Đặc biệt, hoa tulip đã giữ một vị trí đáng kể trong văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ Ottoman, được xem là qu ốc hoa của đế chế này với tên gọi Lâle-i Rûmi.. Bài viết sau đây tìm hiểu về nguồn
Trang 1NGU ỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ HOA TULIP
Ở THỔ NHĨ KỲ THỜI KỲ OTTOMAN
The Origin and History of Tulip in Turkey in the Ottoman
Lư Vĩ An
TÓM TẮT
Tulip (uất kim hương) là một loài hoa xinh đẹp được trồng để làm cảnh ở nhiều nước trên thế giới Nó cũng là biểu tượng văn hóa của một số quốc gia như Hà Lan và Thổ Nhĩ Kỳ Mặc dù hoa tulip được biết đến nhiều nhất ở Hà Lan nhưng Hà Lan lại không phải là cái nôi của hoa tulip Tulip là một loài hoa của phương Đông, có nguồn gốc từ khu vực Trung Á Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ là những nơi trồng tulip đầu tiên trong l ịch sử Đặc biệt, hoa tulip đã giữ một vị trí đáng kể trong văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ Ottoman, được xem là qu ốc hoa của đế chế này với tên gọi Lâle-i Rûmi Bài viết sau đây tìm hiểu về nguồn gốc của hoa tulip, th ời điểm hoa tulip bắt đầu được trồng, các giống tulip ở Thổ Nhĩ Kỳ và khái quát lịch sử của loài hoa này ở Thổ Nhĩ Kỳ thời Ottoman Bên cạnh đó, bài viết cũng giới thiệu một số tác phẩm ghi chép về tulip
th ời kỳ Ottoman
T ừ khóa: hoa tulip, Lâle-i Rûmi, tulip Ottoman, văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ
Abstract
Tulip is a beautiful flower grown for ornamental purposes in many countries around the world It is also the cultural symbol of several countries such as the Netherlands and Turkey Although tulips are the best famous in the Netherlands, the Netherlands is not the motherland of tulips Actually, the tulip is a flower of the East, which is native in Central Asia Persia (Iran) and Turkey were the first tulip cultivation places in history In particular, tulips played a significant role in the Turkish culture during the Ottoman period, and was recognized as the national flower of this empire, that called Lâle-i Rûmi The article seeks for the origin
of tulips, the time when tulips began to be cultivated, the different kinds of tulips in Turkey and an overview
of the history of this flower in Turkey during the Ottoman period In addition, the article also introduces some manuscripts on tulips in the Ottoman era
Keywords: tulip, Lâle-i Rûmi, Ottoman tulip, Turkish culture
Tulip (danh pháp khoa học tiếng Latin là
tulipa, tiếng Hà Lan là tulp, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ
là lale - vốn là từ ﻪﻟﻻ gốc Ba Tư, âm Hán Việt
là u ất kim hương và còn biến âm là uất kim
cương) là tên gọi một loài thực vật có hoa và
củ, sống lâu năm, thuộc họ loa kèn (liliaceae)
Mặc dù không có giá trị sử dụng về mặt y học,
nhưng tulip lại được trồng rộng khắp để làm cảnh vì hoa của chúng rất đẹp (Turhan Baytop
- Cemal Kurnaz, 2003: 79) Hoa tulip được
trồng trên một khu vực địa lý rộng lớn trải dài
từ phía nam châu Âu (bán đảo Iberia đến bán đảo Balkan), phía bắc châu Phi và đặc biệt là
ở châu Á từ Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ), Iran đến
Trang 2phía đông bắc Trung Quốc và Nhật Bản
Trung tâm - nơi đa dạng các giống loài tulip
nằm ở khu vực Trung Á Tulip được xem là
quốc hoa của một vài quốc gia như Thổ Nhĩ
Kỳ và Iran, song nó lại có sự kết nối đặc biệt
với Hà Lan, nơi có truyền thống canh tác, sản
xuất và phổ biến loài hoa này từ thế kỷ XVII
đến nay (J Esteban Hernández Bermejo -
Expiración García Sánchez, 2009: 60) Ngày
nay khi nhắc đến hoa tulip, người ta thường
nghĩ ngay đến Hà Lan, nhưng thực tế hoa tulip
không phải phát nguyên từ Hà Lan mà là một
loài hoa có nguồn gốc lịch sử lâu đời của
phương Đông
1 Ngu ồn gốc của hoa tulip
Quê hương của hoa tulip không phải ở Hà
Lan như mọi người thường nghĩ Cho đến
trước những năm 1570 thì tulip vẫn chưa
được du nhập vào Cộng hòa Bảy tỉnh thống
nhất của Hà Lan Tulip là một loài hoa có
nguồn gốc từ phương Đông, phát nguyên từ
vùng đất Trung Á bao la rộng lớn Các nhà
phân loại học tin rằng những giống hoa tulip
đầu tiên mọc ra từ những bụi cây bên sườn
dốc của dãy núi Thông Lĩnh (Pamir) và nảy
