Trong hoạt động của Ngân hàng thương mạiNHTM, thì hiệu quả kinh doanh được hiểu là khả năng biến đổi các đầuvào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăngkhả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại:
1.1.1 Khái quát về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Các nhà kinh tế học đã luôn cố gắng tìm lời giải cho câu trả lời cơ bản nhấtcủa kinh tế học là làm thế nào để đo lường tính hiệu quả của hệ thống kinh
tế từ năm 1951 các nhà kinh tế đã giới thiệu một phương pháp đơn giản để
đo lường tính hiệu quả thông qua hệ số thỏa dụng nguồn lực Từ đó về sau,việc sử dụng hệ số thỏa dụng nguồn lực được dử dụng rộng rãi trong cácnghiên cứu có liên quan đến đo lường hiệu quả của hệ thống kinh tế, ngânhàng hay một công ty, tổ chức cụ thể (Chambers and Miller, 2011)
– Hiệu quả kỹ thuật (technological efficiency): với mục tiêu tránh lãng phí,bằng cách đạt được các đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặcbằng việc cực tiểu hóa đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho Trongtrường hợp này, đây là hiệu quả kỹ thuật (khả năng sử dụng cực tiểuhóa đầu vào để sản xuất một vectơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thuđược đầu ra cực đại từ một vectơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránhlãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả
kỹ thuật cao
– Hiệu quả kinh tế (economical efficiency): mục tiêu của các nhà sản xuất
có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sửdụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hóa doanh thu, hoặc phân bổcác đầu vào đầu ra sao cho cực đại hóa lợi nhuận Trong các trường hợpnày, đây là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vàonhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một sản lượng nhấtđịnh), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệuquả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợinhuận)
3
Trang 4Như vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp
và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độquản lý… Nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí
bỏ ra để đạt đựợc kết quả đó Trong hoạt động của Ngân hàng thương mại(NHTM), thì hiệu quả kinh doanh được hiểu là khả năng biến đổi các đầuvào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăngkhả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác
1.1.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại Để
đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM thông thường nhất là phương pháp tính toán và phân tích các chỉ số tài chính Có nhiều chỉ tiêu dùng đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM Tùy theo mục tiêu cần phân tích, đánh giá của người sử dụng mà sẽ lựa chọn bộ chỉ tiêu thích hợp Các chỉ tiêu tài chính cơ bản thường được sử dụng trong phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng bao gồm:
– Nhóm chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời
+ Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Cho biết cứ một đồng vốn chủ sở thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợinhuận Tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh Ngoài ra, nó cònphụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của bản thân mỗi NHTM Để sosánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một NHTM với tỷ số bìnhquân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trongcùng ngành
Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với cổ đông, nó đảm bảo mức thu nhậpcho cổ đông đã góp vốn cổ phần
ROE = (Lợi nhuận sau thuế ÷ Tổng vốn chủ sở hữu) × 100
Trang 5+ Tỷ lệ thu nhập trên Tổng tài sản (ROA)
Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của NHTM mà không quan tâmđến cấu trúc tài chính Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận từ một đồng tài sản, ROA đánh giá hiệu suất sử dụngtài sản của NHTM Giá trị ROA càng cao chứng tỏ NHTM hoạt độngcàng hiệu quả và ngược lại giá trị này càng thấp càng kém hiệu quả
ROA = (Thu nhập ròng ÷ Tổng tài sản) × 100
Ngoài ra, cần lưu ý một vài điểm sau khi phân tích ROA:
ROA tăng là dấu hiệu tích cực nếu: NHTM tăng vốn chủ sở hữu, giảm
nợ vay làm giảm chi phí lãi vay nên lợi nhuận đạt được cao hơn ROAtăng là dấu hiệu tiêu cực nếu: doanh thu lợi nhuận giảm nhưng giảmthấp hơn tốc độ giảm tổng tài sản
ROA giảm không phải là dấu hiệu tồi nếu: việc giảm xuất phát từ việctăng vốn chủ sở hữu nên tổng nguồn vốn tăng tương ứng tổng tài sảntăng, nhưng mức lợi nhuận tăng chậm hơn tăng tổng tài sản ROA giảm
là dấu hiệu tồi nếu: vốn chủ sở hữu giảm do kinh doanh lỗ vốn, hoặchoạt động kinh doanh mở rộng những đầu tư vào những lĩnh vực khônghiệu quả nên lợi nhuận không tăng, thậm chí còn giảm so với trước
+ Hệ số sinh lời (Profit Margin, PM)
Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu lợi nhuận Biênlợi nhuận sẽ đóng vai trò là một vùng đệm giữa doanh thu và chi phí
Về lý thuyết, những doanh nghiệp có biên lợi nhuận cao có thể tồn tạivững vàng trong bối cảnh chi phí leo thang Ngược lại, những doanhnghiệp có biên lợi nhuận thấp chỉ có thể tăng lợi nhuận bằng cách đẩymạnh doanh thu Khi gặp đợt gia tăng chi phí, những doanh nghiệp này
sẽ rất khó khăn Như vậy,
Trang 6việc theo dõi biên lợi nhuận theo thời gian không chỉ giúp nhà quản lý chủđộng ứng phó với cơ hội và nguy cơ từ thị trường, mà còn giúp nhà đầu
tư tránh những nhận định cảm tính để nhận diện được những doanhnghiệp có tiềm lực trong cơn bão giá
Lợi nhuận biên = (Lợi nhuận ròng ÷ Tổng doanh thu) × 100
Nếu NHTM có nhiều sản phẩm hoặc kinh doanh nhiều hoạt động và mỗilĩnh vực có sổ sách kế toán riêng đầy đủ thì việc phân tích tỷ số của mỗisản phẩm, lĩnh vực sẽ cho một cái nhìn tổng thể về các lĩnh vực nào chokết quả kinh doanh tốt cần phát triển mạnh, các lĩnh vực nào kết quảkinh doanh chưa tốt cần hạn chế hoặc chuyển hướng đầu tư
Không phải việc tăng tỷ suất lợi nhuận/doanh thu lúc nào cũng phản ánhNHTM đang kinh doanh tốt và việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu lúcnào cũng phản ánh NHTM đang kinh doanh kèm hiệu quả mà việc xemxét tăng/giảm tỷ suất sinh lời doanh thu là tốt hay xấu cũng cần phân tích
rõ lý do của việc tăng/giảm tỷ số
Việc tăng tỷ suất lợi nhuận doanh thu là tốt nếu: Lợi nhuận và doanh thucùng tăng; doanh thu giảm do không tiếp tục vào lĩnh vực đầu tư khônghiệu quả Lợi nhuận trong trường hợp này có thể giảm nhưng giảm íthơn doanh thu Hoặc lợi nhuận lại tăng lên do giảm lĩnh vực đầu tưkhông hiệu quả lên quản lý chi phí tốt hơn
Việc tăng tỷ suất lợi nhuận/doanh thu là xấu nếu: việc tăng là do lợinhuận và doanh thu cùng giảm nhưng lợi nhuận giảm chậm hơn doanhthu với các lý do giảm như sau: NHTM bị giảm năng lực cạnh tranh,năng lực sản xuất, NHTM giảm lãi vay, tăng lãi suất huy động, giảm phí
để chiếm lĩnh lại thị phần,…Tuy nhiên do các NHTM này vẫn đang quản
lý tốt chi phí quản lý,
Trang 7chi phí tài chính … nên tạm thời lợi nhuận có giảm nhưng tốc độ giảmchậm hơn doanh thu.
