Bài 4Đảng ta luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, trong đó nhiệm vụ xây dựng
Trang 1Câu 1: Trình bày tính chất tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc? (Bài 4)
Câu 2: Những chính sách xã hội đã và đang giải quyết những vấn đề cấp bách trong xã hội Trong những vấn đề cấp
bách đó theo anh, chị vấn đề nào cầu ưu tiên giải quyết nhất? Vì sao? (Bài 6)
Câu 3: Cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối chính sách của dân tộc của Đảng và Nhà nước? (Bài 7)
Câu 4: Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt nam về vấn đề dân tôc và giải quyết vấn đề dân tộc Trong những
quan điểm đó theo anh, chị quan điểm nào là quan trọng nhất? Vì sao? (Bài 7)
Câu 5: Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người Trong những quan điểm đó theo anh,
chị quan điểm nào là quan trọng nhất? Vì sao? (Bài 8)
Câu 6: Trình bày những nhiệm vụ cơ bản của chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt nam XHCN trong giai đoạn hiện nay.
Theo anh, chị trong những nhiệm vụ trên là quan trọng nhất? Vì sao? (Bài 10)
Câu 7: Tại sao nói kết hợp giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh là tất yếu? (Bài 11)
Trang 2Câu 1: Trình bày tính chất tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc? (Bài 4)
Đảng ta luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, trong đó nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới là một nhiệm vụ quan trọng Để hiểu rõ nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trước hiểu ta tìm hiểu: Văn hóa là gì? Tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam là gì?
- Văn hóa là tất cả giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra
- Tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam là một sự vật hiện tượng luôn luôn đi trước và biểu hiện trình độ cao
về văn minh, vật chất lẫn tinh thần Là sự hòa huyện giữa giá trị truyền thống và tinh hoa văn hóa nhân loại đáp ứng yêu cầu xã hội đem lại hạnh phúc cho con người
Trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định nền văn hóa mà chúng ta tiến tới là nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc Trình độ tiên tiến của nền văn hóa không mâu thuẫn với bản sắc văn hóa dân tộc, ngược lại, hai đặc tính thống nhất biện chứng với nhau, tác động qua lại và quy định lẫn nhau Ở đây, chúng ta tách thành 2 nội dung đặc
trưng “tiên tiến” và “bản sắc dân tộc” để nghiên cứu sâu sắc hon và đầy đủ hơn theo phương pháp trừu tượng hóa khoa
học
- Tính chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam được thể hiện như sau:
Thứ nhất, nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa thể hiện tinh thần yêu nước và tiến bộ.
Đặc trưng tiên tiến của nền văn hóa hiện đại dựa trên các giá trị văn hóa cao đẹp và tiến bộ của dân tộc và thời đại
Đó là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - cơ sở chỉ đạo đời sống tinh thần dân tộc và
là thành tố quan trọng của văn hóa
Dưới ánh sáng của hệ tư tưởng tiến bộ trên, tính “tiên tiến” của nền văn hóa Việt Nam thể hiện ở mục tiêu mà nền
văn hóa hướng tới là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” Bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và nền
văn hóa mới ở nước ta hiện nay là một quá trình thống nhất không thể tách rời Chế độ xã hội tiên tiến quy định tính tiên tiến của nền văn hóa, đồng thời nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là iộng lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triên kinh tế - xã hội của đất nước
Nghị quyêt Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”
Thứ hai, nền văn hóa tiên tiến phải thể hiện tinh thần nhân văn cách mạng.
Xây dựng nền văn hóa nhân văn là hướng tới con người, giải phóng con người, phát triển và hoàn thiện con người Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng duy nhất lấy việc giải phóng con người làm mục tiêu cao cả của mình Giải phóng con người không chỉ là làm cho con người thoát khỏi mọi hình thức bóc lột, áp bức bất công về thể xác mà còn là giải phóng con người về mặt tinh thần, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo, mở ra những điều kiện xã hội tốt đẹp cho con
người phát triển toàn diện về nhân cách Chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa nhân văn “trực tiếp nhằm vào hành động”
đê giải phóng con người theo ý nghĩa cách mạng cao quý đó Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh tinh thần giải phóng con người như là mục đích tối thượng của chủ nghĩa Mác-Lênin “muốn chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình”
Thứ ba, nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa mang tinh thần dân chủ.
Dân chủ là đặc trưng cơ bản của nền văn hóa tiên tiên (tiến bộ), dân chủ là yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa dân tộc Dân chủ là nguồn sữa nuôi dưỡng nền văn hóa, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển văn hóa Dân chủ
là động lực cho sự phát triển tài năng, nhu cầu sáng tạo của quần chúng nhân dân góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hóa dân tộc để phục vụ cho con người Dân chủ gắn liền với tự do sáng tạo, tôn trọng cá tính sáng tạo, ý kiến cá nhân, giá trị cá nhân trong văn hóa và mọi hoạt động của đời sống xã hội
Thứ tư, nền văn hóa tiên tiến bao gồm tính hiện đại.