nở mạnh mẽ giữa thung lũng dãy núi Thiên
Sơn Những bông hoa này có hình dáng ít rực
rỡ, với các cánh hoa nhỏ hẹp hơn nhiều so với
hoa tulip Hà Lan Tuy hoa tulip Thiên Sơn
nhỏ hơn nhiều so với hoa tulip hiện đại và các
cánh hoa thường cách mặt đất đến vài inch
(khoảng 5 cm), nhưng chúng lại khỏe mạnh
và thích nghi tốt với mùa đông khắc nghiệt và
mùa hè khô cằn ở Trung Á Gần phân nửa
trong số hơn 120 loại tulip được biết đến đã
tự mọc ở vùng đất hoang dã này (Mike Dash,
2000: 17-18)
Nguồn gốc lịch sử của việc trồng hoa tulip
có thể bắt đầu từ Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ Từ
tulip trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là lale bắt nguồn
từ tülbent, được biết đến trong tiếng Anh là
“Turkish’s cap” (Türk takkesi, tức khăn đội
đầu Thổ) (Jack Goody, 2010: 271) S.W Murray lưu ý rằng tên gọi này có liên quan đến miếng khăn quấn đầu của người Thổ Nhĩ
Kỳ (W.S Muray, 1909: 18) Nguồn gốc của
nó có nghĩa là “hoa trong hình dạng khăn turban” (Turhan Baytop - Cemal Kurnaz, 2003: 79) Từ tulip (lale) trong tiếng Thổ Nhĩ
Kỳ còn đồng nghĩa với lala (Turhan Baytop,
2007: 195) Ngoài ra, lale cũng được cho là cùng vần điệu với từ piyale, nghĩa là một ly rượu vang (Anna Pavord, 2001: 40)
Những bộ tộc du mục người Türks (Thổ, trước đây còn được phiên âm là Tuyếc) khi di chuyển trên các đồng cỏ khắp miền thảo nguyên Trung Á đã bắt gặp hoa tulip nơi nó đang mọc hoang ở thung lũng Thiên Sơn Hoa tulip sau đó trở thành một biểu tượng quan trọng đối với người Thổ Khi các bộ tộc Thổ thiên di về phía tây, họ lại bắt gặp loài hoa mọc hoang khắp vùng cao nguyên Trung Á,
từ dãy Thiên Sơn đến biển Caspian, xa hơn nữa là bờ Biển Đen và phía nam của vùng Kavkaz Những loài tulip này đã lan rộng về phía tây một cách tự nhiên vào hàng ngàn năm trước Vào thời điểm mà các bộ tộc Thổ xâm nhập vào Trung Đông (thế kỷ X-XI), ít nhất một số giống của hoa tulip mà họ bắt gặp đã được trồng trong các khu vườn ở đây (Mike Dash, 2000: 17-18)
Thời điểm chính xác những bông hoa tulip bắt đầu được trồng vẫn còn là điều bí ẩn nhưng vào khoảng năm 1050 hoa tulip đã được tôn sùng ở Ba Tư Hoa tulip mọc trong các khu vườn ở Isfahan, cố đô của Ba Tư và
cả ở Baghdad Chúng cũng được nhắc đến trong bài thơ tứ tuyệt trứ danh của Omar Khayyam - một tác gia Ba Tư nổi tiếng sống
Trang 3vào thế kỷ XI, như một phép ẩn dụ về vẻ đẹp
tuyệt vời của phụ nữ và về sau được các nhà
thơ khác sử dụng như một biểu tượng của sự
hoàn hảo Đến nay hình ảnh hoa tulip trong
áng thơ của Omar Khayyam vẫn được xem là
ghi chép sớm nhất về hoa tulip trong lịch sử
(Michiel Roding - Hans Theunissen, 1993: 9)
Vào cuối thế kỷ XI, khi một nhóm bộ tộc
Thổ là Selçuk xâm nhập vào Anatolia (Thổ
Nhĩ Kỳ) thì hoa tulip bắt đầu xuất hiện trong
nghệ thuật du mục Thổ Người Thổ Selçuk
hoặc đã mang theo giống hoa tulip khi họ bắt
đầu xâm nhập vùng đất này hoặc họ đã phát
hiện ra tulip mọc dại nơi họ định cư Những
họa tiết tulip sớm nhất được tìm thấy trên
những viên gạch khai quật từ cung điện của
một trong các vị sultan người Selçuk là
Alâeddin Keykûbad I (1220-1237), được xây
dựng vào thế kỷ XIII ở hồ Beyşehir phía tây
Anatolia (ngày nay thuộc tỉnh Konya, Thổ
Nhĩ Kỳ) (Mike Dash, 2000, 20) Trong các
áng văn thơ của người Thổ Selçuk ở thế kỷ
XIII cũng chứa những thông tin đầu tiên về
hoa tulip Nhà hiền triết nổi tiếng Mevlânâ
Celâleddîn-i Rûmî (1207-1273) là người Thổ
đầu tiên đề cập đến hoa tulip trong văn thơ
Ông liên tưởng tulip như “nụ cười u sầu nhất
trong tất cả các loài hoa” (Turhan Baytop -
Cemal Kurnaz, 2003: 80)
Người Thổ gọi những bông hoa tulip đầu
tiên được trồng là Kefe lale và Kavala lale
Trong đó, địa danh Kavala nằm ở Macedonia,
quê hương của Tulipa scherenkii Regen, là
biến thể từ một trong những tổ tiên của các
giống hoa tulip được trồng ngày nay (J
Esteban Hernández Bermejo - Expiración
García Sánchez, 2009: 61) Theo truyền thống
Islam, hoa tulip tượng trưng cho lòng trung
thành và chống lại mọi rắc rối của các tín đồ
tin theo chỉ dẫn của Đấng Allah Ngoài ra, nó
còn là biểu tượng của một trái tim u uất phiền muộn (Deniz Gezgin, 2010: 126)