Việc giảm tỷ suất lợi nhuận/doanh thu không phải là một dấu hiệu chứng
tỏ hiệu quả kinh doanh của một NHTM bị giảm sút nếu: lợi nhuận vàdoanh thu đều tăng nhưng lợi nhuận tăng chậm hơn doanh thu Trongtrường hợp doanh thu tăng nhưng lợi nhuận không tăng thì cũng chưahẳn là dấu hiệu NHTM kinh doanh không hiệu quả Để kết luận phảixem xét cơ cấu chi phí và bản chất việc giảm lợi nhuận là do giá vốntăng hay do NHTM quản lý tài chính, quản lý hoạt động không tốt dẫnđến các chi phí hoạt động quá cao so với quy mô tăng trưởng doanh thu.Ngay cả khi doanh thu và lợi nhuận đều giảm cũng không phải là dấuhiệu kinh doanh của NHTM đang xấu nếu do NHTM đang thu hẹp hoạtđộng, chuyển hướng đầu tư vào các lĩnh vực hiệu quả, dừng hoạt độngnhững lĩnh vực, mặt hàng kém hiệu quả
+ Lãi suất biên tế (Net Interest Margin, NIM)
Lãi suất biên tế = (Tổng thu nhập lãi suất - Tổng chi phí lãi suất) ÷ Tàisản sinh lợi bình quân
+ Thu nhập mỗi cổ phần (Earn per share, EPS)
EPS đóng vai trò như một chỉ số về hiệu quả hoạt động của NHTM Khitính EPS, người ta thường dùng khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quântrong suốt kỳ báo cáo để có kết quả chính xác hơn, bởi vì số lượng cổphiếu lưu hành có thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, các nguồn dữliệu đôi khi sẽ đơn giản hóa quá trình tính toán bằng cách dùng số lượng
cổ phiếu đang lưu hành vào cuối kỳ EPS pha loãng khác EPS cơ bản ởchỗ EPS pha loãng thường cộng thêm số lượng trái phiếu có thểchuyển đổi hay trái quyền vào số lượng cổ phiếu đang lưu hành EPSthường được xem là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định giá của
cổ phiếu Đây cũng là thành
Trang 8phần chính dùng để tính toán chỉ số P/E Một điểm quan trọng nữathường bị bỏ qua là việc tính toán lượng vốn dùng để tạo ra lợi nhuận.Hai công ty có thể có cùng EPS, nhưng một công ty có thể sử dụng vốn íthơn- tức là công ty đó có hiệu quả cao hơn trong việc sử dụng vốn củamình để tạo ra lợi nhuận và, nếu những yếu tố khác là tương thì đây làcông ty tốt hơn.
– Nhóm chỉ tiêu đo lường hiệu suất sử dụng tài sản, vốn chủ sở hữu
+ Hệ số sử dụng tài sản (Asset Utilization)
Hệ số sử sụng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tàisản của NHTM Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗimột đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra Hệ số nàycàng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của NHTM vào các hoạtđộng kinh doanh càng hiệu quả Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác
về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một NHTM chúng tacần so sánh hệ số sử dụng tài sản của NHTM đó với hệ số bình quân củangành
Hệ số sử dụng tài sản = (Tổng doanh thu ÷ Tổng tài sản)
+ Hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu (Equity Utilization)
Hệ số sử sụng vốn chủ sở hữu dùng để đánh giá hiệu quả của việc sửdụng vốn chủ sở hữu của NHTM Thông qua hệ số này chúng ta có thểbiết được với mỗi một đồng vốn chủ sở hữu có bao nhiêu đồng doanhthu được tạo ra Hệ số này càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng vốnchủ sở hữu của NHTM vào các hoạt động kinh doanh càng hiệu quả.Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sửdụng vốn chủ sở hữu của
EPS = (Thu nhập ròng - Cổ tức ưu đãi) ÷ Số cổ phần thường bình quân trong kỳ
Trang 9một NHTM chúng ta cần so sánh hệ số sử dụng vốn của NHTM đó với
hệ số bình quân của ngành
– Nhóm chỉ tiêu phản ánh triển vọng phát triển công ty:
+ Chỉ số giá trên thu nhập (Price per Earning Ratio, P/E)
P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập cùa mỗi cổphiếu Trong đó, giá thị trường của là giá mà tại đó cổ phiếu đang đượcmua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợinhuận sau thuế mà NHTM đã chia cho các cổ đông thường trong năm tàichính gần nhất P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ
cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thunhập bao nhiêu
+ Chỉ số giá trên giá trị sổ sách (Price per Book Value, P/B)
P/B được dùng để so sánh giá cổ phiếu với giá trị ghi sổ của nó P/Bthường là công cụ phân tích giúp các nhà đầu tư tìm kiếm các cổ phiếu
có giá rẻ mà thị trường ít quan tâm Khi P/B của một NHTM nhỏ hơn 1.0
có thể mang ý nghĩa là: NHTM đang bán cổ phần với mức giá thấp hơngiá trị ghi số của nó; giá trị tài sản của NHTM đã bị thổi phồng quá mứchoặc thu nhập trên tài sản của NHTM là quá thấp Nếu P/B của mộtNHTM lớn hơn 1.0 thì chứng tỏ NHTM đang làm ăn khá tốt và thu nhậptrên tài sản cao
1.1.3 Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM
1.1.3.1 Các nhân tố bên trong
Hệ số sử dụng vốn chủ sở hữu = (Tổng doanh thu ÷ Tổng vốn chủ sở hữu)
P/E = (Thị giá ÷ Thu nhập mỗi cổ phần)
P/B = (Thị giá ÷ Giá trị sổ sách mỗi cổ phần)
Trang 10– Vốn chủ sở hữu: vốn chủ sở hữu mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổngtài sản của NHTM, tuy nhiên vai trò của vốn chủ sở hữu rất quan trọng,quy mô vốn chủ sở hữu cho thấy khả năng chịu đựng của NHTM trướcnhững rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ cũng như biến động xấu củanền kinh tế Do đó mà vốn tự có từ lâu luôn được quan tâm bởi các nhàlập pháp nhằm đảm bảo NHTM hoạt động hiệu quả và an toàn KhiNHTM mở rộng kinh doanh thì rủi ro cũng tăng lên đòi hỏi khả năngphòng chống rủi ro của NHTM phải tăng lên, vốn tự có là yếu tố thenchốt trong phòng chống rủi ro Với nguồn vốn tự có cao và ổn định sẽgiúp NHTM ổn định hoạt động của mình, tạo ra niềm tin trong kháchhàng, giúp hoạt động của NHTM hiệu quả hơn.
– Quy mô tài sản, chất lượng tài sản: quy mô tài sản của NHTM tăng lênthường đi kèm với việc mở rộng kinh donah của NHTM, khả năng tiếpcận đến nhiều đối tượng khách hàng hơn, mở rộng địa bàn hoạt động…giúp NHTM tăng cường cung cấp các sản phẩm của mình đến với kháchhàng nhanh chóng và hiệu quả, từ đó thúc đẩy doanh thu và lợinhuận của NHTM, đồng thời làm gia tăng hình ảnh của NHTM vớikhách hàng khác Tuy nhiên, khi tài sản tăng lên cũng đồng thời đòi hỏikhả năng quản lý của NHTM phải tốt hơn, nếu không rủi ro sẽ cao hơn
và có ảnh hưởng xấu đến chất lượng hoạt động của NHTM Đơn cửnhư việc quản lý nguồn vốn huy động từ tiền gửi, nếu NHTM không có
kế hoạch sử dụng an toàn, hiệu quả, sinh lời hợp lý, hoạt động cấp tíndụng không được quản lý hiệu quả thì sẽ đối mặt với rủi ro thanh khoảnrất lớn Do đó, chất lượng tài sản cũng là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽđến hiệu quả kinh doanh của NHTM
– Trình độ quản lý: hoạt động của NHTM có tính chất rất đặc biệt, NHTM
kinh doanh tiền tệ, là trung gian tài chính cho nên kinh tế Do đặc trưngcông việc cần hợp tác kinh doanh, cấp vốn, hợp tác đầu tư trong nhiều
Trang 11lĩnh vực nên việc am hiểu thị trường, có cái nhìn chiến lược và đặc biệt
là năng lực tổ chức bộ máy quản lý hiệu quả là vấn đề cốt lõi tronghoạt động ngân hàng Do đó đòi hỏi khả năng quản lý tốt của bộ máyquản lý Hiện nay, đa phần các NHTM được tổ chức theo hình thức công
ty cổ phần với Đại hội đồng cổ đông đứng đầu, tiếp đến là Hội đồngquản trị, Ban Tổng giám đốc, Ban kiểm soát…Vai trò, vị trí của từng bộphận có ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động cũng như hiệu quả kinhdoanh của NHTM theo các mức độ khác nhau Tuy nhiên, về mặt nguyêntắc thì một tổ chức chỉ có thể kinh doanh hiệu quả khi năng lực và trình
độ quản lý là tương xứng với nhu cầu phát triển của thì trường Khi mởrộng phạm vi kinh doanh, trình độ quản lý cũng phải phát triển theo mớiđáp ứng được những diễn biến của thực tiễn Hiện nay, khi nền kinh tếcàng gia nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nên việc hội nhập, mở cửarộng hơn nữa lĩnh vực tài chính nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng
là điều tất yếu, do đó thách thức càng lớn hơn cho bộ phận quản lý củaNHTM
– Chiến lược hoạt động: chiến lược hoạt động đóng vai trò hết sức quantrọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp nói chung vàNHTM nói riêng Chiến lược hoạt động đúng đắn sẽ tạo một hướng đitốt cho NHTM, chiến lược hoạt động có thể coi như kim chỉ nam dẫnđường cho NHTM kinh doanh đúng hướng Trong thực tế, có rấtnhiều nhà kinh doanh, tổ chức nhờ có chiến lược hoạt động đúng đắn
mà đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thếcho mình trên thương trường
– Yếu tố khác: bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngcủa NHTM trên, còn có những yếu tố khác ảnh hưởng khác như: văn hóacông ty, cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ…cũng là những yếu tố cóảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM
Trang 121.1.3.2 Các nhân tố bên ngoài
– Các biến số kinh tế vĩ mô: NHTM với vai trò là định chế tài chính trunggian của nền kinh tế nên mọi hoạt động của NHTM đều chịu có tác động
từ nền kinh tế Để đảm bảo định hướng kinh doanh theo đúng diễn biếnthị trường, NHTM phải thường xuyên quan tâm và đánh giá, cũng nhưđưa ra dự đoán tương đối chính xác về môi trường kinh tế vĩ mô Cácbiến số kinh tế vĩ mô là những biến số đầu vào để NHTM hoạch địnhchiến lược hoạt động Các biến số quan trọng: tăng trưởng GDP, lãisuất, lạm phát, dân số, thu nhập bình quân đầu người…đều có ảnhhưởng quyết định đến nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.+ Tăng trưởng GDP: tăng trưởng kinh tế ổn định và cao là nhân tố tác độngmạnh mẽ đến nhu cầu của người dân với dịch vụ NHTM, thúc đẩyNHTM mở rộng kinh doanh và phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch
vụ khác Ngược lại, kinh tế không tăng trưởng, nhu cầu vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh thấp dẫn đến tín dụng không tăng trưởng.Khi kinh tế đi vào giai đoạn khó khăn, suy thoái sẽ làm giảm chất lượngtài sản của NHTM vì chất lượng các khoản tín dụng giảm sút, các khoảnvay không được thanh toán đúng hạn sẽ chuyển nợ xấu, NHTM phảitrích lập dự phòng rủi ro cho hoạt động tín dụng nhiều hơn, giá trị thịtrường của tài tải cũng giảm sút nhanh chóng làm ảnh hưởng đến hiệuquả kinh doanh của Ngân hàng
+ Lãi suất: NHTM là nơi gặp nhau giũa chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếuvốn Chính vì vậy, lãi suất có ảnh hưởng đến cả chi phí huy động đầuvào lẫn nguồn thu đầu ra từ lãi vay tín dụng của NHTM Lãi suất ảnhhưởng đến lượng tiền gửi của khách hàng, đến dư nợ tín dụng và cảkhả năng trả nợ của khách hàng Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng,lạm phát cao dẫn đến lãi suất huy động quá cao, tiền gửi sẽ nhiều nhưngkhách hàng đi vay
12
Trang 13phải chịu chi phí lãi vay quá cao, ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợvay của khách hàng, làm gia tăng rủi ro của NHTM Ngược lại, nếu lãisuất quá thấp, lượng tiền huy động từ nguồn vốn nhàn rỗi của nền kinh
tế sẽ hạn chế trong khi nhu cầu vay vốn tăng cao dẫn đến tình trạngNHTM không đáp ứng đủ nguồn vốn cho nền kinh tế, doanh thu củaNHTM suy giảm do dư nợ tín dụng tăng trưởng kém
+ Lạm phát: cũng như lãi suất, lạm phát tác động gần như trực tiếp đếnhoạt động kinh doanh của NHTM thông qua tác động đến lượng tiền gửi
và kỳ hạn gửi tiền Lãi suất thực sẽ được tính bằng lãi suất danh nghĩatrừ đi lạm phát là nhân tố quyết định nhất đến lượng tiền gửi và kỳ hạngửi của khách hàng Nếu lạm phát cao sẽ làm mất giá đồng tiền, ngườidân có xu hướng dự trữ các tài sản bảo toàn được giá trị hơn, làm đồngtiền ngày càng mất giá, tăng rủi ro tỷ giá cho NHTM Khi đó, NHTM rấtkhó khăn trong huy động vốn, muốn huy động được vốn thì các NHTMphải cạnh tranh lãi suất, thậm chí huy động vượt trần lãi suất để có thểhuy động được vốn cho hoạt động tín dụng Tình trạng khó khăn cho hệthống NHTM tất yếu xảy ra khi tình trạng các NHTM nhỏ, không thể huyđộng được vốn cho hoạt động, rủi ro thanh khoản gia tăng, lãi suất liênngân hàng gia tăng đột biến Với lãi suất huy động tăng cao, bắt buộc lãisuất cho vay phải tăng cao tương ứng sau khi cộng vào các chi phí hoạtđộng và trích lập dự phòng, chính điều này lại làm cho giá thành sảnxuất gia tăng làm tăng áp lực lạm phát
– Môi trường pháp lý: hoạt động của doanh nghiệp nói chung hay NHTMnói riêng đều có sự chi phối của quy định pháp luật Sự thay đổi luậtpháp luôn ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh chocác pháp nhân kinh tế, do vậy sự thay đổi này ảnh hưởng mạnh đến hoạtđộng kinh doanh của NHTM Ngoài việc chịu chi phối bởi pháp luật ápdụng chung cho tất
Trang 14cả các lĩnh vực, NHTM còn hoạt động theo luật pháp và các thông lệquốc tế về tạp quán thương mại, luật pháp trong nước Môi trường pháp
lý có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Một sựthay đổi 1% trong dự trữ bắt buộc có thể thay đổi mạnh mẽ nguồn vốn
và chiến lược cấp tín dụng của NHTM, hay thay đổi quy định về phânloại nợ và trích lập dự phòng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngânhàng
– Các yếu tố khác: do đặc thù hoạt động kinh doanh của NHTM liên quanđến nhiều chủ thể, phạm vi hoạt động kinh doanh có mối liên hệ rộngkhắp toàn cầu nên ngoài các yếu tố kể trên, còn nhiều yếu tố ngoại sinhkhác ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM như tình hình kinh tế thếgiới, áp lực cạnh tranh, thị phần cung ứng dịch vụ,…
1.2 Tổng quan về mô hình định lượng đo lường hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Mô hình phân tích bao dữ liệu (Data envelopment analysis, DEA)
1.2.1.1 Giới thiệu mô hình DEA
Mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA) là phương pháp phi tham số dùng để đolường tính hiệu quả giữa các công ty với nhau Phương pháp này giúp tạo ramột tập hợp biên các công ty hiệu quả và so sánh nó với các công ty khônghiệu quả để đo lường được mức hiệu quả Theo DEA thì một công ty hoạtđộng tốt nhất sẽ có chỉ số hiệu quả là 1, Ngược lại công ty hoạt động kémhiệu quả sẽ có giá trị nhỏ hơn 1 (Berger and Humphrey, 1997)
1.2.1.2 Thống kê kết quả ứng dụng mô hình DEA để đo lường hiệu quả kinh
doanh của Ngân hàng thương mại trên thế giới
Có khá nhiều nghiên cứu về tính hiệu quả kinh doanh của NHTM tại cácnước phát triển nhưng số lượng nghiên cứu về đề tài này tại các nước đangphát triển còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, tài liệu về tái cơ cấu và phát triểnkhu vực tài
Trang 15chính ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và nền kinh tế mới nổi thì rất phongphú Vấn đề chủ sở hữu, tác động cạnh tranh từ hội nhập quốc tế ảnhhưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM là các tài liệu nghiên cứu phổbiến nhất các nghiên cứu này đa số đều chỉ ra các bằng chứng thực nghiệm
về vấn đề quyền sở hữu ngân hàng (Dash and Charles, 2009) Một số nghiêncứu đã sử dụng mô hình DEA để đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTMtrên thế giới:
– Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Grigorian và Manole về yếu tố quyếtđịnh đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại tại 17 nền kinh tế đangchuyển đổi trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 1998 Một lưu ý củanghiên cứu là trong quá trình chuyển đối, trong khi một số nền kinh tế đãtái cơ cấu thành công thì một số nước vẫn có nền tài chính kém phát triểnvới tỷ lệ các trung gian tài chính là thấp Kết quả nghiên cứu củaGrigorian và Manole cũng được tiếp tục mở rộng khi giải thích về sựkhác biệt về tính hiệu quả giữa các tổ chức, các quốc gia khi xem xét mộtloạt các biến kinh tề vĩ mô, an ninh và thể chế chính trị Với việc đưa racác kết luận về các yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh doanh, phântích kết quả kiểm định Tobit cho rằng: (1) yếu tố sở hữu nước ngoài vớisức mạnh kiểm soát và tái cấu trúc tổ chức đã đóng góp tích cực choviệc nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHTM (2) tác động từ chínhsách thắt chặt các tiêu chuẩn an toàn hoạt động là rất khác nhau tùythuộc vào từng tiêu chí an toàn, (3) hoạt động hợp nhất có thể nâng caohiệu quả kinh doanh của NHTM (Grigorian and Manole, 2002)
– Kết quả nghiên cứu của tác giả Fiorentino và cộng sự về hiệu quả kinhdoanh theo yếu tố chi phí của các NHTM tại Đức bằng phương pháp củahai phương pháp DEA và SFA Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữliệu từ 34.192 quan sát tại tất cả các NHTM chính của Đức trong giaiđoạn từ
Trang 16năm 1993 đến 2004 Kết quả nghiên cứu của Fiorentino và cộng sự chỉ rarằng kết quả từ mô hình phi tham số (DEA) đặc biệt rất nhạy cảm vớisai số đo lường và sự chênh lệch, biến thiên của mẫu nghiên cứu Kếtquả cũng chỉ ra rằng cần phân biệt mẫu nghiên cứu giữa các loại hình làNHTM, quỹ tiết kiệm, tổ hợp tác tín dụng vì có sự khác biệt trong hệthống kế toán giữa các tổ chức này để tránh hiểu sai, giải thích sai vềtính hiệu quả tổng thể của toàn bộ ngành ngân hàng Cuối cùng, mặc dầuđang diễn ra những thay đổi căn bản tại các NHTM lớn của Châu Âunhưng hiệu quả kinh doanh hệ thống NHTM thì rất ổn định trong ngắnhạn Bên cách đó, kết quả cũng chỉ ra rằng điểm số ước tính chỉ số hiệuquả hằng năm theo phương pháp tham số (SFA) là kém ổn định cho cảgiai đoạn 12 năm Như vậy, kết quả nghiên cứu về tính hiệu quả kinhdoanh giữa hai phương pháp DEA và SFA phụ thuộc rất lớn vào giả địnhban đầu về tính độc lập giữa các biến trong hàm sản xuất của NHTM(Fiorentino et al., 2006).
– Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Hermes và Vu Thi Hong Nhung tácđộng của qua trình từ do hóa tài chính lên hiệu quả kinh doanh củaNHTM với bằng chứng thực nghiệm tại khu vực Châu Mỹ La tinh vàChâu Á Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu từ 4.000 NHTMtại các nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2000 Môhình DEA được áp dụng để tính toán mức độ hiệu quả tại từng NHTM.Sau đó, mức độ hiệu quả của từng NHTM được tổng hợp với từng quốcgia để tìm tra mối liên hệ giữa tự do hóa tài chính và tính hiệu quả củangành ngân hàng bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng bằng phươngpháp bình phương bé nhất với hiệu ứng cố định Kết quả nghiên cứutổng thề cho thấy sự hỗ trợ tích cực của quá trình tự do hóa tài chính lênviệc nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngành ngân hàng (Hermes and VuThi Hong Nhung, 2007)
Trang 171.2.1.3 Ưu nhược điểm của mô hình DEA
Mô hình DEA có các ưu, nhược điểm cơ bản (Bauer et al., 1998)
– Ưu điểm mô hình DEA
+ Không yêu cầu phải xác định một dạng hàm cụ thể khi xây dựng biên sảnxuất
+ Đường giới hạn biên sản xuất được xây dựng trực tiếp từ dữ liệu quansát thông qua hệ thống phương trình tuyến tính
+ Có thể sử dụng trong trường hợp nhiều sản phẩm đầu ra và nhiều yếu tốđầu vào
+ Có thể sử dụng để ước lượng riêng biệt các loại hiệu quả sản xuất nhưhiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối nguồn lực, hiệu quả sử dụng chiphí và hiệu quả theo quy mô sản xuất
+ Áp dụng được cả với biến định tính
+ Cho phép kết hợp nhiều đầu vào và nhiều đầu ra trong việc tính các độ đohiệu quả
– Nhược điểm mô hình DEA
+ Đòi hỏi nguồn số liệu lớn
+ Kết quả nghiên cứu phụ thuộc (rất nhạy cảm) với việc xác định chính xácđầu vào và đầu ra Do đó, viếc xác định chính xác biến đầu vào, biến đầu
+ Trong trường hợp không có mối quan hệ giữa các biến giải thích (nội bộ
Trang 18các biến đầu vào, biến đầu ra) thì mô hình DEA xem xét mỗi doanhnghiệp như một mẫu riêng biệt và hoạt động hiệu quả với điểm hiệuquả rất gần với mức 1.
+ Không tính đến yếu tố sai số hay nhiễu
+ Mô hình đo lường hiệu quả tương đối giữa các công ty với nhau, do đónếu một công ty có chỉ số hiệu quả là 1 thì không có nghĩa là công ty đó
đã tối ưu trên thực tế, mà nó chỉ hơn các công ty khác trong phạm vinghiên cứu
1.2.2 Mô hình Cobb - Douglas
1.2.2.1 Giới thiệu hàm sản xuất Cobb – Douglas
Hàm sản xuất Cobb – Douglas dùng đánh giá sự phụ thuộc của sản lượng vào các yếu tố đầu vào Hàm sản xuất Cobb-Douglas được biểu diễn như sau:
A = năng suất toàn bộ nhân tố
α và β là các hệ số co dãn theo sản lượng lần lượt của lao động và vốn; chúng cố định và do công nghệ quyết định Nếu:
α + β = 1, thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy
mô; α + β < 1, thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo
quy mô; α + β > 1, thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần
theo quy mô
1.2.2.2 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình Cobb – Douglas
Mô hình Cobb – Douglas có các ưu điểm, nhược điểm (Bhanumurthy, 2002)
Trang 19– Ưu điểm mô hình Cobb – Douglas
+ Mô hình nghiên cứu đơn giản, dễ dàng đánh giá và giải thích kết quảnghiên cứu;
+ Chỉ cần ước lượng một vài thông số đầu vào (dựa trên những điều kiện hạn chế);
+ Mô hình có thể xử lý cùng lúc nhiều yếu tố đầu vào ngay cả khi tồn tạinhững bất hoàn hảo trên thị trường;
+ Hàm Cobb – Douglas không bị giới hạn về khả năng mở rộng xử lý cho các quy mô sản xuất khác nhau;
+ Mô hình có thể xử lý dễ dàng và triệt để các vấn đề về ước lượng trong kinh tế lượng như tương quan chuỗi, phương sai thay đổi và đa cộng tuyến
– Nhược điểm mô hình Cobb – Douglas
+ Mô hình kém linh hoạt;
+ Ngoại trừ một giả định cụ thể, các giả định khác có thể được nới lỏng(không bắt buộc);
+ Mô hình dựa trên giả định hạn chế về thị trường cạnh tranh hoàn hảo về thị trường đầu vào và đầu ra;
+ Giả định tất cả công ty có suất sinh lợi không đổi theo quy mô (constant returns to scale – CRS)
1.3 Một số nghiên cứu sử dụng mô hình Cobb – Douglas để đo lường hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1 Nghiên cứu của Cavallo và Rossi
Mô tả dữ liệu: trong giai đoạn 1980 – 2000, với xu thế hòa nhập làm gia tăngcạnh tranh trong hệ thống NHTM Châu Âu đã diễn ra một làn sóng sáp nhập– hợp nhất (M&A) mạnh mẽ Các NHTM nhỏ hơn và cạnh tranh kém bị thâutóm
Trang 20và sáp nhập tạo thành các NHTM với quy mô hoạt động rộng lớn hơn Tácgiả đã vận dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas để kiểm chứng tính hiệu quảkinh doanh của hệ thống NHTM trong giai đoạn từ năm 1992 đến 1997.Mẫu nghiên cứu gồm 442 ngân hàng tại 6 quốc gia thuộc Châu Âu (2.516quan sát), dữ liệu được điều chỉnh theo giá cả năm 1997 Việc thu thập dữliệu được chọn lọc theo chín loại tổ chức tín dung khác nhau như: ngânhàng thương mại cổ phần, ngân hàng đầu tư, quỹ hợp tác, quỹ tiết kiệm vàcho vay (Cavallo and Rossi, 2001).
