biểu hiện các triệu chứng thiên về nhiệt như sốt cao, mặt đỏ, mạch
nhanh, môi miệng khô, táo bón Nếu âm thắng sẽ biểu hiện các triệu chứng thiên về
hàn như mặt trắng nhợt, cơ thể lạnh, đau bụng, lạnh bụng, tiêu phân lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng Âm dương thiên thắng mà hình thành bệnh thì bệnh thuộc thực chứng (triệu chứng chỉ sự phản ứng mạnh mẽ của cơ thể), dương thắng là thực nhiệt
và dương hư là hư hàn
1.3.4 Vận dụng trong chẩn đoán
- Phân tích thuộc tính âm dương của triệu chứng bệnh
+ Về sắc trạch: sắc vàng, đỏ thuộc dương, xanh, trắng, đen thuộc âm Trạch tươi sáng thuộc dương; héo tối thuộc âm
+ Về âm thanh: tiếng cao, to, trong thuộc dương, tiếng nhỏ, vô lực thuộc âm + Về triệu chứng: sốt thuộc dương, thân lạnh thuộc âm; miệng khô mà khát thuộc dương, miệng nhuận không khát thuộc âm; phiền động bất an thuộc dương, nằm yên co quắp thuộc âm
+ Về mạch: phù thuộc dương trầm thuộc âm; nhanh thuộc dương chậm thuộc
âm
- Phân biệt thuộc tính âm dương trong biện chứng để chẩn đoán
Trong biện chứng thường dùng âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực làm cương lĩnh biện chứng gọi là bát cương Trong bát cương thì âm dương là tổng cương, biểu, thực, nhiệt thuộc dương, lý, hư, hàn thuộc âm
Trang 211.3.5 Ứng dụng trong phòng và trị bệnh
- Phòng bệnh
Dưỡng sinh là một phương pháp để duy trì sức khỏe và phòng bệnh, mà dưỡng
sinh thì điều căn bản nhất là điều lý âm dương Trong tự nhiên có xuân hạ thu đông bốn mùa biến hoá gọi là “Tứ thời âm dương” Tập dưỡng sinh là tập làm cho âm dương trong cơ thể thích ứng với sự biến hoá âm dương bốn mùa từ đó có tác dụng điều hoà hiệp đồng thống nhất giữa người và tự nhiên để kéo dài tuổi thọ
- Điều trị
+ Xác định nguyên tắc điều trị: sự phát sinh và phát triển của bệnh là do thất điều âm dương, do đó nguyên tắc cơ bản là điều chỉnh âm dương, bổ sung phần thiếu hụt, trừ bỏ phần dư thừa, hồi phục thăng bằng hiệp điều âm dương, làm cho âm bình dương mật
Âm dương thiên thắng là thực chứng nên nguyên tắc điều trị là trừ bỏ phần dư thừa Nếu dương tà thịnh thì dùng pháp (phương pháp) thanh nhiệt, nếu âm tà thịnh thì dùng pháp tán hàn
Âm dương thiên hư là hư chứng nên nguyên tắc điều trị là bổ sung phần thiếu hụt Nếu âm hư thì dùng pháp tư âm, nếu dương hư thì dùng pháp trợ dương + Phân tích tính năng và thuộc tính âm dương của thuốc
Tính năng dược vật chủ yếu dựa vào khí, vị và thăng giáng phù trầm của thuốc
Tứ khí gồm hàn, nhiệt, ôn, lương, trong đó hàn, lương thuộc âm; ôn, nhiệt thuộc dương Ngũ vị gồm toan (chua), khổ (đắng), cam (ngọt), tân (cay) và hàm (mặn), trong đó tân, cam, thuộc dương; toan, khổ, hàm thuộc âm Thăng giáng phù trầm là
xu hướng phát huy tác dụng trong cơ thể của thuốc, trong đó thăng phù thuộc dương, trầm giáng thuộc âm
2 THUYẾT NGŨ HÀNH
2.1 Khái niệm
Ngũ hành là một phương pháp nhận thức sự vật của người xưa bổ sung cho thuyết Âm dương Người xưa dùng thuyết Ngũ hành và Âm dương làm lý luận cơ bản chỉ đạo cho toàn bộ nền học thuật phương Đông
Ngũ hành là 5 hành gồm: Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ
2.2 Qui luật
2.2.1 Tương sinh và tương khắc
Tương sinh là giúp đỡ lẫn nhau để sinh trưởng và phát triển: Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim Như vậy bất kỳ một
Trang 22hành nào cũng đều có quan hệ hai mặt là cái sinh ra nó và cái nó sinh ra Quan hệ này còn gọi là quan hệ “mẹ con”, cái sinh ra nó là mẹ, cái nó sinh ra là con
Tương khắc là ức chế cản trở lẫn nhau: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim Như vậy bất kỳ hành nào cũng có quan
hệ hai mặt là “khắc một hành” và bị “một hành khác khắc nó” Ví dụ: Mộc khắc Thổ nhưng lại bị Kim khắc lại
Hình 2.1 Quy luật tương sinh và tương khắc của ngũ hành
Sự vật liên quan mật thiết với nhau, biến hoá không ngừng, và nhờ có tương sinh tương khắc mà mọi sự vật mới giữ được thăng bằng Đó là qui luật diễn biến của
sự vật trong điều kiện bình thường
2.2.2 Tương thừa và tương vũ
Tương thừa là có ý thừa thế và lấn át, hiện tượng “khắc mạnh hơn”
Tương vũ là khinh nhờn, “chống lại cái đã khắc mình”
Trong điều kiện bất thường, sự cân bằng mối quan hệ giữa các sự vật bị phá
vỡ, có thể xuất hiện hiện tượng bất cập hoặc thái quá, khi đó quy luật thương thừa và tương vũ sẽ xuất hiện Đó cũng là quy luật của sự phát sinh bệnh tật
2.3 Áp dụng vào y học
2.3.1 Giải thích mối liên hệ giữa các bộ phận cơ thể và giữa con người với tự nhiên
