1. Trang chủ
  2. » Mầm non - Tiểu học

de tai tang cuong tieng viet cho tre 5t nguoi dan toc thieu so mon lqvcc

46 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Tăng Cường Giao Tiếp Tiếng Việt Cho Trẻ Mẫu Giáo 5 Tuổi Người Dân Tộc Thiểu Số
Tác giả Nguyễn Thị Mai
Người hướng dẫn Tiến Sĩ: Đinh Hồng Thỏi
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại Bài Tập Nghiệp Vụ Cuối Khoá
Năm xuất bản 2005
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 619,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trẻ em là nguồn hạnh phúc lớn của mỗi gia đình ,là tương lai của quốc gia dân tộc .Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ em đã trở thành nghĩa vụ và trách nhiệm của gia đình và của toàn xã hội là mối quan tâm hàng đầu của nhiều ngành khoa học ,của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam .Ở Việt Nam hiện nay việc quan tâm ,chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ đã được đề cập trong “Luật giáo dục ” và ở điều 19 có nêu : “Mục tiêu củo giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển thể chất ,tình cảm ,trí tuệ ,thẩm mỹ ,hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách ,chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1phổ thông ”. Có thể nói rằng giáo dục mầm non là một thâu quan trọng của hệ thống giáo quốc dân ,là bậc học chuẩn bị tiên đề cho giáo dục phổ thông theo mục tiêu giáo dục toàn diện ,nó sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển nhân cách con người ,vậy vấn đề đặt ra trong lứa tuổi này là phải quan tâm đầy đủ đến giáo dục thể chất ,trí tuệ và tinh thần cho trẻ như C.Mác đã từng khẳng định “ Việc kết hợp giáo dục ,trí tuệ ,và thể chất không chỉ là một phương tiện tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phương tiện duy nhất để phát triển con người toàn diện ”. Ngành học mầm non trong những năm qua có những chuyển biến về chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ không những ở các thành phố lớn ,thị xã ,thị trấn mà còn được nhân dân ở các vùng ven ,miền núi ,đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đang từng bước được củng cố .Để thực hiện được vấn đề này một cách có hiệu quả nâng cao chất lượng giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì cần phải phát triển ngôn ngữ , bởi vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ ,sự phát triển ngôn ngữ là giúp trẻ tham gia trực tiếp vào các hoạt độngkhác ,vì ngôn ngữ là phương tiện để giao lưu tình cảm ,về mối quan hệ và cách ứng xử trong xã hội ,là sự tìm tòi ,khám phá thế giới tự nhiên ,cuộc sống xung quanh trẻ .Nhưng đối với người đồng bào dân tộc quả là một vấn đề bức xúc ,vận động con em đến tuổi ra lớp không ít khó khăn ,họ có lối sống biệt lập giữa các dân tộc nên ít có điều kiện giao tiếp ,cách suy nghĩ và khả năng tiếp thu còn hạn chế .Thêm vào đó sự bất đồng về ngôn ngữ giữa cô và trẻ đã gây nhiều khó khăn trong việc giao tiếp ,mặt khác họ chưa hiểu đúng đắn về vấn đề học tập ,con cái muốn học hành như thế nào cũng được ,và muốn ở nhà giữ em vì con cái đông .Đối với trẻ thì không muốn đi học vì đi học sẽ bị gò bó trong khuôn khổ ,trẻ thích theo cha mẹ lên rẫy để săn bắn chim ,chăn trâu ,chăn bò . Vì vậy để nâng cao mục tiêu phát triển ngôn ngữ bằng tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi dân tộc thiểu số qua môn làm quen chữ viết này thì người giáo viên trước hết phải tạo ra cho trẻ hứng thú ham thích đi học ,và tạo cho trẻ hứng thú học tiếng Việt làm tiền đề để thích ứng với việc tập đọc ,tập viết cần tạo được mọi cơ hội khuyến khích trẻ bộc lộ khả năng sáng tạo của cá nhân mình .Cần có những bài thơ ,câu chuyện ,bài thơ tranh chữ to ,tranh minh hoạ ,có tác dụng thúc đẩy sự phát triển bước đầu bằng ngôn ngữ đọc ,ngôn ngữ viết ở trẻ . Song việc chuẩn bị cho quá trình giao tiếp bằng tiếng Việt thông qua tất cả các môn học ,thông qua mọi hoạt động của trẻ ,việc giao tiếp diễn ra ở mọi lúc ,mọi nơi cần phải tạo được môi trường cho trẻ hoạt động ,tổ chức tiết học .Như vậy việc trẻ được hoà lẫn trong các hoạt động vui chơi tự nhiên đầy hứng thú ,như một chủ thể tích cực .Thông qua các hoạt động trực tiếp với các sự vật ,hiện tượng ,qua giao tiếp xã hội mà trẻ làm quen được chữ cái . Trong những năm qua chuyên đề tăng cường kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh mẫu giáo 5 tuổi vùng dân tộc thiểu số đã được sở ,phòng mở các lớp tập huấn ,hội thảo ,tổ chức thi giáo giỏi các cấp ,làm và thi đồ dùng tự tạo phục vụ cho chuyên đề này đạt kết quả cao .Tuy nhiên việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc không phải là dễ ,mà còn rất nhiều phức tạp bởi vì thời gian trẻ tiếp xúc với cô trên lớp quá ít ,chỉ có một buổi ,thời gian ở nhà là chính ,trẻ lại giao tiếp bằng tiếng dân tộc ,tiếng Việt không có ai để giao tiếp cho nên trẻ rất mau quên ,trẻ phát âm không chuẩn ,viết chữ không được . Từ những khó khăn như trên của trẻ học sinh mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc giao tiếp bằng tiếng Việt .Để khắc phục được vấn đề này và giúp trẻ tiếp thu được kiến thức mới ,học tiếng Việt một cách dễ dàng ,đồng thời tạo hứng thú cho trẻ đến trường mạnh dạn ,tự tin và tích cực hoạt động ,nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ ,vốn kinh nghiệm của trẻ được kích thích trẻ phát triển và tiếp xúc giao tiếp với mọi người xung quanh một cách dễ dàng hơn ,đó chính là lý do tôi chọn đề tài này . II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Xây dựng biện pháp dạy tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết cho học sinh người dân tộc thiểu số. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy giao tiếp tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số. Nghiên cứu thực trạng công tác dạy tiếng Việt và tiếp thu của trẻ ở trường mầm non Họa Mi. Đề xuất những biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số học tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu tài liệu về cho trẻ làm quen chữ viết như qua sách báo, tranh ảnh. Quan sát hoạt động của trẻ làm quen chữ viết. Điều tra bằng phiếu đối tượng là giáo viên về việc dạy làm quen chữ viết cho trẻ. Tìm tài liệu tổng kết, báo cáo về chuyên đề dạy làm quen chữ viết ở trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc. Lấy ý kiến chuyên gia, giáo viên dạy giỏi, ý kiến đóng góp của các nhà quản lý chỉ đạo cấp trên về chuyên đề này. Thực nghiệm về một số biện pháp. V. ĐỐI TƯỢNG KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU: Khách thể: Là hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số. Đối tượng: Là những biện pháp để dạy làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

-*** -BÀI TẬP NGHIỆP VỤ CUỐI KHOÁ



ĐỀ TÀI:

Một số biện pháp tăng cường giao tiếp Tiếng Việt cho

trẻ Mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số.

