1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trà trong văn hóa thổ nhĩ kỳ thời kỳ ottoman tea in the ottoman turkish culture”, tạp chí nghiên cứu châu phi và trung đông số (193) tháng 09 năm 2021

10 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 313,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÀ TRONG VĂN HÓA THỔ NHĨ KỲ THỜI KỲ OTTOMAN Tea in the Turkish Culture in the Ottoman Period Lư Vĩ An TÓM T ẮT Trà là một trong những thức uống phổ biến và được ưa chuộng nhất trên t

Trang 1

TRÀ TRONG VĂN HÓA THỔ NHĨ KỲ THỜI KỲ OTTOMAN

Tea in the Turkish Culture in the Ottoman Period

Lư Vĩ An

TÓM T ẮT

Trà là một trong những thức uống phổ biến và được ưa chuộng nhất trên thế giới Không chỉ vậy, trà còn gi ữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của nhiều dân tộc, trong đó có người Thổ Nhĩ Kỳ Trà

đã được biết tới ở Thổ Nhĩ Kỳ từ thế kỷ XVII vào thời Ottoman qua ghi chép của các thư tịch và văn bản đương thời Đến giữa thế kỷ XIX thì nó trở thành thức uống được phổ biến rộng rãi trong xã hội Ottoman Cũng như cà phê, trà là một trong những yếu tố không thể thiếu trong đời sống thường nhật của người Thổ Nhĩ Kỳ Văn hóa trà của Thổ Nhĩ Kỳ mang những nét đặc trưng riêng biệt từ loại trà sử dụng cho đến dụng

cụ pha chế, dụng cụ thưởng thức và cách thức pha trà Trà ở Thổ Nhĩ Kỳ được uống tại nhà mỗi ngày vào bữa sáng và được dùng để chiêu đãi khách mời Trà cũng được uống tại những địa điểm công cộng như trà lâu, trà phòng, trà điếm và trà viên Bài viết tìm hiểu nguồn gốc và lịch sử du nhập của trà ở Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ Ottoman Qua đó, bài viết phân tích những nét đặc trưng trong văn hóa trà Thổ Nhĩ Kỳ, thể hiện ở các phương diện: nghệ thuật uống trà của người Thổ Nhĩ Kỳ, vai trò của trà trong đời sống xã hội Thổ Nhĩ

Kỳ, cũng như ảnh hưởng của trà đối với y học cổ truyền và ẩm thực đất nước này

Từ khóa: Trà, văn hóa trà, Thổ Nhĩ Kỳ, thời kỳ Ottoman

Abstract

Tea is one of the most popular and favorite beverages in the world Not only that, but tea plays an important role in the cultural life of many nations, including the Turks According to records of some primary sources and contemporary documents, tea has been known in Turkey since the 17 th century during the Ottoman period By the mid-nineteenth century, tea became a widely popular beverage in Ottoman society Like coffee, tea is one of the essential factors in the daily life of the Turkish people The Turkish tea culture has distinctive features that predicate the types of tea, the utensils to prepare and enjoy as well as procedures to make tea Tea in Turkey is not only drunk in breakfast at home every day but also is used to invite visitors Moreover, tea is consumed in many public places such as the tea house, tea room, tea garden, and tea shop This article seeks the origin and the introduction of tea to Turkey in the Ottoman period Thereby, the article reviews some basic features of the Turkish tea culture, such as the art of drinking tea, the role of tea in Turkish social life, as well as the influence of tea on the traditional medicine and cuisine

of this country

Keywords: Tea, tea culture, Turkey, Ottoman period

M ở đầu

Trà (hay chè, tên khoa học là Camellia

sinensis) là một loại thực vật thuộc họ chè

(theaceae) có vị đắng, mùi thơm đặc biệt và

thường được dùng làm thức uống (Kemalettin

Kuzucu, 2016: 287) Cây trà thường cao từ 1

đến 3m Một số giống loài hoang dã có thể phát

triển cao đến 10m (Safa Kılıçoğlu et al., 1969:

 Đại học Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ

372) Tuy danh pháp khoa học chính thức của

trà là Camellia sinensis, nhưng nó còn được biết

tới với một số tên khoa học khác như Thea

viridis , Thea sinensis, Thea bohea, Camellia theifera , Camellia thea, và Camellia bohea

Các nhà thực vật học phân loại trà làm hai giống

cơ bản là Camellia sinensis var sinensis và Camellia sinensis var assamica Trong đó,

Camellia sinensis var sinensis là giống trà bản

Trang 2

địa ở phía tây Vân Nam, Trung Quốc được biết

đến trong nhiều thế kỷ trước khi giống assamica

được phát hiện Còn Camellia sinensis var

assamica là giống bản địa của vùng Assam ở

Ấn Độ và Miến Điện, Thái Lan, Lào,

Campuchia, Việt Nam (Laura C Martin, 2007:

8) Ngoài hai giống nêu trên, một số nhà phân

loại học còn đề cập tới giống Camellia sinensis

var cambodiensis Về đặc điểm thì C sinensis

var sinensis có hương vị tinh tế, C sinensis var

assamica có vị đậm đà, còn C sinensis var

cambodiensis có hương vị lai tạp giữa các giống

khác (Julia Skinner, 2019: 2) Tùy thuộc vào

giống trà và nơi gieo trồng, một bụi cây trà có

thể cho thu hoạch trong 50 năm Đặc biệt giống

sinensis cho năng suất cao nhất, đôi khi có thể

thu hoạch lên đến 100 năm (Laura C Martin,

2007: 12) Sau khi thu hoạch và trải qua một

loạt các quy trình xử lý, bột trà hoặc lá trà khô

thu được sẽ dùng đun sôi để uống Một trong

những quy trình quan trọng được thực hiện khi

chế biến trà là oxy hóa Từ những cách thức xử

lý lá trà khác nhau sẽ cho ra những loại trà có

hương vị khác nhau Nếu lá trà được oxy hóa và

sấy khô thì sẽ thu được “trà đen” Nếu lá trà trải

qua quá trình bán oxy hóa thì thu được “trà vàng”

có màu nhạt hơn trà đen với tên gọi phổ biến

trong thuật ngữ quốc tế là “ô long” Còn nếu lá

trà được chế biến mà không qua quá trình oxy

hóa thì sẽ thu được “trà xanh” (Mustafa Duman,

2005: xiii)

1 Ngu ồn gốc và lịch sử của trà ở Thổ Nhĩ

K ỳ thời kỳ Ottoman

Danh pháp Latin của trà là “thea sinensis”,

trong khi tên gọi phổ biến khắp thế giới hiện

nay của trà bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc Nó

được phát âm là t’e (theh) trong phương ngữ Hạ

Môn (Amoy) của tiếng Mân Nam (Hokkien)