Các tổ chức trong cơ thể có mối liên quan mật thiết với nhau, thông qua qui luật ngũ hành ta thấy có sự liên quan giữa các tạng với tạng, phủ với phủ, giữa các tạng phủ và với toàn bộ cơ thể con người
Qui luật Ngũ hành cũng giải thích mối liên hệ giữa cơ thể con người với hoàn cảnh bên ngoài Ví dụ: Can có quan hệ với Đởm, với mắt, với gân, với mùa xuân, với phong, với vị chua,
Tương sinh Tương khắc
Trang 23Bảng 2.1 Ngũ hành trong cơ thể người
Ngũ
Ngũ quan Hình thể
Tình chí
Tỳ Phế Thận
Đởm Tiểu trường
Vị Đại trường Bàng quang
Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai
Gân Mạch
Cơ bắp
Da lông Xương
Giận Mừng
Lo Buồn
Sợ
Hét Cười Hát Khóc Rên
Bảng 2.2 Ngũ hành trong thiên nhiên
Xuân
Hạ Trưởng hạ Thu Đông
Sinh Trưởng Hoá Thu Tàng
Phong Thử Thấp Táo Hàn
Xanh
Đỏ Vàng Trắng Đen
Chua Đắng Ngọt Cay Mặn
2.3.2 Giải thích sự phát sinh và phát triển của bệnh lý
Sự rối loạn về cấu trúc chức năng các cơ quan trong cơ thể do những nguyên nhân khác nhau gây ra có thể dùng các qui luật sinh khắc hay thừa vũ của thuyết ngũ hành để giải thích
Ví dụ: Can có bệnh có thể truyền sang Tỳ hoặc Tỳ có bệnh có thể ảnh hưởng đến Can
Trang 242.3.5 Sử dụng thuốc Y học cổ truyền
Dựa vào 5 vị trong ngũ hành có thể biết khái quát tác dụng của vị thuốc Vị cay có tác dụng hành khí, phát tán (Tử tô, Sinh khương, Kinh giới, Bạc hà, Trần bì, Hương phụ) Vị ngọt có tác dụng bổ dưỡng, hoà hoãn (Nhân sâm, Hoàng kỳ, Thục địa, Mạch môn, Cam thảo) Vị đắng có tác dụng táo thấp, thanh nhiệt, tả hạ (Hoàng liên, Hoàng bá, Đại hoàng, Thương truật) Vị chua có tác dụng thu liễm cố sáp (Thạch lựu bì, Ngũ vị tử, Kim anh tử, Sơn thù) Vị mặn có tác dụng làm mềm chất cứng, nhuận táo (Mang tiêu, Hải tảo)
3 KHÍ - HUYẾT - TINH - TÂN DỊCH
Khí, huyết, tinh, tân dịch là vật chất cơ bản không thể thiếu được để duy trì một cơ thể sống Nguồn gốc của chúng lấy từ tinh khí tiên thiên (di truyền từ cha mẹ)
và tinh khí hậu thiên (nhận được từ các hoạt động tạng phủ) Khí, huyết, tinh và tân dịch có chức năng đi nuôi dưỡng toàn thân và bảo vệ cơ thể
3.1 Khí
- Khái niệm: khí chỉ về động lực hay chức năng sinh lý và tác dụng nuôi dưỡng của vật chất
- Chức năng của khí là thúc đẩy sự lưu hành của huyết, ôn dưỡng các tổ chức
cơ quan, kháng cự với ngoại tà và thúc đẩy hoạt động đều đặn các tạng phủ
- Phân loại: khí chia làm nhiều loại gồm nguyên khí, vệ khí, dinh khí, khí của tạng phủ
- Các bệnh lý do rối loạn về khí
+ Khí hư: là các biểu hiện khi chức năng tạng phủ cơ quan giảm, thường do bệnh lâu ngày, lao động mệt nhọc quá độ, người già cơ thể suy nhược Biểu hiện: thở ngắn, hụt hơi, tiếng nói nhỏ, hoa mắt chóng mặt, tự hạn, khi vận động thì các triệu chứng trên gia tăng, lưỡi nhạt, mạch vô lực Điều trị nên dùng pháp bổ khí
Nếu khí hư nhiều không có sức để đi lên (thăng đề) mà có xu hướng đi xuống (hạ hãm) sẽ xuất hiện chứng khí hãm với biểu hiện chóng mặt, uể oải, thiểu khí, tiêu chảy kéo dài, nặng trì hậu môn, sa các nội tạng, trĩ… Điều trị nên dùng pháp bổ khí thăng đề
+ Khí trệ: là các biểu hiện sự vận hành của khí bị trở trệ không được thông suốt, thường do bệnh tà nội trở, thất tình uất kết hoặc dương khí suy nhược Biểu hiện: ngực sườn trướng tức khó chịu, đau căng trướng, xiên lan, điểm đau không cố định Điều trị nên dùng pháp hành khí
+ Khí nghịch: là chỉ khí cơ thăng giáng thất thường, thương nghịch lên trên, thường do ngoại tà, thực tích, uất nộ gây ra Biểu hiện: Phế khí thượng nghịch thì ho,
Trang 25suyễn, Vị khí thượng nghịch thì nôn, nấc, ợ, Can khí thượng nghịch thì đau đầu, hoa mắt, thổ huyết… Điều trị nên dùng pháp giáng khí
- Các bệnh lý do rối loạn về huyết
+ Huyết hư: là chỉ huyết dịch không đủ làm cho tạng phủ bách mạch thất dưỡng, thường do bẩm phú bất túc, Tỳ Vị hư nhược, ăn uống không đủ dinh dưỡng, mất máu… Biểu hiện: sắc mặt nhợt nhạt hoặc vàng héo, niêm môi móng nhạt, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp mất ngủ, tê tay chân, kinh đến trễ lượng ít nhạt màu, lưỡi nhạt, mạch
vô lực Điều trị nên dùng pháp bổ huyết
+ Huyết ứ: là chỉ huyết hành không thông úng trở trong mạch lạc, tạng phủ cơ quan, hoặc huyết xuất ra ngoài mạch không kịp thời bài tiết hoặc tiêu tán mà ứ lại trong cơ thể, thường do hàn ngưng, khí trệ, khí hư, sang chấn gây ra Biểu hiện: đau như châm chích, điểm đau cố định, cự án, sưng đau bầm tím một vùng cơ thể, sắc mặt tím tối, môi tím, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp Điều trị nên dùng pháp hoạt huyết