Môn làm quen chữ viết ở Trường Mầm Non Hoạ Mi

Trang 2

MỤC LỤC

trang

1 Cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ

2 Vai trò của ngôn ngữ

II Thực trạng trong hoạt động làm quen chữ viết của trẻ mẫu giáo 5 tuổi

người dân tộc thiểu số ở trường mầm non Hoạ Mi- KonTum

III Những biện pháp để tăng cường giao tiếp tiếng Việt cho trẻ mẫu

giáo 5 tuổi người dân tộc

1 Xây dựng biện pháp

2 Thực nghiệm các biện pháp

C Kết luận và kiến nghị sư phạm

I Kết luận chung

II Kiến nghị sư phạm

D Tài liệu tham khảo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên của bài tập nghiệp vụ cuối khoá em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắctới thầy giáo tiến sỹ Đặng Hồng Thái - giảng viên khoa giáo dục Mầm non trườngĐại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành bài tậpnghiệp vụ cuối khoá

Em xin hân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa giáo dục Mầm non đã cungcấp kiến thức, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập Và toàn thể Ban giám hiệu,các cô giáo, các cháu trường mầm non Họa Mi - KonTum đã giúp em có thêm tưliệu hoàn thành bài tập này

Vì bước đầu nghiên cứu, kinh nghiệm và năng lực bản thân còn nhiều hạnchế nên bài tập này không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ýkiến đóng góp của thầy để đề tài được hoàn thiện hơn

KonTum, tháng 12 năm 2005

Nguyễn Thị Mai

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trẻ em là nguồn hạnh phúc lớn của mỗi gia đình ,là tương lai của quốc giadân tộc Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ em đã trở thành nghĩa vụ vàtrách nhiệm của gia đình và của toàn xã hội là mối quan tâm hàng đầu của nhiềungành khoa học ,của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều quốc gia trong đó có ViệtNam Ở Việt Nam hiện nay việc quan tâm ,chăm sóc giáo dục bảo vệ trẻ đã được

đề cập trong “Luật giáo dục ” và ở điều 19 có nêu : “Mục tiêu củo giáo dục mầmnon là giúp trẻ phát triển thể chất ,tình cảm ,tr í tuệ ,thẩm mỹ ,hình thành những y ế u

tố đầu tiên củ a nhân cách ,chuẩn b ị cho trẻ vào lớp 1phổ thông ”

Có thể nói rằng giáo dục mầm non là một thâu quan trọng của hệ thống giáoquốc dân ,là bậc học chuẩn bị tiên đề cho giáo dục phổ thông theo mục tiêu giáodục toàn diện ,nó sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển nhân cách conngười ,vậy vấn đề đặt ra trong lứa tuổi này là phải quan tâm đầy đủ đến giáo dụcthể chất ,trí tuệ và tinh thần cho trẻ như C.Mác đã từng khẳng định “ Việc kết hợpgiáo dục ,trí tuệ ,và thể chất không chỉ là một phương tiện tăng thêm sản xuất xãhội mà còn là phương tiện duy nhất để phát triển con người toàn diện ”

Ngành học mầm non trong những năm qua có những chuyển biến về chất lượngchăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ không những ở các thành phố lớn ,thị xã ,thịtrấn mà còn được nhân dân ở các vùng ven ,miền núi ,đặc biệt là vùng đồng bàodân tộc thiểu số cũng đang từng bước được củng cố Để thực hiện được vấn đề nàymột cách có hiệu quả nâng cao chất lượng giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ dân tộcthiểu số thì cần phải phát triển ngôn ngữ , bởi vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai củatrẻ ,sự phát triển ngôn ngữ là giúp trẻ tham gia trực tiếp vào các hoạt độngkhác ,vìngôn ngữ là phương tiện để giao lưu tình cảm ,về mối quan hệ và cách ứng xửtrong xã hội ,là sự tìm tòi ,khám phá thế giới tự nhiên ,cuộc sống xung quanhtrẻ Nhưng đối với người đồng bào dân tộc quả là một vấn đề bức xúc ,vận độngcon em đến tuổi ra lớp không ít khó khăn ,họ có lối sống biệt lập giữa các dân tộcnên ít có điều kiện giao tiếp ,cách suy nghĩ và khả năng tiếp thu còn hạn chế Thêmvào đó sự bất đồng về ngôn ngữ giữa cô và trẻ đã gây nhiều khó khăn trong việcgiao tiếp ,mặt khác họ chưa hiểu đúng đắn về vấn đề học tập ,con cái muốn họchành như thế nào cũng được ,và muốn ở nhà giữ em vì con cái đông Đối với trẻ thì

Trang 5

không muốn đi học vì đi học sẽ bị gò bó trong khuôn khổ ,trẻ thích theo cha mẹ lênrẫy để săn bắn chim ,chăn trâu ,chăn bò

Vì vậy để nâng cao mục tiêu phát triển ngôn ngữ bằng tiếng Việt cho trẻ mẫugiáo 5 tuổi dân tộc thiểu số qua môn làm quen chữ viết này thì người giáo viêntrước hết phải tạo ra cho trẻ hứng thú ham thích đi học ,và tạo cho trẻ hứng thú họctiếng Việt làm tiền đề để thích ứng với việc tập đọc ,tập viết cần tạo được mọi cơhội khuyến khích trẻ bộc lộ khả năng sáng tạo của cá nhân mình Cần có những bàithơ ,câu chuyện ,bài thơ tranh chữ to ,tranh minh hoạ ,có tác dụng thúc đẩy sự pháttriển bước đầu bằng ngôn ngữ đọc ,ngôn ngữ viết ở trẻ

Song việc chuẩn bị cho quá trình giao tiếp bằng tiếng Việt thông qua tất cả cácmôn học ,thông qua mọi hoạt động của trẻ ,việc giao tiếp diễn ra ở mọi lúc ,mọinơi cần phải tạo được môi trường cho trẻ hoạt động ,tổ chức tiết học Như vậy việctrẻ được hoà lẫn trong các hoạt động vui chơi tự nhiên đầy hứng thú ,như mộtchủ thể tích cực Thông qua các hoạt động trực tiếp với các sự vật ,hiện tượng ,quagiao tiếp xã hội mà trẻ làm quen được chữ cái

Trong những năm qua chuyên đề tăng cường kỹ năng giao tiếp tiếng Việt chohọc sinh mẫu giáo 5 tuổi vùng dân tộc thiểu số đã được sở ,phòng mở các lớp tậphuấn ,hội thảo ,tổ chức thi giáo giỏi các cấp ,làm và thi đồ dùng tự tạo phục vụ chochuyên đề này đạt kết quả cao Tuy nhiên việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc khôngphải là dễ ,mà còn rất nhiều phức tạp bởi vì thời gian trẻ tiếp xúc với cô trên lớpquá ít ,chỉ có một buổi ,thời gian ở nhà là chính ,trẻ lại giao tiếp bằng tiếng dântộc ,tiếng Việt không có ai để giao tiếp cho nên trẻ rất mau quên ,trẻ phát âmkhông chuẩn ,viết chữ không được

Từ những khó khăn như trên của trẻ học sinh mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc giaotiếp bằng tiếng Việt Để khắc phục được vấn đề này và giúp trẻ tiếp thu được kiếnthức mới ,học tiếng Việt một cách dễ dàng ,đồng thời tạo hứng thú cho trẻ đếntrường mạnh dạn ,tự tin và tích cực hoạt động ,nâng cao khả năng nhận thức chotrẻ ,vốn kinh nghiệm của trẻ được kích thích trẻ phát triển và tiếp xúc giao tiếp vớimọi người xung quanh một cách dễ dàng hơn ,đó chính là lý do tôi chọn đề tàinày

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Trang 6

Xây dựng biện pháp dạy tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết chohọc sinh người dân tộc thiểu số.