Ngoài yếu tố hệ tư tưởng - thành tố quan trọng của nền văn hóa tiên tiến thì các yếu tố khác của nó cũng đòi hỏi phải
có trình độ hiện đại: trình độ giáo dục, khoa học - công nghệ, v.v Phải dẩn dần tiến kịp và hòa nhập với trình độ hiện đại của thế giới, phải hướng tới cuộc cách mạng khoa học và công nghệ để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo và làm chủ các tri thức khoa học và công nghệ để xây dựng đất nước Nâng cao trình độ tư duy
khoa học, duy lý trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, giải quyết các vân đê dân tộc đặt
ra trên tâm thời đại Nen văn hóa mới phải tạo ra những phẩm chất, đạo đức, tâm hồn, lối sống con người Việt Nam hiện đại ngang tầm với sự nghiệp đổi mới đất nước
Thứ năm, nền văn hóa tiên tiến thể hiện ở hình thức biểu hiện, phương tiện chuỵển tải nội dung.
Sử dụng các hình thức sáng tạo mới bằng các công nghệ hiện đại làm sâu sắc, phong phú và đa dạng các sản phẩm văn hóa dân tộc Có cách thức và phương pháp tiên tiến để chuyển đổi nội dung và làm mới các giá trị văn hóa cổ truyền cho phù hợp với thời đại Đồng thời phải xây dựng kết cấu hạ tầng của xã hội và văn hóa từng bước hiện đại hóa Đầu tư
để xây dựng cơ sở vật chất kỳ thuật, trang thiết bị cho hoạt động văn hóa tiến kịp trình độ khoa học công nghệ hiện đại
Có như vậy mới giúp cho sự sáng tạo tốt hơn, sự truyền bá nhanh hon, rộng rãi hơn đáp ứng được nhu cầu văn hóa ngày càng tăng và càng cao của nhân dân
- Bản sắc dân tộc của nền văn hóa mới
Trong văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn
Trang 3năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần
cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”
Nền văn hóa tiên tiến phải có sắc thái riêng, cái độc đáo của truyền thống, tâm hồn, cốt cách, lối sống, v.v của một
dân tộc chứa đựng những tinh hoa của quá khứ kết hợp với những cái tốt đẹp của hiện đại Nền văn hóa đó phải phát triển
trên nền những sắc thái riêng đã trở thành bản sắc của chính nó Nếu không, trước xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng áp đặt văn hóa được truyền bá bởi sức mạnh vật chất và phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ biến văn hóa của các quốc gia dân tộc thành “bản sao” của nền văn hóa khác
Để xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần:
+ Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đổi mới bản sắc dân tộc phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân
+ Phát triển văn hóa dân tộc đi đôi với giao lưu văn hóa với nước ngoài, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại làm giàu đẹp thêm văn hóa Việt Nam Ngăn chặn và đấu tranh chống sự xâm nhập của những sản phẩm văn hóa, phản giá trị, chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng của các thế lực phản động hiện nay
Văn hóa là nền tảng, là động lực mục tiêu, là cái gốc của dân tộc, gốc của con người Sự nghiệp cách mạng vẻ vang đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải quyết tâm xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Đứng trước những khó khăn và thách thức mới, mỗi người dân Việt Nam chúng càng phải nhận thức được vai trò của bản thân trong xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng đã đề ra Chúng ta hãy cố gắng học tập, rèn luyện bản thân thật tốt để mỗi người đều trở thành một bông hoa đẹp có ích, qua đó thể hiện được bản sắc văn hoá dân tộc trong từng lời nói, hành động Làm được điều đó có nghĩa là chúng ta đã góp phần xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam thân thiện và đẹp đẽ trong mắt bạn bè quốc tế
Với riêng bản thân tôi, để góp phần sức lực nhỏ bé của mình, không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyen môn, trình độ chính trị, hoàn thành xuất ắc các nhiệm vụ được giao; gương mẫu đi đàu trong các hoạt động địa phương,
từ đó tuyên truyền, vận động người thân, gia đình tham gia xây dựng đời sống văn hóa mới như các phong trào xây dựng Gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, củng cố tình làng nghĩa xóm, nêu cao tinh thần doàn kết tương trợ lẫn nhau; tích cực tham gia cùng mặt trận, hội đoàn thể địa phương tổ chức vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa, bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, kịp thời góp ý phản biện để Đảng, Nhà nước có những sửa đổi cho phù hợp, góp phần đưa chủ trương chính sách của Đảng vào cuộc sống
Bonus: Cần phải làm gì để giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay?