Sau khi người Thổ Ottoman xuất hiện vào cuối thế kỷ XIII và dần trở thành thế lực thống trị khu vực từ đầu thế kỷ XV, họ cũng đã nâng tầm hoa tulip lên một vị trí nổi bật mà nó chưa từng được có trước đây Khi người Thổ Ottoman xâm nhập vào vùng bán đảo Balkan,
sự sùng bái hoa tulip của những người Thổ Ottoman đã tràn ngập khắp vùng Balkan Tuy nhiên, hoa tulip của cả người Ba Tư và các bộ tộc người Thổ thời kỳ này vẫn là hoa dại Ngay cả khi được trồng trong vườn, chúng vẫn chưa được gieo trồng theo nghĩa nhân giống một cách có hệ thống, lai chủng hoặc được cải thiện bởi con người (Mike Dash, 2000: 21)
Đối với châu Âu, cho đến nay, lý thuyết thường được chấp nhận về nguồn gốc của việc trồng và sự du nhập của hoa tulip vào châu Âu
là từ nửa sau thế kỷ XVI Bởi trước đó, người
ta không tìm thấy dấu vết hoa tulip trong các văn bản hoặc khắc họa thời Hy Lạp, La Mã hoặc Byzantine (J Esteban Hernández Bermejo - Expiración García Sánchez, 2009: 60); cũng như không có bất cứ ghi chép hoặc
mô tả nào về loài hoa này trong các văn bản thời Trung cổ ở châu Âu (Anna Pavord, 2001: 29) Hoặc có thể trước đó, hoa tulip dường như chưa đươc biết đến bên ngoài môi trường sống tự nhiên của nó Một số nhà nghiên cứu, chẳng hạn như Anna Pavord cho rằng sở dĩ hoa tulip không xuất hiện trên các chế tác nghệ thuật từ thời Byzantine là do người Bizans không coi trọng hoa tulip, hơn là vì họ chưa biết đến nó, mặc dù trong tác phẩm
Defter-i Lâlezar-ı İstanbul (Cuốn sách vườn
hoa tulip ở Istanbul) cho biết rằng trước khi người Thổ Selçuk xâm nhập vào Baghdad năm 1055 đã có một giống hoa tulip gọi là
Trang 4Sahra-i lale hay sahraî lâle (tulip thảo nguyên)
được biết tới ở Constantinople (sau này là
Istanbul) (Anna Pavord, 2001: 30)
Hoa tulip đã được du nhập từ Thổ Nhĩ Kỳ
vào Châu Âu nhưng thời điểm chính xác thì
đến nay vẫn chưa biết được Đặc phái viên
của triều đình Habsburg tại đế chế Ottoman là
Ogier Ghiselin de Busbecq (tiếng Hà Lan là
Ootgeer Giselijn van Busbeke, 1522-1592)
được cho là một trong số những người châu
Âu đầu tiên mang củ hoa tulip từ Ottoman về
châu Âu Ngày nay ở các nước châu Âu, danh
từ tulip được sử dụng để nhắc nhớ đến tên gọi
tulipan của loại hoa mà Busbecq đã ghi chép
Tiếp theo đó, vào tháng 4 năm 1559 tại
Augsburg (Đức) những bông hoa tulip nở
trong vườn của Johann Heinrich Herwart đã
được nhà thực vật học người Thụy Sĩ là
Conrad Gesner (1516-1565) đặt tên là tulipa
turcarum (tulip Thổ) Conrad Gesner trong
cuốn sách mô tả sớm nhất của châu Âu về
tulip có tựa đề De Hortis Germaniae Liber
Recens viết hai năm sau đó (1561), đã miêu tả
bông hoa tulip đỏ nở trong vườn của Herwart
vào năm 1559 là một sự kiện lớn có tính đầu
tiên ở châu Âu (Anna Pavord, 2001: 5)
Conrad Gesner đã viết rằng loài hoa này nảy
nở từ hạt giống đến từ Constantinople hoặc từ
Cappadocia Những hạt giống này cùng với
những họ hàng hoang dã của nó tập hợp trong
300 năm liên tiếp từ vùng thảo nguyên Siberia
đến Aghanistan, Beirut, bán đảo Marmaris,
Isfahan, Crimea và Caucasus đã trở thành
giống cây được trồng trong các khu vườn
International Register, ấn phẩm của Royal
General Bulbgrowers’s Association xuất bản
thường kỳ tại Hà Lan từ năm 1929 đã liệt kê
hơn 5.500 giống hoa tulip khác nhau Kể từ
thời điểm những bông hoa tulip đầu tiên ở
châu Âu nở trong khu vườn của Herwart
(1559), tulip đã nhanh chóng lan tỏa khắp châu Âu và niềm say mê nó ở châu lục này đã
dẫn đến hiện tượng gọi là “lale deliliği” hay
“lale çılgınlığı” (tulipmania) tức hội chứng hoa tulip với mức độ rất nghiêm trọng
2 Hoa tulip ở Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ Ottoman
Ở Thổ Nhĩ Kỳ có 18 giống tulip khác nhau được trồng Một trong số đó được đặt tên riêng để phân biệt và có vai trò quan trọng trong việc làm cảnh như kaba lale (tulip thô, danh pháp khoa học là tulipa agenensis);
Halep lalesi (tulip Aleppo, tulipa aleppensis)
ở vùng Karacadağ - Urfa; tulipa biflora ở
Başkale (Van); Çelebi lalesi (tulip nhọn,
tulipa clusiana) ở İzmir; bodur lale (tulip lùn,
tulipa humilis) ở khu vực đông Anatolia;
