1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự du nhập vắc xin đậu mùa vào tân thế giới đầu thế kỷ XIX the introduction of smallpox vaccine into the new world in the early 19th century

12 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 210,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Đại học Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ VĂN HÓA - LỊCH SỬ SỰ DU NHẬP VẮC-XIN ĐẬU MÙA VÀO TÂN THẾ GIỚI ĐẦU THẾ KỶ XIX Lư Vĩ An* Tóm tắt: Bệnh đậu mùa là một trong những dịch bệnh đáng sợ nhất tron

Trang 1

* Đại học Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ

VĂN HÓA - LỊCH SỬ

SỰ DU NHẬP VẮC-XIN ĐẬU MÙA

VÀO TÂN THẾ GIỚI ĐẦU THẾ KỶ XIX

Lư Vĩ An*

Tóm tắt: Bệnh đậu mùa là một trong những dịch bệnh đáng sợ nhất trong lịch sử

nhân loại Sau các cuộc phát kiến địa lý và như hệ quả của sự trao đổi Columbus, bệnh đậu mùa đã xuất hiện, lây lan và bùng phát thành những đợt dịch lớn ở Châu Mỹ Vào năm 1796, vắc-xin đậu mùa đã được khám phá thành công bởi bác sĩ Edward Jenner Ngay lập tức, một chiến dịch y tế quy mô lớn nhằm phổ biến vắc-xin đậu mùa và thúc đẩy hoạt động tiêm chủng ở Tân Thế giới đã được tiến hành bởi đội ngũ của bác sĩ Balmis vào đầu thế kỷ XIX Được biết tới như hành trình Balmis, đây là chiến dịch tiêm chủng vắc-xin phòng bệnh đầu tiên và lớn nhất thế giới thời cận đại Bài viết tìm hiểu nguồn gốc, sự lây lan của bệnh đậu mùa cũng như quá trình du nhập, phổ biến vắc-xin đậu mùa ở Tân Thế giới.

Từ khóa: bệnh đậu mùa, vắc-xin, tiêm chủng, Tân Thế giới, Châu Mỹ, thế kỷ XIX

ệnh đậu mùa (smallpox) do

virus variola gây ra là một

trong những căn bệnh truyền

nhiễm cổ xưa nhất lịch sử nhân loại1

Nhiều lần bùng phát thành những trận

dịch quy mô lớn, đậu mùa được xem là

nỗi khiếp sợ đối với các xã hội và các

nền văn minh từ thời cổ - trung đại kéo

dài đến thời cận đại Đậu mùa cùng với

các bệnh dịch khác là yếu tố góp phần

hủy diệt các nền văn minh bản địa ở

Châu Mỹ, trong đó có hai đế chế Aztec

và Inca2 Vào năm 1796, bác sĩ người

Anh Edward Jenner đã khám phá ra

vắc-xin đậu mùa Sự kiện này là một

bước ngoặt vĩ đại đối với lịch sử y học

nhân loại Sau đó, vắc-xin đậu mùa và

kỹ thuật tiêm chủng mới đã nhanh chóng được phổ biến ra nhiều nơi trên thế giới, bao gồm Tân Thế giới Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành khắp thế giới từ cuối năm 2019 đến nay (2021) và nhân loại đang nỗ lực tìm kiếm các biện pháp ngăn chặn đại dịch, trong đó vắc-xin được xem là giải pháp hữu hiệu nhất thì dưới góc nhìn của sử học, sự kiện vắc-xin đậu mùa được giới thiệu vào Tân Thế giới hai thế

kỷ trước là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa khoa học, rất đáng để quan tâm tìm hiểu Trên cơ sở hệ thống hóa các nguồn sử liệu về bệnh đậu mùa ở Tân Thế giới (trong phạm vi bài viết chủ yếu giới hạn ở thuộc địa của Tây Ban Nha),