Giữ gìn, phát huy, làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc càng ngày càng trở thành nhu cầu, nhiệm vụ của văn hóa và
của tất cả mọi người Để làm tốt nhu cầu và nhiệm vụ nặng nề này, cần phải thấm nhuần quan điểm: chỉ có phát triển mạnh mẽ văn hóa các dân tộc với bản sắc riêng của chúng, văn hóa nhân loại mới trở nên phong phú, đa dạng Nếu văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới đều bị mất đi bản sắc riêng hoặc bị đồng hóa bởi một nền văn hóa thì chắc chắn kho tàng văn hóa nhân loại sẽ nghèo nàn, đơn điệu Cho nên cái chung của văn hóa nhân loại chỉ phong phú khi cái riêng của văn hóa từng dân tộc được coi trọng
Đảng ta chỉ rõ xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đặc đậm bàn sắc dân tộc, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu quốc tế là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân
Giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là loại bỏ các yếu tố văn hóa ngoại lai Các yếu tố văn hóa bản địa trước đây đã từng dung hợp với các yếu tố văn hóa ngoại nhập nhưng vẫn tạo ra những nét văn hóa bản sắc Vấn đề là phải dung hợp như thế nào và điều đó phải trở thành nhận thức, ý thức thường trực trong tiếp nhận và sử dụng Thực tế cho thấy nhiều người có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam rất quan ngại khi các yếu tố văn hóa ngoại nhập đã làm xâm phạm và làm lu mờ những giá trị văn hóa truyền thống Gần đây trang phục và diễn xuất của nhiều ca sĩ, diễn viên trên sân khấu đã tạo ra sự phản cảm, trở thành một vấn đề nhức nhối khiến cho một bộ phận không nhỏ khán giả quay lưng với nghệ thuật sân khấu
Giữ gìn bản sắc văn hóa là một yêu cầu vừa lâu dài vừa cấp thiết Do đó, chúng ta cần phải:
- Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của tất cà các dân tộc trong nước, sự đa dạng, phong phú của văn hóa tộc người, vùng, miền, địa phưong khẳng định giá trị, giữ' gìn tinh hoa di sàn văn hóa dân tộc
- Phát triển văn hóa dân tộc đi liền với giao lưu văn hóa quốc tế; tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu đẹp văn hóa dân tộc; đồng thời đề cao bản lĩnh văn hóa dân tộc, đấu tranh chống sự thâm nhập của văn hóa độc hại
- Chuyển đổi, bổ sung những thiêu hụt cùa văn hóa cổ truyền trước yêu cầu mới của thời đại, làm cho bản sắc văn hóa dân tộc càng giàu có, phong phú, có sự đồi mới phù hợp với thời đại tiên tiến, với việc đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Phát huy thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như sự kết tinh t ốt đẹp nhất của tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại thời hiện đại
- Tạo một môi trường quốc gia về văn hóa thật sự lành mạnh và thuận lợi cho việc giữ gìn, phát huy bàn sắc văn hóa dân tộc Môi trường này thể hiện ờ cấu trúc văn hóa (gia định, làng (phố, nước); những cơ quan làm văn hóa; ở không khí nhiệt tình sáng tạo của nhũng lực lượng sưu tầm, nghiên cứu, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhũng lực lượng tiếp nhận văn hóa nước ngoài và tính tích cực tham gia văn hóa ờ trình độ dân trí cao và sự am hiểu văn hóa dân tộc của toàn dân; đưa giáo dục văn hóa văn nghệ vào nhà trường, từ mẫu giáo
- Tổ chức, vật chất hóa quá trình gìn giữ, phát huy các giá trí văn hóa cổ truyền và hiện đại bằng cách đầy mạnh
Trang 4phương châm xã hội hóa sự nghiệp văn hóa kết họp sự tìm tòi, đóng góp đầu tư của Nhà nước, nhân dân và các nguồn quí quốc tế
- Một mặt táng cường hoạt động giao lưu văn hóa với nước ngoài, trong giao lưu chú ý tiếp thu tinh hoa, ngăn chặn độc tố; mặt khác tăng cường phát huy bản sắc văn hóa dân tộc góp phần vào kho tàng văn hóa thế giới
- Giữ gìn, phát huy, làm giàu bàn sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu quốc tế là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, rất cần sự chung sức, chung lòng của Đàng, Nhà nước, nhân dân, mới có thể làm tốt được
_
Trang 5Câu 2: Những chính sách xã hội đã và đang giải quyết những vấn đề cấp bách trong xã hội Trong những vấn đề cấp bách đó theo anh, chị vấn đề nào cầu ưu tiên giải quyết nhất? Vì sao? (Bài 6)
Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường, vấn đề an sinh xã hội ngày càng có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm
an toàn cho đời sống các thành viên trong xã hội trước những biến động khó lường, như những rủi ro trong kinh tế thị trường, những rủi ro về xã hội, những tác động xấu của môi trường thiên nhiên
Vậy chính sách xã hội được hiểu như thế nào? Trước hết ta tìm hiểu:
Xã hội được hiểu theo nghĩa rộng là những cái liên quan đến con người, liên quan đến quan hệ giữa con người với con người, là những cái không thuộc của tự nhiên Hay hiểu theo nghĩa hẹp, xã hội là những vấn đề xã hội liên quan đến: nghèo đói; phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo; Thất học, bất bình đẳng trong giáo dục; Chăm sóc sức khỏe, đảm bảo
