Để bảo hộ và phát triển nền sản xuất trong nước, bài tiểu luận này em xin trình bày một số vụ việc về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đố
Trang 1NGÔ BẢO QUỲNH TRÂMMSSV: 1853801013184 LỚP : HS43B
Trang 2Tóm tắt
Xu thế toàn cầu hóa ngày càng diễn ra sâu sắc, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học hiện đại, công nghệ tiên tiến đã tạo ra những thách thức lớn đối với các nước cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường toàn cầu Trở thành mối quan tâm hàng đầu trong mối quan hệ kinh tế hội nhập và là mối lo ngại sự phát triển thị trường mua bán của các Quốc gia Để giải quyết các vấn đề trên, 164 nước trên thế giới đã tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (tiếng anh: World Trade Organization, viết tắt WTO) nhằm giảm thiểu, loại bỏ các rào cản thương mại
để tiến đến tự do thương mại Tổ chức này thành lập có các chức năng như giải quyết các tranh chấp về thương mại, quản lý việc thực hiện các hiệp định của WTO, giám sát các chính sách thương mại, đàm phán về thương mại, trợ giúp cho các nước đang phát triển, hợp tác với các tổ chức quốc tế khác Trong đó, giải quyết tranh chấp thương mại là một trong những hoạt động cốt lõi của WTO, tranh chấp phát sinh khi một quốc gia thành viên cho rằng quốc gia thành viên khác đang vi phạm một thỏa thuận hoặc cam kết mà quốc gia đó đã thực hiện trong WTO Kể từ năm 1995, đã có 607 vụ tranh chấp được đưa ra WTO và hơn 350 phán quyết đã được ban hành 1 Từ khi gia nhập đến thời điểm hiện tại, thị trường Việt Nam đã có những mặt tích cực do tự do hóa thương mại đem lại, bên cạnh đó cũng có những mặt tiêu cực gây khó khăn về việc cạnh tranh thị trường hàng hóa, điển hình là nước ta đã có hơn 100 vụ kiện về việc điều tra và áp thuế chống bán phá giá liên quan đến các doanh nghiệp Việt Nam.
Để bảo hộ và phát triển nền sản xuất trong nước, bài tiểu luận này em xin trình bày một số vụ việc về bán phá giá hàng hóa và tình hình về các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với Việt Nam Từ đó, đưa ra những đề xuất, giải pháp để chủ động phòng ngừa và tích cực đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: bán phá giá, điều tra và áp thuế chống bán phá giá, doanh nghiệp Việt Nam, WTO, ADA.
Nội dung bài viết
1 World Trade Organization, Dispute settlement: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_e.htm
Trang 31 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU TRA VÀ ÁP
THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1 Khái quát về bán phá giá và chống bán phá giá
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về bán phá giá
Khái niệm: Theo Điều VI GATT 1994 & Hiệp định ADA quy định rằng
“một sản phẩm bị coi là bán phá giá khi giá xuất khẩu của sản phẩm đó thấp hơngiá có thể so sánh được (giá trị thông thường) của sản phẩm tương tự được tiêudung tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường.2
Đặc điểm:
- Trong quy định trên, có hai yếu tố quan trọng để xác định được việc phágiá đó là giá xuất khẩu – giá bán tại thị trường nước nhập khẩu của sản phẩmtương tự, và giá trị thông thường – giá bán tại nước xuất khẩu được xác địnhtheo những tiêu chí đánh giá nhất định của các nước
- Trường hợp “không trong điều kiện thương mại thông thường” có nghĩa
là không tồn tại mức giá nội địa, mức giá xuất khẩu không đáng tin cậy (khôngđược bán cho một người nhập khẩu độc lập) Thì áp dụng Điều VI:1 GATT,Điều 2.2 ADA được quy định “giá trị thông thường sẽ được tính trên giá bán tạithị trường nước thứ ba hoặc giá trị cấu thành hợp lý của hàng hóa.”3
- Nếu như giá xuất khẩu nhỏ hơn giá thông thường của nước nhập khẩuhoặc nước thứ ba sẽ xảy ra hiện tượng phá giá, làm mất cân đối thị trường trongnước của các nước nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ có xu hướng dùng hàng có giá
Trang 4thành thấp hơn để tiết kiệm chi phí Dẫn đến việc các mặt hàng tương tự sản xuấttrong nước phải giảm giá theo, mà theo chúng ta đã biết, tùy từng vùng lãnh thổ,khu vực điều kiện về nhân lực, mức lương sẽ khác nhau, từ đó dẫn đến nhiều hệlụy, mất cân đối trong nền kinh tế thị trường của nước nhập khẩu.