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy giao tiếp tiếng Việt trong hoạt động làmquen chữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số

- Nghiên cứu thực trạng công tác dạy tiếng Việt và tiếp thu của trẻ ở trườngmầm non Họa Mi

- Đề xuất những biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu sốhọc tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu tài liệu về cho trẻ làm quen chữ viết như qua sách báo, tranhảnh

- Quan sát hoạt động của trẻ làm quen chữ viết

- Điều tra bằng phiếu đối tượng là giáo viên về việc dạy làm quen chữ viếtcho trẻ

- Tìm tài liệu tổng kết, báo cáo về chuyên đề dạy làm quen chữ viết ở trẻmẫu giáo 5 tuổi người dân tộc

- Lấy ý kiến chuyên gia, giáo viên dạy giỏi, ý kiến đóng góp của các nhàquản lý chỉ đạo cấp trên về chuyên đề này

- Thực nghiệm về một số biện pháp

V ĐỐI TƯỢNG KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

- Khách thể: Là hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngườidân tộc thiểu số

- Đối tượng: Là những biện pháp để dạy làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo

5 tuổi người dân tộc thiểu số

VI GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Nếu xây dựng được các biện pháp tốt, phù hợp trong hoạt động làm quenchẽ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số thì chất lượng sẽ được nânglên giúp trẻ tự tin khi bước vào học lớp 1

VII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

- Hy vọng đề tài này thành công sẽ giúp cho nhà trường nâng cao chất lượngtrong hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số

và làm nền tảng cho trẻ vào lớp 1 phổ thông được dễ dàng

Trang 7

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:

Giáo dục mầm non là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài, ảnh hưởng to lớnđến sự phát triển giáo dục phổ thông, đây là bậc học đầu tiên là nền tảng để các emhọc lên các lớp trên, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 Góp phần phổ cập giáodục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS đến năm 2010 Đồng thời mục tiêucủa giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, pháttriển tình cảm - quan hệ xã hội

Song vị trí của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tương đối đặc biệt vì từ

sự phát triển ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào phát triển các lĩnh vực khác Bởingôn ngữ là phương tiện giao lưu tình cảm, phương tiện để trẻ nhận thức, khámphá tự nhiên

1.Cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ.

Ngôn ngữ:

Con người có khả năng truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho người khác và

sử dụng kinh nghiệm của người khác vào hoạt động của mình, làm cho mình cónhững khả năng to lớn, nhận thức và nắm vững được những lực lượng bản chất tựnhiên, xã hội và bản thân… chính là nhờ ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội - lịch sử Do sống và làm việc (hoạtđộng) cùng nhau nên con người có nhu cầu phải giao tiếp (thông báo) với nhau vànhận thức (khái quát hoá) hiện thực Trong quá trình lao động (hoạt động) cùngnhau hai quá trình giao tiếp và nhận thức đó không tách rời nhau: để lao động phảithông báo cho nhau về sự vật, hiện tượng đó vào trong một lớp, một nhóm các sựvật, hiện tượng nhất định, cùng loại Ngôn ngữ đã ra đời và thoả mãn được nhu cầuthống nhất các hoạt động đó1

2 Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức:

Từ những điều đã trình bày ở trên cho thấy khá rõ ngôn ngữ, lời nói (hoạtđộng lời nói) có vai trò rất to lớn trong đời sống tâm lý con người Ngôn ngữ làmột trong hai yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con người(F Anghen) Nói cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho các quá trình

Trang 8

tâm lý của con người có chất lượng khác hẳn với con vật Ngôn ngữ đã cố định lạinhững kinh nghiệm lịch sử xã hội lời người, nhờ đó thế hệ sau có được các sứcmạnh tinh thần của thế hệ trước Ngôn ngữ là hình thức tồn tại của ý thức, ngônngữ là "ý thức thực tại" của con người (C Mác)… Có thể nói ngôn ngữ liên quanđến tất cả các quá trình tâm lý của con người, là thành tố quan trọng nhất về mặtnội dung và cấu trúc của tâm lý người, đặc biệt là của các quá trình nhận thức.

2.1 Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức cảm tính

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảm tính,

nó làm cho các quá trình này ở người mang một chất lượng mới

a Đối với cảm giác.

Ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cảm giác, làm chocảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn Thí dụ, nghe những người khác suýtxoa "trời lạnh quá!" ta dễ cảm thấy lạnh hơn Khi cảm nhận các thuộc tính của sựvật, hiện tượng ở xung quanh (mầu sắc, âm thanh, mùi vị…) ta thường "gọi thầm"tên các thuộc tính đó ở trong đầu, điều này làm cho cảm giác của ta về thuộc tính

ấy mạnh hơn, chính xác hơn

b Đối với tri giác.

Ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn vàlàm cho những cái tri giác được trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn Thí

dụ việc tách đối tượng ra khỏi bối cảnh (quy luật về tính lựa chọn của tri giác),việc ây dựng một hình ảnh trọn vẹn về đối tượng tuỳ theo nhiệm vụ của tri giác(quy luật về tính trọn vẹn của tri giác) nếu được kèm theo bằng lời nói thầm haynói thành tiếng thì diễn biến sẽ nhanh hơn và kết quả sẽ rõ hơn

Vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình quan sát càng cần thiết hơn, vì quansát là tri giác tích cực, có chủ định và có mục đích (tức có ý thức) Tính có ý thức,

có mục đích, có chủ định đó được biểu đạt và điều khiển, điều chỉnh nhờ ngônngữ Không có ngôn ngữ thì tri giác của con người vẫn là tri giác của con vật Tính

có ý nghĩa trong tri giác của con người là một chất lượng mới làm cho tri giácngười khác xa tri giác của con vật Chất lượng mới này chỉ được hình thành vàđược biểu đạt thông qua ngôn ngữ

c Đối với trí nhớ:

Ngôn ngữ cũng có ảnh hưởng quan trọng đối với trí nhớ của con người Nótham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ, gắn chặt với các quá trình đó Thí dụ,việc ghi nhớ sẽ dễ dàng và có kết quả tốt hơn nếu ta nói lên thành lời điều cần ghinhớ Không có ngôn ngữ thì không thể thực hiện ghi nhớ có chủ định, sự ghi nhớ

Trang 9

có ý nghĩa và kể cả sự ghi nhớ máy móc (học thuộc lòng…) Ngôn ngữ là mộtphương tiện để ghi nhớ, là một hình thức để lưu giữ những kết quả cần nhớ Nhờngôn ngữ con người có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu

óc con người Chính bằng cách này con người lưu giữ và truyền đạt được kinhnghiệm của loài người cho thế hệ sau

2.2 Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức lý tính

a Đối với tư duy

Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với tư duy của con người Ngôn ngữ và tư duykhông có mối quan hệ song song Ngôn ngữ càng không phải là tư duy và ngượclại tư duy cũng không phải là ngôn ngữ Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ với

tư duy là ở chỗ tư duy dùng ngôn ngữ làm phương tiện, công cụ của tư duy, chínhnhờ điều này tư duy của con người khác về chất so với tư duy của con vật: conngười có tư duy trừu tượng Không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy cótrừu tượng và khái quát được Mối quan hệ không tách rời của tư duy và ngôn ngữđược thể hiện trong ý nghĩa của các từ Mỗi từ đều có quan hệ với một lớp sự vật,hiện tượng nhất định và gọi tên lớp sự vật, hiện tượng đó Khi gọi tên các sự vật, từtựa như thay thế chúng và nhờ đó tạo ra những điều kiện với các vật ấy kể cả khicác vật ấy vắng mặt (tức là thao tác với các vật thay thế, với ký hiệu từ ngữ hay làvới ngôn ngữ) Tuy nhiên từ không chỉ gọi tên sự vật, nhờ vật tư duy ngôn ngữtrừu tượng hoá được những thuộc tính không bản chất của sự vật và khái quát hoáđược những thuộc tính bản chất của nó Không có ngôn ngữ thì không thể có tưduy khái quát - logic được

Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của tư duy, đặc biệt khi giải quyếtcác nhiệm vụ khó khăn, phức tạp Lúc này lời nói bên trong có xu hướng chuyểntừng bộ phận thành lời nói thầm (khi nghĩ người ta hay nói lẩm nhẩm là vì thế).Nếu nhiệm vụ quá phức tạp thì ngôn ngữ bên trong chuyển thành lời nói bên ngoài.Người ta nói to lên thì thấy tư duy rõ ràng và thuận lợi hơn Những điều đó chứng

tỏ không có ngôn ngữ, đặc biệt không có lời nói bên trong thì ý nghĩ, tư tưởngkhông thể hình thành được, tức không thể tư duy trừu tượng được

b Đối với tưởng tượng

Ngôn ngữ cũng giữ một vai trò to lớn trong tưởng tượng Nó là phương tiện

để hình thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh mới của tưởng tượng

Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hoá các hình ảnh của tưởng tượng đang nảysinh, tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúng lại với nhau, cố địnhchúng lại bằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ Ngôn ngữ làm cho tưởng tượng

Trang 10

trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích cực, có kết quả và chất lượngcao.