+ Huyết nhiệt: là chỉ về hỏa nhiệt của tạng phủ tích thịnh mà ảnh hưởng đến huyết phần, thường do phiền lao, nghiện rượu, tức giận gây ra Biểu hiện: chảy máu (ho máu, ói máu, tiểu máu, tiêu máu, xuât huyết da niêm), lưỡi đỏ thẫm, mạch sác Điều trị nên dùng pháp thanh nhiệt lương huyết
+ Huyết hàn: là chỉ mạch lạc bị hàn ngưng ứ trệ, huyết hành không thông, thường do cảm thụ hàn tà gây ra Biểu hiện: đau dữ dội tại 1 chỗ (tay chân, bụng dưới), gặp lạnh đau tăng chườm ấm giảm đau, tay chân lạnh, lưỡi nhạt tối, rêu trắng, mạch trì sáp, phụ nữ khi hành kinh thấy sắc kinh tím tối, có cục Điều trị nên dùng pháp ôn kinh tán hàn
Khí thuộc dương, huyết thuộc âm, hai bộ phận này có quan hệ mật thiết với nhau Khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết ứ
Trang 26- Chức năng: thông thường, tinh tàng trong thận là một trong những vật chất quan trọng của sự phát dục, sinh trưởng và các hoạt động tinh thần Tinh khí sung mãn thì cơ thể tráng kiện, sức đề kháng tốt Tinh khí hao tổn thì cơ thể yếu đuối, chậm phát triển
- Tinh khí bất túc: là chỉ về tinh khí của cơ thể bị thiếu, không đủ sức thúc đẩy
và duy trì các hoạt động sinh lý của tạng phủ cơ quan, thường do bẩm phú bất túc, dinh dưỡng kém, lao dục quá độ Biểu hiện lâm sàng suy nhược chức năng toàn thân hoặc cục bộ, cơ thể gầy gò, sắc mặt xanh xao, trẻ em chậm phát triển, người lớn lão hóa sớm, tinh thần bạc nhược Điều trị nên dùng pháp ích khí dưỡng tinh hoặc bổ thận cố tinh
3.5 Tân dịch
- Khái niệm: tân dịch chỉ về toàn bộ chất lỏng trong cơ thể
- Chức năng: tân dịch có tác dụng duy trì sự sống cho cơ thể Nguồn gốc tân dịch có từ ăn uống, qua tỳ vị vận hoá và qua sự điều tiết phân bổ của phế, thận, bàng quang, tam tiêu đến mọi chỗ trong cơ thể và bài tiết ra ngoài
- Phân loại: gồm có 2 loại là tân và dịch Tân có tác dụng làm tươi mát và dinh dưỡng, phân bổ ở ngũ quan Dịch có tác dụng làm nhuận trơn và lưu thông, phân bổ
ở khớp, não, tủy
- Các bệnh lý do rối loạn về tân dịch
+ Tân dịch bất túc: là chỉ sự thiếu hụt tân dịch toàn thân hoặc một vài cơ quan tạng phủ, thường do cung cấp không đủ hoặc mát mát quá nhiều mà gây ra Biểu hiện: môi miệng khô, da khô, tiểu ngắn ít, đại tiện táo, lưỡi đỏ khô, mạch sác Điều trị nên dùng phép dưỡng âm sinh tân
+ Thủy dịch đình tụ: là thủy dịch đình tụ trong cơ thể tràn ra ngoài cơ phu, mặt mắt, tứ chi, ngực bụng, thậm chí toàn thân, thường do thấp tà xâm phạm cơ thể hoặc dương khí suy không vận hành được thủy thấp Biểu hiện: phù thũng, tiểu ít, thân thể nặng nề lười biếng, tinh thần uể oải Điều trị nên dùng phép lợi thủy thấp hoặc ôn dương
4 THUYẾT TẠNG PHỦ
Ngũ tạng gồm Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, là nhóm các cơ quan có chức năng tàng trữ, chuyển hoá, dinh dưỡng Lục phủ gồm Đởm, Vị, Đại trường, Tiểu trường, Bàng quang, Tam tiêu, là nhóm các cơ quan có chức năng thu nạp, chứa đựng, bài tiết
Những khái niệm về chức năng của tạng phủ theo Y học cổ truyền nếu so với
Y học hiện đại thì có những khái niệm cơ bản giống nhau, một số khái niệm có nhiều
Trang 27sai biệt và cũng có những khái niệm mà Y học hiện đại không có cơ quan nào tương ứng (ví dụ như Tam tiêu)
4.1 Ngũ tạng
4.1.1 Thận
Vị trí ở thắt lưng, hai bên cột sống, mỗi bên một trái Do vị trí ở thắt lưng bệnh
lý ở vùng thắt lưng thường có liên quan đến tạng thận Thận có quan hệ biểu lý với Bàng quang
4.1.1.1 Thận tàng tinh
Tàng là tàng trữ Tạng thận không ngừng được bổ sung tinh khí đầy đủ, phòng ngừa sự mất mát vô nguyên cớ tinh khí trong cơ thể, đồng thời lại tạo điều kiện cho
tinh khí phát huy hiệu ứng sinh lý trong cơ thể
Thận khí là chức năng sinh lý chủ yếu của thận có nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển, phát dục, duy trì nòi giống, điều tiết hoạt động sinh lý và trao đổi chất của cơ thể Thận khí gồm có hai mặt là thận dương và thận âm Thận dương và thận âm luôn
ở trạng thái cân bằng, nếu mất đi trạng thái đó là biểu hiện của bệnh
Thận dương bất túc (không đủ) dẫn đến giảm trao đổi chất của cơ thể, sản xuất năng lượng giảm, các hoạt động tạng phủ khác cũng giảm, do đó thường biểu hiện sắc mặt nhợt nhạt, sợ lạnh, tay chân lạnh, mạch vô lực hoặc trì hoãn, sự vận hành tân dịch giảm dẫn đến phù, tinh thần khô héo, phản ứng chậm, đau lưng, giảm khả năng sinh lý
