Trong suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước 1911 – 1941, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ tìm được chân lí cho con đường giải phóng dân tộc mà còn có những đóng góp quan trọng cho
Trang 1“BÁO CÁO VỀ BẮC KỲ, TRUNG KỲ VÀ NAM KỲ” VỚI VẤN ĐỀ
PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á
Lư Vĩ An
1 Trong suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước (1911 – 1941), Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh không chỉ tìm được chân lí cho con đường giải phóng dân tộc mà còn có những đóng góp quan trọng cho cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin khi tiếp cận nghiên cứu và nhận thức vấn đề con đường phát triển của các dân tộc phương Đông trong lịch sử, mà Việt Nam là đối tượng nghiên cứu cụ thể Điều này được thể hiện qua những bài viết của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian này Tuy nhằm phục vụ cho mục đích đấu tranh cách mạng song cũng qua đó Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy được bản chất đặc thù của lịch sử các dân tộc phương Đông Nhờ vậy, Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra được những định hướng mang tính chiến lược sáng suốt cho con đường đấu tranh giải
phóng dân tộc ở Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng Đáng lưu ý là bài “Báo cáo về Bắc
Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” với những luận điểm liên quan đến vấn đề phương thức sản
xuất châu Á - một vấn đề mà Mác chỉ nhắc đến ở lời nói đầu tác phẩm “Góp phần phê
phán khoa kinh tế chính trị” (1859) mà chưa có kết luận cuối cùng1
2 “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” được Nguyễn Ái Quốc viết năm 1924,
trong thời gian đang hoạt động ở Liên Xô Theo như Nguyễn Ái Quốc cho biết trong nội dung của báo cáo thì khi đó Nguyễn Ái Quốc đang công tác ở Ban Thuộc địa trực thuộc
Quốc tế Cộng sản Báo cáo được tập hợp và in trong tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập, tập
1, do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành Về nguồn gốc và cấu trúc nội dung của
văn bản, các bài viết “Phát hiện toàn văn bản “Báo cáo Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ”
của Nguyễn Ái Quốc” - tác giả là Chu Đức Tính và Phạm Thị Lai, trên Tạp chí Tuyên giáo của Ban Tuyên giáo Trung ương số tháng 7 năm 2008 và bài “Về một sự ngộ nhận đáng tiếc” của Trần Trọng Tân, đăng trên Tạp chí điện tử Hồn Việt2 đã đề cập và bàn
luận cụ thể Bài giới thiệu về văn bản cũng đã được trình bày trong công trình Tư tưởng
chính trị của C Mác, Ph Ăng ghen, V.I Lênin, Hồ Chí Minh của tác giả Lê Minh Quân3
Vì vậy, bài viết này sẽ không đề cập đến nguồn gốc, cấu trúc văn bản nữa mà trực tiếp tìm hiểu những nội dung trong báo cáo có liên quan đến vấn đề phương thức sản xuất châu Á
3 “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” chủ yếu phân tích tình hình, thực trạng
xã hội xứ Đông Dương thuộc Pháp Trong đó, khi nói đến cuộc đấu tranh giai cấp ở đây,
Trang 2báo cáo có bàn về một số đặc điểm của xã hội Đông Dương thời kì tiền tư bản Toàn bộ nội dung của báo cáo tuy không nhắc đến hay đề cập trực tiếp tới thuật ngữ phương thức sản xuất châu Á, nhưng nếu phân tích kĩ nội dung mục b “cuộc đấu tranh giai cấp” thuộc phần II “Tình hình người bị bóc lột” thì sẽ thấy khi nói đến xã hội xứ An Nam thời tiền
tư bản, Nguyễn Ái Quốc có nêu ra những điểm được xem là đặc trưng của xã hội thuộc phạm trù phương thức sản xuất châu Á4 Dựa trên những phân tích của báo cáo, chúng ta
có thể khái quát thành mấy điểm:
Về tình hình sở hữu, Báo cáo cho biết công hữu vẫn là hình thức sở hữu chủ yếu của
xã hội, “không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của đám đông”5 Báo cáo đề cập đến tính chất yếu kém của tư hữu trước công hữu Với sự xuất hiện của địa chủ, tức đã có
tư hữu thì cái tư hữu ấy cũng chẳng đáng là bao so với cái tư hữu của phương Tây Bởi
giai cấp địa chủ, chỉ là “những địa chủ hạng trung và hạng nhỏ” và “những kẻ mà ở đó (tức An Nam) được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người
trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ”6 Trong báo cáo, Nguyễn Ái Quốc đã dùng từ
“lùn tịt” để so sánh địa vị của địa chủ ở phương Đông so với địa vị của địa chủ ở phương
Tây Nguyễn Ái Quốc còn chỉ ra thêm, cũng là địa chủ nhưng chẳng qua là trùng tên, về bản chất địa chủ ở An Nam là khác với phương Tây
Về lực lượng sản xuất chính, Nguyễn Ái Quốc có nhắc đến những người “nhà quê”
(trong báo cáo được viết bằng tiếng Việt) và cho rằng sẽ là quá đáng nếu so sánh họ -người “nhà quê” với -người nông nô7 Người “nhà quê” ở đây chính là những nông dân và
họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội, chiếm tuyệt đại đa số và có vai trò, thân phận khác người nông nô ở Tây Âu
Về phương thức bóc lột, khi nói đến giai cấp địa chủ ở An Nam, Nguyễn Ái Quốc cho
biết “không có triệu phú người An Nam Những tên thật giàu có ở đó thì ở đây (An Nam)
chỉ là những kẻ thu tô khá giả”8 Cho nên có thể suy đoán rằng phương thức bóc lột chủ yếu của kẻ bóc lột - địa chủ đối với người bị bóc lột - tá điền (người nông dân có ít ruộng hoặc không có ruộng, buộc phải đi thuê của địa chủ để cày cấy và nộp tô) là phát canh
thu tô Và điều đáng lưu ý là mức “thu tô khá giả” so với mức tô ở phương Tây Báo cáo
chỉ ra rằng sự bóc lột đó là không quá lớn, không phải đến mức “tróc da lột xương” mà chúng ta vẫn thường nghe nói đến về xã hội chuyên chế phương Đông Bằng chứng là
“nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có tài sản gì lớn, nếu như
Trang 3nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì
là xa hoa”9
Về mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội và mâu thuẫn giai cấp, Nguyễn Ái
Quốc cho biết “người thì cam chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam
của mình”10 Như vậy, mâu thuẫn giai cấp là không quá mức gay gắt, trong chừng mực
nào đó có thể điều hoà được Bởi về phía người lao động, “đó là sự không giác ngộ, sự
nhẫn nhục và kết quả là thiếu tổ chức”11 và do đó nó dẫn đến sự hạn chế của đấu tranh
giai cấp “Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu Điều đó, không thể chối cãi
được”, “không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây”12
Về nhà nước chuyên chế, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ “An Nam chưa bao giờ có tăng lữ
và thuế mười phần trăm đóng cho Giáo hội Hoàng đế trị vì nhưng chẳng lo cai trị gì Tất nhiên là đã có quan lại rồi”13 và khẳng định không thể so sánh họ (quan lại) với chúa phong kiến Điều này giúp chúng ta biết rằng ở An Nam hoàn toàn không tồn tại chế độ phong kiến với mối quan hệ lãnh chúa - nông nô như ở Tây Âu Đó phải là nhà nước chuyên chế do hoàng đế trị vì, bên dưới có bộ máy quan lại giúp việc và quan lại cũng
không phải là lãnh chúa phong kiến Bởi, Nguyễn Ái Quốc cho biết: “quan lại được
tuyển lựa theo con đường dân chủ: Con đường thi cử, mở rộng cho mọi người và mọi người có thể chuẩn bị thi mà chẳng tốn kém gì”14 Thực tế đã cho thấy, khoa cử là con đường chủ yếu để tuyển chọn và phát hiện nhân tài trong lịch sử Việt Nam suốt từ năm
1075 đến năm 1919, bên cạnh một bộ phận được tập ấm hoặc tiến cử
Về vai trò của xã thôn, Nguyễn Ái Quốc cho biết “quyền lực của quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn” Xã thôn hay làng xã có tính tự trị rất lớn, “luật vua
thua lệ làng” bởi về mặt cấu trúc chính trị lẫn kinh tế, xã thôn vừa là đơn vị hành chính
cơ sở vừa là đơn vị kinh tế tự cấp, tự túc, ít chịu sự tác động của yếu tố bên ngoài Điều này khiến cho xã thôn có tính “đa nguyên và chặt”, khó bị phá vỡ
Từ các phân tích nói trên, Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận “xã hội Ấn Độ - China –
và tôi có thể nói: Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế không giống xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại”15 “Ấn Độ - China” mà Nguyễn Ái Quốc nhắc tới chính là xứ Đông Dương thuộc Pháp mà An Nam (Việt Nam) là một bộ phận trong đó Rõ ràng, xã hội Việt Nam thời kì tiền thực dân có các đặc điểm không giống với xã hội của phương Tây Vậy thì xã hội Việt Nam mang đặc trưng thuộc kiểu