Mô hình nghiên cứu: tác giả sử dụng mô hình chi phí (cost functionspecification) Trong mô hình chi phí, các nhà kinh tế sử dụng nhiều địnhnghĩa khác nhau về đầu vào và đầu ra Ví dụ: khoản mục “tiền gửi” có thểđược xem là đầu vào hoặc như một là đầu ra (Berger and Humphrey, 1997).Một cách tiếp cận khác được xem xét là cách tiếp cận kép Trong đó xem xétkhoản mục “tiền gửi” cả trên hai góc độ như là yếu tố đầu vào và đầu ra(Bauer et al., 1993) Theo phương pháp này, khoản tiền lãi phải trả cho tiềngửi được xem là yếu tố đầu vào và số lượng tiền gửi là yếu tố đầu ra Trongbài nghiên cứu, hai tác giả sử sụng cách tiếp cận thứ 2 Trong phạm vi bàinghiên cứu, tác giả sử dụng ba biến đầu vào và ba biến đầu ra Biến đầu rabao gồm: các khoản cho vay, tiền gửi và đầu tư tài chính Dư nợ bao gồm cá
nợ đủ tiêu chuẩn và nợ xấu Biến tiền gửi bao gồm toàn bộ khoản tiền gửi
từ khách hàng cá nhân Đầu tư tài chính bao gồm đầu tư tài chính ngắn hạn,mua bán chứng khoán đầu tư, đầu tư trái phiếu, mua cổ phiếu Biến đầu vàobao gồm: Tiền gửi, nhân công và vốn chủ sở hữu Tác giả sử dụng kỹ thuậttranslog (lấy logarit 2 vế phương trình) Mô hình translog là một trong những
mô hình lý thuyết được áp dụng rộng rãi để kiểm định tính hiệu quả củangân hàng
Mô hình:
Trang 21ln(TC) = [α o + )3 αi ln
y
is +
3 k=1þi ln p ks +
2
3 i=
1
3 j=1αi j ln y is ln y js
3 h=1þkh ln
p ks
ln
p hs
3 i=
1
3 k=1ði k ln
– Kết quả nghiên cứu:
+ Có sự gia tăng các yếu tố không hiệu quả trong hệ thống NHTM Châu Âutrong giai đoạn 1992 – 1997, đặc biệt là ở các NHTM tập trung vào cáchoạt động truyền thống như cho vay thương mại, huy động vốn qua tiềngửi, cho vay cho các doanh nghiệp
+ Hiệu quả kinh doanh hiện hữu ở hầu hết các NHTM được kiểm chứngtrong giai đoạn này Đặc biệt các NHTM nhỏ có tính hiệu quả theo kinhdoanh cao hơn, còn các NHTM lớn có tính hiệu quả khi NHTM lớn pháttriển các dòng sản phẩm dịch vụ mới
1.3.1.2 Nghiên cứu của Limi
Mô tả dữ liệu: tác giả tiến hành nghiên cứu tính hiệu quả của hệ thốngNHTM tại Pakistan cho giai đoạn 1998 – 2001 (giai đoạn hệ thống NHTMđược tiến hành tái cấu trúc mạnh mẽ) Hệ thống NHTM tại Paskistan đồngthời mở rộng hoạt động, chuyên mô hóa vào các lĩnh vực, đa dạng hóa cáchoạt động Dữ liệu được thu thập tại 41 tổ chức tín dụng, bao gồm: 4 ngânhàng thương mại quốc doanh, 3 ngân hàng chuyên dụng, 3 tổ chức tài chínhphát triển, 2 ngân hàng cấp tỉnh, 12 ngân hàng tư nhân và 15 ngân hàng nướcngoài (Limi, 2004)
Mô hình nghiên cứu: Tác giả sử dụng mô hình chi phí (cost functionspecification) Tác giả sử dụng các tiếp cận trung gian, theo đó thì chi phí baogồm toàn bộ cho phí vận hành và cho phí lãi vay, đầu ra được đo lường thôngqua tài khoản giao dịch trung gian bằng đồng đô la Đầu vào gồm nhân công,
)
Trang 22vốn chủ sở hữu và tiền lãi cho khoản tiền gửi huy động Mô hình giả địnhrằng
Trang 23ngân hàng cung cấp sáu dịch vụ khi sử dụng ba yếu tố đầu vào, đầu ra baogồm bốn loại cho vay: cho vay thương mại và công nghiệp, cho vay nôngnghiệp, cho vay lĩnh vực công, bảo lãnh và cho thuê tài chính và 2 loại sảnphẩm tiền gửi: tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm.
Trong mô hình chi phí, tác giả sử dụng kỹ thuật translog (lấy logarit 2 vếphương trình) Mô hình translog là một trong những mô hình lý thuyết được
áp dụng rộng rãi để kiểm định tính hiệu quả của ngân hàng
Trong đó, C là tổng chi phí, Y i là đầu ra thứ i và W j là giá cả của đầu vào thứ
j Biến giả Dummy được sử dụng cho loại ngân hàng D’TYPE bởi vì có
nhiều hình thức ngân hàng trong mẫu nên dẫn đến khả năng sẽ tồn tại cáccác mô hình sản xuất khác nhau Có 7 hình thức khác nhau được xem xéttrong mẫu nghiên cứu bao gồm: tổ chức phát triển tài chính, ngân hàngnước ngoài, ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước, ngân hàng thươngmại tư nhân hóa một phần, ngân hàng tư nhân, ngân hàng cấp tỉnh, vá cácngân hàng chuyên doanh Nợ quá hạn (nợ dưới chuẩn) được đánh giá là sẽlàm gia tăng chi phí của ngân hàng
– Kết quả nghiên cứu:
+ Hiệu quả kinh doanh tồn tại trong hệ thống NHTM của Paskistan
+ Việc đa dạng hóa danh mục kinh doanh làm tăng lợi nhuận của NHTM tại Paskistan
23
i
Trang 24+ Các NHTM tư nhân có tính hiệu quả theo quy mô cao nhất, tiếp theo là các NHTM nước ngoài và NHTM nhà nước.