Thận âm bất túc dẫn đến bài tiết tân dịch giảm gây khô táo tâm phiền, âm không chế ngự được dương dẫn đến tăng quá trình trao đổi chất, sản nhiệt nhiều nên có hiện tượng nhiệt, triều nhiệt, tâm phiền bất an, khô miệng họng, mạch tế sác, lưỡi khô đỏ, đồng thời cũng xuất hiện mỏi lưng, mềm yếu chân, di tinh
4.1.1.2 Thận chủ thủy
Tạng thận có tác dụng chủ trì điều hoà sự bài tiết tân dịch trong cơ thể Thận dương có tác dụng làm tăng sự sản sinh, phân bố và bài tiết tân dịch; thận âm tác dụng ngược lại
4.1.1.3 Thận chủ nạp khí
Thận giúp cho Phế duy trì hít thở sâu Nếu tinh khí tạng Thận suy, không đủ, không giúp được Phế duy trì hít sâu sẽ xuất hiện hô hấp nông hoặc hít vào không sâu,
dễ hụt hơi Hiện tượng này gọi là “thận bất nạp khí”
4.1.1.4 Quan hệ của Thận với hình, khiếu, chí, dịch
Thận chủ cốt (xương), sinh tuỷ Sự phát triển của xương đều dựa vào thận tinh
Ở trẻ em, nếu thận tinh không đủ sẽ biểu hiện xương kém phát triển, còi xương Ở
Trang 28người già do thận khí hao mòn suy yếu, xương mất đi sự nuôi dưỡng mạnh mẽ như lúc trẻ nên dễ gãy xương và khó liền xương khi bị gãy Răng là phần thừa của xương, nếu thận khí hư suy sẽ xuất hiện răng lung lay, dễ gãy rụng
Thận khai khiếu ở tai và nhị âm Thính giác là biểu hiện bên ngoài của tạng thận, nếu thận tinh đủ, mạnh thì thính tai, phản ứng nhanh, nếu không sẽ ù tai, điếc tai, hoa mắt, chóng mặt, phản ứng chậm Tiền âm, hậu âm là khiếu của thận Nếu thận tinh bất túc sẽ làm chức năng phong tàng bị giảm gây ra di tinh, xuất tinh sớm, đới
hạ nhiều, đái dầm, … Thận tàng tinh còn có tác dụng giúp hậu môn cố nhiếp phân
Quan hệ của Thận với tình chí là sự lo lắng, sợ hãi, với dịch là nước bọt
4.1.2 Tỳ
Vị trí ở trung tiêu (bụng giữa) dưới cơ hoành Bệnh lý thuộc hệ tiêu hóa thường
có liên quan đến chức năng của tạng Tỳ Tỳ có quan hệ biểu lý với Vị
4.1.2.1 Tỳ chủ vận hoá
Vận là vận chuyển, hoá là tiêu hoá, hấp thu
Tỳ có chức năng vận hóa thuỷ cốc (thức ăn, thức uống) Thức ăn sau khi tiêu hoá, phần tinh chất được tỳ hấp thu đưa lên phế, do phế chuyển vào tâm mạch, nhờ tác dụng của tỳ khí mà phân bổ khắp cơ thể nuôi dưỡng lục phủ ngũ tạng, tứ chi, xương, cơ nhục, da lông Nếu chức năng này yếu sẽ xuất hiện triệu chứng chướng bụng, tiêu chảy, lười biếng, gầy còm, suy dinh dưỡng,
Tỳ có chức năng vận hoá thuỷ dịch Tỳ thúc đẩy quá trình thăng bằng thủy dịch trong cơ thể, cùng hợp với phế và thận duy trì cân bằng nội dịch cơ thể Nếu chức năng này kém sẽ dẫn đến ứ đọng thủy thấp gây ra chứng đàm nhiều, thủy thủng, tiêu chảy, phù
Thăng là lên trên, thanh là chỉ về tinh chất của thức ăn uống
Tỳ khí đưa chất bổ dưỡng được hấp thu lên đến tâm, phế, đầu, mắt Chất bổ dưỡng này thông qua tác dụng của tâm và phế mà hoá thành khí huyết nuôi dưỡng toàn thân Nếu chức năng này bị suy yếu thì thủy cốc không được vận hoá, thiếu nguyên liệu sinh khí huyết dẫn đến mệt mỏi, buồn ngủ, nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, bụng chướng, tiêu chảy, lâu ngày dẫn đến sa trực tràng, trĩ
4.1.2.4 Quan hệ của Tỳ với hình, khiếu, chí, dịch
Trang 29Tỳ chủ tứ chi cơ nhục tứ chi Tứ chi hoạt động được nhờ dương khí, dương khí
do tỳ sinh ra từ thức ăn, uống Tỳ khí bình thường thì tứ chi khỏe mạnh, tỳ suy thì tay chân teo yếu
Tỳ khai khiếu ở miệng, nếu chức năng tạng Tỳ suy kém thì xuất hiện triệu chứng nhạt miệng, không thèm ăn, …
Quan hệ của Tỳ với tình chí là sự suy nghĩ, với dịch là nước miếng
4.1.3 Phế
Vị trí trong khoang ngực, chia hai lá phải và trái, là vị trí cao nhất so với các tạng phủ còn lại Các bệnh lý do ngoại cảm thường ảnh hưởng đầu tiên đến tạng Phế Phế có quan hệ biểu lý với Đại trường
4.1.3.1 Phế chủ khí
Sự trao đổi khí của cơ thể và tự nhiên thông qua hít thở của Phế Phế hít “thanh” khí, thở ra “trọc” khí
4.1.3.2 Phế chủ về lưu thông và điều hoà thủy dịch
Thủy dịch trong cơ thể có được là do Tỳ và Vị, nhưng thủy dịch phân bố và bài tiết được phải nhờ đến phế khí để duy trì động thái thăng bằng trong cơ thể Phế khí có chức năng mang thủy dịch phân bố lên trên, ra ngoài đến da lông
và mồ hôi được bài tiết ở da Phế khí cũng đưa thủy dịch đi xuống vào trong, thông qua thận biến thành nước tiểu trữ ở bàng quang để bài tiết Nếu chức năng này của Phế yếu sẽ ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của thể dịch, xuất hiện không có mồ hôi, phù thũng, tiểu ít, tiểu khó
4.1.3.3 Quan hệ của Phế với hình, khiếu, chí, dịch
Phế chủ bì mao (da, lông) Bề mặt da có những lỗ chân lông là nơi tiết mồ hôi,
có tác dụng điều tiết thân nhiệt và hỗ trợ hô hấp nên da và Phế có quan hệ mật thiết Chức năng của Phế bị suy giảm sẽ có triệu chứng da khô, nhăn nheo…
