1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Improving quality of study programs toward students’ entrepreneurship capacity enhancement cải tiến chất lượng chương trình đào tạo theo định hướng tăng cường khả năng khởi nghiệp của học viên

5 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 154,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm t ắt: Cải thiện các chương trình và hoạt động đào tạo để đảm bảo chất lượng phù hợp là một điều kiện tiên quyết bắt buộc cho cả hệ đại học và sau đại học để nâng cao năng lực khởi n

Trang 1

Improving teaching programs toward students’ entrepreneurship capacity enhancement

C ải tiến chất lượng chương trình đào tạo theo định hướng tăng cường khả năng khởi nghiệp của học viên

Nguyen Hoang Tien, PhD

Helena Chodkowska University of Commerce and Technology

in Warsaw

Abstract: Improving programs and education activities to assure adequate quality is

an imperative for both the graduate and postgraduate systems to enhance the individual entrepreneurship capacity and the competitiveness of universities in Vietnam This article will investigate differences and similarities in the ways the graduate and postgraduate study programs managers are using to improve the quality

of the output of the education services

Keywords: quality improvement, competitiveness, entrepreneurship capacity,

education managers

Tóm t ắt: Cải thiện các chương trình và hoạt động đào tạo để đảm bảo chất lượng phù

hợp là một điều kiện tiên quyết bắt buộc cho cả hệ đại học và sau đại học để nâng cao năng lực khởi nghiệp của sinh viên và khả năng cạnh tranh của các trường đại học Việt Nam Bài viết này sẽ khảo sát sự khác biệt và điểm tương đồng về cách thức mà các nhà quản lý chương trình đào tạo đại học và sau đại học sử dụng để có thể nâng cao về mặt chất lượng đào tạo đầu ra của họ

T ừ khóa: cải tiến chất lượng, năng lực cạnh tranh, năng lực khởi nghiệp, các nhà

quản lý giáo dục

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cải tiến chất lượng chương trình đào tạo là điều kiện sống còn của các trường đại học tại các nước đang phát triển trên thế giới, nếu muốn phát triển và hội nhập (Rynca và Radomska, 2009) Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, chất lượng chương trình đào tạo được xác định bởi năng lực khởi nghiệp của người học sau khi ra trường Người học sau khi ra trường, không chỉ phải được trang

bị những kỹ năng xin việc và thể hiện được năng lực công tác tại một lĩnh vực chuyên môn nhất định Ngày nay, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển, sau khi ra trường người học phải làm chủ được bản thân, có ý tưởng kinh doanh độc đáo, tự thành lập doanh nghiệp và tuyển dụng những người khác Chất lượng và khởi điểm chất lượng của các trường đại học tại Việt Nam rất khác nhau khiến cho chiến lược và các biện pháp đi kèm nhằm cải tiến chất lượng giáo dục nâng cao năng lực khởi nghiệp của người học tại hệ đào tạo đại học và cao học cũng rất đa dạng Nói đến chất lượng đào tạo cần phải kể đến khía cạnh tĩnh là chương trình đào tạo và khía cạnh động là các hoạt động giảng dạy và hướng dẫn sinh viên hội tụ những kỹ năng/năng lực khởi nghiệp cần thiết trong quá trình thực hiện chương trình đào tạo (Todose, 2008) Quá trình này diễn ra rất khác nhau tại hai hệ đào tạo nói trên

Trang 2

Đào tạo đại học ở Việt Nam, khác với ở nước ngoài, nhìn trung mang tính đồng nhất cao với số lượng áp đảo là các sinh viên hệ chính quy so với hệ phi chính quy Tính đồng nhất này cũng được thể hiện ở độ tuổi nhập học (thường là ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học), trình độ dân trí (thể hiện ở việc đạt được điểm sàn nhất định) và tinh thần học tập (học đại học là nhiệm vụ chính và trên hết trong suốt 3-4 năm quãng đời của sinh viên) (Nguyễn Hoàng Tiến, 2017a) Từ thực tế của các đối tượng học tập và mục tiêu học tập nêu trên các nhà quản lý đào tạo cần phải

có những biện pháp cải tiến chất lượng chương trình đào tạo và hoạt động dạy học định hướng khởi nghiệp sao cho phù hợp như sau:

- Tập trung vào việc cung cấp cho sinh viên những kiến thức nền tảng, gắn liền với thực tiễn công việc trong tương lai, được cập nhật liên tục để từ đó hình thành ở họ những kỹ năng và thái độ phù hợp, đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường lao động đầu ra của các chương trình đào tạo

- Chú trọng vào khâu kiểm tra đánh giá công bằng và khách quan trong quá trình và cuối mỗi môn học, tạo tinh thần ganh đua và cạnh tranh lẫn nhau trong học tập và rèn luyện định hướng nghề nghiệp/khởi nghiệp