1.3.1.3 Nghiên cứu của Mertens và Urga
Mô tả dữ liệu: nghiên cứu được thực hiện để kiểm định tính hiệu quả của
hệ thống NHTM tại Ukraina trong năm 1998 Dữ liệu được thu thập tại 79 tổchức tín dụng trên tổng số 170 tổ chức tín dụng tại thời điểm này, chiếm76% tổng tài sản ròng của toàn hệ thống ngân hàng Mẫu bao gồm: ngân hàngquốc doanh (Oshchadbank và Ukreximbank), ngân hàng thương mại quốcdoanh cũ, ngân hàng tư nhân và ngân hàng nước ngoài (Mertens and Urga,2001)
Mô hình nghiên cứu: Tác giả sử dụng mô hình chi phí (cost functionspecification)
Trong mô hình chi phí, tác giả sử dụng kỹ thuật translog (lấy logarit 2 vếphương trình) Mô hình translog là một trong những mô hình lý thuyết được
áp dụng rộng rãi để kiểm định tính hiệu quả của ngân hàng
– Kết quả nghiên cứu:
+ NHTM nhỏ có tính hiệu quả kinh doanh cao hơn trong việc tiết kiệm chiphí, nhưng mang tính hiệu quả ít hơn trong hàm lợi nhuận
+ Có sự khác biệt trong tính hiệu quả kinh doanh giữa nhóm NHTM nhỏ vàNHTM lớn, NHTM lớn không có tính hiệu quả kinh doanh
Trang 251.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Các tác giả trong nước không chỉ thực hiện việc đánh giá hiệu quả kinhdoanh (hiệu quả về mặt tài chính) của các NHTM mà còn thực hiện trênphạm vi rộng hơn là xem xét tổng thể về hiệu quả hoạt động Tiêu biểu lànghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng Tác giả đã sử dụng phương pháp lấyLogarit hai vế hàm lợi nhuận dựa trên hàm Cobb – Douglas để kiểm địnhtính hiệu quả của của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2005 Dữliệu được thu thập từ 32 NHTM ở Việt nam bao gồm 5 NHTM nhà nước,
23 NHTM cổ phần, 4 NHTM liên doanh (Nguyễn Việt Hùng, 2008)
– Kết quả nghiên cứu
+ Trong giai đoạn 2001 – 2005: các NHTM Việt Nam đã sử dụng lãng phícác đầu vào (lao động, vốn, kỹ thuật…) Trong đó, NHTM CP thời kỳ này
sử dụng hiệu quả các nguồn lực hơn các NHTM NN Còn Ngân hàng liêndoanh theo thời gian đã sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào
+ Các NHTM NN khi mở rộng kinh doanh thì gây lãng phí các yếu tố đầuvào nhiều hơn Và ngày càng nhiều NHTM phải đối mặt với hiện tượnggiảm hiệu quả khi mở rộng kinh kinh doanh trong giai đoạn này NhiềuNHTM vẫn nghiêng về sử dụng nhiều lao động qua các năm
+ Hiệu quả hoạt động của khối NHTM nhà nước có tác động lớn đến hiệuquả hoạt động của toàn ngành
+ Thị phần cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM
Tác giả Nguyễn Phúc Cảnh cũng thực hiện nghiên cứu về tính hiệu quả theoquy mô của 6 TCTD được niêm yết trên HOSE và HNX trong thời kỳ từ năm
2009 đến năm 2011 Tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng, tácgiả sử dụng phương pháp translog nhưng mở rộng thêm hàm doanh thu, chiphí, và lợi nhuận dựa trên hàm Cobb – Douglas để kiểm định tính hiệu quả9Nguye64n
Trang 26Phúc Cảnh, 2012) Kết quả nghiên cứu:
+ Hiệu quả hoạt động của nhóm 6 NHTM trong giại đoạn 2009 – 2011không ổn định khi gia tăng quy mô hoạt động Trong đó yếu tố đầu vàokhi mở rộng có tác động tích cực lên doanh thu của nhóm NHTM còn yếu
tố đầu ra khi mở rộng cũng giúp tăng doanh thu cho các NHTM nhưngkhông đạt hiệu quả cao
+ Nhóm NHTM NN có doanh thu tăng cao hơn khi các yếu tố đầu vào được
mở rộng vì sử dụng đòn bẩy tài chính cao hơn, nhưng chi phí cũng tăngcao khi mở rộng các yếu tố đầu vào và đầu ra, đồng thời rủi ro tài chínhcao hơn so với nhóm NHTM CP
+ Nhóm NHTM CP hoạt động có tính ổn định và sử dụng nhiều vốn chủ sởhữu hơn so với nhóm NHTM NN do đó thu nhập và các chỉ tiêu tài chính
ổn định theo thời gian
1.3.3 Điểm khác biệt của nghiên cứu so với các công trình nghiên cứu khác
So với các nghiên cứu đã thực hiện trước đây nhằm đánh giá hiệu quả kinhdoanh của NHTM, nghiên cứu lần này có các điểm khác biệt cơ bản sau đây:Thứ nhất, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận tham số theo mô hình SFA Nhưtrình bày mục phương pháp nghiên cứu, có hai mô hình phổ biến được sửdụng rộng rãi là là DEA và SFA (Berger and Humphrey, 1997) Đa số cácnghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của các TCTD trên thế giới đều áp dụng
mô hình DEA Tuy nhiên, với cách tiếp cận phi tham số bằng mô hìnhDEA thì hai nhược điểm lớn nhất là mô hình đòi hỏi nguồn số liệu lớn vàkết quả nghiên cứu phụ thuộc (rất nhạy cảm) với việc xác định chính xácđầu vào và đầu ra cho mô hình Các nghiên cứu tại Việt Nam sẽ gặp trở ngại
và độ tin cậy sẽ không cao khi áp dụng DEA vì hạn chế trong dữ liệu đầuvào và các biến nghiên cứu chưa thể xác định rõ ràng là biến đầu vào haybiến đầu ra cho ngành ngân hàng
Trang 27(một biến có thề vừa là biến đầu vào, vừa là biến đầu ra).
Thứ hai, trong đề tài đã kết hợp phân tích, so sánh kết quả từ mô hình địnhlượng với các chỉ tiêu tài chính của NHTM trong mẫu nghiên cứu như ROA,ROE để có kết quả tổng hợp về tính hiệu quả kinh doanh của NHTM
Thứ ba, các nghiên cứu định lượng về tính hiệu quả kinh doanh của hệ thốngNHTM Việt Nam sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO và sự kiện khủnghoảng kinh tế thế giới năm 2008 còn khá khiêm tốn, chỉ một vài nghiên cứu
cơ bản Đa số các đề tài nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của NHTMtrong giai đoạn này thực hiện theo phương pháp định tính có kết hợp vớiphân tích và tổng hợp các chỉ số tài chính Việc thực hiện nghiên cứu địnhlượng về hiệu quả kinh doanh của NHTM trong giai đoạn này với cách tiếpcận SFA là một khác biệt cơ bản
1.3.4 Đánh giá khả năng ứng dụng mô hình Cobb – Douglas để đo lường hiệu
quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Với cách tiếp cận phi tham số bằng mô hình DEA thì hai nhược điểm lớnnhất là mô hình đòi hỏi nguồn số liệu lớn và kết quả nghiên cứu phụ thuộc(rất nhạy cảm) với việc xác định chính xác đầu vào và đầu ra cho mô hìnhvốn dĩ chưa rõ ràng cho ngành ngân hàng (một biến có thề vừa là biến đầuvào, vừa là biến đầu ra) Do thực tế tại Việt Nam tính đầy đủ và sẵn có củacác dữ liệu như lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp,… còn hạn chế nên việc áp dụng
mô hình DEA là một khó khăn, trở ngại rất lớn
Mô hình Cobb – Douglas với ưu điểm nổi bật của mô hình có thể thích ứngtốt với điều kiện thực tế tại Việt Nam như mô hình nghiên cứu đơn giản, cóthể xử lý cùng lúc nhiều yếu tố đầu vào ngay cả khi tồn tại những bất hoànhảo trên thị trường và mô hình có thể xử lý dễ dàng và triệt để các vấn đề
về ước lượng trong kinh tế lượng như tương quan chuỗi, phương sai thayđổi và đa cộng
Trang 28tuyến trong dữ liệu Thêm vào đó, trên thế giới và trong nước đã có nhiềunghiên cứu thành công như trình bày ở phần trên khi ứng dụng mô hình Cobb– Douglas để đo lường tính hiệu quả của NHTM ở các phạm vi khác nhau.
1.3.5 Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới trong việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Kinh nghiệm từ Đài Loan:
– Trong giai đoạn 1991-2001, Đài Loan tiếp tục đẩy mạnh chính sách tự do hóatài chính theo hướng hội nhập quốc tế, cho phép thành lập các ngân hàng tưnhân Với chính sách hội nhập tài chính và cho phép thành lập NHTM tư nhân
đã từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh của hệ thống NHTM nước nàythông qua áp lực cạnh tranh để phát triển
– Từ giữa năm 1998, Đài Loan bắt đầu bị tác động tiêu cực của khủng hoảngtài chính Đông Á 1997, tỉ lệ nợ xấu tăng mạnh, rủi ro đạo đức và tội phạmngân hàng tăng mạnh, mà đối tượng vi phạm bao gồm cả một số lãnh đạocao cấp của các ngân hàng Chính vì vậy, từ giữa năm 1999, chính phủ ĐàiLoan đã tiến hành quản lý các khoản nợ, yêu cầu các ngân hàng tự xử lý nợxấu, giảm thuế thu nhập của các tổ chức tài chính từ 5% xuống 2%, giảm tỉ
lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW nhằmgiúp các ngân hàng có thêm nguồn tài chính để giải quyết nợ xấu
– Thành lập các công ty quản lý tài sản nhằm thúc đẩy việc phân loại và xử lý
nợ xấu, thực hiện các biện pháp để giảm nợ xấu tại các ngân hàng trongnước Từ tháng 7/2001, Đài Loan tập trung vào việc củng cố hệ thống pháp
lý để tái cơ cấu khu vực ngân hàng và giảm nợ xấu tại các ngân hàng trongnước Bao gồm, luật sáp nhập các tổ chức tài chính, luật công ty tài chính cổphần, hình thành ban quản lý đài tệ, luật thuế giá trị gia tăng, luật chứngkhoán hóa tài sản tài chính, thành lập ủy ban giám sát tài chính và tiền tệ, luậtchứng khoán hóa bất
Trang 29động sản, điều chỉnh luật bảo hiểm tiền gửi.