Kağızman lalesi (tulipa kaghyzmanica); Oltu lalesi (tulipa mucronata); kaba lale (một loài tulip thô khác, tulipa praecox); çoban lalesi (tulip tím, tulipa pulchella) ở Bürecek - Adana và quần đảo Toros thuộc miền nam
Anatolia; kereya lalesi (tulipa saxatilis) - tên
gọi này bắt nguồn từ kerey trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ có nghĩa là cheo leo, loại này mọc ở các vách cheo leo ở các làng Söğüt và Taşlıca thuộc khu vực Marmaris - Muğla; Kefe lalesi
(tulip Kefe, tulipa schrenkii) trồng ở Kefe
(ngày nay là Feodosiya, thuộc Ukrayna) là loài tulip được bán ở Istanbul vào thế kỷ XVII;
tulipa sintenissi ở các vùng Ağrı, Muş và Van;
Amasya lalesi (tulipa sprengeri) được trồng
làm cảnh ở châu Âu; tulipa sylvestris ở Yavruağzı (thuộc làng Gürlek, vùng núi
Murat, Kütahya); Trakya lalesi (tulipa thracica) ở vùng Trakya, Türk lalesi (tulip Thổ, tulipa turcarum) là loại đã được mang từ Istanbul đến châu Âu và nở trong khu vườn
của Herwart ở Augsburg (Đức) vào năm 1559;
Geyik lalesi (cũng là loài tulip Thổ, tulipa
Trang 5turcica) vào năm 1844 được nhà thực vật học
người Đức A.H.R Grisebach (1814-1879) đặt
tên, rất phổ biến ở miền tây Anatolia, hoa có
các màu vàng, cam, đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, mọc
nhiều ở khu vực Manisa; tulipa undulatifolia
ở vùng tây và trung Anatolia (Turhan Baytop,
2007: 195-196)
Mười tám giống tulip này ở Thổ Nhĩ Kỳ được phân loại thành hai nhóm chính là
Eriostemones và Leiostemenos cũng là hai nhóm đặc trưng cơ bản trong chi hoa tulip
(tulipa) (Bảng 1)
B ảng 1: Tên gọi và khu vực phân bố của các giống tulip đặc trưng ở Thổ Nhĩ Kỳ
1 Tulipa biflora Đông Anatolia (tỉnh Van)
2 Tulipa humilis Đông Anatolia (tỉnh Van)
3 Tulipa orphanidea Tây Anatolia (phân bố rộng khắp)
4 Tulipa pulchella Nam Anatolia (chủ yếu ở Cilician Tuarus)
5 Tulipa sylvestris Ch ủ yếu ở Tây Anatolia
6 Tulipa saxatilis Tây Anatolia (Muğla, Marmaris, Söğüt, Taşlıca)
7 Tulipa thracica Vùng Thrace (Edirne, Istanbul và Tekirdağ)
8 Tulipa agenensis Ch ủ yếu ở Nam Anatolia
9 Tulipa aleppensis Phía nam và đông Anatolia
10 Tulipa armena Đông bắc Anatolia
11 Tulipa clusiana Tây Anatolia (hi ếm)
12 Tulipa foliosa Ch ủ yếu ở Nam Anatolia
13 Tulipa julia Đông Anatolia
14 Tulipa mucronata Đông Anatolia (tỉnh Erzurum)
15 Tulipa praecox Bắc và Tây Anatolia (hiếm)
16 Tulipa sintenisii Chủ yếu ở Đông Anatolia
17 Tulipa sprengeri B ắc Anatolia (Amasya)
18 Tulipa undulatifolia Tây Anatolia (tỉnh Izmir)
Ngu ồn: Michiel Roding - Hans Theunissen eds., 1993, The Tulip: A Symbol of Two Nations, Turco-Dutch Friendship Association, Utrecht- İstanbul, p 52
Tuy nhiên, các hình dung từ turcarum và
turcica được sử dụng bởi một số nhà thực vật
học cho hoa tulip Thổ Nhĩ Kỳ dễ gây ra nhầm
lẫn về danh pháp khoa học Các tên gọi này
có thể diễn tả một số giống tulip sau đây:
Tulipa turcarumđược gọi bởi Conrad Gesner
có danh pháp đồng nghĩa là tulipa armena;
Tulipa turcicađược gọi bởi A.H.R Grisebach
có danh pháp đồng nghĩa là tulipa orphanidea;
một giống tulipa turcica khác được đặt tên
bởi nhà thực vật học người Đức là Carl
Sigismund Kunth (1788-1850) là tulipa
acuminata; còn giống tulipa turcica được đặt
tên bởi nhà thực vật học Albrecht Wilhem
Roth (1757-1834) là tulipa sylvestris
Từ 250 năm trước khi người Hà Lan đấu thầu củ của hoa tulip thì hoa tulip có lẽ đã xuất hiện từ đồng bằng Kosovo đến vùng biển phía nam của Serbia Trong suốt thế kỷ XIV người Thổ Ottoman dường như đã coi loài hoa này như thứ linh thiêng có thể bảo vệ mình trước những điều rủi ro Hoa tulip có thể đã có mặt trong trận chiến Kosovo năm 1389 (cột mốc đánh dấu sự bành trướng của người Thổ sang khu vực đông nam châu Âu), không chỉ đơn thuần trong các cụm từ thơ ca của biên niên
Trang 6sử mà còn nhiều hơn trong hình thức bùa hộ
mệnh Tuy nhiên nó dường như vô hiệu vào
năm 1402, khi Sultan Bayezid Yıldırım trong
trận giao tranh với quân của Timur Leng tại
Ankara bị thất bại và bắt làm tù binh Đáng
kể hơn khi Sultan Bayezid chết trong lúc bị
giam cầm cũng là lúc những bông hoa tulip
đầu tiên của năm 1403 nở Hậu quả của việc
này đã tạm thời ngăn cản quá trình tiến về
phía tây của hoa tulip và khiến nhà nước
Ottoman mới hưng khởi rơi vào tình trạng