- Tạo điều kiện để sinh viên, giữa (thông thường sau năm thứ hai) và cuối quá trình học tập (thông thường là học kỳ hai của năm thứ tư), thông qua các đợt thực tập, có cơ hội trải nghiệm và cọ xát để đối chiếu kiến thức đã học, kỹ năng và thái độ đã được rèn luyện với môi trường doanh nghiệp thực tế

- Liên tục lấy ý kiến về chương trình đào tạo và hoạt động đào tạo của các bên có liên quan như: các sinh viên và các cựu sinh viên, các nhà tuyển dụng, các thầy cô trong trường, các chuyên gia cố vấn về giáo dục đại học, các trường đại học khác… để có những điều chỉnh tích cực theo hướng liên tục cải tiến và nâng cao năng lực khởi nghiệp của các em

- Thực hiện benchmarking với các chương trình đào tạo của các trường đại học cùng phân khúc và các trường đại học dẫn đầu cả nước và trên thế giới nhằm rút ra những kinh nghiệm quý báu trong nâng cao năng lực khởi nghiệp cho sinh viên tại đơn vị mình

Đào tạo cao học ở Việt Nam, khác với ở nước ngoài, nhìn trung ít mang tính thống nhất do số lượng áp đảo là các sinh viên và các chương trình đào tạo hệ phi chính quy Ở các nước phát triển, bằng đại học (Bachelor) thường chưa phải là điều kiện đủ để xin được việc làm cho nên sinh viên sau khi tốt nghiệp thường lựa chọn học ngay lên cao học (và xin làm việc bán thời gian – part-time) để nâng cao trình độ bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và thái độ để phù hợp hơn với đòi hỏi hết sức khó tính của thị trường lao động chất lượng cao (Nguyễn Hoàng Tiến, 2017b) Ở nước ngoài, thời lượng học tập, định hướng học tập của các chương trình cao học hết sức khác nhau Có những chương trình cao học kéo dài hơn hai năm, có những chương trình chỉ kéo dài một năm Có những chương trình định hướng thực tiễn, giới hạn kiến thức

và kỹ năng ở góc độ hạn hẹp nhưng chuyên sâu Có những chương trình mang tính thực nghiệm, đơn thuần chỉ là những mô đun kiến thức mà học viên phải học qua để được cấp bằng cuối khóa mà không yêu cầu thực hiện và bảo vệ luận văn thạc sỹ Có

Trang 3

những chương trình định hướng nghiên cứu, chú trọng chất lượng của luận văn thạc

sỹ, phục vụ mục tiêu là chuẩn bị và tạo bệ phóng thuận lợi cho giai đoạn nghiên cứu sinh tiếp theo (Howard và Kai, 2012) Ở Việt Nam các đối tượng tuyển sinh gặp phải những trở ngại nhất định vì đa số các chương trình cao học yêu cầu ứng viên bắt buộc phải có một số năm kinh nghiệm nghề nghiệp nhất định Điều này cũng có cái hay vì rằng khi đó sinh viên, sau một số năm công tác, sẽ có cái nhìn khác, thực tiễn hơn về nhu cầu học tập, ý thức học tập, mục tiêu học tập và cơ hội nghề nghiệp/khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp cao học Họ sẽ tiếp cận quá trình học cao học như một công cuộc đầu tư dài hạn cho tương lai Sự thiếu đồng nhất cũng được thể hiện ở độ tuổi nhập học với độ chênh nhau khá lớn nhưng có xu hướng thu hẹp lại trong thời gian gần đây, ở trình độ dân trí (các ứng viên có nền tảng kiến thức từ các ngành nghề khác nhau tại bậc đại học, như cử nhân sử học, kỹ sư xây dựng, kỹ sư máy tính, kiến trúc

sư, cử nhân kế toán đều có thể, sau khi học qua những môn học chuyển đổi, học cao học quản trị kinh doanh hay tài chính ngân hàng) và tinh thần học tập (mục tiêu và động lực học tập cũng hết sức khác nhau, có những đối tượng chỉ cần bằng cấp để thăng quan tiến chức vì đã có rất nhiều kinh nghiệm thực tế và bản thân đang công tác tại các vị trí lãnh đạo chủ chốt, có những đối tượng kỳ vọng học hỏi được những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để gia tăng cơ hội tìm kiến việc làm tốt hơn) (Nguyễn Hoàng Tiến, 2017b; Todose, 2008) Do vậy năng lực và tinh thần khởi nghiệp của các đối tượng học viên cũng rất khác nhau Tính đồng nhất của các chương trình cao học tại Việt Nam được thể hiện ở chỗ tính đại trà trong đào tạo cao học hiện tại còn chưa cao so với các nước phát triển, thời lượng đào tạo không dưới hai năm, mức độ đa dạng về định hướng chương trình đào tạo không cao và không có sự khác biệt đáng kể giữa chương trình đào tạo của trường này với trường khác do các trường đều trực thuộc sự quản lý của Bộ Giáo dục vào Đào tạo và đều có tham khảo chương trình của nhau trong xây dựng chương trình đào tạo của riêng mình Điều này cũng