=> Trong WTO, đây được xem là “hành vi cạnh tranh không lành mạnh”của các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài đối với ngành sản xuất nội địa nướcnhập khẩu Và các “vụ kiện chống bán phá giá” tiếp đó là các biện pháp chốngbán phá giá (kết quả của các vụ kiện) là một hình thức để hạn chế hành vi này.4
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm về chống bán phá giá
Khái niệm: Chống bán phá giá là tổng hợp những biện pháp và cách thứcnhằm chống lại các hành vi bán phá giá vào thị trường của một nước hay vùnglãnh thổ Khi các hành vi bán phá giá thực hiện xảy ra thiệt hại cho các nướcnhập khẩu thì tất yếu sẽ có các biện pháp mà nước nhập khẩu đặt ra nhằm ngăncản sự vi phạm đó
định và nguyên tắc WTO [truy cập:
https://trungtamwto.vn/upload/files/wto/4-cac-hiep-dinh-co-ban/1-5_banphagia.pdf tr 3]
Trang 53 Thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu xảy ra hoặc bị
đe dọa xảy ra là do hàng hóa nhập khẩu bán phá giá gây ra (xác định mối quan
hệ nhân quả)
4 Theo điều 5.8 ADA thì khối lượng hàng nhập khẩu phá giá đáng kể trên3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu hoặc biên độ phágiá đáng kể (de minimis) phải trên 2%.5
Theo quy định của ADA và quy định của pháp luật các nước thành viêncác biện pháp chống bán phá giá bao gồm: Thuế chống bán phá giá tạm thời;thuế chống bán phá giá cuối cùng; cam kết về giá
- Thuế chống bán phá giá: là biện pháp chống bán phá giá được sử dụngphổ biến nhất, được áp dụng cho từng nhà sản xuất riêng lẻ với sản phẩm bị điềutra và bị kết luận là bán phá giá vào nước nhập khẩu gây thiệt hại cho ngành sảnxuất nước đó Về bản chất, đây là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩuthông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài nhập khẩu là đối tượng của quyếtđịnh áp dụng biện pháp chống bán phá giá Với mức thuế áp dụng không cao hơnbiên độ phá giá của hàng hóa nhập khẩu6 Các quốc gia thành viên WTO đượcquyền tự do chọn chế định pháp luật khác nhau để điều chỉnh hành vi bán phágiá và trợ cấp (chẳng hạn như Hoa Kỳ chọn luật thuế để điều chỉnh chống bánbán phá giá và chống trợ cấp)7
6
https://trungtamwto.vn/upload/files/wto/4-cac-hiep-dinh-co-ban/1-5_banphagia.pdf, tr 5
suggestions for developing countries, Journal of Word Trade, số 31(2), trang 9
Trang 6- Biện pháp cam kết: Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà khôngcần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá, nếu như nhà xuấtkhẩu tự nguyện cam kết tăng giá hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào thị trườngđang điều tra và được cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc phụcđược thiệt hại Mức tăng giá không nhất thiết phải lớn hơn mà thường là nhỏ hơnbiên độ phá giá nếu như đã đủ khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất trongnước.8
1.2 Khát quát về điều tra và thủ tục điều tra chống bán phá giá
1.2.1 Khái niệm về điều tra chống bán phá giá