được nói bởi người dân tỉnh Phúc Kiến, Trung

Quốc Còn đối với tiếng Quan thoại (Mandarin)

trà được phát âm là cha (tcha) Trong khi cách

phát âm từ phương ngữ Amoy của trà ảnh

hưởng tới các ngôn ngữ phương Tây như Pháp

(thé), Anh (tea), Ý (te) thì cách phát âm trong

tiếng Quan thoại của trà lại phổ biến sang Nhật

Bản, Ấn Độ, Iran và Nga, những nơi nó được

gọi là ça, чай (chai), çay và şay (Kemalettin

Kuzucu, 2016: 287)

Hầu hết những nghiên cứu hiện nay đều thống nhất rằng trà có nguồn gốc từ Trung Quốc

K Jelinek vào năm 1978 cho rằng trà đã được con người sử dụng từ thời kỳ đồ đá cũ (khoảng 500.000 năm trước) Các bằng chứng khảo cổ học từ thời đồ đá cũ chỉ ra rằng lá của loài

Camellia sinensis (thủy tổ các giống trà) được

nấu bởi người Homo erectus sống ở khu vực

ngày nay là Trung Quốc (Laura C Martin, 2007: 23) Một số nghiên cứu khác thì cho rằng trà đã được trồng ở miền Nam Trung Quốc từ 2000 năm trước Công nguyên Theo truyền thuyết, trà xuất hiện ở Trung Quốc vào khoảng 5000 năm TCN từ thời Thần Nông (2737-2697 TCN) (Tuğba Kurt, 2020: 5) Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng trà ban đầu mọc hoang ở Assam (Ấn Độ), một thiền sư tên là Ngô Lý Chân từng học ở Ấn Độ khi trở lại Trung Quốc vào khoảng năm 53 TCN đã mang bảy cây trà về trồng ở núi

Mạnh (Mạnh Sơn) tại Tứ Xuyên Loại trà trồng

ở Mạnh Sơn đã trở nên nổi tiếng tại Trung Quốc

và được gọi là “Mông đỉnh Cam lộ” (hay Cam lộ) nghĩa là sương ngọt của đỉnh Mạnh (Helen Saberi, 2010: 11) Từ thế kỷ IV, trà đã dần trở nên phổ biến ở Trung Quốc Tuy nhiên, người

ta chưa uống nó nhiều mà chủ yếu vẫn sử dụng như một vị thuốc Trà khi đó còn được dùng để

ăn như một loại rau, thậm chí được dùng làm thuốc xông hoặc bôi bên ngoài như một loại thuốc đắp (Laura C Martin, 2007: 23) Thời nhà Đường, tác phẩm Trà kinh gồm ba quyển,

mười chương do Lục Vũ (733-804) biên soạn

đã tập hợp những thông tin về trà và được xem

là chuyên luận đầu tiên về trà học trên thế giới (Mustafa Duman, 2005: 14) Đến thế kỷ X, trà

trở thành thức uống quốc gia của Trung Quốc

và được mệnh danh là một trong bảy nhu cầu thiết yếu trong đời sống từ thời nhà Tống Trà cũng là mặt hàng trọng yếu trong nền thương

mại đem lại nguồn ngân quỹ lớn cho triều đình

Trang 3

(Julia Skinner, 2019: 3) Quốc gia đầu tiên tiêu

thụ trà bên ngoài Trung Quốc là Nhật Bản Do

vị trí địa lý thuận lợi gần Trung Quốc nên nước

này đã biết đến trà từ rất sớm Đến thế kỷ XII,

trà trở nên phổ biến ở Nhật Bản Không chỉ là

thức uống, trà Nhật Bản còn được nâng tầm

thành một loại hình nghệ thuật được biết đến là

“chado” hoặc “chanoyu” tức trà đạo (Mustafa

Duman, 2005: 15) Sau Nhật Bản, các dân tộc

Ấn Độ, Mông Cổ, Iran và Ả Rập cũng biết đến

trà thông qua kết nối của tuyến đường thương

mại thời bấy giờ Những ghi chép sớm nhất về

trà ở Trung Đông đã được biết đến vào giữa thế

kỷ IX (Julia Skinner, 2019: 4) Ở Ba Tư, giữa

thế kỷ XVII, trà trở thành thức uống phổ biến

trong tất cả các mùa Tại kinh đô Isfahan của

triều đình Safavid, nhiều cửa hàng “çây-ı

H ıtaîhâne” tức tiệm trà Trung Quốc đã được

mở (Kemalettin Kuzucu, 2016: 288) Sau thế

giới Islam, Nga cùng với các dân tộc như

Kazakh, Turkmen và Uzbek nằm dưới sự thống

trị của Nga cũng biết đến và bắt đầu tiêu thụ trà

Trà trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được phát âm là

çay, chịu ảnh hưởng bởi cách phát âm trong

tiếng Nga và Iran (Kemalettin Kuzucu, 2016:

287) Một mặt, mối liên hệ giữa người Thổ

Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ với cộng đồng người

Türk (Thổ) ở Trung Á như Kazakh, Turkmen

và Uzbek, cùng những đợt di cư của cộng đồng

này từ Trung Á đến Anatolia và Istanbul đã

đóng vai trò trong việc lan tỏa trà sang lãnh thổ

đế chế Ottoman Mặt khác, trà cũng đã được

đưa từ Trung Quốc vào Ottoman theo tuyến

đường thương mại (Mustafa Duman, 2005: 23)

Sớm nhất là vào thế kỷ XVI, người Thổ

Ottoman đã biết tới trà (Kemalettin Kuzucu,

2016: 288) Trà được thấy trong danh mục

nguyên liệu cung cấp cho “kilâr-ı âmire” (kho

hoàng cung) vào thế kỷ XVIII Tuy nhiên rất có

thể nó vẫn chưa được sử dụng làm thức uống

một cách phổ biến vào thời kỳ này mà chỉ dùng

làm hương liệu trong việc pha chế şerbet (nước

trái cây có hương thơm) Việc uống trà theo

cách hiện đại ngày nay ở Thổ Nhĩ Kỳ chỉ bắt

đầu từ sau thời Tanzimat (1) Miss Julia Pardoe,

một người Anh từng đến Istanbul năm 1836, trong tác phẩm Sultanlar Şehri (Thành phố của

các quốc vương) cho biết trà đã được dùng để chiêu đãi họ khi viếng thăm Mekteb-i Harbiyye (Trường Quân sự) Trà còn là mặt hàng có giá

trị cao nhất trong danh sách chi tiêu hàng tháng dành cho các phái viên ngoại giao của Hãn quốc Kokand (Uzbekistan) lưu trú tại dinh thự Hâşim Ağa ở Istanbul vào năm 1839 (Kemalettin Kuzucu, 2016: 288) Hacı Mehmed İzzet Efendi, người có biệt danh “Çaycı” (người bán trà), trong tác phẩm Çay Risâlesi (Tập sách trà) viết năm 1878 tự mô tả mình là một kẻ nghiện trà Điều này cho thấy thói quen uống trà trong xã hội Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt đầu từ trước đó - vào những năm 1840