Phế khai khiếu ở mũi Bệnh ở Phế thường biểu hiện ở mũi như nghẹt mũi, sổ mũi, nghẹt thở,
Quan hệ của Phế với tình chí là sự buồn bã, với dịch là nước mũi
Trang 30tiết lưu lượng huyết nghĩa là khi có nhu cầu hoạt động tăng hoặc do sự biến đổi tình cảm hoặc yếu tố khí hậu tác động mạnh thì lượng huyết tại các cơ quan cũng sẽ biến đổi, lúc đó tạng Can sẽ huy động lượng huyết dự trữ cung ứng cho các nhu cầu trên, còn khi cơ thể ở trong hoàn cảnh yên tĩnh nghỉ ngơi thì một lượng huyết sẽ lại được tàng trữ ở Can Can có khả năng đề phòng xuất huyết nghĩa là Can có chức năng làm cho huyết lưu thông trong mạch máu, ngăn cản không cho xuất huyết
4.1.4.2 Can chủ sơ tiết
Sơ là thông, tiết là phát tán Can có tác dụng duy trì các hoạt động chức năng của toàn thân được thông suốt, làm cho khí, huyết, kinh lạc được lưu thông Nếu Can mất đi chức năng này, khí thăng phát không đủ sẽ xuất hiện ngực sườn đau tức, khí uất trệ dẫn đến huyết ứ gây các chứng đau dữ dội, khí uất sẽ dẫn đến sự phân bố và chuyển hoá tân dịch bị kém dẫn đến ứ đọng thành đàm Can mất chức năng sơ tiết sẽ làm ảnh hưởng đến chức năng vận hoá Tỳ Vị, đến sự bài tiết mật
4.1.4.3 Quan hệ của Can với hình, khiếu, chí, dịch
Can chủ cân (gân) Các hoạt động của gân cơ, dây chằng tại khớp nhờ vào sự nuôi dưỡng của can huyết, nếu can huyết không đủ sẽ gây vận động khó khăn, co giật
Can khai khiếu ở mắt nên tạng Can có bệnh thường ảnh hưởng mắt, biểu hiện như mắt khô rát, quáng gà, thị lực giảm
Quan hệ của Can với tình chí là sự giận dữ, cáu gắt, với dịch là nước mắt
4.1.5.2 Tâm tàng thần
Thần là tinh thần Tất cả mọi hoạt động sống của con người bao gồm các hoạt động của tạng phủ khác, các hoạt động các cơ quan và hoạt động tinh thần đều được tiến hành dưới sự điều khiển của tạng Tâm Nếu Tâm không tàng thần sẽ sinh ra rối loạn về thần trí và rối loạn về hoạt động của các tạng phủ khác
4.1.5.3 Quan hệ của Tâm với hình, khiếu, chí, dịch
Trang 31Tâm khai khiếu ở lưỡi biểu hiện ra ở mặt Vùng mặt và lưỡi có sự phân bố huyết quản tương đối nhiều nên sắc mặt và sắc lưỡi cũng biểu hiện mức độ bệnh của tạng Tâm Bình thường thì sắc mặt tươi nhuận hồng hào, khi tâm khí suy thì tuần hoàn không thông xuất hiện mặt xanh, hoặc tím tái, lưỡi nhạt,
Quan hệ của Tâm với tình chí là sự vui mừng, với dịch là mồ hôi
4.2 Lục phủ
4.2.1 Đởm
Đởm bám vào Can, có chức năng chuyển hoá dịch mật, giúp tiêu hoá Đởm còn có chức năng quyết đoán, lòng dũng cảm, có tác dụng đối với phòng ngự và tiêu trừ một số ảnh hưởng không tốt của tinh thần bị kích thích như quá sợ
Bệnh của Đởm biểu hiện đau sườn ngực, vàng da, miệng đắng, nôn ra nước đắng
4.2.2 Vị
Vị nằm ở vùng thượng vị, ngay dưới cơ hoành, thông với thực quản ở trên và Tiểu trường ở dưới Thức ăn được chứa đựng ở Vị và được nghiền nát tại đây Bệnh của Vị biểu hiện đau, chướng thượng vị, ăn uống kém, ợ, nôn, răng đau, miệng hôi, loét miệng
4.2.3 Tiểu trường
Tiểu trường nằm ở bụng giữa Chức năng chính của Tiểu trường là tiếp nhận thức ăn chuyển từ Vị xuống, tiếp tục tiêu hoá, phân hóa thành chất thanh và chất trọc Chất thanh là tân dịch được vận chuyển đến Tỳ để phân bố toàn cơ thể Chất trọc được chuyển xuống Đại trường hoặc xuống Bàng quang để bài tiết ra ngoài
Khi Tiểu trường có bệnh, việc phân thanh giáng trọc bị trở ngại sẽ gây ra các chứng như tiêu phân sống, tiêu chảy, tiểu tiện ít
4.2.4 Đại trường
Chức năng chủ yếu tống cặn bã ra ngoài
Khi Đại trường bị bệnh có biểu hiện ảnh hưởng đến sự bài tiết phân hoặc đau bụng, tiêu chảy
4.2.5 Bàng quang
Ở bụng dưới, chức năng chủ yếu là chứa đựng và bài tiết nước tiểu
Nếu Bàng quang có bệnh sẽ xuất hiện tiểu gắt, tiểu khó, tiểu buốt
4.2.6 Tam tiêu
Gồm ba phần là thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu
Trang 32Thượng tiêu: tương đương chức năng của các tạng phủ vùng ngực như Tâm, Phế
Trung tiêu: tương đương chức năng của các tạng phủ vùng bụng trên như Tỳ,
5.1 Khái niệm về hệ kinh lạc
Kinh lạc là tên gọi chung của kinh mạch và lạc mạch trong cơ thể Kinh là đường thẳng, lạc là đường ngang và xuất phát từ kinh mạch chia ra như cái lưới đi khắp mọi nơi và đi ở nông Trên kinh lạc còn có các huyệt
Kinh lạc phân bố khắp toàn cơ thể, là đường vận hành của âm dương, khí huyết, tân dịch, tạo thành một hệ thống liên lạc khắp toàn thân, tạo cho con người từ ngũ tạng, lục phủ, cân mạch, cơ nhục, xương cốt, … kết thành một chỉnh thể thống nhất