– Chỉnh sửa lại luật ngân hàng, luật công ty tài chính cổ phần; phê chuẩn và banhành các dự luật về công ty tín thác, hợp tác xã tín dụng, thị trường chứngkhoán, bảo hiểm Trong đó, đối với các tội phạm tài chính, mức phạt tiền lêntới 500 đài tệ (1,5 triệu USD) và phạt tù tới 10 năm
– Phê duyệt đề án thúc đẩy trung tâm dịch vụ tài chính khu vực, thực thi nămchiến lược lớn nhằm kiện toàn tổng thể môi trường tài chính, thúc đẩy trungtâm tài chính khu vực, thúc đẩy nghiệp vụ quản lý tài chính, đa dạng hóa cácdịch vụ tài chính, tăng cường thể chế thị trường tài chính
– Thành lập Ủy ban giám sát tài chính, thực hiện chức năng quản lý thị trườngtài chính, bao gồm phát triển, giám sát, quản lý và giám sát nghiệp vụ của tất
cả các tổ chức tài chính
Kinh nghiệm từ Trung Quốc:
– Tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ngay từ chính sách điều hành.Trung Quốc đã tiến hành tổ chức lại Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBC)nhằm tăng cường khả năng giám sát và tính độc lập, tự chủ trong quản lý,điều hành các chính sách tiền tệ của NHTW này
– Thành lập Ủy ban Giám sát Ngân hàng Trung Hoa, tập trung vào công tácquản trị rủi ro ở các ngân hàng Ban hành hàng loạt văn bản và quy địnhmới, áp dụng những chuẩn mực kế toán và kiểm toán độc lập khắt khe hơn
và những thông lệ quản trị công ty hiện đại nhằm nâng cao tính minh bạch,khôi phục, duy trì niềm tin của khách hàng, nhận diện những ngân hàng cóvấn đề để kịp thời có biện pháp hỗ trợ, xử lý
– Từ năm 1998 bắt đầu áp dụng các quy tắc, quy định, định mức và tỷ lệ antoàn theo chuẩn mực của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), tỷ lệ an toànvốn (CAR) được nâng lên mức 8%; những quy định mới về phân loại khoảnvay
Trang 30– Bốn công ty quản lý tài sản được thành lập để xử lý toàn bộ số nợ dướichuẩn ước tính lên đến 670 tỷ nhân dân tệ, những công ty này được traoquyền ngoại lệ đặc biệt để xử lý, mua lại nợ xấu, thậm chí đầu tư và sinhlời từ đó Số nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước vốn chiềm đến 70% số
nợ xấu sau khi đưa ra ngoài bảng cân đối kế toán đã được Chính phủ dành ra
40 tỷ nhân dân tệ dự trù ngân sách trong năm 1998 cho mục đích xóa nợ xấucủa những doanh nghiệp này Con số này là 30 tỷ nhân dân tệ trong nămtrước đó và tương tự các năm sau đều có khoản dự trù ngân sách dành đểxóa nợ xấu
– Đối với vấn đề thanh khoản, kế hoạch tái cấp vốn cho các NHTM nhà nướcđược triển khai song song Số vốn yêu cầu được huy động theo cơ chế ngoàingân sách, nghĩa là bằng công cụ trái phiếu Chính phủ được phát hành vớithời hạn 30 năm Bước tiếp theo, Chính phủ Trung Quốc khuyến khích cácNHTM nhà nước xúc tiến kế hoạch niêm yết trên thị trường chứng khoán.Động thái này buộc các ngân hàng phải xây dựng cơ chế quản trị theo chuẩnquốc tế, kinh doanh theo định hướng thương mại nhiều hơn, nâng cao hiệuquả quản lý, điều hành, tăng cường tính minh bạch trong hoạt động, kếhoạch đầu tư và trên sổ sách kế toán
Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày khái quát về cơ sở đánh giá hiệu quả kinh doanh củacác NHTM Qua đó giới thiệu các phương pháp đo lường hiệu quả kinhdoanh của NHTM Bằng việc thu thập, phân tích so sánh ưu và nhược điểmcủa các mô hình cùng với các đặc trưng riêng của Việt Nam và các kết quảnghiên cứu thực nghiệm thành công tại các quốc gia đang phát triển có nhiềuđặc điểm tương đồng với Việt Nam để quyết định chọn mô hình Cobb –Douglas cho bài nghiên cứu
Trang 312.1.1 Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010
Có thể nói, đây là giai đoạn ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng đối với nềnkinh tế đất nước nói chung và hệ thống NHTM nói riêng Năm 2007 ViệtNam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và cũngtrong giai đoạn 2005 – 2008 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của thịtrường chứng khoán Tiếp theo đó là thời kỳ lạm phát tăng cao lên đến 2 con
số trong giai đoạn 2008
– 2010 Cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thếgiới, nền kinh tế Việt Nam và nhất là hệ thống NHTM chịu nhiều tác động từdiễn biến kinh tế thế giới
Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2007
Trang 3211.89 11.43
1.36
10.26 1.25
Như vậy, trong giai đoạn này tổng tài sản của các NHTM tăng mạnh Quy
mô tổng tài sản tăng xuất phát từ việc mở rộng quy mô hoạt động, đặc biệt
là hoạt động cấp tín dụng và mở rộng đầu tư tài sản cố định nhằm phát triển
hệ thống kênh phân phối, chiếm lĩnh thị phần sau khi Việt Nam gia nhập tổchức thương mại thế giới
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng tài sản của các NHTM theo nhóm giai đoạn 2007 – 2010
Nguồn: theo số liệu BCTC đã công bố của 40 TCTD.
Khi xem xét ngành ngân hàng theo loại hình sở hữu của ngân hàng thì trong
Trang 33bộ vượt bật, duy trì tăng trưởng tổng tài sản lớn, do đó tỷ trọng của nhómngân hàng này tăng lên qua các năm.
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ biến động TTS và ROA giai đoạn 2007– 2010
hệ thống tăng mạnh ở mức 48.91% so với năm 2006 tuy nhiên ROA chỉtăng 20.83% so với năm 2006) Sang đến năm 2008 thì tổng tài sản tăng26.07% trong khi chỉ số ROA lại giảm 27% so với năm 2007 Năm 2009 thìROA và tổng tài sản lại có biến động cùng chiều với mức tăng tương ứng sovới năm 2008 là 26.40% và 38.12%
33
Trang 34300,000 270,219 120.00%
101.44%
Vốn CSH (tỷ đồng) 190,289
Như vậy, có thể nhận thấy rằng trong giai đoạn này thì ROA của các NHTM
có biến động không tương đồng với biến động của tổng tài sản Đặc biệttrong các năm 2008 và 2010 trong khi tổng tài sản tăng nhanh thì ROA lạigiảm Nguyên nhân của sự giảm sút ROA trong các năm này xuất phát từviệc tăng vốn chủ sở hữu nên tổng nguồn vốn tăng tương ứng tổng tài sảntăng, nhưng mức lợi nhuận tăng chậm hơn tăng tổng tài sản dẫn đến ROAgiảm so với năm trước đó
Biều đồ 2.4: Vốn chủ sở hữu của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2007 - 2010
Nguồn: học viên tự tổng hợp theo số liệu BCTC đã công bố của 40 TCTD Trong giai đoạn 2007 – 2010 nguồn vốn chủ sở hữu của hệ thống đã
tăng 2.56 lần, từ 105 nghìn tỷ đồng lên 270 nghìn tỷ đồng Tốc độ tăngtrưởng trung bình duy trì ở mức cao 53.05% (cao hơn so với mức tăngtrưởng trung bình của tổng tài sản 37.68%) Tương tự như biến động trongtổng tài sản thì năm 2008 hệ thống NHTM tại Việt Nam có tốc độ tăngtrưởng vốn chủ sở hữu thấp hơn mức trung bình của cả giai đoạn 2007 –2010
Trong thời kỳ này, tỷ lệ tăng trưởng vốn chủ sở hữu tại các NHTM CP nhìnchung nhanh hơn các NHTM NN (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triểnnông thôn) Điều này một phần do quy mô vốn chủ sở hữu của nhóm NHTM
Trang 352008 (giảm nguồn vốn chủ sở hữu) trong khi Ngân hàng Công thương lại có