Trang 4hình thái kinh tế - xã hội nào? Ở gần cuối của nội dung “cuộc đấu tranh giai cấp”, Nguyễn Ái Quốc có nhắc đến Mác và cơ sở lịch sử mà Mác đưa ra trong thời đại của
ông Nguyễn Ái Quốc lưu ý rằng “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý
nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”16 Nguyễn Ái Quốc còn đề cập tới các giai đoạn phát triển của
xã hội loài người theo quan điểm của Mác Nguyễn Ái Quốc viết “Mác cho ta biết rằng
sự tiến triển các xã hội trải qua ba giai đoạn: Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau”17 Đồng thời, Nguyễn
Ái Quốc nhấn mạnh: “Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai
giai đoạn đầu không? ”18 Các nhận định này của Nguyễn Ái Quốc đã lưu ý rằng, các dân tộc phương Đông (trong báo cáo Nguyễn Ái Quốc gọi là Viễn Đông) nói chung và
An Nam nói riêng chưa từng trải qua chế độ nô lệ và chế độ nông nô Nguyễn Ái Quốc
nhận xét “từ nhiều thế kỷ nay, họ chẳng hưởng được thái bình hay sao để đến mức làm
cho người châu Âu khinh rẻ họ (lười nhác, mê muội hàng nghìn năm, v.v.)?”19 Cảnh
“thái bình” và các thói “lười nhác, mê muội đến hàng nghìn năm” là một trong những đặc trưng căn bản (tính trì trệ, bảo thủ và tồn tại dai dẳng) của xã hội thuộc phương thức sản xuất châu Á
Dựa vào nhận xét có tính phát hiện của Nguyễn Ái Quốc cùng với những luận điểm
đã phân tích trong mục b “cuộc đấu tranh giai cấp”, chúng ta có thể khẳng định xã hội Việt Nam (và cả các dân tộc Viễn Đông) thời kì tiền tư bản là xã hội thuộc phương thức sản xuất châu Á Tuy chưa nêu hết các đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á cũng như chưa nhắc đến thuật ngữ này nhưng ắt hẳn điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn nói đến chính là kiểu hình thái kinh tế - xã hội này Nguyễn Ái Quốc không nói đến thuật ngữ phương thức sản xuất châu Á là điều tất nhiên vì cũng như Mác (người đã phát hiện và nêu ra thuật ngữ này lần đầu vào năm 1859 sau đó không thấy nhắc đến nữa) là do thuật ngữ phương thức sản xuất châu Á chỉ mới thể hiện không gian địa lý hạn hẹp mà chưa phản ánh được nội hàm của kiểu hình thái kinh tế - xã hội nó dùng để gọi tên
Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc còn chỉ ra yếu tố có thể làm thay đổi phương Đông, nghĩa là có khả năng phá vỡ tính trì trệ của xã hội phương thức sản xuất châu Á, làm cho đấu tranh giai cấp trở nên quyết liệt Đó là sự tác động của chủ nghĩa tư bản phương Tây
“Mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm đổi thay phương Đông thì đấu tranh
giai cấp có trở nên quyết liệt không? Đại để là có, nếu xét gương của Nhật Bản”20 Và
Trang 5khi sự Tây phương hoá càng tăng thì tất yếu chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở phương
Đông “Vì sự Tây phương hoá ngày càng tăng và tất yếu phương Đông; nói cách khác,
chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”21
Mặc dù Mác chưa đưa ra được những kết luận cuối cùng về phương thức sản xuất châu Á, nhưng điều đó không có nghĩa là Mác đã từ bỏ khái niệm này và càng không có
lí nào cấm tìm hiểu và bổ sung nó Cho nên, Nguyễn Ái Quốc đã viết “dù sao thì cũng
không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”22 Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh
việc “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó và củng cố nó bằng dân tộc học
phương Đông Đó chính là nhiệm vụ mà các xô-viết đảm nhiệm”23 Xem xét và bổ sung
cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Marx bằng chính thực tiễn của xã hội phương Đông là điều cần thiết, không chỉ nhằm phục vụ cho mục đích cách mạng thời bấy giờ mà còn có ý nghĩa đối với việc lựa chọn con đường phát triển của các dân tộc phương Đông Nguyễn
Ái Quốc cho rằng cần phải đứng lên trên các thành kiến chủng tộc, không áp đặt một cách tuỳ tiện mô hình phát triển của phương Tây cho phương Đông, tức không nên xem châu Âu là trung tâm mà cần phải xem xét thực tiễn xã hội của các dân tộc phương
Đông, “đứng lên trên các thành kiến chủng tộc, họ sẽ làm cho thế giới được miễn nghe