5.2 Cấu tạo hệ kinh lạc
Hệ kinh lạc bao gồm 12 kinh chính, 8 mạch kỳ kinh, các kinh phụ, 12 khu da Trong đó 12 kinh chính là thành phần quan trọng nhất
12 kinh chính bao gồm 6 kinh âm và 6 kinh dương và được phân bố đồng đều
ở tay và chân Kinh âm liên hệ trực tiếp với Tạng, kinh dương liên hệ trực tiếp với Phủ Đường kinh sẽ mang tên của tạng hoặc phủ tương ứng có liên hệ trực tiếp với đường kinh đó Ba kinh âm ở tay gồm Phế, Tâm, Tâm bào Ba kinh dương ở tay gồm Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu Ba kinh âm ở chân gồm Tỳ, Thận, Can Ba kinh dương ở chân gồm Vị, Bàng quang, Đởm
Các đường kinh âm và dương tạo thành từng cặp có quan hệ biểu lý với nhau
Ở tay có Phế và Đại trường, Tâm và Tiểu trường, Tâm bào và Tam tiêu Ở chân có
Trang 335.4 Hành trình của khí huyết trong kinh lạc
Khí vận chuyển trong các đường kinh theo một trình tự nhất định, bắt đầu từ kinh Phế, lần lượt đến Đại trường, Vị, Tỳ, Tâm, Tiểu trường, Bàng quang, Thận, Tâm bào, Tam tiêu, Đởm và tận cùng là kinh Can, sau đó lại chuyển đế kinh Phế để bắt đầu vòng tuần hoàn mới
Hành trình của khí huyết trong từng đường kinh tuân theo qui luật âm thăng dương giáng Ba kinh âm ở tay bắt đầu từ ngực, qua phía trong cánh tay đến ngón tay rồi nối tiếp với ba kinh dương ở tay Ba kinh dương ở tay bắt đầu từ ngón tay, đi lên theo mặt duỗi cánh tay đến vùng đầu rồi nối tiếp với ba kinh dương ở chân Ba kinh dương ở chân bắt đầu từ đầu, qua thân mình xuống đến ngón chân rồi nối tiếp với ba kinh âm chân Ba kinh âm ở chân bắt đầu từ ngón chân, qua mặt trong chân đi lên, qua bụng đến ngực, rồi nối tiếp với ba kinh âm ở tay
Trang 34CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Điều nào không phải là đặc đểm của Âm dương giao cảm là:
a Âm dương tương hỗ cảm ứng giao hợp nhau
b Điều kiện căn bản để sản sinh vạn vật
c Nói về sự vận động không ngừng của hai khí âm dương
d Nói về thuộc tính cơ bản của hai khí âm dương
2 Trong sự biến hóa bệnh lý của cơ thể, âm dương thiên hư có nghĩa là: chọn câu sai
a Âm dương trong cơ thể hư suy
b Bệnh chứng biểu hiện là hư chứng
c Lượng âm tà hoặc dương tà thấp hơn mức bình thường
d Âm hư tắc nhiệt, dương hư tắc hàn
3 Quy luật tương sinh của ngũ hành như sau:
a Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy Mộc
b Mộc Kim Thủy Hỏa Thổ Mộc
c Thủy Hỏa Kim Mộc Thổ Thủy
d Thủy Hỏa Thổ Mộc Kim Thủy
Hình 2.2 Quy luật vận hành của đường kinh
(Phan Quan Chí Hiếu (2007) - Châm cứu học)
Trang 354 Trong quy luật của Ngũ hành, tương khắc có nghĩa là:
a Giúp đỡ nhau để sinh trưởng và phát triển
b Ức chế cản trở nhau
c Thừa thế và lấn át nhau
d Khinh nhờn, chống lại cái đã khắc mình
5 Loại khí do Tỳ và Vị hợp thành được gọi là:
a Trung khí b Tông khí c Vệ khí d Dinh khí
6 Khí và huyết trong cơ thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu khí trệ thì huyết sẽ:
a Ứ b Thoát c Hư d Thịnh
7 Để phân biệt giữa tân và dịch trong cơ thể thì tân không có đặc điểm sau:
a Nhuận hóa b Dinh dưỡng
c Phân bổ ở ngũ tạng d Phân bổ ở não tủy
8 Nhóm cơ quan có chức năng tàng trữ, chuyển hóa, dinh dưỡng được gọi là:
a Lục phủ b Ngũ tạng
c Phủ kỳ hằng d Khí huyết
9 Thận chủ nạp khí tức là thận giúp phế:
a Duy trì hít thở sâu b Thanh lọc đàm trọc
c Thông điều thủy đạo d Tư hô hấp
10 Tạng Phế khai khiếu ở:
a Mắt b Mũi c Lưỡi d Tai
11 Tạng Can có quan hệ mật thiết với loại hình thể nào:
a Da lông b Cơ nhục c Cân d Mạch
12 Chức năng tâm chủ huyết mạch có bình thường hay không có thể quan sát ở các
mặt sau: chọn câu sai
a Sắc mặt b Sắc lưỡi c Mạch đập d Cảm giác vùng mặt
13 Ba kinh âm ở chân gồm:
a Thận, can, đởm b Đại trường, can, đởm
c Tam tiêu, can, đởm d Thận, can, tỳ
14 Cặp đường kinh có quan hệ biểu lý:
a Thận – Bàng quang
b Can – Đại trường
c Tâm – Tâm bào
d Phế - Tiểu trường
Trang 36NGUYÊN NHÂN BỆNH
MỤC TIÊU
1 Phân tích được đặc điểm gây bệnh của các nguyên nhân bên ngoài
2 Phân tích được đặc điểm gây bệnh của các nguyên nhân bên trong
3 Trình bày được nguyên nhân và đặc điểm gây bệnh của các nguyên nhân gây bệnh
thứ phát
4 Mô tả được các loại nguyên nhân gây bệnh khác
1 NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI
Nguyên nhân bên ngoài là các loại tà khí bên ngoài xâm phạm vào cơ thể mà gây bệnh, do đó còn được gọi là ngoại nhân Tà khí gây bệnh có sáu loại, gọi là lục dâm, bao gồm phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả
Các loại tà khí sẽ gây bệnh khi sự biến hóa khác thường của khí hậu vượt quá hạn độ nhất định, hoặc khi khả năng thích ứng của cơ thể kém hơn bình thường