tỷ lệ tăng vốn chủ sở hữu tương đối ổn định trong nhóm NHTM NN Riêngnhóm NHTM CP thì biến động vốn chủ sở hữu diễn ra tương tự với xuhướng chung của ngành là tăng trưởng mạnh nhất vào năm 2007, sau đótăng chậm lại vào từ năm 2008
Như vậy, với mục tiêu mở rộng hoạt động và chiếm lĩnh thị trường đồngthời đáp ứng các tiêu chuển về an toàn vốn, tỷ lệ cấp tín dụng mà các ngânhàng đã nhanh chóng tăng vốn chủ sở hữu của mình lên Tuy nhiên, cần phảinhìn nhận rằng đến thời điểm cuối năm 2010 vẫn chưa có NHTM nào tạiViệt Nam có thể vươn lên là một NHTM xứng tầm khu vực Đây cũng làđiểm cần lưu ý của cơ quan quản lý trong định hướng chiến lược phát triểncho hệ thống NHTM tại Việt Nam trong tương lai
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ biến động VCSH và ROE giai đoạn 2007– 2010 (%)
Nguồn: theo số liệu BCTC đã công bố của 40 TCTD Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ gia tăng vốn chủ
sở hữu có biến động không đồng nhất trong giai đoạn 2007 – 2010 Vốn chủ
sở hữu tăng có thể dẫn đến ROE tăng/ giảm tùy theo từng năm Cụ thể,trong năm 2007 khi các NHTM tăng mạnh vốn chủ sở hữu ở mức 101.4%nhưng ROE chỉ gia tăng
Trang 36ở mức 4.42% Sang đến năm 2008 thì vốn chủ sở hữu tăng 31.8% trong khichỉ số ROE lại giảm 38.74% so với năm 2007 Trong năm 2009 thì ROE vàquy mô vốn chủ sở hữu lại có biến động cùng chiều với mức tăng tươngứng so với năm 2008 là 13.34% và 36.9%.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng trong giai đoạn này thì ROE của các NHTM
có biến động không tương đồng với biến động của vốn chủ sở hữu Tương
tự như biến động của ROA thì trong các năm 2008 và 2010 trong khi vốn chủ
sở hữu tăng nhanh thì ROE lại giảm Nguyên nhân của sự giảm sút ROEtrong các năm này xuất phát từ việc tăng vốn chủ sở hữu nhưng mức lợinhuận tăng chậm hơn tốc độ gia tăng của vốn chủ sở hữu dẫn đến ROEgiảm so với năm trước đó
Trong giai đoạn 2007 – 2010 trong hệ thống NHTM có sự gia tăng mạnh cả
về tổng tài sản và quy mô tốn chủ sở hữu Mức tăng trưởng mạnh nhất trongnăm 2007 (Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Thế giới năm 2006) vàgiảm trong năm 2008 vì chịu một phần ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tếthế giới Tuy nhiên, mức độ biến thiên giữa việc gia tăng tổng tài sản, vốnchủ sở hữu và ROA, ROE thì không tương xứng
2.1.3 Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013
Có thể nói, đây là giai đoạn khó khăn cho nền kinh tế toàn cầu từ dư chấncủa cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ Cùng với quá trình hội nhập tài chínhngày càng sâu rộng thì Việt Nam cũng chịu không ít tác động tiêu cực từ cuộckhủng hoảng này
Điểm nổi bật đáng chú ý nhất trong hoạt động của hệ thống NHTM ViệtNam trong giai đoạn này là hoạt động tái cơ cấu hệ thống NHTM, các hoạtđộng hợp nhất sáp nhập và kết quả hoạt động kinh doanh của hệ thốngkhông còn tăng trưởng ngoạn mục mà thay vào đó là sự sụt giảm lợi nhuậnđáng kể trong hệ thống, quy mô tổng tài sản, dư nợ tín dụng có xu hướngsuy giảm
Trang 37Tiền gửi tại NHNN Việt Nam Tiền gửi và cho vay TCTD khác Cho vay Khách hàng Chứng khoán đầu tư Tài sản cố địnhT i sản khác
Cơ cấu tài sản của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam khá ổn địnhtrong giai đoạn 2011 - 2013 Ba khoản mục chính trong cơ cấu tài sản của hệthống NHTM là cho vay Khách hàng, tiền gửi và cho vay TCTD khác vàchứng khoán đầu tư Trong đó:
✓ Cho vay khách hàng luôn chiếm tỷ trọng lớn (trên 50%) trong cơ cấu tàisản của Ngân hàng
✓ Tiền gửi và cho vay TCTD khác (13%-14%);
✓ Chứng khoán đầu tư (13%-14%)
Biểu đồ 2.6: So sánh cơ cấu tài sản hệ thống NHTM Viêt Nam năm 2011 - 2013
Nguồn: khảo sát về ngành ngân hàng Việt Nam năm
Một vài điểm khác biệt lớn trong năm 2013 so với năm 2011 là dư nợ trên thịtrường liên ngân hàng giảm từ 20% xuống còn 10% tại thời điểm cuối năm.Điều này được giải thích là trong năm 2013, nhu cầu vốn cấp tín dụng giảm trong khi tiền gửi của khách hàng có sự tăng trưởng lớn nên các ngân hàng
à
Trang 38Tổng tài sản (tỷ đồng) 4,400,000 4,287,496
6.03%
4,200,000
3,824,049 3,800,000
Biểu đồ 2.7: Tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2011 - 2013
Nguồn: theo số liệu BCTC đã công bố của 40 TCTD Trong giai đoạn 2011 – 2013 tổng tài sản của hệ thống đã giảm từ
4,287 nghìn tỷ đồng xuống còn 3,824 nghìn tỷ đồng Tốc độ tăng trưởngtrung bình đã giảm từ mức 37.68% trong giai đoạn 2006 – 2010 xuống còn3.56% cho giai đoạn này Riêng năm 2013 có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản
âm Tổng tài sản của toàn hệ thống đã giảm 721 nghỉn tỷ đồng tươngđương 15.88% so với năm 2012
Như vậy, sau thời kỳ tăng trưởng nóng từ sau thời điểm Việt Nam gia nhậpWTO, sự tăng trưởng của hệ thống NHTM có dấu hiệu chững lại Thêm vào
đó, dưới sự khủng hoảng kinh tế thế giới vào cuối năm 2008 đầu năm 2009thì nền
Trang 39nợ, giảm huy động vốn do không thể tăng trưởng tín dụng,… điều này làmcho quy mô tổng tài sản của hệ thống NHTM trong giai đoạn này suy giảmmạnh.
Phân tích biến động trong tổng tài sản và biến động tỷ suất sinh lợi trên tổngtài sản (ROA) của hệ thống NHTM giai đoạn 2011 – 2013:
Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ biến động TTS và ROA toàn hệ thống giai đoạn 2011– 2013
Nguồn: theo số liệu BCTC đã công bố của 40 TCTD ROA trung bình trong giai đoạn này duy trì ở mức rất thấp chỉ đạt
0.91% so với mức 1.41% của giai đoạn 2007 – 2010 Tỷ suất sinh lời trêntổng tài sản (ROA) và tỷ lệ biến thiên tổng tài sản không đồng nhất tronggiai đoạn 2011 – 2013 Tổng tài sản tăng có thể dẫn đến ROA tăng/ giảm tùytheo từng năm Cụ thể, trong năm 2011 khi các NHTM gia tăng tổng tài sảnlên 20.54% so với năm
Trang 40Như vậy, so với giai đoạn từ năm 2007- 2010 thì tỷ suất sinh lợi trên tổng tàisản (ROA) của hệ thống NHTM Việt Nam có dấu hiệu giảm rất mạnh Đặcbiệt, ROA giảm nhanh hơn so với giảm quy mô tổng tài sản, thậm chí trongnăm 2011 và 2012 thì tổng tài sản tăng nhưng ROA lại giảm Như đã phântích ở phần lý thuyết, ROA giảm chưa hẳn là dấu hiệu tiêu cực Tuy nhiên,
sự suy giảm ROA trong giai đoạn này thật sự là dấu hiệu tiêu cực do xuấtphát từ việc suy giảm mạnh lợi nhuận của các NHTM do nguồn thu từ tíndụng giảm mạnh, thêm vào đó, các NHTM phải tăng trích lập dự phòng cho
nợ xấu, các khoản lãi treo không thu được do nợ quá hạn không được ghinhận vào doanh thu, lãi suất cho vay giảm dẫn đến lãi suất biên tế giảm,…những lý do này góp phần làm giảm mạnh ROA của hệ thống NHTM tronggiai đoạn này
Biều đồ 2.9: VCSH của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2011 - 2013
Nguồn: học viên tự tổng hợp theo số liệu BCTC đã công bố của 40 TCTD Trong giai đoạn 2011 – 2013 tổng nguồn vốn chủ sở hữu của hệ
thống tăng 20%, từ 318 nghìn tỷ đồng lên 380 nghìn tỷ đồng Nếu như giaiđoạn 2006 – 2010 hệ thống NHTM có tốc độ tăng trưởng trung bình củaVốn chủ sở hữu duy trì ở mức cao 53.05% thì sang giai đoạn 2011 – 2013 chỉduy trì tốc độ tăng