các lời tầm phào của những Guyxtave Lơbông (Gustave Lebon) và những Hăngri Cóccđie (Henri Cordier)”24
4 Nguyễn Ái Quốc trong quá trình tìm đường cứu nước đã nhận ra được chân lí cho
con đường giải phóng dân tộc là phải tiến hành cách mạng vô sản Nghiễm nhiên, những
lý luận của chủ nghĩa Marx trở thành nền tảng tư tưởng hết sức quan trọng mà Nguyễn
Ái Quốc cần phải tiếp thu và lĩnh hội Bằng tư duy và nhận thức rất khách quan của mình, Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận xét thoả đáng, vừa kế thừa vừa phát huy có sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Marx bằng chính thực tiễn của các dân tộc phương Đông,
trong đó Việt Nam “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” là thành quả mà Nguyễn
Ái Quốc đạt được khi tiếp cận nghiên cứu phương Đông bằng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với thực tiễn lịch sử nơi đây
“Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” có giá trị rất lớn cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn Nó đã xác định đúng con đường phát triển của các dân tộc ở phương Đông như Việt Nam Nhờ đó xác định đúng nhiệm vụ trọng tâm, mục tiêu, phương pháp đấu tranh
và động lực cách mạng, làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam Về mặt khoa học,
Trang 6“Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” giúp chúng ta khẳng định một cách rõ ràng
hơn nữa về tồn tại của phương thức sản xuất châu Á trong lịch sử Việc thừa nhận hình thái kinh tế - xã hội này, tìm hiểu cặn kẽ những đặc trưng cơ bản cùng các ảnh hưởng của
nó đối với lịch sử xã hội có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của đất nước trong tương lai, hạn chế được những hệ quả tiêu cực do phương thức sản xuất châu Á để lại Đó cũng
là cách kế thừa, phát huy lý luận của chủ nghĩa Mác trong thời đại mới, đúng với tinh thần mà Mác và Ăngghen đã đưa ra về tính biện chứng, không có gì là nhất thành, bất biến và là tuyệt đối thiêng liêng25
Tài liệu tham khảo:
1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2 Nguyễn Hùng Hậu (2004), “Phương thức sản xuất châu Á và ảnh hưởng của nó ở
Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị số 01 - 2004.
3 Nguyễn Hùng Hậu (2008), “Một vài điểm tham chiếu trong nghiên cứu phương
thức sản xuất châu Á”, Tạp chí Lý luận chính trị số 01 - 2008.
4 Nguyễn Hồng Phong (2005), Một số công trình nghiên cứu khoa học xã hội và
nhân văn: tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
5 Văn Tạo (1996), Phương thức sản xuất châu Á lý luận Mác – Lê nin và thực tiễn
Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
6 Trung tâm nghiên cứu Mác-xít Pháp (1970), Bàn về các xã hội tiền tư bản (những
đoạn tuyển chọn của Mác, Ăngghen, Lênin) (bản dịch tiếng Việt năm 1975), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
Chú thích:
Mác viết: “Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất Á châu, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội”, dẫn theo Bàn về các xã hội tiền tư bản, tr 158.
2 http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/3042-ve-mot-su-ngo-nhan-dang-tiec.aspx (truy cập ngày 14/12/2014).
http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/4lanhtu/details.asp?
topic=3&subtopic=91&leader_topic=&id=BT1780955298 (truy cập ngày 14/12/2014).
châu Á và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam” của Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Lý luận Chính trị số 1-2004, tr 79-80 và
công trình Phương thức sản xuất châu Á lý luận Mác - Lênin và thực tiễn Việt Nam của Văn Tạo, tr 31-33.
5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13,14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 508, 509 và
510.
Henri Cordier (1849 – 1925) là một nhà ngôn ngữ, sử học, dân tộc học, nhà văn và Đông phương học người Pháp,
tổng biên tập của tờ T’oung Pao – tạp chí quốc tế đầu tiên về ngành Trung Quốc học.
trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hoá, những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế
ĐHKHXH & NV TP Hồ Chí Minh và ĐHKHXH & NV Hà Nội, Hà Nội tr 207 - 216.