Ban đầu, trà dùng để tiêu thụ ở Ottoman hầu hết được nhập khẩu từ Nhật Bản và Trung Quốc Thị trường trà của Istanbul trước thời Tanzimat

do những người Hồi giáo gốc Kavkaz và Bukhara nắm giữ, từ nửa sau thế kỷ XIX thì thuộc về các thương nhân Hy Lạp và Armenia (Kemalettin Kuzucu, 2016: 288) Với việc giảm thuế quan qua hiệp ước cảng Balta kí với Anh năm 1838, người Anh cũng đã xâm nhập vào thị trường thương mại trà của Ottoman (Tubğa Kurt, 2020: 56) Chỉ từ sau sự kiến lập của II Meşrutiyet (đệ nhị quân chủ lập hiến) vào năm

1908, người Thổ Nhĩ Kỳ mới dẫn đầu trong việc buôn bán trà Trà được đưa bằng thuyền đến Istanbul, sau đó mới vận chuyển sang các cảng ở Izmir và Trabzon để từ nơi này phân phối khắp các tỉnh trong lãnh thổ Ottoman Ngoài ra, trà cũng được vận chuyển bằng đường bộ từ Nga sang Thổ Nhĩ Kỳ

Trong thời Tanzimat, bộ phận các quan chức

và tri thức Ottoman trở về từ Châu Âu đã du nhập lối sống và văn hóa trà của châu lục này sang Thổ Nhĩ Kỳ Loại trà đóng gói do thương nhân người Anh là Sir Thomas Lipton tung ra

thị trường năm 1889 đã mặt tại các cửa hàng của Istanbul cùng thời gian đó Ngoài ra, những người nhập cư từ Iran và Nga cũng đã mang văn

Trang 4

hóa trà của họ vào khu vực phía đông và trung

tâm của Thổ Nhĩ Kỳ (Anatolia, Tiểu Á) Ngày

nay việc uống trà nhạt với bình samovar ở tỉnh

Erzurum và Kars cho thấy ảnh hưởng từ Nga,

trong khi thói quen uống trà đậm ở Van và

Hakkari cho thấy ảnh hưởng của Iran Vào nửa

sau thế kỷ XIX, những người Thổ sinh sống ở

khu vực Biển Đen đến Nga làm việc đã mang

theo cây trà về quê nhà và bắt đầu trồng chúng

trong các đồn điền của họ (Mustafa Duman,

2005: 23) Kết quả là nghề pha chế trà nghiệp

dư đã xuất hiện tại các tỉnh vùng Biển Đen của

Thổ Nhĩ Kỳ là Rize và Artvin

Việc sản xuất trà ở Thổ Nhĩ Kỳ thời Ottoman

ban đầu rất hạn chế Các nỗ lực trồng và sản

xuất trà chỉ bắt đầu từ thời Sultan Abdülhamid

II (1876-1909) Tuy là một người nghiện cà phê,

song Sultan Abdülhamid II cũng tỏ ra quan tâm

đến trà và nhận ra tầm quan trọng về mặt kinh

tế của nó, do đó ông đã cho thúc đẩy việc trồng

và phổ biến trà trong lãnh thổ Ottoman (Helen

Saberi, 2010: 77) Trong khuôn khổ chính sách

nông nghiệp của Sultan Abdülhamid II, nỗ lực

trồng thử nghiệm các giống cây trà nhập từ

Trung Quốc và Nhật Bản ở khu vực phía tây

Thổ Nhĩ Kỳ như Bursa, Istanbul, Thessaloniki

và một số nơi ở khu vực Anadolu (Tiểu Á) đã

được tiến hành Dẫu vậy, chính sách này ban

đầu đã không mang lại kết quả đáng kể nào Vào

năm 1878, các hạt trà giống mang từ Nhật Bản

đã được trồng thử ở các nông trại nhưng không

thành công (Mustafa Duman, 2005: 23) Theo

ghi chép trong tác phẩm Coğrafyayı Sınai ve

Ticari (Địa lý kỹ nghệ và thương mại, 1892),

năm 1888 với vai trò của Esbak-ı İsmail Paşa,

Bộ trưởng Thương mại thời đó, một nỗ lực

chính thức trồng giống trà mang từ Trung Quốc

đã được tiến hành ở Uludağ, Bursa Tuy nhiên,

do điều kiện môi trường không phù hợp nên đã

không đạt được kết quả như mong đợi (Tuğba

Kurt, 2020: 57) Sau lần thử nghiệm này, hạt trà

giống mang từ Nhật Bản cũng được trồng thử

vào năm 1892 nhưng vẫn thất bại (Mustafa

Duman, 2005: 24)

Trong lúc những nỗ lực của chính phủ khi đó

có vẻ gặp nhiều trở ngại thì các sáng kiến cá nhân trong việc gieo trồng trà đạt được kết quả khả quan hơn Vào năm 1896, một người tên là Yusuf đến từ Bukhara đã chế biến lá thu được

từ một loại cây trồng thành trà Người này đã

nộp đơn lên Bộ Nông nghiệp để được cấp bằng sáng chế cho loại trà này Yusuf đã tặng một gói trà cho Sultan Abdülhamid II và Sultan đã cử

một phái đoàn đến Trabzon để xem xét tình hình (Mustafa Duman, 2005: 24) Đầu thế kỷ

XX, vào năm 1912, một nỗ lực khác được tiến hành bởi cá nhân trưởng phòng nông nghiệp Rize là Hulûsi Bey trong việc mang cây trà giống từ Batum về trồng thì bị bỏ lỡ do sự bùng

nổ của Thế chiến thứ I (Mustafa Duman, 2005: 25) Sau khi chiến tranh kết thúc, Giám đốc Trường Nông nghiệp Halkalı là Ali Rızâ Bey đã được Bộ Nông nghiệp cử đến Nam Kavkaz để khảo sát những nơi trồng trà và chuẩn bị báo cáo Báo cáo do Ali Rızâ Bey thực hiện đã đánh giá sự giống nhau giữa hai khu vực trồng trà Song dự án này lại bị gián đoạn bởi sự sụp đổ của nhà nước Ottoman và quá trình chuyển sang chế độ cộng hòa (1923) (Kemalettin Kuzucu, 2016: 289) Khi đó, Zihni (Derin) Bey (người được đưa vào Bộ Kinh tế trong chính phủ dân tộc kháng chiến và giữ chức vụ này cho tới năm 1924), đã kết hợp những phát hiện của riêng mình với báo cáo của Ali Rızâ Bey để trình lên chính phủ một bản dự thảo Sau đó với sự ủng

hộ các đại biểu đến từ Rize, nó đã trở thành luật

vào năm 1924 với tên gọi Luật trồng cây phỉ, cam, chanh, quýt và và trà ở tỉnh Rize và vùng Borçka (Mustafa Duman, 2005: 26-27) Theo

bộ luật này, chính phủ sẽ thành lập một đồn điền ươm trà trong vùng và phân phát miễn phí cây giống cho nông dân Tuy nhiên, chính sách về trà tiến triển chậm do thái độ rụt rè của người dân trong vùng Họ không thể đoán trước được tương lai của cây trà nên vụ sản xuất đầu tiên

chỉ bắt đầu từ năm 1928 Chỉ đến khi sự hỗ trợ người nông dân trồng và sản xuất trà được đảm

bảo bằng đạo luật ngày 9 tháng 3 năm 1940 thì

Trang 5

nhà máy trà ở Rize mới được đưa vào hoạt động

năm 1947 và việc xuất khẩu trà cũng được khởi

đầu sau đó (Kemalettin Kuzucu, 2016: 289)