1.1 Phong tà
Phong tà chỉ về ngoại phong Phong là gió, tính của phong là nhẹ nhàng, dễ di động nên phong tà hay gây bệnh, bốn mùa đều có thể mắc Đối với bệnh do ngoại tà
mà nói thì phong là đứng đầu trăm bệnh
1.1.1 Đặc điểm gây bệnh của ngoại phong
Phát bệnh nhanh, bệnh lui cũng nhanh, cho nên bệnh không kéo dài, ví dụ như bệnh mày đay (phong chẩn), cảm sốt
Triệu chứng hay di động, ví dụ như bệnh phong thấp (đau di chuyển khớp này sang khớp khác)
Phong thường xâm phạm vào da thịt gây ngứa, xâm phạm vào phế gây sợ gió, sốt, ra mồ hôi, ngứa họng, ho
Phong ngoài việc đơn độc gây bệnh còn hay phối hợp với tà khí khác gây bệnh như hàn, nhiệt, thấp
1.1.2 Phân biệt với nội phong
Nội phong còn gọi là can phong, là loại phong sinh ra do sự biến đổi bệnh lý ở
3 tạng tâm, can và thận
Trang 37Nội phong phần lớn phát bệnh đột ngột, nhẹ thì biểu hiện váng đầu, hoa mắt, tay chân run rẩy, tê dại, miệng mắt méo lệch; nặng thì đột nhiên ngã vật, hôn mê, co giật
1.2 Hàn tà
Còn gọi là ngoại hàn Hàn là lạnh nên thường gây bệnh vào mùa đông, các mùa khác nếu lạnh quá cũng có thể gây bệnh
1.2.1 Đặc điểm gây bệnh của hàn tà
Hàn tà dễ làm tổn thương khí dương con người, khi bị hàn tà xâm nhập làm cản trở khí dương bảo vệ bên ngoài thì thấy xuất hiện các triệu chứng như sợ lạnh, tay chân lạnh, tiêu phân lỏng
Tính của hàn là ngưng trệ, sẽ làm khí huyết ngưng kết gây đau dữ dội tại một chỗ, kiểu đau co thắt, gặp lạnh đau tăng, gặp ấm giảm đau
Hàn có tính thu dẫn làm cho kinh mạch co thắt khiến cho vệ dương bị lấn át gây sốt ố hàn mà không có mồ hôi, khớp co duỗi khó khăn, tay chân co quắp, hoặc bụng dưới đau co thắt
Hàn tà cũng thường kết hợp với phong tà, thấp tà
1.2.2 Phân biệt với nội hàn
Nội hàn là hàn phát sinh ở trong cơ thể Nội hàn sinh ra do dương khí bị hư nên âm khí thịnh với biểu hiện sợ lạnh, thích nóng, tay chân không ấm, nôn ra nước trong, ăn kém, đi cầu lỏng, hay sôi bụng, đau bụng Nội hàn cũng có thể do ăn quá nhiều thức ăn sống lạnh, gây ra hàn lắng đọng ở tỳ với biểu hiện đau bụng, ăn kém, phân lỏng, nếu nặng thì vùng bụng thấy lạnh mà đau
1.3 Thử tà
Thử là nắng Thử tà hay gây bệnh về mùa hè
1.3.1 Đặc điểm gây bệnh của thử
Thử là nhiệt tà nên khi bệnh thường thấy sốt cao, khát nước, ra nhiều mồ hôi
Do thử tà dễ làm hao tổn khí và tân dịch, cho nên người thường mệt lả, miệng môi khô, đi cầu bón, tiểu ít
Thử tà thường kèm với thấp với triệu chứng thường gặp như tứ chi mỏi nặng, ngực đầy tức, lợm giọng, nôn ói, không muốn ăn, đại tiện phân lỏng
1.3.2 Phân biệt giữa thương thử và trúng thử
- Cảm phải thử tà ở mức độ nhẹ gọi là thương thử với biểu hiện sốt, khát nước,
ra mồ hôi, nhức đầu, nôn ói, tiêu lỏng, thở gấp, tay chân không có sức
Trang 38- Cảm thử tà ở mức độ nặng gọi là trúng thử với biểu hiện đột nhiên ngã vật, hôn mê, sốt cao, có mồ hôi hoặc không có mồ hôi, thở dốc, mặt đỏ, lưỡi đỏ, mạch nhanh, vô lực
1.4 Thấp tà
Còn gọi là ngoại thấp Thấp là ẩm thấp, có liên quan nhiều đến khí hậu và hoàn cảnh ẩm thấp như mưa liên miên, sống lâu nơi ẩm ướt, dầm mưa lội nước quá nhiều, thiếu bảo vệ hoặc rèn luyện thân thể
Ngoại thấp gây bệnh thường đi từ ngoài vào, nhẹ thì xâm phạm vào da thịt, gân mạch, khớp, nặng thì xâm nhập vào tạng phủ
1.4.1 Đặc điểm gây bệnh của ngoại thấp
Thấp tính nặng nề, bệnh thấp thường thấy nặng đầu như bó lại, người nặng nề, tay chân không có sức
Thấp là âm tà dễ làm tổn thương dương khí của tạng Tỳ, làm cho tỳ dương bất chấn không vận hóa được thức ăn gây chướng bụng, nặng bụng, tiêu lỏng
Bệnh thấp khởi phát từ ở dưới cho nên thường thấy chi dưới nặng, phù mu chân
Thấp tính ngưng trệ, bệnh thấp dễ làm cản trở sự lưu thông trong cơ thể gây chứng khí trệ như tức ngực, bụng trướng
Thấp tính đục bẩn, gây các bệnh như huyết trắng, nước tiểu đục, kiết lỵ, chàm Thấp tính dai dẳng, cho nên bệnh do thấp tà thường kéo dài lâu khỏi
1.4.2 Phân biệt với nội thấp
Nội thấp là loại thấp bệnh sinh ra do ăn uống không điều độ làm tổn thương
Tỳ Vị, ảnh hưởng đến tỳ dương làm rối loạn chức năng vận hoá mà tạo ra thấp ở trong
Triệu chứng lâm sàng thường là tiêu chảy hoặc phù
1.5 Táo tà
Còn gọi là ngoại táo Táo là khô, bệnh táo thường xuất hiện vào mùa thu khí hậu khô ráo
1.5.1 Đặc điểm gây bệnh của ngoại táo
Táo tà dễ làm thương tổn tạng phế nên thường xuất hiện các triệu chứng như
ho khan không có đờm, trong đờm có máu, mũi họng khô, ngực đau, sốt