có mặt lợi và mặt bất lợi nếu xét tới nhu cầu học tập và định hướng nghề nghiệp/khởi nghiệp hết sức đa dạng của các đối tượng học viên cũng hết sức đa dạng trong bối cảnh hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam và mức độ cạnh tranh ngày càng khốc nghiệt khi xuất hiện càng nhiều trên thị trường các chương trình đào tạo liên kết với các trường đại học của nước ngoài (Nguyễn Hoàng Tiến, 2017a)

Từ thực tế của các đối tượng học tập và mục tiêu học tập của họ, trước bối cảnh mở của của nền giáo dục đại học Việt Nam nêu trên, các nhà quản lý đào tạo cần phải có những biện pháp cải tiến chất lượng chương trình đào tạo và hoạt động giảng dạy/dạy học đinh hướng tới năng lực và tinh thần khởi nghiệp sao cho phù hợp như sau:

- Thu hút các đối tượng là học viên và giảng viên quốc tế đến với các chương trình đào tạo cao học tiên tiến của các nước phát triển để nâng cao tính toàn cầu và sự trải nghiệm đa văn hóa nhằm kích thích đổi mới và sáng tạo cho các đối tượng là học viên và giảng viên trong nước

- Đẩy mạnh triển khai các chương trình liên kết với các cơ sở giáo dục của các nước tiên tiến, đào tạo bằng ngôn ngữ quốc tế (chủ yếu bằng tiếng Anh)

và các ngoại ngữ phổ biến khác song song (như Pháp, Đức, Nhật, Hàn) phục vụ thị trường lao động phát triển cao, đa dạng và khó tính của những nước đó Hướng tới việc cả hai bên đối tác cùng cấp bằng hoặc bằng cấp

do bên đối tác nước ngoài cấp

Trang 4

- Tạo điều kiện để các học viên có cơ hội đi thực tập ngắn hạn và trải nghiệm môi trường làm việc thực tế tại các công ty, các tập đoàn nước ngoài, nhằm trau dồi ngoại ngữ và mài giũa thêm kiến thức chuyên môn, củng cố tinh thần và thái độ làm việc trong môi trường toàn cầu và đa văn hóa của các tập đoàn đến từ nhiều quốc gia, làm tăng thêm tính hội nhập của các chương trình đào tạo bậc cao học, đặc biệt là các chương trình MBA (Executive hoặc International)

- Hướng các học viên cao học tới sự tự học, tự nghiên cứu, tự lập nghiệp, nhấn mạnh triết lý học tập suốt đời để kiến thức đã học không bị mai một, trái lại còn có thể phát huy theo thời gian, phục vụ sự nghiệp và khai thác

cơ hội khởi nghiệp tiềm ẩn của chính họ trong tương lai

- Khuyến khích các đối tượng học viên sau khi ra trường đóng góp vào việc liên kết, xây dựng mạng lưới các mối quan hệ giữa các cựu sinh viên với nhà trường và đội ngũ giảng viên, giữa các cựu sinh viên với nhau, không

chỉ khóa mình và còn với các khóa khác còn lại Từ đó các học viên có thể liên tục học tập, cập nhật thông tin về nhau và giúp đỡ nhau trong quá trình khởi nghiệp (Nguyễn Hoàng Tiến, 2004, 2016; Barolli và Sevrani, 2009); hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp thu nhỏ trong phạm vi nhà trường bao gồm các giảng viên, các cựu giảng viên, các sinh viên, các cựu sinh viên và tất cả các đối tượng khác trong và ngoài trường có quan tâm

Sự khác biệt giữa các chương trình đào tạo đại học và cao học, đặc biệt là tại môi trường giáo dục bậc đại học của Việt Nam, với sức ép của thị trường lao động chất lượng cao đang dần được hình thành và sự chuyên nghiệp hóa, với sức ép của hội nhập giáo dục quốc tế thể hiện ở sự hiện diện ngày càng đông đảo của các chương trình cao học liên kết quốc tế, sự cải tổ nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục Việt Nam ở cả hệ đại học lẫn cao học nhấn mạnh cả về tinh thần lẫn năng lực khởi nghiệp ở người học này càng trở nên vấn đề cấp thiết (Nguyễn Hoàng Tiến, 2017a, 2017b) Trong khi đào tạo ở bậc đại học kéo dài khá lâu, ít nhất là 3.5-4 năm,