2.3 Mục đích ý nghĩa của việc cho trẻ làm quen với chữ:

Mục đích của việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ nhằm giúp trẻ nhậnbiết được các mặt chữ để phát âm chính xác khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thúhọc tiếng mẹ đẻ, làm tiền đề cho trẻ thích ứng với việc tập đọc, tập viết ở lớp 1

Làm quen với chẽ không phải là một môn học độc lập, riêng biệt mà nó làmột phần, một bộ phận của việc phát triển ngôn ngữ trong chương trình chăm sóc,giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi Vì vậy nó có ý nghĩa trực tiếp trong việc phát triển ngônngữ cho trẻ Trước hết là rèn luyện kỹ năng nghe nói và giúp trẻ phân biệt đượccác âm khó, thông qua các chữ cái, ví dụ như: x - s; l - n Sau khi đã học các âmriêng lẻ cần giúp trẻ phân biệt được các âm trong từ, bằng cách đưa ra một chữ cáibất kỳ, yêu cầu trẻ gọi tên đồ vật có những âm đầu bằng chữ cái đã cho để trẻ phânbiệt

Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với chữ l - n Sau khi trẻ đã phân biệt được từng

âm riêng lẻ l và n, cô giáo yêu cầu trẻ tìm đồ vật có tên gọi các âm vừa học để trẻphân biệt như: cái làn, cái lược; cái nón, cái nơ

Thông qua việc làm quen với chữ, vốn từ của trẻ được nâng cao, bởi vì khilàm quen với chẽ, trẻ không chỉ làm quen với các chữ ở dạng tồn tại tự nhiên củachữ viết, mà các chữ đó được gắn vào các từ, thông qua các đối tượng cụ thể, các

từ đó có các âm đầu là các chữ cái đã học, nhằm rèn luyện cách phát âm cho trẻ.Cho trẻ làm quen với chữ viết còn giúp cho trẻ hiểu được mối quan hệ giữa ngônngữ nói với ngôn ngữ viết, trẻ hiểu thế nào là "đọc và viết" sau này ở trường phổthông Thông qua việc tìm kiếm các chữ cái khác nhau ở các vị trí khác nhau của

từ giúp trẻ phát triển óc quan sát, ghi nhớ, chú ý có chủ định

Cho trẻ làm quen với chẽ còn góp phần kích thích, phát triển tư duy, thể hiện

ở chỗ trẻ đã xác định được tính chất đặc điểm của chữ đó bằng cách tìm kiếm các

từ, tiếng thông qua các đồ vật Trẻ tìm đúng các âm theo các chữ mà trẻ đã nhận ra.Như vậy trẻ nhận ra chữ đó thông qua việc phát âm chữ không phải chỉ thông quamặt chữ Ví dụ qua trò chơi: "Tai ai thính", "Tìm chữ cho tranh".v.v… Đây là cơ

sở quan trọng để trẻ tiếp nhận tri thức của trường phổ thông

Trong khi cho trẻ làm quen với chữ và chữ cái, cần giúp trẻ một số kỹ năngcầm bút, cầm sách, mở từng trang sách, tư thế ngồi của một học sinh

Việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ thông qua các tiết học mà đối vớitrẻ mẫu giáo phải thông qua nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động tạo hình

Trang 11

(vẽ, xé, cắt dán các chữ cái) Đặc biệt là các trò chơi Những trò chơi phát triểngiác quan, phát triển các cơ nhỏ của ngón tay, là điều quan trọng để trẻ cầm bút saunày.

Cho trẻ làm quen với chữ phải tạo ra được hứng thú, ham muốn đi học, tránhlàm thay cho công việc của lớp 1 Thật sai lầm khi bắt trẻ tập viết vào một khuônkhổ nhất định, trong khi trẻ chưa chuẩn bị được những kỹ năng cần thiết trước khitập viết, như vẽ các nét giống với chữ viết được gọi là "tiền chữ viết" Còn tập viếtthực sự là nhiệm vụ của lớp 1 và chỉ đến lớp 1 trẻ mới có thể làm việc này mộtcách có kết quả Không nên dạy trước những gì mà trẻ phải học một cách bài bản ởphổ thông

2.4 Nội dung làm quen với chữ.

- Dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt

- Dạy trẻ nhận biết các chữ cái thông qua việc tri giác bằng âm thanh

- Dạy trẻ nhận biết các kiểu chữ (in thường, viết thường)

- Dạy trẻ cách liên hệ các chữ cái với các từ đã học và tìm ra các chẽ cái cótrong các từ đó

- Dạy trẻ làm quen với cách tách âm, ghép âm thông qua cho trẻ làm quenvới các vị trí của các âm trong từ

- Dạy trẻ làm quen với các kỹ năng ban đầu về tiền tập đọc, tiền tập viết:cách ngồi, cách cầm bút, mở sách, đọc…

2.5 Yêu cầu cần đạt:

- Trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt

- Phân biệt và phát âm đúng các âm khó như: l - n; b - p; s - x

- Phân biệt được các chữ gần giống nhau p - q; b - d - m - n thông qua việcphân tích các nét

- Trẻ hứng thú nhận dạng, tìm kiếm các chữ cái ở mọi lúc mọi nơi, thôngqua sách báo, tranh ảnh và các bảng chữ.v.v…

Dạy trẻ tập nói tiếng Việt là một nội dung hết sức quan trọng trong giáo dụcmầm non Song việc đó càng trở nên bức xúc, cấp thiết đối với trẻ mầm non vùngdân tộc thiểu số, để trẻ em người dân tộc thiểu số có thể hoà nhập và học tập được

bằng tiếng Việt cần chuẩn bị vốn tiếng Việt cho trẻ ngay từ tuổi mầm non (trích "Sơ

kết ba năm thực hiện chuyên đề: Tăng cường kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số từ năm 2001 - 2004 của Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh KonTum).

Trang 12

"Dạy trẻ nói tiếng Việt là nội dung quan trọng của giáo dục mầm non, thực

tế cho ta thấy rằng chất lượng học tập của học sinh tiểu học ở vùng này phụ thuộclớn vào trình độ tiếng Việt của các em

Đối với lứa tuổi mầm non trước khi vào lớp 1 trẻ chỉ được học ít tiếng Việt ởlớp mẫu giáo theo lối truyền khẩu Trong giao tiếp ở gia đình và cộng đồng trẻkhông có thói quen nói tiếng Việt nên vốn tiếng Việt của trẻ nghèo nàn, khả năng

sử dụng tiếng Việt rất hạn chế (tài liệu hướng dẫn tập nói tiếng Việt cho trẻ mẫugiáo vùng dân tộc thiểu số của Sở Giáo dục Đào tạo KonTum)

Đối với trẻ người dân tộc, việc học tiếng Việt được gọi là ngôn ngữ thứ hai.Quá trình học ngôn ngữ hai có những đặc điểm khác với quá trình ngôn ngữ mẹ đẻ

- Khác nhau ở trình độ xuất phát Nếu trẻ em người kinh học tiếng Việt trên

cơ sở vốn kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, thì trẻ người dân tộc bắt đầu họctiếng việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt

- Khác nhau về môi trường học tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ hai chủyếu là môi trường nhân tạo, bị thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trongphạm vi trường học môi trường tự tạo của giáo viên

- Khác nhau về cơ chế lĩnh hội "nếu như việc phát triển tiếng mẹ đẻ là bắtđầu từ việc sử dụng nói một cách bột phát, tự do và kết thúc bằng sự hiểu rõ ngônngữ và nắm được chúng thì sự phát triển tiếng ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ hai) bắtđầu từ sự hiểu rõ được ngôn ngữ và nắm nó một cách chủ định và kết thúc bằng lờinói có tự do và bột phát" (DX.Vưgotky) Ngoài ra, trong quá trình học ngôn ngữthứ hai còn bị ảnh hưởng bởi sự giao thoa ngôn ngữ, bởi những yếu tố tâm lý củangười học bởi những điều kiện xã hội

Tăng cường tiếng Việt cho trẻ ở trường lớp mầm non phải thông qua tất cảcác hoạt động và ở mọi lúc mọi nơi trong hoạt động làm quen chữ viết đòi hỏi trẻbiết đọc thì mới biết viết… và phát âm đúng, rõ ràng, chính xác các chữ cái Trẻbiết đọc, biết viết thì mới học được các môn học khác, mới tiếp thu được các kiếnthức mà cô giáo truyền thụ

Làm quen chữ viết cho trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số là một việc làmkhôn đơn giản mà vô cùng khó khăn, phức tạp Nó đòi hỏi, kéo theo các kiến thứccủa môn học khác vì trong chương trình học mầm non hiện nay theo phương phápđổi mới tích hợp không gò bó cứng nhắc như phương pháp học trước nên đòi hỏigiáo viên trước hết phải nắm bắt, hiểu được đặc điểm tâm sinh lý, tư tưởng, từng

độ tuổi… phải biết chắt lọc sáng tạo, nắm bắt vững chương trình đổi mới để cungcấp, dạy trẻ tiếng Việt một cách tự nhiên thông qua môn học làm quen chữ viết mà

Trang 13

trẻ hiểu và nói được tiếng Việt Dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ không phải là dạytheo lối truyền khẩu bắt chước mà dạy trẻ theo khoa học.