Táo tà dễ làm tổn thương phần âm, tổn thương tân dịch, cho nên bệnh táo thường thấy miệng lưỡi môi bị khô, da khô, khát nước, thích uống, sốt, không có mồ hôi, tiêu phân khô táo
Trang 391.5.2 Phân biệt với nội táo
Nội táo là loại táo sinh ra do cơ thể bị mất nhiều tân dịch như sốt lâu ngày, hoặc nôn ói, tiêu chảy, ra mồ hôi, chảy máu quá nhiều, hoặc dùng quá nhiều thuốc ra
mồ hôi, thuốc xổ hoặc thuốc có tính nhiệt
Triệu chứng của nội táo là bên ngoài là da khô, họng khô, môi nẻ, khô rát mắt,
lổ mũi thấy nóng, bên trong là sốt hầm hập, mồ hôi trộm, mất ngủ, khát muốn uống, hay đói, đi tiêu phân bón, ít nước tiểu
1.6 Hoả tà
Còn gọi là nhiệt tà Hỏa là lửa, tính nóng, hay phát bệnh vào thời tiết nóng nảy hoặc do các nguyên nhân bên ngoài khác khi gây bệnh có thể uất lại mà hóa thành hỏa
1.6.1 Đặc điểm gây bệnh của hỏa tà
Hỏa là dương tà nên gây bệnh với các triệu chứng sốt cao, khát nước, mặt đỏ, mạch nhanh, thuộc chứng thực hỏa Thực hỏa phát bệnh nhanh mà chuyển biến cũng nhanh
Hoả nhiệt dễ làm tổn thương tân dịch nên thường thấy các triệu chứng như khát thích uống nước lạnh, nhiều mồ hôi, mặt đỏ, mắt đỏ, môi miệng khô, tiêu bón, tiểu ít và đỏ
Hoả tính chất hay bốc lên và có những biểu hiện triệu chứng tùy theo các tạng phủ bị bệnh Tâm hoả bốc lên thì thao thức không ngủ được, nặng thì tâm thần không
tự chủ, nói mê sảng Vị hoả bốc lên thì lợi răng sưng đau, ói máu, chảy máu mũi Can hoả bốc lên thì hay cáu giận, mắt nhức sưng đỏ, nhức đầu
Hoả tà hay bức bách ép buộc huyết chạy bừa bãi cho nên thường thấy các triệu chứng như nôn máu, chảy máu mũi, xuất huyết dưới da
Hoả có thể sinh ra nội phong với biểu hiện sốt cao, tứ chi co giật, hai mắt trợn ngược, gồng cứng cổ gáy lưng
Hoả dễ dẫn đến lở loét, nung mủ cục bộ
1.6.2.Phân biệt với hư hỏa
Hư hỏa phần lớn do nội thương gây ra như rối loạn chức năng tạng phủ, mắc bệnh lâu ngày làm hao tổn tinh, hoặc tâm thần không được thư thái
Biểu hiện lâm sàng của hư hoả: khởi phát bệnh chậm, quá trình bệnh kéo dài, sốt âm ỉ thường xuất hiện về chiều, ra mồ hôi trộm, bứt rứt, gò má đỏ ửng, miệng họng khô, ho khan không đờm hoặc đờm có máu, ù tai, hay quên, đau eo lưng, di tinh
Trang 401.7 Lệ khí
Là một loại ngoại tà có tính chất truyền nhiễm rất mạnh Lệ khí khác với lục dâm ở chỗ có tính chất truyền nhiễm rất lớn Phương thức truyền bệnh là phát tán trong không khí, xâm nhập cơ thể bằng đường mũi miệng, do ăn uống hoặc muỗi đốt, côn trùng cắn
2 NGUYÊN NHÂN BÊN TRONG
Nguyên nhân bên trong là chỉ về do những biến đổi không bình thường về tình chí và hành vi của con người làm tổn thương tạng phủ và gây bệnh Nguyên nhân bên trong còn được gọi là nội nhân hay nội thương, bao gồm thất tình, lao dật, ẩm thực
2.1 Thất tình
2.1.1 Khái niệm cơ bản
Thất tình là chỉ về bảy loại biến hoá tình cảm của con người gồm hỷ (vui), nộ (giận), ưu (lo lắng), tư (suy nghĩ), bi (buồn), khủng (sợ), kinh (hoảng hốt) Nếu đem bảy loại tình chí đó quy thuộc ngũ tạng thì hỷ thuộc Tâm, nộ thuộc Can, tư thuộc Tỳ,
bi thuộc Phế, khủng thuộc Thận
Trong điều kiện bình thường thì thất tình là một loại biểu hiện tình cảm của con người đối với các hiện tượng xã hội, cảnh quan và không gây bệnh Khi các loại tình cảm này bị kích thích đột ngột, mạnh kịch liệt hoặc lâu dài, vượt qua ngưỡng sinh lý của cơ thể thì sẽ trở thành nguyên nhân gây bệnh, lúc đó sẽ gây ra tình trạng chức năng khí huyết, tạng phủ bị hỗn loạn
2.1.2 Đặc điểm gây bệnh của thất tình
Thất tình phát bệnh từ Tâm Tâm là chủ tể hoạt động sống của cơ thể nghĩa là
chủ tể các hoạt động sinh lý, tâm lý bao gồm hoạt động tình chí Tình chí con người
là kích thích bên ngoài thông qua các cơ quan cảm ứng truyền đến Tâm, do Tâm sản
sinh các phản ứng, do đó có thể nói thất tình đều từ Tâm mà phát sinh ra
Thất tình sẽ trực tiếp làm tổn thương nội tạng Vui quá tổn Tâm, giận quá tổn
Can, suy nghĩ nhiều tổn Tỳ, buồn quá tổn Phế, sợ hãi tổn Thận
Thất tình ảnh hưởng đến khí cơ của tạng phủ Giận làm khí thượng nghịch lên trên, vui làm khí bị phân tán, buồn làm khí bị tiêu tan, sợ làm khí bị hạ xuống dưới,
hoảng hốt làm khí bị loạn, suy nghĩ làm khí bị tụ lại
2.2 Lao dật
Lao là lao động, dật là dật dựa, an nhàn
Lao động bình thường giúp cho khí huyết lưu thông, tăng cường thể lực và sự nghỉ ngơi tất yếu sẽ giải trừ mệt nhọc, hồi phục thể lực và trí não, tất cả những điều
đó có lợi cho việc duy trì hoạt động sinh lý bình thường của con người, không thể