Tóm lại, có thể thấy việc trồng và sản xuất

trà ở Thổ Nhĩ Kỳ là những nỗ lực kéo dài từ

cuối thời Ottoman sang đến tận thời cộng hòa

Việc trồng thử nghiệm các giống trà ở Thổ Nhĩ

Kỳ đã gặp vô vàn khó khăn và trở ngại khác

nhau, song cuối cùng đã đạt được kết quả nhất

định Ngày nay những đồn điền trà ở tỉnh Rize

của Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành nơi sản xuất trà

hàng đầu của khu vực

2 Ghi chép v ề trà trong một số tác phẩm

th ời kỳ Ottoman

Tuy có một số quan điểm cho rằng những tin

tức đầu tiên về trà ở Ottoman đã có từ thế kỷ

XVI, song những ghi chép sớm nhất liên quan

đến trà và việc sử dụng nó ở Thổ Nhĩ Kỳ thời

kỳ Ottoman là trong tác phẩm Seyahatnâme

(Tập sách du ký) của Evliya Çelebi - một nhà

thám hiểm Ottoman nổi tiếng vào thế kỷ XVII

Trà đã được đề cập đến trong Seyahatnâme vào

năm 1631 Evliya Çelebi cho biết trong những

loại thức uống được chiêu đãi tại phòng thuế

quan ở Istanbul có cà phê từ Yemen, salep (2)

và trà (Helen Saberi, 2010: 77) Trong lần viếng

thăm Bitlis, Evliya Çelebi cũng đã được mời

thưởng thức trà Có thể nói Seyahatnâme của

Evliya Çelebi là tài liệu xưa nhất đề cập đến trà

ở Thổ Nhĩ Kỳ Trà đã được đề cập đến trong

nhiều tập khác nhau của văn tuyển này, đáng kể

nhất là ở tập 1 Chẳng hạn, khi nhắc đến cà phê

như thứ có vấn đề, Evliya Çelebi đã so sánh với

các loại thức uống khác, bao gồm trà: “Và cà

phê khi rang cháy t ừ mọi mặt, trong các sách

Bezzaziyye và Tatarhaniyye nói r ằng tất cả các

thứ bị cháy đều được xem là không phù hợp

Những thứ như nước ép trái cây có hương vị,

s ữa tinh khiết, trà, thì là, tiểu hương, salep và

kem h ạnh nhân thì hữu ích và tốt hơn cà phê”

(Evliya Çelebi Seyahatnâmesi, Cilt 1, 2006:

274) Cũng theo Evliya Çelebi, trong số những

thứ chiêu đãi quan khách của Gümrük Emîni

Koca Ali Ağa có trà và bâdyân (Evliya Çelebi Seyahatnâmesi, Cilt 1, 2006: 298) Evliya Çelebi còn nói đến trà khi miêu tả những người bán boza (3): “trong cuộc đời của tôi không sử

d ụng những thức ăn và thức uống khó cưỡng, gây nghi ện như thuốc lá, cà phê, trà, bâdyân, kışır, salep, mahleb và rượu” (Evliya Çelebi Seyahatnâmesi, Cilt 1, 2006: 354) Ngoài tập 1, trà cũng được nhắc đến trong nhiều đoạn khác nhau của văn tuyển (Evliya Çelebi

Seyahatnâmesi, Cilt 2: 132; Cilt 4: 76 và 185; Cilt 5: 87; Cilt 9: 274, 369, 397; Cilt 10: 193,

250, 444 và 445) Thông thường trong

Seyahatnâme của Evliya Çelebi, trà và “bâdyân” được nhắc đến cùng với các loại thức uống truyền thống khác khi đó như cà phê, salep, şerbet Trà cũng phổ biến đến các thành thị khác trong lãnh thổ đế chế Ottoman, như khi miêu tả

về cà phê İğneciler ở khu vực Umayyad (Damascus, Syria), Evliya Çelebi đã nhắc đến

trà (Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 9: 274), hay như trà ở Mecca, Ả Rập (Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 9: 369, 397)

Khi mô tả trà, Evliya Çelebi cũng thường hay nhắc tới “bâdyân” Về mặt thuật ngữ,

“bâdyân” (đôi khi là çay şerbeti hoặc bâdyân şerbeti) theo miêu tả của Evliya Çelebi là loại

thức uống nào vẫn chưa thể xác định một cách

rõ ràng Dựa theo diễn tả của Evliya Çelebi về bâdyân, khi nấu với nước cho hương thơm tuyệt

vời và là loại thức uống làm sảng khoái, các nhà nghiên cứu cho rằng bâdyân có thể là đại hồi hoặc hồi hương Trung Quốc, tức là loại trà thảo

mộc (Marianna Yerasimos, 2011: 257) Trà ở thời Ottoman được Evliya Çelebi phân loại là thức uống có hương thơm “şerbet-i çay” và

“bâdyân” xếp vào các esnaf (tức phường hội thủ công) nhưng lại không có cửa hàng như phường hội cà phê hay salep: “Không có các cửa hàng

Kho ảng 20 người Họ đi dạo quanh với ấm nước đun nóng” (Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 10: 193)

Trang 6

Nhìn chung, theo ghi chép và cách diễn tả

của Evliya Çelebi về trà thì vào thế kỷ XVII, trà

đã được mọi người biết đến ở Thổ Nhĩ Kỳ Tuy

nhiên, việc Evliya Çelebi kể về các chất gây

khoái cảm trong trà và nói rằng ông không sử

dụng chúng cho thấy rằng, có thể đã có những

tư tưởng chống lại việc sử dụng trà cũng giống

như việc phản đối sử dụng cà phê ở đế chế

Ottoman thời đó (Mustafa Duman, 2005: 69)

Ngoài Seyahatnâme của Evliya Çelebi, ghi

chép về trà thời kỳ Ottoman cũng được biết tới

trong một số trước tác hoặc văn bản, hồ sơ

đương thời Có thể kể tới tác phẩm Çay Risâlesi

(Tập sách trà) của Şeyhülislâm Damadzâde

Ebülhayr Ahmed Efendi viết năm 1711, bàn

luận về lợi ích của trà (Kuzucu, 2016: 288) Ghi

chép về trà còn được tìm thấy trong cuốn sổ

chép tay năm 1777 của một nhà thảo dược

(attariye) Một số hồ sơ hải quan Ottoman, ví dụ

như cuốn sổ hải quan năm 1816 cũng chứa các

thông tin về việc nhập khẩu trà (Mustafa

Duman, 2005: 23)