hỗn loạn (được biết đến với tên gọi fetret
devri, tức giai đoạn nội chiến từ năm 1402
đến năm 1413) mất đến nửa thế kỷ sau mới
hoàn toàn khôi phục lại sự ổn định và cường
thịnh (Mike Dash, 2000: 23, 25)
Sau khi người Thổ Ottoman chiếm thành
Constantinople (1453), hoa tulip bắt đầu nở rộ
trong các khu vườn được ra lệnh xây dựng bởi
Sultan Fatih Mehmed, người đã chinh phục
thành phố cũng như tái thiết nó trở thành một
kinh đô tráng lệ với tên gọi Istanbul Dưới
thời Ottoman, vùng đất ngày nay là lãnh thổ
của Thổ Nhĩ Kỳ chứng kiến sự nở rộ của văn
hóa vườn tược Hoa tulip, vốn chưa được biết
đến trong nghệ thuật Byzantine, đã chiếm vị
trí quan trọng trong số bốn loài hoa cổ điển
“quatre fleurs” gồm tulip, hồng, dạ hương lan
và cẩm chướng thời kỳ này (Jennifer Potter,
2013: 151) Trong số tất cả những loài hoa
mọc trong một khu vườn Islam thì hoa tulip
được coi là linh thiêng nhất và niềm đam mê
của người Thổ đối với loài hoa này vượt xa sự
đánh giá cao về vẻ đẹp của nó Đối với người
Ba Tư và người Thổ Ottoman, tulip có một
tầm quan trọng mang tính biểu tượng to lớn
và được xem là hoa của Thượng Đế bởi vì
trong chữ viết Arab, các kí tự tạo nên từ lale
(tulip) gần giống với cách viết của từ Thượng
Đế Allah (الله) Đối với những người làm vườn
Ottoman, tulip là một trong số ít những loài hoa có giá trị hàng đầu và chỉ có hoa hồng, hoa thủy tiên, cẩm chướng và dạ hương lan mới xứng đáng được xếp cùng (Mike Dash, 2000: 22) Vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI khi những cấm đoán về mô tả sinh vật được bãi bỏ, tulip bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong các minh họa của người Thổ Ottoman về vườn địa đàng Người Thổ Ottoman đã thổi một thiên tính mới vào nghệ thuật của họ qua hình ảnh hoa tulip
Đến nửa đầu thế kỷ XVI, dưới thời trị vì
của Sultan Kanuni Süleyman, tulip đã trở thành loài hoa tinh túy của người Thổ Ottoman Đến lúc này nó vẫn chưa được biết đến ở châu Âu, nhưng đã rất phổ biến trong
đế chế Ottoman và trở thành mô típ rất được
ưa chuộng bởi các nghệ nhân và họa sĩ Ottoman Nó thường xuyên xuất hiện trên các
họa tiết bình hoa, gốm sứ cùng với trang trí ở các tòa nhà công cộng và đài phun nước Họa tiết hoa tulip còn được thêu trên áo choàng bằng vải thổ cẩm satin màu kem của Sultan Suleyman Ngay cả quyền trượng của sultan cũng mang biểu tượng của một bông hoa tulip, được chạm nổi trên kim loại mạ vàng Hoa tulip trở thành họa tiết nổi bật trên đồ gốm và gạch thời kỳ này, được thể hiện trong trang trí của cung điện hoàng gia Topkapı và các thánh đường của Istanbul Hình ảnh tulip cũng xuất hiện lần đầu tiên trên gốm sứ Iznik (thuộc tỉnh Kocaeli, Thổ Nhĩ Kỳ) trong khoảng thời gian từ năm 1535 đến năm 1540, đôi khi những bông hoa được thể hiện như thể chúng đang nở trong một khu vườn, đôi khi chỉ là bông hoa đơn lẻ được hiển thị trong những chiếc bình nhỏ (Anna Pavord, 2001: 32) Tulip còn để lại dấu ấn trong một số địa danh ở Thổ Nhĩ Kỳ như Laleli (nơi của hoa tulip) gần tỉnh Erzurum hoặc Laleli geçidi
Trang 7(đèo tulip) giữa hai tỉnh Kayseri và Sivas
(Anna Pavord, 2001: 29)
Cũng từ thời Sultan Kanuni Süleyman,
người Thổ Ottoman bắt đầu trồng trọt và nhân
giống mới hoa tulip để phù hợp với thị hiếu
của họ, được gọi chung là Lâle-i Rûmi hay
Osmanl ı lalesi (hoa tulip Ottoman) Hình
dáng ưa thích của hoa tulip đã thay đổi từ
những bông hoa hình chuông được nhìn thấy
trên hoa văn gốm sứ Iznik thời kỳ đầu thành
những bông hoa hình quả hạnh với những
cánh mỏng duỗi thẳng như cốc thủy tinh
(Jennifer Potter, 2013: 152) Vì được gieo
trồng và sinh sôi ở Istanbul nên nó còn được
gọi là İstanbul lalesi (hoa tulip Istanbul) Hoa
tulip Istanbul có hình dáng đặc trưng, rất khác
so với các giống tulip ở châu Âu ngày nay:
hình quả hạnh, bao hoa chia ra từng khúc với
phần ngọn dài, mảnh và nhọn Nó được mô tả
chi tiết và minh họa trong một số tác phẩm
chép tay Ottoman Hoa tulip Istanbul, vốn
từng có khoảng 1500 giống khác nhau ngày
nay đã biến mất hoàn toàn (Mike Dash, 2000:
29) Chúng chỉ còn được nhìn thấy trong
những bức tranh hoặc thông qua các ghi chép
đương thời Lý do hoa tulip Istanbul không
còn được phổ biến đến ngày nay là bởi chúng