sự bình đẳng trong hưởng thụ dịch vụ y tế; Giải quyết vấn đề dân số, kế hoạch hóa gia đình, dân số phát triển; giải quyết việc làm, chống thất nghiệp; Tệ nạn xã hội, an toàn giao thông; Ô nhiễm môi trường tự nhiên; Sự phức tạp của môi trường xã hội; Trẻ em lang thang, trẻ em phải lao động sớm và bị bốc lột, bất bình đẳng dân tộc, …
Chính sách là những quy định, quyết định được nhà nước thể chế hóa nhằm điều chỉnh quan hệ kinh tế chính trị, xã hội của con người để giải quyết những vấn đề đang đặt ra, thực hiện mục tiêu đã được xác định trước
Như vậy, chính sách xã hội là những quy định, quyết định được thể chế hóa bởi nhà nước, trở thành công cụ để tác động vào những quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra, góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người
Chính sách xã hội nhằm chia sẻ trách nhiệm trong cộng đồng, hướng tới công bằng xã hội Vì vậy, hiệu quả của chính sách an sinh xã hội đang trở thành một thước đo của sự phát triển kinh tế - xã hội Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, có một số vấn đề xã hội nổi lên rất gay gắt và bức xúc cần phải có chính sách giải quyết, nếu không sẽ dẫn đến quá trình phát triển kinh tế và chính sách mở cứa hội nhập quốc tế đã và đang có tác động sâu sắc làm thay đồi giá trị, chuẩn mực xâ hội và chuyển biển các phân hệ cơ cấu xã hội Giải quyết các vấn đề xã hội ấy không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu vận động chung chung mà nó còn đòi hỏi phải áp dụng đồng thời nhiêu chính sách xã hội
Xuất phát từ đó, Đảng, Nhà nước đã đưa ra một số chính sách xã hội nhằm giải quyết một số vấn đề xã hội cấp bách hiện nay như sau:
Một là, chính sách dân số
Mục tiêu tống quát của chính sách dân số là thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc; nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước
Mục tiêu cụ thể: là mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con, để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mồi cặp vợ chồng
có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI, nâng chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, giảm tỷ lệ viêm nhiễm, bệnh lây truyền qua đường sinh dục (HIV), v.v
Hai là, chính sách xã hội nhằm giải quyết tệ nạn xã hội
Theo các cơ quan chức năng, hiện nay tình hình hoạt động mại dâm thường rất đa dạng với nhiều hình thức biến tướng và sử dụng các thủ đoạn mới, tinh vi Trong đó, chủ yếu vẫn là lợi dụng các dịch vụ như ăn, nghỉ, vũ trường, karaoke, tẩm quất, v.v
Đặc biệt, trong những năm gần đây tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy ở nước ta diễn biến rất phức tạp Ma tủy đã vào trường học, rình rập từng nhà, từng ngõ ngách gây ra những cái chết dần, chết mòn không những cho người nghiện
mà cả gia đình họ Nghiện ma túy cũng là nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội khác Đa số người nghiện ma túy, để
có tiền mua ma túy đều phạm tội trộm cắp, cướp giật, lừa đảo Theo một số nguồn tin, khoảng 75% các tội phạm hình sự
có nguyên nhân bắt nguồn từ những người nghiện ma túy Đa số những người bị nhiễm HIV/AIDS là những người nghiện ma túy
Những tệ nạn này gia tăng đến mức lo ngại, cần huy động sức mạnh của toàn dân, tất cả các ngành, các cấp chính quyền để đẩy lùi, ngân chặn Đồng thời phải sừ dụng dư luận xã hội để phòng chống, ngăn ngừa vá tăng cường giáo dục, tuyên truyền chống tệ nạn này trong toàn xâ hội, tang cường các biện pháp cưỡng bức hành chính, xử lý nghiêm minh những tên buôn bán ma tuý, tồ chức mại dâm tham nhũng
Ba là, chính sách giải quyết việc làm
Những con số thống kê, Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến ngày 1-1-2014 là 53,65 triệu người, tăng 864,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước; Lực lượng lao động trong độ tuổi lao dộng ước tính đến 1-1-2014 là 47,49 triệu người, tăng 409,2 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2013; Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2013 ước tính 52,40 triệu người, tăng 1,36% so với năm 2012; Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 15-24 năm 2013 ước tính 6,36%, trong đó khu vực thành thị là 11,11%, tăng 1,94 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực nông thôn là 4,87%, tăng 0,62 điểm phần trăm; Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2013 ước tính 1,21%, trong đó khu vực thành thị là 2,29%, tăng 0,19 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực nông thôn là 0,72%, tăng 0,06 điểm phần trăm Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên do sản xuất vẫn gặp khó khăn làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động
Từ thực tiễn trên đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách hồ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện
nghèo, xã nghèo, tliôn bản đặc biệt khó khăn Xây dựng và triển khai Luật Việc làm; khẩn trương nghiên cứu xây dựng Chương trình việc làm công Phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới
Trang 6Bốn là, chính sách xã hội dành cho hệ thống giáo dục, y tế
Bảo đảm giáo dục tối thiểu: Tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo được hào đảm Trong thời gian tới
sẽ tiếp tục thực hiện các chiến lược, chương trình, đề án về giáo dục Mở rộng và tăng cường các chế dộ hỗ trợ, nhất là đối với thanh niên, thiếu niên thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở các huyện nghèo, xã, thôn bản đặc biệt khó khăn
để bảo đảm phổ cập giáo dục bền vững Tăng số lượng hục sinh trong các trường dân tộc nội trú, mở rộng mô hình trường hán trú; xây dựng và củng cố nhà trẻ trong khu công nghiệp và vùng nông thôn Xây dựng đề án phổ cập mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi Nâng cao chất lượng phổ cập trung học cơ sở, đặc biệt là đối với con em hộ nghèo, dân tộc thiểu
số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Phấn đấu đến năm 2020 có 99% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học, 95% ở bậc trung học cơ sở; 98% người trong độ ỉuổi tò 15 trở lên biết chữ; trên 70% lao động qua đào tạo
Bảo đảm y tế tối thiểu: Tiếp tục triển khai chiến lược, các chương trình, đề án về y tế, nhất là đề án khắc phục quá tải ở các bệnh viện Cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đến năm 2020, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; tỷ
lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân 10% Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiếm y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiếm y tế, đổi mới công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia bảo hiểm
y tế Đen năm 2020, phấn đấu ưên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế, v.v…
Năm là, chính sách xóa đói giảm nghèo
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đạt kết quả tích cực Thành tựu giảm nghèo, bảo đảm an sinh
xã hội ma Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Trong thời gian sắp tới chính sách xóa đói giảm nghèo sẽ được thực hiện theo hướng: thực hiện đồng bộ, lồng ghép các chương trình, chính sách hiện hành có điều chỉnh, bao gồm: (1) Chính sách hỗ trợ lao động nghèo, người thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn có việc làm, thu nhập ổn định và tham gia thị trường lao động; hỗ trợ dân cư nông thôn dễ dàng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản; (2) Tuyên truyền, hỗ trợ đối với 40% dân số nông thôn hiện nay chưa tham gia bảo hiểm y tế; (3) Bổ sung nhóm đối tượng nghèo kinh niên được hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên; (4) Tiếp tục xây dựng, thực hiện Nghị quyết về định hướng giảm nghèo thời kỳ 2011-2020 Chú trọng các chính sách giảm nghèo đối với các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước Phấn đấu đến năm 2020, thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng trên 3,5 lần so với năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,5-2%/năm; các huyện, xã có tỷ lệ nghèo cao giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn
Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường, vấn đề an sinh xã hội ngày càng có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm
an toàn cho đời sống các thành viên trong xã hội trước những biến động khó lường, như những rủi ro trong kinh tế thị trường, những rủi ro về xã hội, những tác động xấu của môi trường thiên nhiên Chính sách xã hội nhằm chia sẻ trách nhiệm trong cộng đồng, hướng tới công bằng xã hội
Vì vậy, các chính sách xã hội hiện nay của Đảng, Nhà nước đều cần giải quyết cấp bách Nhưng theo tôi: Chính sách giải quyết việc làm cần được ưu tiên giải quyết trước, với những lý do sau:
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân Việc làm là: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế,
là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam luôn
là điểm sáng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan, và đặc biệt là Nhật Bản Là bộ phận trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất vì thế mà việc phát triển nguồn nhân lực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế của doanh nghiệp
Ở khía cạnh cung - cầu lao động, việc làm mất cân đối lớn, cung lớn hơn cầu Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm chậm, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn thấp (Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 15-24 năm 2013 ước tính 6,36%, trong đó khu vực thành thị là 11,11%, tăng 1,94 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực nông thôn là 4,87%, tăng 0,62 điểm phần trăm Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2013 ước tính 1,21%, trong đó khu vực thành thị là 2,29%, tăng 0,19 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực nông thôn là 0,72%, tăng 0,06 điểm phần trăm)