3 Đặc trưng của văn hóa trà Thổ Nhĩ Kỳ

th ời kỳ Ottoman

Do vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở nơi giao thoa

giữa hai nền văn hóa Đông - Tây nên thông qua

các tuyến đường thương mại, trà đã được du

nhập và biết tới ở Thổ Nhĩ Kỳ khá sớm Tuy

nhiên, vào thời gian đầu, trong nhận thức của

người Thổ Otttoman, trà bị xem là “haram” -

những thứ không phù hợp theo tiêu chuẩn của

Islam nên cũng như cà phê, trà chưa được phổ

biến rộng rãi trong xã hội Ottoman Trà cũng

chỉ được du nhập từ bên ngoài vào, mãi đến cuối

thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thì nó mới bắt đầu

được trồng trong lãnh thổ Ottoman Song song

với quá trình du nhập của trà vào đế chế

Ottoman là sự thay đổi trong nhận thức của

người Thổ Ottoman về trà Từ thế kỷ XIX trở

đi, trà đã dần trở thành một yếu tố quan trọng

trong đời sống thường nhật của người Thổ

Ottoman Nó được phục vụ ở cả nhà riêng và

nơi công cộng: các tiệm trà và quán trà nở rộ

khắp nơi (Helen Saberi, 2010: 77) Khi việc tiêu thụ trà trở nên phổ biến sau thời Tanzimat, các

tiệm cà phê đã bắt đầu chuyển sang kinh doanh

cả trà Trà trong các tiệm cà phê được mở tương

tự như các quán trà đọc sách ở châu Âu thời bấy giờ Từ những năm 1860, trên tuyến đường Divanyolu - Beyazıt - Şehzadebaşı, các tiệm trà chỉ bán trà dành cho những người bình thường được mở ra Sự ưa chuộng và thịnh hành việc uống trà ở Ottoman thể hiện qua việc các tiệm trà chiếm tới 1/3 số cửa hàng ở Direklerarası, trung tâm văn hóa và giải trí của Istanbul thời Sultan Abdülhamid II Các nhà thơ, nghệ sĩ, binh lính và quan chức của nhà nước Ottoman

là những khách hàng thường xuyên của các tiệm trà Văn hóa trà là chủ đề của các tác phẩm tiểu thuyết, thơ văn, sân khấu và âm nhạc giai đoạn hậu kỳ Ottoman Những vần điệu, câu đố về trà

và một thể loại gọi là “çaynâme” (sách trà) đã được sáng tạo ra (Kemalettin Kuzucu, 2016: 289) Có thể nói, sự hiện diện của trà ở đế chế Ottoman, nơi cà phê vốn được tiêu thụ nhiều hơn, đã giúp cho người Thổ Ottoman dần định hướng một lối sống văn hóa mới, giao thoa và hội tụ giữa trà và cà phê

- Ngh ệ thuật uống trà của người Thổ Nhĩ Kỳ

Văn hóa trà của người Thổ Nhĩ Kỳ chịu ảnh hưởng bởi các dân tộc Trung Á, Ba Tư, Nga và

cả phương Tây - những nơi trà cũng như lối tiêu thụ trà được du nhập vào Ottoman Dẫu vậy, thuật thưởng trà của người Thổ Nhĩ Kỳ vẫn có những nét đặc trưng riêng, thể hiện qua địa điểm uống trà, các dụng cụ chế biến và thưởng thức trà cùng với nghệ thuật pha chế trà

Về địa điểm uống trà hay thưởng thức trà, ở Thổ Nhĩ Kỳ có các loại hình là çayhaneler (trà lâu), çay bahçeleri (trà viên, vườn thưởng trà), çay ocakları (trà phòng) và çay evleri (trà điếm) Trong đó çayhaneler ngày nay hầu như không còn tồn tại Đây là nơi chuyên pha chế trà một cách tinh xảo và không pha chế cà phê So với tiệm cà phê thì trà lâu là nơi những người thưởng

thức chỉ đơn thuần đến ngồi trò chuyện tán ngẫu,

Trang 7

đọc sách báo mà không chơi bài hoặc đánh cờ

Giai đoạn các trà lâu phổ biến nhất là vào cuối

thời Ottoman Những trà lâu tiêu biểu của

Istanbul thời đó nằm ở khu vực Şehzadebaşı và

Direklerarası, trong đó nổi tiếng hơn cả là trà lâu

của Hacı Reşit Ağa (Mustafa Duman, 2005: 129)

Ngoài các trà lâu, quán trà hay phòng trà là

những địa điểm trong nhà có không gian kín,

vào thời gian đó, còn có những trà viên với

không gian mở, vẫn tiếp tục tồn tại cho đến

ngày nay như một phần của văn hóa trà Thổ Nhĩ

Kỳ Các trà viên nổi tiếng được biết tới nằm ở

những nơi có mùa hè kéo dài như Istanbul hay

Izmir Trà viên thường được xây cất cạnh bãi

biển, suối, sông, hồ hoặc trên đồi cao - nơi có

thể nhìn rất rõ cảnh quan xung quanh để thưởng

lãm Trong vườn thưởng trà thường có nhiều

cây cối được trồng và một vọng lâu ở giữa Vì

vậy ngoài sự mát mẻ tự nhiên, trà viên còn có

cả những cơn gió thoảng nhẹ (Mustafa Duman,

2005: 132)

Còn çay ocakları (trà phòng) là những cửa

hàng nhỏ trong các khu chợ và trung tâm thương

mại, chuyên bán trà, cà phê, nước giải khát cho

tiểu thương, thợ thủ công và người lao động Thi

thoảng ở một số trà phòng có đặt một cái bàn và

vài cái ghế, song chức năng của nó vẫn là chủ

yếu dành cho việc phục vụ mang đi thay vì uống

tại chỗ (Mustafa Duman, 2005: 135)

Địa điểm uống trà phổ biến nhất của Thổ Nhĩ

Kỳ là çay evleri (trà điếm, tiệm trà) Đây là

những cửa hàng bán và phục vụ đủ các loại trà

từ trà đen tới trà xanh, có thể bắt gặp ở bất kỳ

nơi đâu trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ Các tiệm trà

cũng có không gian để phục vụ khách thưởng

trà Đó là nơi dành cho việc uống trà và trò

chuyện Nhiều tiệm trà còn bán cả cà phê

(Mustafa Duman, 2005: 135)