chỉ được trồng bởi một vài người đam mê hoa
theo cách riêng biệt (Michiel Roding - Hans
Theunissen, 1993: 52)
Về nguồn gốc của hoa tulip Istanbul, nhà
thực vật học Carolus Clusius (Charles de
L’Escluse, 1526-1609) trong tác phẩm có tựa
đề Rariorum plantarum Historia (1601) đề
cập đến hai giống hoa tulip được du nhập từ
phương Đông vào châu Âu và ghi chép lại
thông tin về nơi xuất xứ của chúng Hai giống
tulip này là Kefe lale (tulip Kaffa) và Kavala
lale (tulip Cavalla) (Anna Pavord, 2001: 61)
Nhưng vì tên của những giống tulip này
không được đề cập trong các văn bản Ottoman ghi chép về tulip Istanbul đương thời, nên có thể tin rằng hai giống tulip mà Carolus Clusius đề cập đến không phải là tulip Istanbul Người ta ghi lại rằng củ của giống tulip này được đóng vào bao tải gửi đến châu
Âu nhưng những người thiếu hiểu biết vì nhầm lẫn chúng với hành tây đã ăn chúng Nhưng thực ra hoa tulip Istanbul thuần chủng
thời đó rất hiếm và đắt tiền đến mức không thể được xuất khẩu với số lượng như vậy Do
đó, chúng ta không biết được bằng cách nào
hoặc từ giống hoa dại nào mà tulip Istanbul, nổi tiếng bởi bông hoa hình quả hạnh đã được gieo trồng Rất có thể tulip Istanbul đã được lai tạo từ các giống tulip hoang dã khác mà người Thổ Ottoman tìm thấy ở phía bắc bờ biển Đen, trong lãnh thổ của chư hầu Tatars Crimean (Mike Dash, 2000: 28) Nó dường như không giống với giống tulip phương đông, được đưa vào châu Âu trong khoảng thời gian
từ năm 1550 đến 1560 vốn là giống hoang dã
từ vùng Anatolia được bán ở các chợ hoa Istanbul Có rất ít điểm tương tự giữa tulip phương đông, được trồng ở Augsburg năm
1559 và được đặt tên là Tulipa turcarum bởi Conrad Gesner năm 1560 với tulip Istanbul
Mô tả trong cuốn sách De Hortis Germaniae
Liber Recens của Gesner đã củng cố lập luận này, hơn nữa còn cho rằng tulip Istanbul có nguồn gốc từ Cappadocia (Michiel Roding - Hans Theunissen, 1993: 53)
Từ thời Sultan Kanuni Süleyman đã xuất hiện những người làm vườn trồng độc nhất hoa tulip và phát triển những giống tulip được thuần dưỡng Nổi tiếng nhất là Şeyhülislam Ebussuûd Efendi (1490-1574), người sở hữu những giống tulip đặc biệt xinh đẹp được gọi
là “Nûr-i Adn” hay “Nur-i Aden” (Ánh sáng
Địa đàng) Khi người trồng hoa Ottoman bắt
Trang 8đầu nhân giống hoa tulip của riêng họ, thay vì
chọn những giống tốt nhất mà tạo hóa ban
tặng trong tự nhiên, họ đã tạo hình hoa theo
một cách rất riêng Nếu như ở Tây Âu người
ta ưa thích hoa tulip dạng tròn, hình chén với
các màu sắc tương phản thì ở Thổ Nhĩ Kỳ, các
tiêu chuẩn của người trồng hoa Ottoman cũng
không kém phần hấp dẫn, nhưng họ lại ưa
chuộng những bông hoa tulip cao, mỏng, viền
hẹp và cánh hoa có dáng hình dao găm (Anna
Pavord, 2001: 39) Các giống tulip cũng được
gắn cho những tên gọi mỹ miều không kém
phần thu hút như “Dürri Yekta” (ngọc trai vô
song), “Halet-efza” (khí sắc), ngoài ra còn có
“đốt cháy đam mê”, “sự đố kỵ của kim
cương”, “hoa hồng rạng đông” (Mike Dash,
2000: 29) …
Các sultan của đế chế Ottoman cũng ngày
càng dự trữ nhiều củ tulip và sử dụng hoa
tulip cùng các loài hoa khác để tô điểm cho
cung điện và các khu vườn hoàng gia Vào
năm 1574, Sultan Selim II, người kế vị của
Sultan Kanuni Süleyman đã ra lệnh cho
người đứng đầu vùng Aziz thuộc tỉnh Syria
gửi cho vườn hoàng gia 50.000 củ tulip
Mệnh lệnh được ban rằng “Bằng mọi giá
không được bê trễ”, “Mọi việc nên được tiến
hành tốt và nhanh chóng để không làm ta thất
vọng” (Mike Dash, 2000: 29) 300.000 củ
hoa tulip khác thì được gửi đến cho vườn
hoàng gia từ Kefe (ngày nay là Feodosiya ở
Ukraina) (Anna Pavord, 2001: 34)
Vào những năm 1630, nhà thám hiểm
Evliya Çelebi ước tính có ít nhất 300 người
bán hoa cùng với khoảng 80 cửa hàng hoa ở
trong và xung quanh Istanbul Ông cũng ghi
chép rằng các khu vườn dọc theo eo biển
Boğaziçi (Bosphorus) được trồng với nhiều
loại tulip phong phú, là điểm đến thưởng
ngoạn cho du khách thực hiện các chuyến du
ngoạn bằng thuyền từ kinh đô Đồng cỏ của Kağıthane, nơi có dòng suối chảy vào eo biển Bosphorus đặc biệt nổi tiếng với các giống tulip làm say mê vào mua hoa nở Çelebi cũng