Điều tra chống bán phá giá là hoạt động của cơ quan chống bán phá giá vàcác cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu Điều tra chống bán phá giá chỉ
có thể được bắt đầu khi có đơn yêu cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trongnước hoặc của người nhân danh cho ngành sản xuất trong nước hoặc khi chínhphủ của nước nhập khẩu quyết định bắt đầu điều tra hoặc theo yêu cầu của mộtquốc gia thứ ba.9
Điều tra chống bán phá giá còn là một giai đoạn mà chính phủ nước nhậpkhẩu tiến hành xác minh yêu cầu đơn khởi kiện của ngành sản xuất trong nướchoặc của người nhân danh cho ngành sản xuất trong nước hoặc khi chính phủcủa nước nhập khẩu quyết định bắt đầu điều tra hoặc theo yêu cầu của một quốcgia thứ ba
1.2.2 Thủ tục điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Trang 7Cơ sở tiến hành thủ tục điều tra: Cơ quan chống bán phá giá tự quyết địnhđiều tra hoặc khi có đơn khiếu kiện của ngành sản xuất trong nước sản xuất sảnphẩm tương tự với sản phẩm bị điều tra bán phá giá.10
Tính hợp pháp của đơn khởi kiện:
Đơn yêu cầu sẽ được coi là được yêu cầu bởi ngành sản xuất trong nướchoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước nếu như đơn này được ủng hộbởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương
tự được làm bởi các nhà sản xuất đã bầy tỏ ý kiến tán thành hoặc phản đốiđơn yêu cầu đó Tuy nhiên, điều tra sẽ không được bắt đầu nếu như các nhàsản xuất bầy tỏ ý tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lượng của sảnphẩm tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra.11
Ngoài ra đơn kiện phải đảm bảo đầy đủ về thông tin, chứng cứ như thôngtin liên quan đến chủ thể nộp đơn, mô tả chính xác về hàng hóa bán phá giá,bằng chứng về sự tồn tại của việc bán phá giá, bằng chứng về thiệt hại và mốiquan hệ nhân quả xảy ra
Các bước tiến hành một vụ kiện và áp dụng biện pháp chống bán phá giáMột vụ kiện chống bán phá giá thực chất là tổng hợp các bước điều tra xácminh các yêu cầu trong đơn kiện để kết luận có đủ điều kiện áp dụng các biệnpháp chống bán phá giá đối với hàng hoá bị kiện hay không
Tóm tắt các bước cơ bản của “vụ kiện chống bán phá giá” như sau:
Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr 360-361
Trang 8- Bước 1: Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiện (kèm theochứng cứ ban đầu);
- Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra (hoặc
từ chối đơn kiện, không điều tra);
- Bước 3: Điều tra sơ bộ về việc bán phá giá và về thiệt hại (qua bảng câu hỏigửi cho các bên liên quan, thu thập, xác minh thông tin, thông tin do các bên tựcung cấp);
- Bước 4: Kết luận sơ bộ (có thể kèm theo quyết định áp dụng biện pháp tạmthời như buộc đặt cọc, ký quỹ );
- Bước 5: Tiếp tục điều tra về việc bán phá giá và về thiệt hại (có thể bao gồmđiều tra thực địa tại nước xuất khẩu);
- Bước 6: Kết luận cuối cùng;
- Bước 7: Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nếu kết luận cuốicùng khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại ;