Về trà cụ là dụng cụ thiết yếu để pha chế trà

ở Thổ Nhĩ Kỳ, một trong những trà cụ quan

trọng chuyên dùng để đun sôi nước và pha trà

liên tục tại các tiệm cà phê, trà lâu, trà điếm, trà

viên và trà phòng là çay kazanları (nồi đun trà) Nồi đun trà thường làm bằng thiếc, đồng hoặc kim loại khác, dùng để đun nước bằng than, khí đốt hoặc điện Phía trên nồi đun trà có các miệng nắp dùng để đổ nước vào Khi pha chế trà, ấm trà sẽ được đặt lên trên phần miệng nắp này Nước sau khi đun sôi sẽ được vặn ra từ các vòi nước phía dưới nồi Các nồi đun trà kiểu này vẫn còn được sử dụng phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay (Mustafa Duman, 2005: 146-147) Một trong những trà cụ quan trọng khác trong việc pha chế trà là các ấm trà Ấm trà ở Thổ Nhĩ

Kỳ có nhiều loại, trong đó chủ yếu là hai loại çaydanlık và demlik Çaydanlık là loại ấm lớn,

có thể được làm bằng đồng, thép mạ crom hoặc kim loại tráng sứ Một số ấm trà còn làm bằng

sứ với tay cầm bằng gỗ Ấm trà có nắp đậy và vòi để rót nước Còn demlik là loại ấm trà tương

tự như çaydanlık nhưng có kích cỡ nhỏ hơn (Mustafa Duman, 2005: 148) Ngoài ra, ấm trà samovar có nguồn gốc từ Nga cũng có một vị trí đáng kể trong văn hóa trà của Thổ Nhĩ Kỳ Samovar xuất hiện vào giữa thế kỷ XVIII, đến thế kỷ XIX thì từ Kavkaz nó đã được phổ biến đến Azerbaijan, Iran và Anadolu (Anatolia, Thổ

Nhĩ Kỳ) Được chiết tự từ samo nghĩa là tự thân

và varit nghĩa là sôi, ngữ nghĩa của samovar là

tự sôi (Mustafa Duman, 2005: 145)

Tách uống trà ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một trà

cụ quan trọng và mang những nét đặc trưng riêng hết sức độc đáo Trong khi ở Trung Quốc, Nhật Bản và Anh, trà thường được uống bằng tách sứ thì ở Thổ Nhĩ Kỳ, Iran cùng một số quốc gia Trung Đông khác, trà lại được uống bằng tách thủy tinh Hình dạng và kích thước của tách trà cũng có sự khác biệt giữa các quốc gia Trong lúc người Trung Quốc và Nhật Bản dùng tách trà sứ không có tay cầm thì ở châu Âu lại dùng tách trà sứ có tay cầm Hơn nữa, ở Thổ Nhĩ Kỳ trà còn được uống bằng những ly mỏng làm bằng thủy tinh Về kích cỡ, các ly này được chia làm ba loại: nhỏ, vừa và lớn Còn về kiểu dáng, chúng cũng chỉ có ba loại duy nhất là thủy

Trang 8

tinh trơn, thủy tinh cắt và thủy tinh pha lê

(Mustafa Duman, 2005: 148-149)

Về cách thức pha chế trà trong văn hóa Thổ

Nhĩ Kỳ, một trong những cách thức pha chế trà

thông dụng nhất gồm các bước như sau: Đầu

tiên nước sẽ được đun sôi trong çaydanlık

Çaydanlık có hai tầng: tầng ấm dưới dùng để

chứa nước đun sôi, còn tầng ấm trên thì chứa

trà Trong lúc nước ở tầng ấm dưới đang được

đun sôi thì tầng ấm trên cũng được đun nóng

bằng hơi nước khoảng vài phút Tiếp theo,

người ta cho các muỗng trà và đổ nước đã đun

sôi vào tầng ấm trên Lượng nước không nên

quá nhiều Trà được ủ nóng trong khoảng 15

phút thì có thể thưởng thức được (Mustafa

Duman, 2005: 159) Trà được pha chế theo cách

này sẽ giúp phục vụ người thưởng thức theo cả

hai loại trà đậm hoặc trà nhạt tùy theo sở thích

Đối với hầu hết người Thổ Nhĩ Kỳ, tách trà lý

tưởng có màu đỏ sẫm trong suốt Một ít nước

trà được rót từ phần ấm trên vào ly có hình dáng

tulip gọi là ince belli hoặc tách, sau đó pha

loãng theo độ đậm nhạt mong muốn bằng nước

đã đun sôi từ phần ấm dưới Trà thường được

người Thổ Nhĩ Kỳ làm ngọt bằng đường viên

hoặc thi thoảng có thêm một lát chanh mỏng,

song tuyệt nhiên không bao giờ họ uống trà

cùng với sữa (Helen Saberi, 2010: 79) Đó cũng

là nét riêng biệt độc đáo trong nghệ thuật

thưởng trà của người Thổ Nhĩ Kỳ

Cách pha chế trà của người Thổ Nhĩ Kỳ thời

kỳ Ottoman đã được đề cập tới trong Şifaü

‘l-Fuad Havas- sı Biberiye Risale-i çay của Zeki

Ali Bey Chuyên luận này được dịch từ tiếng Ba

Tư sang tiếng Thổ Ottoman và có hai ấn bản

khác nhau Ấn bản đầu tiên phát hành vào năm

Hicri 1289 (1872) ở Istanbul Còn ấn bản thứ

hai phát hành vào năm Hicri 1300 (1883) ở

Cairo, Ai Cập Trong ấn bản thứ hai của chuyên

luận có chứa những miêu tả về cách pha chế trà

thời bấy giờ: “Trà sẽ được cho vào nước đã đun

sôi, sau đó tiếp tục đun, chờ lửa nhỏ trong vòng

15 phút, k ế tiếp cho một lượng đường ở mức cần

thiết vào tách và rót trà đã chuẩn bị vào tách để

u ống Tuy nhiên tùy theo sở thích của mỗi người,

có người thêm đường vào trà, có người uống trà không đường, lại có người đun sôi trà và xắt nhỏ bánh mì vào ăn như súp tarhana” (Mustafa

Duman, 2005: 160) Miêu tả này được xem là một trong những công thức pha chế trà lâu đời

nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ Ottoman Từ miêu tả này có thể thấy được tầm quan trọng của trà trong lịch sử Ottoman Cách thức pha chế trà vào thế kỷ XIX rất khác so với ngày nay: đó là bởi trà được cho vào nước đã đun sôi, rồi lại tiếp tục đun nóng Đường cũng không được cho vào tách sau khi đã rót trà như cách uống hiện nay mà được cho vào tách trước, rồi mới rót trà vào sau

- Vai trò của trà trong đời sống xã hội Thổ Nhĩ Kỳ

Trà giữ vị trí hết sức quan trọng trong đời sống của người Thổ Nhĩ Kỳ Thổ Nhĩ Kỳ cũng được biết tới là quốc gia có lượng tiêu thụ trà đứng đầu thế giới, chứ không phải Trung Quốc hay bất cứ nơi nào khác Theo thống kê năm