đề cập đến tulip Kefe đến từ vùng Kefe là giống hoa mà nhà thực vật học Carolus Clusius nhắc đến (Anna Pavord, 2001: 38) Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, đã có sự gia tăng đáng kể số lượng các giống hoa khác nhau và triều đình Ottoman đã thành lập hội
đồng chuyên môn về trồng hoa (encümen-i dâniş-i şükûfe), đứng đầu bởi một tổng trưởng
(ser şükûfeci) để đánh giá các giống tulip mới
được phân loại bởi người trồng hoa của đất nước Chỉ có những giống hoàn hảo nhất mới được đưa vào danh sách hoa tulip chính thức, mỗi giống được mô tả với tên gọi của người
đã phân loại giống hoa đó Hội đồng này thậm chí còn có những phòng nghiên cứu riêng, nơi những giống cây mới có thể được đánh giá tỉ
mỉ hơn (Anna Pavord, 2001: 39) Các giống tulip này cũng được đặt cho những cái tên lạ lẫm Tên của chúng thường là tiếng Arab hoặc
Ba Tư: Nize-i Rummânî (thương lựu), Peymane-i Gülgûn (kính màu hoa hồng),
Ferah-efza (tăng niềm vui), thi thoảng mới bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Büyük Al (đỏ tươi),
İkbal Yıldızı (ngôi sao hạnh phúc), Altın Sarısı
(vàng rực), Bıyıklı (râu ria), Cüce Moru (tím lùn), Nar Çiçeği (hoa lựu)…Có tất cả trên
dưới 61 tên gọi như vậy (Michiel Roding - Hans Theunissen, 1993: 54)
Ở đế chế Ottoman (và sau đó là Hà Lan) luật pháp luôn được thi hành để kiểm soát nạn đầu cơ Các sultan ra lệnh cho người đứng đầu kinh thành Istanbul công bố giá cố định của những bông hoa tulip được tìm kiếm nhiều nhất Bất cứ ai tìm cách bán củ hoa tulip với giá cao hơn quy định sẽ bị trục xuất khỏi kinh thành Trong một danh sách giá cố định (narh
Trang 9defteri) ban hành ngày 27 Şevval 1138 (nhằm
ngày 28 tháng 6 năm 1726) có đề cập tên của
239 loại hoa tulip (Münir Aktepe, 1953, 94),
trong đó Nize-i Rummânî (thương lựu) là đắt
nhất trong số 239 hoa tulip được đăng kí Nó
có giá 50 kuruş hoặc bảy đồng tiền vàng
Cũng loại hoa đắt tiền này tiếp tục đứng đầu
danh sách 306 giống tulip được công bố vào
tháng 8 năm sau, nhưng chỉ trong thời gian
ngắn giá của nó đã tăng gấp bốn lần, lên 200
kuruş Một giống tulip khác có màu đỏ xa
hoa với các vệt phức tạp và viền màu vàng
có giá 150 kuruş Đứng vị trí thứ ba là một
giống tulip đỏ và vàng khác, có giá 100 kuruş
(Anna Pavord, 2001: 50) Danh sách chính
thức chỉ nêu tên các giống đắt nhất hiện có,
là những giống tulip có khả năng cám dỗ các
nhà đầu cơ và chỉ chiếm khoảng một phần
năm tổng số hoa tulip tồn tại trong thời bấy
giờ Nơi bán hóa thường diễn ra ở phía sau
thánh đường có tên Yeni Camii ở quận
Eminönü (Istanbul), nơi mà ngày nay vẫn
còn hiện hữu một chợ hoa
Niềm say mê hoa tulip của người Thổ
Ottoman tăng lên theo thời gian với những
hình thức khác nhau và đạt đến đỉnh cao vào
thế kỷ XVIII, đặc biệt dưới thời kỳ được biết
đến với tên gọi Lale Devri (kỉ nguyên hoa
tulip) trong lịch sử Ottoman (1718-1730)
Lale Devricũng tương ứng với thời gian trị vì
của Sultan Ahmed III (1703-1730) Dưới thời
Ahmed III, Thổ Nhĩ Kỳ trở thành trung tâm
của nghề trồng hoa Vùng đồng cỏ mùa hè ở
Manisa là những cánh đồng hoa tulip của
sultan, nơi củ tulip được truyền giống để cung
cấp cho các khu vườn hoàng gia ở Ciragan,
Sa’d Abad và Nesat Abad (Anna Pavord,
2000: 45) Ahmed III hoàn toàn chìm đắm vào
loài hoa yêu thích của mình và chính trong
giai đoạn này, làn sóng buôn bán củ hoa tulip
giữa phương đông và phương tây đã diễn ra mạnh mẽ vì Ahmed III đã cho nhập hàng triệu
củ hoa tulip từ Hà Lan về Thổ Nhĩ Kỳ để trang trí cho khu vườn của mình Khi đó, không ai
ở châu Âu có thể sánh được với những người trồng hoa Hà Lan trong việc sản xuất và tiếp thị những bông hoa tulip Dựa theo những văn bản chép tay đương thời, thương mại hoa tulip Ottoman tăng lên từ ngày này qua ngày khác,
và sự trao đổi giữa các củ tulip khác nhau đã tạo ra các giống hoa tulip khác lạ và đẹp đẽ nhất (Anna Pavord, 2000: 44) Nhưng cơn say
mê tulip của Ahmed III cũng chính là nguyên nhân kéo vị sultan này xuống khỏi ngai vàng
Sự tiêu tốn ngân sách cho các lễ hội hoa tulip
vô độ hàng năm cuối cùng đã dẫn tới cuộc đảo chính cung đình vào năm 1730 với việc Ahmed III bị phế truất Kỷ nguyên hoa tulip cũng chấm dứt kể từ đó