- Bước 8: Rà soát lại biện pháp chống bán phá giá (hàng năm cơ quan điều tra
có thể sẽ điều tra lại biên phá giá thực tế của từng nhà xuất khẩu và điều chỉnhmức thuế)
- Bước 9: Rà soát hoàng hôn (5 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế chốngbán phá giá hoặc rà soát lại, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra lại để xem xétchấm dứt việc áp thuế hay tiếp tục áp thuế thêm 5 năm nữa)12
12
https://trungtamwto.vn/upload/files/wto/4-cac-hiep-dinh-co-ban/1-5_banphagia.pdf, Tr 15-16 (truy cập ngày 12/01/2022)
Trang 92 THỰC TRẠNG CAC VỤ KIỆN DIỀU TRA VA AP THUẾ CHỐNG BAN PHA GIA LIEN QUAN DẾN CAC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 Vụ kiện của Malaysia điều tra chống bán phá giá đối với thép mạ (tôn mạ) có xuất xứ từ Việt Nam 13[13.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tếMalaysia (MITI) thông báo khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với một
số mặt hàng thép mạ (tôn mạ) có xuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc
Hàng hóa bị điều tra: thép cán dẹt không hợp kim, được phủ hoặc mạnhôm hoặc kẽm (the flat rolled product of non-alloy steel plated or coated withaluminium and zinc) Còn có tên gọi khác là thép mạ hoặc tôn mạ
Bảng 1: Bối cảnh của vụ kiện
Các bên Mã HS sản phẩm Lịch trình điều tra
Nguyên đơn Malaysia Từ 01/4/2017:
7210.61.11, 7210.61.12, 7210.61.19, 7210.61.91, 7210.61.92, 7210.61.99, 7212.50.23, 7212.50.24, 7212.50.29 Trước
Khởi xướng điều tra 13/03/2020
Kết luận sơ bộ 13/08/2020
Bị đơn Việt Nam,
Trung Quốc, Hàn Quốc
Kết luận cuối cùng 11/12/2020
chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam tại thị trường nước ngoài” [xem
https://chongbanphagia.vn/download/f4771/thong-ke-cac-bien-phap-cbpg-voi-hang-hoa-vn-cap-nhat-6t.2021.pdf] Vụ số 92 (truy cập ngày 12/01/2022)
Trang 1001/4/2017:
7210.61.31, 7210.61.39, 7210.61.90, 7210.61.11, 7210.61.12, 7210.61.19, Diễn biến
- Cuộc điều tra được tiến hành dựa trên đơn kiện của NS BLUESCOPEMALAYSIA SDN BHD, công ty nội địa của Malaysia sản xuất các sản phẩmtương tự Nguyên đơn này cho rằng, hàng hóa nhập khẩu cụ thể là thép mạ nhômkẽm có nguồn gốc hoặc xuất khẩu từ các nước bị cáo buộc đang nhập khẩu vàoMalaysia với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa, gây ra thiệt hại đáng kểcho ngành sản xuất trong nước và ảnh hương đến giá cả thị trường của họ
- Từ 01/8/2016 đến 31/7/2019 MITI thu thập số liệu để tính toán biên độphá giá của Việt Nam, thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước củaMalaysia và mối quan hệ nhân quả14
- Malaysia điều tra chống bán phá giá,
[https://chongbanphagia.vn/thep-ma malaysia-dieu-tra-chong-ban-pha-gia-n22096.html], (truy cập ngày 12/1/2022)
Trang 11- Các doanh nghiệp Việt Nam được nêu trong Hồ sơ yêu cầu bao gồm:Hoa Sen, Nam Kim, Tôn Đông Á, Tân Phương Khanh, Tôn Phương Nam,Maruichi Sun Steel.