II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN CHỮ VIẾT CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG MẦM NON HỌA MI HIỆN NAY.

1 Vài nét về địa bàn trường.

Từ trung tâm thị xã KonTum, đi theo hướng Đông Nam đến trung tâm xãHoà Bình là 10Km, xã có diện tích là 8.900km2 với tổng số dân là 11.175 người,trong đó học sinh dân tộc là 150 trẻ thuộc dân tộc Ba-na và Gia-rai Toàn xã có 1trường mầm non với 12 lớp nằm rải rác ở 8 thôn làng

a Khó khăn:

- Đường xa đi lại rất khó khăn, đặc biệt về mùa mưa đường xuống các thônlàng trơn, lầy lội

- Đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, ngôn ngữ bất đồng

- Nhận thức của phụ huynh học sinh còn hạn chế chưa thấy được tầm quantrọng của việc học

- Đời sống kinh tế phụ huynh gặp nhiều khó khăn, ít có thời gian quan tâmđến con, em

- Cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện dạy học của trường còn thiếu, tạmbợ

- Các cháu đều học một buổi nên hạn chế nhiều về vốn tiếng Việt khi cháuđến trường lớp, giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp kiến thức, rèn kỹnăng để nâng cao chất lượng giảng dạy và vốn tiếng Việt cho trẻ

- Trình độ giáo viên không đồng đều

Trang 14

kiến của giáo viên dạy giỏi chuyên đề, qua báo cáo tổng kết của nhà trường… đãcho tôi thấy nổi lên những thực trạng sau:

Nhận thức của giáo viên về việc dạy tiếng Việt trong hoạt động làm quenchữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc Tổng số giáo viên trực tiếp đứnglớp giảng dạy là 12, trong đó 12 giáo viên dạy lớp mẫu giáo ghép 3 độ tuổi (3, 4, 5tuổi) học sinh là người dân tộc thiểu số chiếm 100% ở 12 lớp

Có 03 giáo viên là người dân tộc thiểu số, trình độ chuyên môn chưa đạtchuẩn và nói tiếng Việt cũng còn chưa thành thạo, tuổi đời cao ngoài 45 tuổi

Với đặc thù của trường lớp như vậy nên đa số giáo viên dạy lớp học sinh làngười dân tộc, nhận thức còn hạn chế và trông chờ ỷ lại chưa tự giác nêu cao tinhthần trách nhiệm trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và trong việc dạytrẻ tập nói tiếng Việt nói riêng

Giáo viên chưa thấy được tầm quan trọng cấp bách phải dạy tiếng Việt chotrẻ mẫu giáo 5 tuổi nên hàng ngày chỉ dạy qua loa, thiếu trực quan, đồ dùng bàisoạn rập khuôn, máy móc theo sách hướng dẫn Giáo viên người dân tộc thì quálạm dụng trong giờ dạy thường dùng tiếng dân tộc để truyền thụ kiến thức và ngạigiải thích từ khó bằng tiếng Việt cho trẻ…

Vì nhận thức của giáo viên như vậy nên ảnh hưởng đến kết quả dạy tăngcường tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số

**Về nhận thức của phụ huynh học sinh:

Phụ huynh học sinh đa số là người dân tộc Ba na, Gia Rai, cuộc sống rấtkhó khăn, trình độ dân trí thấp, ít giao lưu, đông con Nhiều gia đình không đủ cơm

ăn áo mặc hàng ngày vào rừng kiếm củi, bẻ măng, làm rẫy xa làng bản Chính vìvậy họ chưa thật sự quan tâm đến học hành của con cái muốn đến lớp hay khôngcũng được, còn nhiều phụ huynh khi đi làm còn đưa con đi theo và ở lại rẫy đếnvài ngày, vài tuần mới về vì thế nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác duy trì sĩ

số học sinh dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ bị hạn chế rất nhiều

**Về nhận thức của học sinh

Ở lứa tuổi này trẻ người dân tộc chưa biết được tâm quan trọng của việc đihọc mà trẻ thích đến trường bởi vì có đồ chơi, có nhiều bạn đông vui, được cô dạymúa hát Tuỳ thuộc vào tính nết của các cháu mặc dù được cô giáo động viên, gầngũi nhắc nhở nhưng cháu vẫn không hoạt động chỉ ngồi im Nhưng đa số các cháu

đã biết thực hiện theo yêu cầu của cô với sự giải thích giúp đỡ nhiều nên trong tổ

Trang 15

chức, hoạt động làm quen chữ viết giáo viên phải tích cực dùng nhiều biện phápsinh động để thu hút trẻ hứng thú tham gia để phát triển thêm ngôn ngữ cho trẻ.

** Việc làm của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động

Theo chỉ đạo của ngành học mầm non thực hiện theo hướng đổi mới tíchhợp, lồng ghép các môn học phải sáng tạo, linh hoạt phù hợp với nhận thức từnglứa tuổi, đối tượng học sinh

Trong hoạt động làm quen chữ viết theo phân phối chương trình 26 tuần dạytrong 3 tiết

Tiết 1: làm quen chữ cái

Tiết 2: trò chơi chữ cái

Tiết 3: tập tô chữ cái

Hết năm học yêu cầu trẻ phải nhận biết, phát âm

Viết được 29 chữ cái o, ô, ơ, a , ă, â, e, ê, ư… và viết được tên trẻ, sao chép

từ

Thực tế giáo viên khi lên lớp về bài soạn còn cứng nhắc, rập khuôn máymóc, cung cấp kiến thức chưa đầy đủ, còn làm thay trẻ Có tích hợp các môn họcnhưng chưa phù hợp… Về đồ dùng trực quan tranh ảnh, đồ dùng, thẻ chữ còn thiếucho cô và trẻ

Giáo viên lên lớp chưa nhiệt tình giảng dạy mang tính chất đối phó Đối vớitrẻ chưa gần gũi quan tâm, có khi còn cắt xén chương trình giảng dạy

Tuy nhiên cũng có một số giáo viên cũng rất nhiệt tình năng nổ, gần gũithương yêu trẻ, đã biết vận dụng phương pháp giảng dạy một cách linh hoạt Ởnhững lớp này chất lượng trẻ đạt cao hơn, khả năng sử dụng về tiếng Việt của trẻphát triển hơn

Giáo viên tổ chức các hoạt động làm quen chữ viết thông qua hoạt động dạyhọc Hầu hết trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc không có đủ điều kiện nhưng đồdùng đồ chơi ở trong gia đình, ở nhà lại thường chơi tự do, không ai chỉ bảo vàthường sử dụng tiếng địa phương để giao tiếp với những bạn cùng trang lứa và vớingười lớn trong thôn bản Chính vì vậy tất cả những kiến thức về vốn tiếng Việt

cô dạy cho trẻ ở trên lớp, về nhà hầu như mai một hết mặc dù cô giáo đã cố gắngdạy trẻ phát âm, luyện đọc và sử dụng các mẫu câu để cùng cấp, củng cố vốn từcho trẻ

Hoạt động làm quen chữ viết giáo viên dạy tích hợp các môn học như mônlàm quen văn học, cô dạy đọc thơ, kể chuyện, câu đố qua đó cô cung cấp thêm vốn

Trang 16

từ cho trẻ Nhưng giáo viên chưa đi sâu rèn luyện sửa sai cho trẻ kịp thời như: rènphát triển ngôn ngữ luyện đọc qua câu đồng dao.