Ở khía cạnh quản lý nhà nước đối với thị trường lao động, việc làm và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với quan hệ cung cầu lao động còn hạn chế Sự kiềm soát, giám sát thị truờng lao động, việc làm chưa chặt chẽ Chua phát huy được vai trò cùa “tòa án lao động” trong giãi quyết ứanh châp lao động Cải cách hành chính hiệu quả thấp đối vởi bản thân người lao động và cả xã hội
Cơ cấu lao động chưa phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2013 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,9% tổng số, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 21,1%, giảm 0,1 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 32,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm) Tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề thấp Kỹ năng tay nghề, thể lực còn yếu, kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp chưa cao
Trang 7Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức to lớn Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập Di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm như "chảy máu chất xám, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”
Từ những thực trạng trên, đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải:
- Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động
đi làm việc ở nước ngoài, ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, tliôn bản đặc biệt khó khăn
- Chú trọng giáo dục ý thức tổ chức, kỷ luật, kỹ năng lao động, tay nghề
- Xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia về định hướng nghề nghiệp và việc làm cho nông thôn
- Cần tập trung vào các chính sách đối với lao động nông thôn bị mất việc làm, thiếu việc làm
- Xây dựng và triển khai Luật Việc làm; khẩn trương nghiên cứu xây dựng Chương trình việc làm công.
Trang 8
Câu 3: Cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối chính sách của dân tộc của Đảng và Nhà nước? (Bài 7)
Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia thống nhất đa dân tộc (tộc người) Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Cái “giàn” mà ông cha ta đã tổng kết chính là Tổ quốc Việt Nam của tất cả chúng ta Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc
và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước
ta hiện nay và trong tương lai
Dân tộc được hiểu là một cộng đồng ổn định có chung về lãnh thổ hoạt động kinh tế, về một ngôn ngữ giao tiếp và một nền văn hóa hay còn gọi là dân tộc quốc gia
Các dân tộc sống trong một dân tộc quốc gia có ba đặc trưng về tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ riêng), về nền văn hóa riêng
và ý thức tự giác riêng thì gọi là dân tộc tộc người
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rộng lớn, phức tạp Việc đề ra chính sách dân tộc cùa Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như các điều kiện lịch sử cụ thể của từng dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam
Về cơ sở lý luận
- Thứ nhất, đó là việc dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về khái niệm và những đặc trưng cơ bản của
dân tộc
Dân tộc được hiếu là một khái niệm để chỉ một công đồng người on định, được thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định, với những đặc trưng cơ bản đỏ là có chung lãnh thổ, có một phương thức sinh hoạt kinh tế chung, một ngôn ngữ giao tiếp chung và một nền văn hóa chung biểu hiện trong tâm lý dân tộc
Từ khái niệm này, chúng ta có thể xem dân tộc là một cộng đồng người ổn định, hình thành và phát triển trong lịch sử với ba đặc trưng cơ bản sau:
+ Cộng đồng về ngôn ngừ Ngôn ngữ chung của cộng đồng có thể bao gồm ngôn ngữ nói và viết Đây là nhân tố
quan trọng giúp cho quá trình cố kết cộng đồng Tuy nhiên, không phải có bao nhiêu ngôn ngữ nói là có bấy nhiêu dân tộc
+ Có những đặc điếm chung thuộc bản sắc văn hóa Những đặc điểm chung này có thể là văn hóa vật chất, có thể là
văn hóa l i n h thần phản ánh truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng lon giáo của dân tộc
+ Có ý thức tự giác tộc người Đây là nhân tố quan trọng kháng định sự tồn tại và phát triển của dân tộc, đồng thời là
tiêu t hí để phân định giữa dân tộc này với dân tộc khác Các yếu tố cư dân, kinh tế, địa bàn có thể thường xuyên biến đổi, song ý thức tộc người có tính bền vững tương đối và thường gắn với lịch sir dựng và giữ nước của cả dân tộc
- Thứ hai, việc đề ra chính sách dân tộc còn dựa trên lý luận về 2 xu hướng khách quan trong phong trào dân tộc và
quan hệ dân tộc
Nghiên cứu vấn đề dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra 2 xu hướng khách quan:
+ Xu hướng phân lập Đây là xu hướng phản ánh sự chín muồi về ý thức dân tộc, sự thức tỉnh về các quyền sống của
dân tộc và phát triển thành phong trào dân tộc Các cộng đồng cư dân muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập Trony, giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, hàng loạt các dân tộc vùng lên đấu tranh để lập nên các quốc gia dân tộc độc lập; xác lập quyền lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình
+ Xu hướng liên hiệp Đây là xu hướng mà các dân tộc ớ từng quốc gia hoặc nhiều quốc gia liên hiệp với nhau, xóa
bở sự biệt lập khép kín, phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc đế thành lập các quốc gia đa dân tộc độc lập, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc
- Thứ ba, dựa trên cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Những năm đầu của thế kỷ XX, dựa trên sự vận dụng và phân tích sâu sắc lý luận của C.Mác về mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, 2 xu hướng khách quan của phong trào dân tộc, kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm
của nước Nga, V.I.Lênin đã nêu ra Cương lĩnh dân tộc: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự
quỵêt, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin có 3 nội dung:
+ Một là, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan
hệ giữa các dân tộc Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là các dân tộc dù lớn hay nhỏ, không phân biệt trình độ cao hay thấp đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức dân tộc khác
+ Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mồi dân tộc đối với vận
mệnh của dân lọc mình, trong đó có quyền quyết định chế độ chính trị - xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình; quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc; quyền tự nguyện hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát trien quốc gia, dân tộc
Trang 9+ Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc Đây là tư tưởng cơ bản trong Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin, phản
ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, đồng thời phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp Nó đảm bảo cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi
- Thứ tư, dựa trên Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa
và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận dụng và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng
Về cơ sở thực tiễn
Trên phương diện thực tiễn, việc đề ra chính sách dân tộc hiện nay của Đảng ta trước hết xuất phát từ thực tiễn vấn
đề dân tộc và quá trình giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam những năm qua
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, các dân tộc ở Việt Nam có một quá trình gắn bó và một ý thức dân tộc được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nước của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam Theo các nhà nghiên cứu, các dân tộc ở Việt Nam có các đặc điểm đáng chú ý về tộc người và quan hệ giữa các tộc người sau:
Một là, các dân tộc ở Việt Nam cư trú, sinh sống xen kẽ nhau và có sự chênh lệch khá lớn về nhiều mặt.
Nhìn chung, việc các dân tộc sống và cư trú xem kẽ, đang xen từ lâu đã trở thành tình trạng chủ yếu ở mọi vùng, miền, tình thành trong cả nước Không có dân tộc nào có lãnh thổ riêng biệt hoặc sống biệt lập Trên một địa bàn có thể
có nhiều dân tộc cùng sinh sống, cư trú Hơn thế nữa cùng một dân tộc có thể cư trú, sinh sống trên nhiều địa bàn, tỉnh thành khác nhau Cả nước có 54 dân tộc anh em, riêng vùng Tây Nguyên đã có tới hơn 40 dân tộc cùng sinh sống đan xen nhau
Việc cư trú, sinh sống xen kẽ nhau một mặt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc giao lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v ké thừa và phát huy các yếu tố tốt đẹp của các dân tộc khác, các giá trị về mặt đạo đức, phong tục tập quán của nhau và phát huy các giá trị bản sắc dân tộc; mặt khác cũng sẽ xuất hiện các vấn đề náy sinh trong các quan hệ dân tộc đòi hỏi Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương phải đương đầu giải quyết
Về địa bàn cư trú, ngoại trừ người Kinh chủ yếu sống ở các thành phố, vùng đồng bằng, trung du nơi có những điều kiện sống thuận lợi hon, còn hầu hết các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú ở các vùng núi, biên giới, hải đảo, v.v nơi có những điều kiện sống không thuận lợi và nhiều khó khăn Chính những điều kiện sống khác nhau này đã dẫn tới trình độ phát triển về các mặt kinh tế, xã hội và văn hóa không đều nhau Trong các dân tộc thiểu số, có những dân tộc đã đạt đến tình độ kinh tế hàng hóa phát triển, song cũng còn không ít các dân tộc kinh tế hàng hóa mới hình thành Tình trạng nói trên đã và đang đặt ra cho Đảng \ à Nhà nước ta những nhiệm vụ hết sức bức thiết, nặng nề đó là k hắc phục và thu hẹp dần khoảng cách về mọi mặt giữa miền núi với miền xuôi, vùng cao với vùng thấp
Hai là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, gắn bó lâu đời trong quá trình đấu
tranh dựng và giữ nước của dân tôc Đây là một truyền thống được hun đúc gắn liên với quá trình đấu tranh chống thiên
nhiên và chống giặc ngoại xâm nhiều thế kỷ Chính quá trình gắn bó lâu dài, chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi của các dân tộc anh em đã lạo nên truyền thống đoàn kết, yêu nước của cả cộng đồng dân lộc Việt Nam