- Vào tháng 8/2020 MITI cũng đã ban hành kết luận sơ bộ đối với vụ việcđiều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép mạ nhôm và kẽm cóxuất xứ từ Việt Nam Cơ quan này áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời,nhằm ngăn chặn thiệt hại của ngành sản xuất trong nước trong vòng 120 ngày,bắt đầu từ ngày 14/8/2020 với mức thuế sơ bộ được áp dụng đối với Việt Nam từ3,94% - 37,14%
- Khi đi đến kết luận cuối cùng, theo MITI có sự tồn tại của hành vi bánphá giá, tạo ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất thép mạ trong nước củaMalaysia, và đã xác định được biên độ phá giá của Việt Nam từ 1,56% đến37.14%
Theo danh sách công bố, các doanh nghiệp Viêt Nam bị áp thuế chống bánphá giá chính thức với mức thuế:
“Tập Đoàn Hoa Sen: 16.55%
Công ty Maruichi Sun Steel: 4.53%
Công ty tôn Hòa Phát: 3.06%
Công ty cổ phần Nam Kim: 5.04%
Công ty cổ phần thương mại và sản xuất tôn Tân Phước Khanh: 4.22% Công ty cổ phần Tôn Đông Á: 15.87%
Công ty cổ phần thép Tây Nam: 5.48%
Trang 12Các doanh nghiệp còn lại: từ 3,06% đến 37,14%
Riêng đối với công ty Tôn Phương Nam được xác định có biên độ phá giá 1.56%, biên độ phá giá này được xem là không đáng kể (dưới 2%) nên không áp dụng biện pháp áp thuế chống bán phá giá.” 15
Kết luận: Ngành xuất khẩu thép là ngành kinh tế chủ lực của nước ta, theoHiệp hội Thép Việt Nam, trong giai đoạn 5 năm trở lại đây, xuất khẩu thép củaViệt Nam đã tăng trung bình hơn 20% mỗi năm và xuất khẩu thành phẩm tăng12% mỗi năm Hiện nay, thép Việt Nam không chỉ xuất khẩu qua các nước ĐôngNam á, mà còn xuất khẩu qua các thị trường lớn mạnh như Châu Âu, ChâuMỹ… Cùng với sự phát triển nhanh chóng trong kim ngạch xuất khẩu thép củanước ta, thì tất yếu sẽ kéo theo sự chú ý của các quốc gia liên tiếp áp dụng cácbiện pháp phòng vệ thương mại Nếu như nước ta bị áp thuế quá cao thì sẽ hạnchế khả năng xuất khẩu của các sản phẩm thép, điển hình là thép mạ hợp kimnhôm, kẽm Vì vậy cần có những giải pháp thiết thực để đối mặt với thách thức
và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế
2.2 Vụ kiện của Malaysia điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm Polyethylene Terephthlate có xuất xứ từ Việt Nam 16
cùng của thép mạ hợp kim nhôm kẽm [truy cập:
hanh-ket-luan-cuoi-cung-thep-ma-hop-kim-nhom-kem.pdf tr 6
chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam tại thị trường nước ngoài” [xem
https://chongbanphagia.vn/download/f4771/thong-ke-cac-bien-phap-cbpg-voi-hang-hoa-vn-cap-nhat-6t.2021.pdf], Vụ số 105 (truy cập ngày 12/01/2022)
Trang 13Ngày 28 tháng 7 năm 2020, Bộ Thương mại và công nghiệp Malaysia(MITI) đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với một số sản phẩmPolyethylene Terephthalate (được gọi là PET, PETE hoặc PETP hoặc PET-P) cóxuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.
Mặt hàng bị điều tra: Polyethylene Terephthalate, có độ nhớt từ 0.7decilit/gram (dl/g) trở lên, được phân loại theo mã HS và AHTN: 3907.61.00.00,3907.69.10.00, 3907.69.90.00
Bảng 2: Bối cảnh của vụ kiện
Các bên Mã HS sản phẩm Lịch trình điều tra
Nguyên đơn Malaysia 3907.61.00.00,
3907.69.10.00, 3907.69.90.00.
Khởi xướng điều tra 28/07/2020
Kết luận sơ bộ 28/12/2020
Bị đơn Việt Nam, Trung
Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ
Kết luận cuối cùng 27/04/2021
Diễn biến:
Bên đệ đơn là công ty Recron Sdn Bhd có trụ sở tại thành phố KualaLumpur, Malaysia Phía công ty cho rằng việc nhập khẩu PolyethyleneTerephthalate, có độ nhớt từ 0.7 decilit/gram (dl/g) trở lên từ nước Việt Nam đãgây ra tình trạng phá giá thành chung trong khu vực Malaysia, gây ra nhiều tổnthất về mặt kinh tế và đe dọa đến các sản phẩm tương tự tại đất nước