"Bà còng đi chợ trời mưa

Cái tôm cái tép đi đưa bà còng

Tiền bà trong túi rơi ra

Tép tôm nhặt được trả bà mua rau"

Thường tiếng dân tộc khi nó là không có dấu nên khi luyện trẻ đọc với tiếng

"tôm" thì đọc là "tom", "túi" đọc là "tui", "trả" đọc là "tra"…

Hay qua môn học tạo hình cô cho trẻ tô màu chữ cái in rỗng, nối chữ cái với

từ, tiếng, tô màu tranh… Qua đó cô phải cho trẻ nhận biết, làm quen; hình vẽ haymẫu tô nhưng cô chỉ nói qua, không cho trẻ khắc sâu nhận biết màu tô nên trẻ thích

tô màu nào thì tô màu đó Không biết được tô màu hình bông hoa phải tô cánh hoamàu đỏ, hay vàng… mà trẻ sẽ tô bất cứ màu gì, có khi là màu đen, màu xanh… vìvậy, ngôn ngữ tiếng Việt trẻ hạn chế ảnh hưởng nhiều đến nhận thức của trẻ

Còn qua hoạt động mọi lúc mọi nơi hay đi dạo, cô giáo cũng đã tổ chứcđược nhưng chưa chú ý nên trẻ nói bằng tiếng Việt Để trẻ trò chuyện với nhauhoặc nhắc cho bạn bằng tiếng dân tộc

Trong tất cả các họat động cô giáo cần tăng cường dạy trẻ nói bằng tiếngViệt bằng nhiều hình thức lặp đi, lặp lại nhiều lần để luyện tập cho trẻ và qua đómới củng cố được kiến thức cho trẻ lâu bền hơn

Hay thông qua hoạt động vui chơi cô tổ chức trò chơi nhưng chưa được linhhoạt vì đồ chơi còn ít chưa phong phú đa dạng, cách thức tổ chức của cô cứngnhắc, chưa phát huy hết khả năng tích cực của trẻ

Ví dụ: Trò chơi tìm chữ theo yêu cầu của cô ở những tiết đầu cô phải hướngdẫn cách chơi, luật chơi cho trẻ biết cách chơi với từ khó cô phải giải thích bằngtiếng dân tộc để trẻ hiểu cách chơi và chơi được, nhưng những tiết sau cô chưanâng cao yêu cầu đặt câu hỏi gợi mở để trẻ nói được cách chơi mà cô làm thay trẻ

cô nói hết như vậy, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ Đốivới trẻ học mà chơi, chơi mà học, đòi hỏi cô giáo phải tìm tòi sáng tạo những tròchơi phù hợp với nhận thức của trẻ và tổ chức linh hoạt kích thích trẻ hứng thútham gia chơi Qua đó vừa củng cố được kiến thức, phát huy tinh thần tích cực chotrẻ, rèn luyện tính nhanh nhẹn, chú ý, tinh thần kỷ luật như thông qua trò chơi

"Hoa nào quả ấy" thì những cháu có hoa mang chữ a sẽ phải nhận biết tìm đúngbạn có quả mang chữ cái a Hay những cháu có hoa, quả mang chữ cái ă sẽ tìmnhau và đứng về thành từng cặp hoa nào quả ấy Khi trẻ đã tìm đúng hoa hay quả

Trang 17

có cùng chữ cái cô sẽ đến và hỏi từng trẻ tên hoa, tên quả cùng chữ cái gì, yêu cầutrẻ trả lời đúng, rõ ràng.

Ví dụ: Cô giáo hỏi bông hoa của cháu có chữ caí gì, trẻ phải trả lời: thưa côbông hoa của cháu có chữ cái a

Nếu trẻ trả lời chưa đúng, rõ ràng, nói chưa đủ câu cô giáo phải sửa sai,luyện trẻ nói lại và động viên trẻ kịp thời

Qua nhiều lần chơi, nhiều trò chơi cô giáo chú ý cung cấp thêm từ, mẫu câu

để trẻ có thêm vốn ngôn ngữ tiếng Việt

Hoạt động làm quen chữ viết qua khảo sát, điều tra, tổng hợp báo cáo vềchuyên đề làm quen chữ viết ở trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số ở trường mầm nonHoạ Mi Tôi nhận thấy rằng giáo viên đã nhiệt tình yêu nghề, tích cực trong giảngdạy cung cấp kiến thức, kết hợp rèn giao tiếp tiếng Việt cho trẻ và đã tích hợpđược các môn học, thực hiện theo phương pháp đổi mới truyền thụ đủ kiến thức bộmôn thông qua ba tiết học: 1 Làm quen chẽ viết; 2 Trò chơi chữ viết; 3 Tập tôchữ viết qua khảo sát chất lượng cuối năm

Tôi tiến hành đánh giá hiệu quả chất lượng tiếng Việt qua hoạt động làmquen chữ viết theo 3 tiêu chí:

Tiêu chí 1: Nhận biết - Phát âm đúng chữ cái đã họcTiêu chí 2: Nhận biết, phát âm chính xác chữ cái qua trò chơiTiêu chí 3: Tô - viết đúng chữ cái và viết được tên trẻ

Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 3 mức độ:

Mức độ 1: 3 điểmMức độ 2: 2 điểmMức độ 3: 1 điểm

Cụ thể:

* Tiêu chí 1: Nhận biết, phát âm đúng chữ cái đã học

+ Mức độ 1: Trẻ nhận biết chính xác, phát âm tốt các chữ cái đã học

+ Mức độ 2: Nhận biết, phát âm đúng chữ cái 2/3 chữ cái đã học

+ Mức độ 3: Trẻ nhận biết và phát âm được 1/3 chữ cái đã học

* Tiêu chí 2: Trẻ nhận biết phát âm chính xác chữ cái qua các trò chơi

+ Mức độ 1: Trẻ phát âm đúng - nhanh các chữ cái

+ Mức độ 2: Trẻ phát âm đúng nhưng với sự giúp đỡ của cô giáo

+ Mức độ 3: Trẻ phát âm chậm các chữ cái với sự gợi ý nhiều của cô giáo

Trang 18

* Tiêu chí 3: Trẻ biết cách cầm bút, ngồi đúng tư thế tô viết được các chữcái đã học và viết được tên trẻ.

+ Mức độ 1: Trẻ tô - viết đúng - đẹp các chữ cái theo yêu cầu

+ Mức độ 2: Trẻ tô - viết được tên trẻ, chữ cái theo yêu cầu

+ Mức độ 3: Trẻ tô - viết được 1/3 chữ cái với sự gợi ý của cô giáo

Dựa trên số điểm mà trẻ đạt được ở ba tiêu chí trên tôi đánh giá hiệu quảtiếng Việt theo 3 loại:

- Loại tốt: từ 7 - 9 điểm

- Loại trung bình: từ 5 - 6 điểm

- Loại yếu: từ 4 điểm trở xuống

Tôi tiến hành khảo sát số trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số ở hai lớp mẫu giáoLa-Cho, mẫu giáo Kép-Ram với số trẻ là 95 cháu Kết quả đạt như sau:

- Loại tốt có: 41/95 trẻ chiếm 43,16%

- Loại trung bình: 46/95 trẻ chiếm 48,42%

- Loại yếu: 8/95 trẻ chiếm 8,42%

Điểm trung bình của trẻ đạt X = 6

Kết quả này được thể hiện quả bảng 1

Bảng 1 Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ, tiếng Việt ở trẻ 5 tuổi ngườidân tộc thiểu số ở trường mầm non Hoạ Mi

LoạiKết quả

3.Hiệu quả hoạt động

Có sự nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực của giáo viên trong việc thực hiện chỉ tiêu,nhiệm vụ, kế hoạch năm học

Có sự phối hợp giữa giáo viên với phụ huynh học sinh và các ban ngànhđoàn thể để vận động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số

Trẻ đã mạnh dạn hơn trong giao tiếp chủ động tích cực tham gia vào cáchoạt động, có thói quen, nề nếp và kết quả đạt được Nhiều trẻ 5 tuổi đã nhận biết

Trang 19

và phát âm đúng các chữ cái, viết được chữ cái theo yêu cầu và viết được tên trẻ.Nghe - hiểu làm theo lời chỉ dẫn của giáo viên.