Ba là, các dân tộc ở Việt Nam đều có bản sắc văn hóa riêng tụo nên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt
Nam
Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa ilân tộc, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình lịch sử lâu dài của đất nước Bản sắc văn hóa có các giá trị đặc trirng mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn Đe nhận biết chúng phải thông qua vô vàn sắc thái văn hóa với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy Nghị quyết Hội nghị 1'rung ương 5 khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ: Bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam bao gồm những gia trị bền vững, những tinh hoa vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước trở thành những nét đặc sắc của cộng đồng dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí
tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng nước, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đầu óc thực tế, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động, tế nhị trong ứng xử, giản dị trong lối sống
Có thể hiểu bản sắc văn hóa của các dân tộc ở nước ta như là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam, tới lượt nó, bản sắc dân tộc góp phần tạo nên bản lĩnh dân tộc, sức sống và sự từng trải của dân tộc, nhờ đó mà dân tộc có thể vững vàng, trường tồn trước thử thách khắc nghiệt của lịch sử
Bốn là, xuất phát từ thực tiễn đã và đang đặt ra hiện nay của vấn đề dân tộc ở nước ta vấn đề dân tộc thực chất là
quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa dân tộc Mối quan hệ ấy thế hiện trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đời sống chính trị, kinh tế đến đời sống xã hội, văn hóa và tinh thần Thực tiễn những năm qua cho thấy, vấn đề dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta đang nổi lên những vấn đề lớn sau đây:
Đời sống kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng vùng dân tộc thiểu số có không ít những vấn đề cộm cán, phức tạp Hiện nay mặc dù đã được Đảng và Nhà nước đầu tư, quan tâm, song đời sống kinh tế vùng dân tộc thiểu số vẫn còn quá nhiều khó khăn, kinh tế hàng hóa chưa theo kịp trình độ chung, tỷ lệ hộ đói, nghèo vẫn còn cao Các vụ việc phức tạp và điểm nóng về dân tộc, tôn giáo vẫn tiếp tục phát sinh ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ An ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội vẫn còn nhiều phức tạp tiềm ấn, nhất là vùng núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số Đây là những vấn đề đã, đang và sẽ còn đặt ra trong thời gian tới đòi hỏi chúng ta phải quan tâm giải quyết và giải quyết đồng bộ
Cần phải có một chiến lược và tập trung khắc phục khoảng I uli chênh lệch về nhiều mặt giữa các vùng miền, giữa các I lun tộc trong cả nước Thời gian qua chúng ta đã tập trung để giải quyết vấn đề nan giải này, song hiệu quả chưa cao, khoáng cách và sự chênh lệch về kinh tế, văn hóa, mức sống vẫn còn lớn Vì vậy, mục tiêu và chủ trương đưa miền núi tiến kịp miền xuôi vẫn tiếp tục được đặt ra Ở cấp độ vĩ mô, quốc gia dân lọc cần phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc
Trang 10vì lợi ích và mục tiêu chung là độc lập dân tộc và dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh Ở cấp độ dân tộc, quan hệ giữa các tộc người I ủn phải phát huy năng động tính của từng dân tộc và quan tâm tạo những điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ các tộc người cả về vật chất và tinh thần để nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo, tiến kịp trình độ chung
Cần cảnh giác, đấu tranh chống mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch, vấn đề
dân tộc được Đảng ta coi là vấn đề chiến lược, gắn với chính sách đại đoàn kết dân tộc Chính vì vậy, các thế lực thù địch luôn tộp trung công phá, kích động, chia rẽ các dân tộc Các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên, Tây Bắc thời gian qua đều có bàn tay kích động, chia rẽ của các thế lực xấu lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn l',iáo, lợi dụng các sơ hở, thiếu sót của ta trong thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo Thực tiễn đó vẫn đang và sẽ đặt ra cho Đảng và Nhà nước, các ngành, các cấp, cho từng tộc người trong phạm vi cả nước nhiều vấn đề cần phải giải quyết Do đó việc giải quyết vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc trong những năm tới không thể không tính đến tác động nói trên
Chính sách dân tộc của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới chính là sự kế thừa và phát triển chính sách dân tộc của Đảng
đã được vạch ra cùng với sự ra đời và trưởng thành của Đảng; là sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Cơ sở lý luận và thực tiễn là tiền đề, là điều kiện quan trọng nhất để giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta trên hành trình đổi mới