3 Ghi chép v ề hoa tulip thời kỳ Ottoman
Trong các thư viện của Thổ Nhĩ Kỳ hiện còn lưu trữ lại khoảng hơn 30 tập sách chép tay về các loài hoa, trong đó có những thông tin quý giá về hoa tulip như đặc điểm của chúng, danh tính người trồng, tên của các giống hoa hiếm và một phần hình ảnh minh
họa các giống tulip trong các thế kỷ XVII-XVIII Có thể kể đến một số tác phẩm điển
hình như Netayicü’l-ezhar (1699) của
Mehmed Ubeydî; Şükûfenâme (1667) của Ali Çelebi; Gonce-i Lâlezâr- ı Bağ-ı Kadîm (1703)
của Mehmed Remzi; Mizânü’l-ezhâr (1703-1730) của Şeyh Mehmed Lalezâri; Lâlezâr-ı
İbrahim (1727) của Reisülküttab Üçanbarlı
Mehmed Efendi; Şükûfenâme (1730-1754)
của Abdullah Mahmud; Risâle-i Esâmi-i Lâle
(1751) của Belgradlı Ahmed Kâmil;
Takvimü ’l-Ezhar (1801) của Tabib Mehmed Aşkî; Şükûfenâme (1875) của Urfalı Admî;
Trang 10Mi’yârü’l-Ezhar của Tabib Aşkî và
Tuhfetül-Elvan của Fennî Mehmed Çelebi (A Süheyi
Ünver, 2006: 269-270)
Nội dung cơ bản của các tác phẩm này có
thể tóm lược như sau:
Ali Çelebi Şükûfenâmesi hay
Şükûfenâme-i AlŞükûfenâme-i ÇelebŞükûfenâme-i của Ali Çelebi được viết vào năm
1667 (1), gồm bốn phần, trong đó phần thứ
hai đề cập đến các giống hoa tulip màu sắc
sặc sỡ có tên gọi như çorbacı ablağı, cüce
ablağı, gülreng kırlangıç (Seyit Ali
Kahraman, 2015: 32)
Netâyicü’l-ezhâr (Thành tựu các loài hoa),
ngoài ra còn được biết đến với tên gọi
Ubeydullah (Abdi) Efendi Şükûfenâmesi hay
Tezkere-i Şükûfeciyân của Hacı Mehmed bin
Ahmed el-Ubeydî, viết khoảng năm
1689-1699 gồm 125 trang (2), là tác phẩm đầu tiên
trong số các văn bản chép tay Ottoman tôn
vinh vẻ đẹp của hoa tulip và kĩ năng của
những người đã trồng chúng Tác phẩm này
đã ghi chép tên của 202 người trồng hoa xuất
chúng nhất thời kỳ đó Ngoài ra tác phẩm này
cũng liệt kê tên của 367 Rumî lâlesi (hoa tulip
Istanbul) (Seyit Ali Kahraman, 2015: 83)
Người trồng hoa quan trọng nhất tại
Istanbul vào đầu thế kỷ XVIII là Şeyh
Mehmed Lâlezârî, tổng quản làm vườn (ser
şükûfeci) của Đại Tể tướng Damad İbrâhim
Paşa dưới thời Sultan Ahmed III Şeyh
Mehmed Lâlezârî đã miêu tả về hoa tulip
Istanbul, đạt được như kết quả của sự lựa chọn
giống trong một khoảng thời gian nhiều thế
kỷ: những bông hoa có hình quả hạnh, cánh
đài có hình dao găm với phần đầu nhọn Vào
thời Ottoman, chỉ có những giống tulip với
đặc trưng trên mới được coi có giá trị Cuốn
sách Lâlezarî Mehmed Efendi Şükûfenâmesi,
Tezkere-i Şükûfeciyân tức Mîzânü’l-ezhâr
(Cẩm nang về hoa) hoặc (Sách chỉ dẫn về các loài hoa) của ông gồm 28 trang (3), được chia làm ba phần Trong phần đầu của tác phẩm, Şeyh Mehmed Lâlezârî đã miêu tả hơn 20 đặc trưng cần thiết để xác định giá trị của một loài hoa tulip Phần thứ hai thảo luận về việc trồng hoa tulip và đặc biệt là chất lượng đất cần thiết Phần thứ ba đề cập đến chi thủy tiên (zerrin)
và mô tả 17 đặc trưng của giống này Tác
phẩm này vào năm 1815 đã được Heinrich Friedrich von Diez (1751-1817) - một nhà ngoai giao người Phổ, dịch sang tiếng Đức
với tựa đề Tulpen und Narcissen-Bau in der Turkey aus dem Türkischen des Scheich Muhammed Lalezari Sau đó được W.S Murray dịch lại sang tiếng Anh với nhan đề
The Habit of Flowers (Michiel Roding - Hans Theunissen, 1993: 53)
Một cuốn sách chép tay của Mehmed Ucambarli có tựa đề Defter-i Lalezar-i Ibrahim (Cuốn sách về vườn tulip của Ibrahim) viết năm 1726 liệt kê 850 chủng loại tulip (Anna Pavord, 2000: 50) Theo ghi chép trong tác phẩm này, tên gọi duy nhất được biết tới của tulip ở Istanbul trước khi người Thổ Ottoman chiếm lại Baghdad lần thứ hai (1638)
là sahraî lâle (tulip thảo nguyên) Sử gia Hoca
Hasan Efendi, người tháp tùng quân đội của Sultan Mehmed IV (1623-1640) trong cuộc
viễn chinh sang Baghdad đã mang từ Ba Tư
về bảy giống tulip và trồng chúng ở Istanbul Schmid von Schwarzenhorn (1590-1667), viên đại sứ Áo cũng mang mười giống tulip vào năm 1651 Cũng thời gian đó, củ tulip được mang từ đảo Crete và chúng trở nên phổ
biến như Cretan tulips Nguồn gốc của các
giống cũ được gọi là hoa tulip Istanbul chưa được thiết lập chắc chắn M.H Hoog so sánh
cánh đài của chúng với họ Tulipa schrenkii và
lập luận mạnh mẽ về nguồn gốc của loài tulip