2016 của Statista, lượng trà tiêu thụ bình quân đầu người của Thổ Nhĩ Kỳ là 5,88 kg, gấp đôi

quốc gia đứng vị trí thứ hai là Ireland (2,19 kg)

và bỏ xa các quốc gia Á Đông vốn luôn tự hào

về truyền thống nghệ thuật trà đạo như Nhật

Bản (chỉ 0,97 kg), Trung Quốc (0,57 kg), Đài Loan (0,29 kg), Việt Nam (0,20 kg) và Hàn

Quốc (0,17 kg) (4) Trung bình một người Thổ Nhĩ Kỳ uống đến 1300 tách trà mỗi năm Người Thổ Nhĩ Kỳ uống trà mỗi ngày và ở bất cứ đâu,

từ nhà đến công sở và cả các địa điểm công cộng Các cuộc hội họp, giao lưu, gặp gỡ đều có chiêu đãi trà Việc mời trà cũng trở thành một truyền thống quan trọng trong đời sống của người Thổ Nhĩ Kỳ Trà thường được chiêu đãi dành cho các khách mời của gia đình sau bữa ăn Ở một

số vùng của Thổ Nhĩ Kỳ, khi vị khách được mời trà đã cảm thấy đủ và không muốn tiếp tục uống trà thì sẽ đặt muỗng trà vào miệng của một tách trà rỗng Đó là ẩn ý mà vị khách muốn biểu đạt

với chủ nhà rằng “artık yeter” (đã đủ rồi) Chủ nhà khi nhìn thấy hành động này sẽ không tiếp

tục nài nỉ mời trà Ở một số vùng khác, hàm ý

Trang 9

“artık yeter” này sẽ được thể hiện bằng cách lật

úp đĩa trà đặt lên miệng tách trà (Mustafa

Duman, 2005: 176) Ở Thổ Nhĩ Kỳ, người ta

còn có các loại trà thảo mộc truyền thống, gồm

cả những loại trà được làm bằng táo, cây bồ đề

hoặc hoa chanh, hoa hồng và cây xô thơm

(Helen Saberi, 2010: 80)

- D ấu ấn của trà trong y học cổ truyền

Ottoman

Trà không chỉ đơn thuần là một loại thức

uống mà nó còn có ảnh hưởng đáng kể đối với

y học Thổ Nhĩ Kỳ thời kỳ Ottoman Vai trò của

trà trong y học cổ truyền của Ottoman đã được

phản ánh qua ghi chép của nhiều y thư thời bấy

giờ Sớm nhất có thể kể tới quyển y thư có tựa

đề Elfaz-ı Edviye của Nureddin bin Mahmud

bin Abdullah viết năm Hicri 1083 (1672)

(Mustafa Duman, 2005: 169) Theo ghi chép

của một chuyên luận về trà có tựa đề

Şifaü‘l-Fuad Havas- sı Biberiye Risale-i çay thì tuy

không phải là một loại thuốc, song trà tốt cho

một số bệnh nhất định Trong ấn bản đầu tiên

phát hành năm 1872 có giải thích rằng, trà loại

bỏ tác dụng của rượu, làm mất ngủ, cải thiện

cúm, giúp dễ tiêu hóa và làm lọc máu Trong

Çay Risalesi của Mehmet İzzet Bey có một

chương bàn luận về lợi ích của trà và tác dụng

của nó đối với một số bệnh Theo đó, trà hỗ trợ

hệ tiêu hóa, làm dạ dày thư giãn, tăng cảm giác

thèm ăn và giúp thức ăn dễ tiêu hóa Nó giúp

tăng cường hệ tim mạch, não bộ, dạ dày và phổi

cũng như có tác dụng trị dịch tả Trà còn rất tốt

cho chứng khó thở Vết thương của những

người bị cắn bởi sư tử được rửa bằng trà

Trà còn được đề cập tới trong một y thư khác

là Mahzen ü’l-Esrar Theo ghi chép của y thư

này thì trà làm giảm đờm (đàm), tăng nhiệt, loại

bỏ tác dụng của rượu Nhưng trà có thể gây ra

táo bón Nên uống sau khi ăn khoảng hai giờ

(Mustafa Duman, 2005: 169)

Trong tác phẩm Meyvenâme (Tập sách hoa

quả) của Ebü’l Hikmet Ahmed Muhsin cũng đề

cập đến những tác dụng của trà Chẳng hạn, theo ghi chép của Meyvenâme, nếu uống trà với lượng vừa phải sẽ tăng nhịp tim, tăng bài tiết đường tiêu hóa và mở mang trí óc Nếu uống lượng quá nhiều sẽ khiến khó tiêu hóa và làm đầu óc mệt mỏi Cũng theo mô tả trong

Meyvenâme thì trà lạnh giúp hạ sốt và loại bỏ mệt mỏi Việc uống trà có chừng mực là lời khuyên tốt vì nó giúp hỗ trợ tiêu hóa Trà thường được uống trong hoặc sau bữa sáng Uống trà nóng trước khi ngủ giúp tiết ra mồ hôi Những người có tính khí cáu kỉnh sẽ tốt hơn nếu

uống trà với sữa (Mustafa Duman, 2005: 170) Những ghi chép và miêu tả trên đây cho thấy những hiểu biết đáng kể của người Thổ Ottoman đương thời về vai trò và tác dụng của trà đối với sức khỏe con người Nó cũng chứng

tỏ trà đã giữ vị trí quan trọng đối với y học truyền thống của Ottoman

- D ấu ấn của trà trong ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ

Không chỉ trong đời sống xã hội và y học cổ truyền, trà còn giữ một vị trí rất quan trọng trong văn hóa ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ Trà thường được dùng với bữa sáng, người Thổ Nhĩ Kỳ không thể tưởng tượng được một bữa sáng nếu không có trà Thậm chí chỉ có trà với simit (5) cũng có thể làm nên một bữa sáng đơn giản và thiết thực kiểu Thổ mà họ thường gọi là “simit çay” (Mustafa Duman, 2005: 155) Trong ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ còn có “çaylı kek” (bánh trà) được làm bằng cách cho thêm trà vào bánh

Loại bánh này được chuẩn bị theo công thức như sau: cho 1,5 cốc đường vào 3 quả trứng đánh đều đến khi bông ra Sau đó thêm 1,5 cốc

bột mì, 125g bơ thực vật, 1,5 thìa ca cao và 1,5 cốc trà ấm vào trộn đều Để bột bánh nở và mịn cũng cần cho thêm một muỗng cà phê muối carbonat Phần bột bánh sau khi đã chuẩn bị sẽ cho vào khuôn bánh và nướng chín ở 150 độ C (Mustafa Duman, 2005: 162) Những ví dụ này

đã góp phần cho thấy ảnh hưởng tuyệt đối của trà đối với văn hóa ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ

Trang 10

K ết luận

Từ một loại thảo mộc ban đầu chủ yếu được

dùng làm dược liệu, ngày nay trà đã được sử

dụng với nhiều hình thức khác nhau và trở thành

loại thức uống phổ biến nhất trên khắp thế giới

chỉ sau nước Ở Thổ Nhĩ Kỳ, tuy trà đã được

biết tới từ khá sớm và đã có nhiều ghi chép về

trà trong các thư tịch, văn bản lưu trữ từ thế kỷ

XVII, nhưng việc uống trà chỉ trở nên phổ biến

từ nửa sau thế kỷ XIX Khi việc uống trà ở Thổ

Nhĩ Kỳ đã trở nên phổ biến, từ cuối thời

Ottoman quá trình trồng và sản xuất trà đã bắt

đầu được quan tâm với những nỗ lực không

ngừng từ các thử nghiệm thất bại tới thành công

Có thể thấy, lịch sử của cây trà ở Thổ Nhĩ Kỳ là

một tiến trình từ du nhập đến phổ biến thành

thức uống và sau đó là trở thành cây trồng sản

xuất và chế biến Ngày nay, trà đã trở thành yếu

tố không thể thiếu trong đời sống thường nhật

của người Thổ Nhĩ Kỳ và giữ vị trí quan trọng trong nền văn hóa của đất nước này Trà hiện

hữu khắp nơi ở Thổ Nhĩ Kỳ, nó ảnh hưởng đáng

kể từ lối sống, phong tục đến y học, ẩm thực và nhiều phương diện khác của văn hóa Thổ Nhĩ

Kỳ Tuy trà ở Thổ Nhĩ Kỳ chưa được nâng tầm thành trà đạo như Nhật Bản, nhưng văn hóa trà

ở đây cũng mang các nét đặc trưng riêng biệt

Từ loại trà được sử dụng đến các dụng cụ pha chế, thưởng thức cùng với cách thức pha trà ở

Thổ Nhĩ Kỳ đều chứa đựng những bản sắc độc đáo Nghệ thuật uống trà của người Thổ Nhĩ Kỳ còn phản ánh sự giao thoa Đông-Tây với các nền văn hóa mà nó tiếp xúc, đúng như bản chất

của một vùng đất là nơi hội tụ, gặp gỡ giữa các dân tộc, các nền văn minh Do đó, khi tìm hiểu trà trong văn hóa của các quốc gia trên thế giới, không thể không nhắc và bàn luận tới văn hóa trà của Thổ Nhĩ Kỳ

Chú thích:

(1) Tanzimat ( تاميظنت) là thuật ngữ dùng để chỉ thời kỳ cải cách trong lịch sử Ottoman, bắt đầu từ năm

1839 C ột mốc này cũng đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ cận đại

(2) Salep là một loại bột làm từ củ của chi lan và được dùng để làm thức uống

(3) Boza là tên m ột loại đồ uống len men, được làm từ bột báng, hạt kê, đường và nước, thường sử dụng vào mùa đông

(4) https://www.statista.com/statistics/507950/global-per-capita-tea-consumption-by-country/ (truy cập 23.06.2021)

(5) Simit là m ột loại bánh mì tròn kiểu Thổ, thường được rắc thêm hạt mè (vừng) ở bên ngoài

Tài li ệu tham khảo:

1. Dağlı, Yücel - Kahraman, Seyit Ali - Dankoff, Robert (haz.), 2005, Evliya Çelebi Seyahatnamesi,

Cilt 9, Yapı Kredi Yayınları, İstanbul

2. Dankoff, Robert - Kahraman, Seyit Ali - Dağlı, Yücel (haz.), 2006, Evliya Çelebi Seyahatnamesi,

Cilt 1, Yapı Kredi Yayınları, İstanbul

3. Duman, Mustafa, 2005, Çay Kitabı, Kitabevi, İstanbul

4. Kahraman, Seyit Ali - Dağlı, Yücel - Dankoff, Robert (haz.), 2007, Evliya Çelebi Seyahatnamesi,

Cilt 10, Yapı Kredi Yayınları, İstanbul

5. Kılıçoğlu, Safa - Devrim, Hakkı - Araz, Nezihe, 1969, Meydan Larousse: Büyük Lugat ve

Ansiklopedi , Cilt 4, Sabah, İstanbul

6. Kurt, Tuğba, 2020, Dünyada Çay Kültürü ve Seramik Çay Kapları (Yayımlanmamış Yüksek Lisans

Tezi), Anadolu Ünive rsitesi, Eskişehir

7. Kuzucu, Kemalettin, 2016, “Çay”, TDV İslâm Ansiklopedisi, Ek - 1, İSAM, İstanbul, 287-289

8. Martin, Laura C., 2007, Tea: The Drink That Changed the World, Tuttle Publishing, Vermont

9. Saberi, Helen, 2010, Tea: A Global History, Reaktion Book, London

10. Skinner, Julia, 2019, Afternoon Tea: A History, Rowman & Littefield, New York

11. Yerasimos, Mariana, 2011, Evliya Çelebi Seyahatnâmesi’nde Yemek Kültürü, Kitap Yayınevi,

İstanbul

Ngày đăng: 15/10/2022, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dağlı, Yücel - Kahraman, Seyit Ali - Dankoff, Robert (haz.), 2005, Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 9, Yapı Kredi Yayınları, İstanbul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 9
2. Dankoff, Robert - Kahraman, Seyit Ali - Dağlı, Yücel (haz.), 2006, Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 1 , Yapı Kredi Yayınları, İstanbul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 1
3. Duman, Mustafa, 2005, Çay Kitabı, Kitabevi, İstanbul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Çay Kitabı
4. Kahraman, Seyit Ali - Dağlı, Yücel - Dankoff, Robert (haz.), 2007, Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 10 , Yapı Kredi Yayınları, İstanbul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evliya Çelebi Seyahatnamesi, Cilt 10
5. Kılıỗoğlu, Safa - Devrim, Hakkı - Araz, Nezihe, 1969, Meydan Larousse: Bỹyỹk Lugat ve Ansiklopedi, Cilt 4, Sabah, İstanbul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meydan Larousse: Büyük Lugat ve Ansiklopedi, Cilt 4
6. Kurt, Tuğba, 2020, Dünyada Çay Kültürü ve Seramik Çay Kapları (Yayımlanmamış Yüksek Lisans Tezi), Anadolu ĩnive rsitesi, Eskişehir Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dünyada Çay Kültürü ve Seramik Çay Kapları
7. Kuzucu, Kemalettin, 2016, “Çay”, TDV İslâm Ansiklopedisi, Ek - 1, İSAM, İstanbul, 287-289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Çay”, "TDV İslâm Ansiklopedisi, Ek - 1
8. Martin, Laura C., 2007, Tea: The Drink That Changed the World, Tuttle Publishing, Vermont Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tea: The Drink That Changed the World
9. Saberi, Helen, 2010, Tea: A Global History, Reaktion Book, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tea: A Global History
10. Skinner, Julia, 2019, Afternoon Tea: A History, Rowman & Littefield, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Afternoon Tea: A History
11. Yerasimos, Mariana, 2011, Evliya Çelebi Seyahatnâmesi’nde Yemek Kültürü, Kitap Yayınevi, İstanbul Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evliya Çelebi Seyahatnâmesi’nde Yemek Kültürü

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w