4 Hạn chế:

Nguyên nhân hạn chế:

- Tuy đã có sự cố gắng rất nhiều của giáo viên để dạy và rèn luyện vốn từtiếng Việt cho trẻ nhưng vẫn còn nhiều học sinh chưa nhận biết phát âm đúng chữcái và viết được theo yêu cầu của giáo viên

Vì đối với những trẻ này hay theo cha mẹ đi lên rẫy, đi học không đều nênquá trình học tập kiến thức bị ngắt quãng có cháu vẫn còn nhút nhát trong giaotiếp, ngại tiếp xúc với người lạ

- Giáo viên còn hạn chế trong việc làm và sử dụng đồ dùng đồ chơi tự tạo.+ Phục vụ môn học, đồ dùng, đồ chơi sắp xếp ở các góc còn ít, phòng họccòn thiếu và nhỏ nên bố trí các góc cũng chưa phù hợp

+ Giáo viên cũng chưa thật sự cố gắng nhiệt tình

+ Giáo án khi soạn còn sai lỗi chính tả, dùng từ, câu văn chưa chính xác.Giờ dạy còn rập khuôn chưa linh hoạt, sáng tạo, cung cấp kiến thức chưa đầy đủ,chưa sâu, còn làm thay trẻ Hạn chế phát huy tính tích cực ở trẻ

- Giáo viên người dân tộc thiểu số đều đã lớn tuổi, trình độ nhận thức vềchuyên môn hạn chế Trong giờ dạy và trong giao tiếp với trẻ vẫn còn lạm dụngtiếng mẹ đẻ, nhiều khi chưa triệt để sử dụng đồ dùng, tranh ảnh minh hoạ để giúptrẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt, chưa rèn kỹ năng cho trẻ

- Điều kiện kinh tế phụ huynh rất khó khăn, trình độ dân trí thấp chưa thật sựquan tâm đến việc học tập của trẻ, nhiều phụ huynh còn đưa con lên rẫy vài ngàymới về

Trong cuộc sống hàng ngày phụ huynh có thói quen giao tiếp với trẻ bằngngôn ngữ địa phương, nên việc nói tiếng Việt của trẻ được học ở trường lớp cũng

bị lãng quên

Đề xuất:

Qua năm học kết quả về chất lượng tiếng Việt ở trẻ mẫu giáo 5 tuổi ngườidân tộc thiểu số qua hoạt động làm quen chữ viết còn chưa cao, sẽ ảnh hưởng việchọc tập ở lớp 1 phổ thông của các em nên tôi mong muốn cùng với đồng nghiệpnghiên cứu tìm những biện pháp thiết thực, khả quan đưa vào thực tế giảng dạy đểnâng cao chất lượng làm tăng cường tiếng Việt qua hoạt động làm quen chữ viếtcho trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số

Trang 20

III NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN CHỮ VIẾT.

1 Xây dựng biện pháp

Mục đích xây dựng những biện pháp tăng cường giao tiếp tiếng Việt quahoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số ởtrường mầm non Hoạ Mi- KonTum Đồng thòi kiêm nghiệm tính đúng đắn và khảthi của giả thuyết khoa học mà đề tài đã đặt ra

1.1 Mỗi giáo viên phải có tinh thần cầu tiến, nêu cao tinh thần trách nhiệm,

có tâm huyết với nghề

1.2 Phải vận động học sinh 5 tuổi người dân tộc thiểu số ra lớp 100% vàduy trì được sĩ số từ đầu đến cuối năm học bằng nhiều biện pháp như kết hợp vớiban nhân dân các thôn làng, các đoàn thể… Giáo viên làm tốt công tác quần chúng,vận động các bậc phụ huynh không đưa con lên nương rẫy, luôn làm tốt công tácchăm sóc giáo dục trẻ phối hợp với nhà trường tổ chức các ngày tết, lễ Vận độngquyên góp quần áo, đồ dùng để động viên tinh thần giúp các em ham thích đến lớp

1.3 Giáo viên phải tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,năng lực công tác, thực hiện đúng thời gian biểu, bài soạn đầy đủ sáng tạo, có chấtlượng Sưu tầm sáng tác những bài hát, câu đố, thơ chuyện, lam đồ dùng dạy học,

đồ chơi, tranh ảnh, trang trí lớp phù hợp với từng chủ điểm và mang bản sắc dântộc, gần gũi với trẻ

Bằng nhiều hình thức giáo viên cung cấp kiến thức, rèn luyện phát triểnngôn ngữ cho trẻ một cách nhẹ nhàng, tuỳ từng đối tượng học sinh có phương phápdạy thích hợp

1.4 Đối với giáo viên là người dân tộc thiểu số không được lạm dụng tiếng

Trang 21

cái có thể đọc dòng chữ một cách rõ ràng để cho trẻ làm quen, lần sau trẻ sẽ đọcđúng như vậy (trẻ đọc theo cách riêng của mình).

- Góc "thư viện" với những quyển truyện tranh, sách tranh để trẻ tự "đọc".Thậm chí có thể vẽ theo các chữ đó, đặc biệt nên chọn những sách tranh đen trắng

để cho trẻ tô màu

- Khi trẻ "đọc" cô giáo hướng dẫn cách giở sách đọc từng trang một và bắtđầu đọc từ trang bìa, khi cô đọc cho trẻ nghe hướng trẻ chú ý vào từng bức tranh(mỗi trẻ có 1 quyển sách giống cô để trẻ theo dõi) sau đó trẻ đọc theo hiểu biết củamình Sau khi trẻ đọc cô gợi ý cho trẻ tìm chữ cái đã học trên 1 trang sách hoặcdùng bút chì khoanh tròn chữ cái và đếm có bao nhiêu chữ giống nhau

1.7 Kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội

Đây là ba môi trường trẻ hàng ngày hoạt động ở trường lớp, cô giáo, quantâm rèn luyện, cung cấp kiến thức cho trẻ Trẻ tiếp thu lĩnh hội và phản ánh lại quamọi hoạt động Nên khi về nhà phụ huynh cần phải nắm được hôm nay trẻ họcnhững gì để kịp thời củng cố, luyện lại cho trẻ và ra xã hội tất cả mọi người đềuphải quan tâm thấy được tầm quan trọng của ngành học mầm non cần phải pháttriển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ vì xã hội còn là môi trường để trẻ thể hiện mình

Vì vậy trong trường lớp cô giáo phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, mỗi lớpđều phải có bảng tuyên truyền cho các bậc phụ huynh

1.8 Thông qua hoạt động tạo hình

Để chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết tốt sau này môn tạo hình góp một phầnkhông nhỏ trong việc cho trẻ làm quen với chữ Thông qua cơ quan cảm giác và thịgiác sự phối hợp mắt - tay là kỹ năng quan trọng trong việc cho trẻ tập viết, cho trẻchơi với vở, bút, phấn Chơi với các nét chữ trước khi cho trẻ tập tô, chỉ cần trẻ tậpviết được liền mạch các nét chữ sau đó trang trí thành hình mà trẻ thích Như vậytrẻ sử dụng bút vào tập viết mà không biết mình đang tập viết

Ví dụ "trò chơi vẽ nét chữ" sau khi trẻ vẽ các nét thẳng, nét cong, nét xiênliền một mạch Tiếp theo trẻ vẽ thêm các nét phụ tạo thành hình vẽ các con vật haytrang trí thành hình em bé, cái ô Ngoài ra cô giáo cho trẻ nhận biết các nét chữbằng cách cắt, xén, vẽ trên không đường nét của các chữ…

1.9 Thông qua việc phát triển ngôn ngữ

Trẻ làm quen với chữ thông qua việc phát âm đúng các tiếng, từ nếu cho trẻlàm quen chữ bằng cách nhận mặt chữ thì trẻ mới cảm nhận ở mức cảm tính màcần phải cho trẻ làm quen với chữ thông qua việc rèn luyện phát âm qua phát âmcác từ, tiếng có các chữ cái, giúp trẻ phát triển khả năng bắt âm Ví dụ: trò chơi "tai

Trang 22

ai bịnh" khi nghe âm thanh trẻ biết được đó là chữ gì? ví dụ "con sóc" trẻ nghĩ đếnchữ S.