hệ chính quy, với khả năng chi trả của các sinh viên (hoặc là của các bậc phụ huynh)

là có hạn, đào tạo bậc cao học chỉ kéo dài từ 1.5 đến 2 năm, hệ phi chính quy, do vậy

có thể thu hút các đối tượng học viên đa dạng hơn cả về khả năng chi trả của họ (hoặc

là của các doanh nghiệp cử họ đi đào tạo dài hạn) cho quá trình đào tạo Trong bối cảnh hội nhập thị trường giáo dục quốc tế và hội nhập thị trường lao động quốc tế thì việc thu hút các học viên quốc tế đến học với chương trình đào tạo cao học đã được kiểm định và có uy tín nhất định và việc cung cấp nguồn lao động chất lượng cao cho thị trường lao động quốc tế đang là sứ mệnh cao cả mà các trường đại học đều đang hướng tới Với xu hướng đó, tinh thần và năng lực khởi nghiệp của các học viên đang dần được quốc tế hóa trong môi trường giáo dục toàn cầu Các chương trình đào tạo

hệ cao học thường linh động hơn, tính thương mại cao hơn là các chương trình đào tạo hệ đại học và có được những lợi thế nhất định trong quá trình hội nhập, vươn ra khu vực và thế giới Các trường đại học nên đầu tư mạnh và có chọn lọc vào phân khúc này, đặc biệt là các chương trình cao học thuộc khối ngành kinh tế như: quản trị

kinh doanh MBA (Master of Business Administration), tài chính ngân hàng MFB (Master of Finance and Banking)…để chúng trở thành những lò luyện giúp nâng cao

Trang 5

năng lực khởi nghiệp cá nhân của các học viên và tinh thần khởi nghiệp trên toàn quốc, hướng tới việc đồng loạt cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục định hướng

khởi nghiệp cho tất cả các đối tượng sinh viên/học viên trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, coi khởi nghiệp là đòi hỏi tiên quyết, yếu tố sống còn của người lao động thời đại mới, tại các cơ sở giáo dục của mình góp phần nâng cao tinh thần quốc gia khởi nghiệp của Việt Nam lên một tầm cao mới so với khu vực và thế giới

Tài li ệu tham khảo:

1 Barolli E and Sevrani K (2009), Reflection on E-learning Readiness in Albanian Education

Contemporary Economics, Vol 9 No 1, pp 5-18

2. Fragueiro, F and Thomas, H (2011), Strategic Leadership in the Business School: Keeping One Step Ahead, Cambridge University Press, Cambridge

3. Howard, T and Kai P (2012), A Sustainable Model for Business Schools Journal of Management Development, Vol 31 No 4, p 381 (DOI 10.1108/02621711211219031)

4. Lorange, P (2008), Thought Leadership Meets Business: How Business Schools Can Become More Successful, Cambridge University Press, Cambridge

5 Nguyễn Hoàng Tiến (2018a) Young University Staff Development in Context of Industrial Revolution

4.0 Scientific Conference “Young University Staff toward Education Innovation and Industrial

Revolution 4.0” April 2018 Hanoi University of Education, Vietnam

6 Nguyễn Hoàng Tiến (2018b) Developing Potential of University Lecturers in Context of Education

Reformation Challenged by Industrial Revolution 4.0 Scientific Conference “Young University Staff

toward Education Innovation and Industrial Revolution 4.0” April 2018 Hanoi University of Education, Vietnam

7 Nguyễn Hoàng Tiến (2017a) Challenges in the International Cooperation of Pedagogical

Universities in Vietnam Conference on “Perspectives of International Cooperation of the

Universities”, October 2017, University of Pedagogy, Ho Chi Minh City

8 Nguyễn Hoàng Tiến (2017b) International Executive MBA Study Program as Part the of

In-ternational Cooperation Strategies of the Universities Conference on “Perspectives of InIn-ternational

Cooperation of the Universities”, October 2017, University of Pedagogy, Ho Chi Minh City

9 Nguyễn Hoàng Tiến (2004), International E-learning Center for Managerial Education in Vietnam

In: Methods to Support Business in EU and Russia Construction Sector of CWBI-ARE Business and

Investment Support Center ASEANPL, 2004, Warsaw, Poland

10 Nguyễn Hoàng Tiến (2016), The Conditions of Academic E-learning Development in Poland

Proceeding of Scientific Conference Using Effective Teaching Methods in Vietnam’s Universities

2016 Faculty of Economics, Thu Dau Mot University in Vietnam, pp 55-62

11. Rynca R and Radomska J (2009), Strategic Dilemmas of Universities Contemporary Economics,

Vol 11 No 3, pp 87-93

12. Todose D (2008), Education Management in Knowledge Based Society Contemporary Economics,

Vol 7 No 3, pp 109-117

Ngày đăng: 15/10/2022, 17:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w