1.10 Thông qua hoạt động vui chơi

Bởi vì nó có thể thay thế được toàn bộ hoạt động của cô và trẻ trong tiết họccho trẻ làm quen với chữ thông qua các trò chơi giúp trẻ củng cố, tiếp thu kiếnthức, kỹ năng một cách nhẹ nhàng, trẻ có cảm giác chơi nhưng thực chất là học

Ví dụ: Trò chơi xếp chữ bằng hạt Trẻ sẽ xếp hạt thành chữ cái theo yêu cầuhoặc xếp chữ trẻ thích…

Hay trò chơi tìm chữ cái theo yêu cầu, trẻ sẽ phải nhận biết nhanh, tìm đúngchữ cái và phát âm đúng chữ đó

* Có nhiều hình thức cho trẻ làm quen với chữ có hiệu quả như thông quahoạt động làm quen với toán, làm quen văn học… với các hình thức cơ bản giúptrẻ làm quen với chữ thông qua các hoạt động tích cực bằng các giác quan và thểhiện theo hướng tích hợp các nội dung trong quá trình làm quen với chữ

1.11 Thông qua tổ chức "tiết học"

Ở lớp mẫu giáo 5 tuổi thời gian 1 tiết học là 25 phút, trong đó trẻ hoạt động

có định hướng rõ rệt dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở đây trẻ được hướng vàoviệc làm quen với chữ viết

Dạy trẻ nhận biết chữ cái đúng, nhận biết chữ cái thông qua việc tri giácbằng âm thanh, nhận biết các kiểu chữ in thường, viết thường Dạy trẻ biết cáchliên hệ các chữ cái với các từ đã học và tìm ra các chữ cái có trong các từ đó

Dạy trẻ làm quen với cách tách âm, ghép âm thông qua cho trẻ làm quen vớicác vị trí của các âm trong từ

Dạy trẻ làm quen với các kỹ năng ban đầu về tiền tập đọc, tiền tập viết, cáchngồi, cách cầm bút, mở sách, đọc

Tiết 1: Môn: Làm quen chữ viết

Đề tài: Làm quen nhóm chữ u, ư

I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU:

- Cháu nhận biết được nhóm chữ u, ư qua từ tiếng và qua các trò chơi

- Rèn kỹ năng quan sát, chú ý - ghi nhớ - phát triển tư duy

- Giúp trẻ phát âm đúng, chính xác chữ cái u, ư, rõ ràng, trọn câu

- Giáo dục cháu ham thích học chữ cái

II- CHUẨN BỊ:

- Tranh vẽ có chứa chữ cái u, ư

Trang 23

- Thẻ từ rời của cô, của cháu

- Chữ in thường, viết thường

- Máy cát xét

- Vở bé tập tô

III- TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG:

- Cô cháu vận động bài "Bác đưa thư vui tính"

- Các con ơi cô và các con vừa vận động bài hát

nói về ai?

à, bác đưa thư là người đi nhận thư ở bưu điện về

và mang tới tận nhà cho mọi người đấy các con ạ

Bác rất vất vả, đó cũng là 1 nghề trong xã hội mỗi

người đều có 1 nghề để làm việc Không những

bác đưa thư mà còn có cả chú dưa thư nữa đấy

Cô cho cháu xem "chú đưa thư" tương ứng với

tranh cô có từ chú đưa thư Cháu xem trong từ chú

đưa thư có mấy tiếng, và có chữ cái nào đã học

cháu lên chỉ, phát âm

- Trong từ chú đưa thư có 2 chữ cái giống nhau,

cháu lấy…

- Cô đưa lên 2 chữ ư này giống nhau, cô cất 1 chữ

còn lại 1 chữ, bây giờ cháu nào lên lấy 1 chữ mà

giống chữ cô cầm trên tay mà không có dấu móc

- Giờ học hôm nay cô cho lớp mình làm quen

nhóm chữ u, ư

Cô giới thiệu dây là chữ u, chữ u gồm có mấy

nét, đây là chữ u thường, u viết thường; cô gắn 1

số chữ u nhỏ trên bảng cho cháu đọc

- Đóan xem - trên bảng cô có chữ gì?

- Chữ u, ư giống nhau và khác nhau ở chỗ nào?

- Các con ơi bây gìơ cùng chơi với cô 1 trò chơi

nào, đó là trò chơi ghép chữ u, ư, cô mời các con

hãy đưa những chiếc rổ ở phía sau ra trước mặt

Cháu làm theo côBác đưa thư

3 tiếngchữ a

2 chữ ư, 2 chữ h

Cháu lấy chữ uLớp đồng thanh u, ư

2 nét, 1 nét móc thẳnglớp phát âm, tổ, cá nhân(xem gì)?

Đều có nét móc và nét thẳngKhác nhau ư có thêm dấu móc

- Cháu đưa rổ ra phía trước

Ngày đăng: 16/10/2022, 08:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Kết quả khảo sát ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số qua hoạt động làm quen chữ viết ở hai nhóm đối chứng và thực nghiệm - de tai tang cuong tieng viet cho tre 5t nguoi dan toc thieu so mon lqvcc
Bảng 2. Kết quả khảo sát ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số qua hoạt động làm quen chữ viết ở hai nhóm đối chứng và thực nghiệm (Trang 30)
Bảng   4.   Kiểm   định   trung   bình   cộng   giữa   hai   nhóm   đối   chứng   và   thực nghiệm (sau thực nghiệm) - de tai tang cuong tieng viet cho tre 5t nguoi dan toc thieu so mon lqvcc
ng 4. Kiểm định trung bình cộng giữa hai nhóm đối chứng và thực nghiệm (sau thực nghiệm) (Trang 32)
Bảng 3. Hiệu qủa vốn tiếng Việt của trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số qua hoạt động  làm quen  chữ  viết ở  2 nhóm  đối  chứng  và thực  nghiệm (sau  thực nghiệm). - de tai tang cuong tieng viet cho tre 5t nguoi dan toc thieu so mon lqvcc
Bảng 3. Hiệu qủa vốn tiếng Việt của trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số qua hoạt động làm quen chữ viết ở 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm (sau thực nghiệm) (Trang 32)
Bảng 6. Bảng kiểm định trung bình cộng của nhóm thực nghiệm (trước và sau thực nghiệm) - de tai tang cuong tieng viet cho tre 5t nguoi dan toc thieu so mon lqvcc
Bảng 6. Bảng kiểm định trung bình cộng của nhóm thực nghiệm (trước và sau thực nghiệm) (Trang 34)
Bảng 5. So sánh hi u qu  ngôn ng  ti ng Vi t qua ho t  ệu quả ngôn ngữ tiếng Việt qua hoạt động làm quen ả ngôn ngữ tiếng Việt qua hoạt động làm quen ữ tiếng Việt qua hoạt động làm quen ếng Việt qua hoạt động làm quen ệu quả ngôn ngữ tiếng Việt qua hoạt đ - de tai tang cuong tieng viet cho tre 5t nguoi dan toc thieu so mon lqvcc
Bảng 5. So sánh hi u qu ngôn ng ti ng Vi t qua ho t ệu quả ngôn ngữ tiếng Việt qua hoạt động làm quen ả ngôn ngữ tiếng Việt qua hoạt động làm quen ữ tiếng Việt qua hoạt động làm quen ếng Việt qua hoạt động làm quen ệu quả ngôn ngữ tiếng Việt qua hoạt đ (Trang 34)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w