B

Trang 2

cũng như các nghiên cứu của học giả

phương Tây về vấn đề này, bài viết sẽ

trình bày lịch sử bệnh đậu mùa ở Tân

Thế giới và quá trình du nhập vắc-xin

ngừa đậu mùa vào khu vực này đầu

thế kỷ XIX

1 Nguồn gốc bệnh đậu mùa và tình

hình bệnh đậu mùa ở Tân Thế giới

Nhiều nghiên cứu cho rằng khu vực

đông bắc Châu Phi, vùng “Lưỡi liềm”

(Fertile Cresent) màu mỡ ở Cận Đông

và thung lũng sông Ấn có thể là nơi phát

nguyên của bệnh đậu mùa khoảng 3000

năm trước công nguyên3 Nghiên cứu về

tiến hóa phân tử chỉ ra rằng trong giống

Orthopoxvirus, virus variola gây bệnh

đậu mùa ở người có mối liên hệ chặt chẽ

với virus gây bệnh đậu mùa ở lạc đà

(camelpox) Các chủng virus gây bệnh

đậu mùa ở người và lạc đà đã tách ra từ

một tổ tiên chung cách đây khoảng 6000

năm Từ đó, một giả thuyết được đưa ra

về sự truyền nhiễm đầu tiên của đậu

mùa ở người có liên quan đến quá trình

thuần hóa lạc đà vào thời kỳ đồ đồng

(khoảng 3000 đến 1000 trước công

nguyên) ở khu vực Cận Đông hoặc

Trung Á4 Sự gia tăng dân số và phát

triển mạnh mẽ của hệ thống thương mại

thời Trung cổ và cận đại đã tạo điều

kiện cho đậu mùa trở thành dịch bệnh

phổ biến rộng khắp, lưu hành với tần

suất gia tăng ở các khu vực rộng lớn

của lục địa Á-Âu Đậu mùa cũng dần

phân lập theo địa phương trở thành bệnh

đặc hữu (endemic) và thường xuyên

bùng phát thành các trận dịch lớn Ở Châu Âu, đậu mùa được xem là một trong những dịch bệnh nguy hiểm nhất trong lịch sử châu lục này từ sau sự sụp

đổ của đế chế La Mã tới cuộc cách mạng tư sản Pháp5 Đến cuối thời Trung

cổ, bệnh đậu mùa đã lan rộng khắp Châu Âu Vào thế kỷ XIV, các trận dịch đậu mùa được ghi nhận ở nhiều thành thị của nước Ý như Florence (1335), Naples (1336), Siena (1363), Vicenza (1386) và Bologna (1393) Bệnh đậu mùa mỗi năm cũng giết chết khoảng hơn 1.000 người ở London (với dân số khoảng 400.000 người vào giữa thế kỷ XVII)6 Mức độ nghiêm trọng của căn bệnh ở chỗ không chỉ có trẻ em, vốn là đối tượng chủ yếu bị nhiễm bệnh do chưa được miễn dịch lần đầu, mà ngay

cả người trưởng thành, gồm thành viên của các hoàng tộc cũng bị mắc bệnh, nhiều người trong số đó đã chết vì đậu mùa Điển hình như vua Louis XV của Pháp, Sa hoàng Peter II của Nga, Hoàng

đế Joseph I của đế chế Habsburg, Vua Luis I của Tây Ban Nha và Nữ hoàng Mary II của Anh đã chết vì đậu mùa Vua Louis XIV của Pháp và Charles II của Anh cũng bị nhiễm bệnh nhưng may mắn sống sót7

Từ Đông bán cầu, dưới tác động sinh học của “sự trao đổi Columbus” - như

hệ quả của các cuộc phát kiến địa lý, mầm bệnh đậu mùa lây lan sang Tây bán cầu từ đầu thế kỷ XVI và bắt đầu bùng phát thành nhiều đợt dịch khủng khiếp kéo dài nhiều thế kỷ tiếp theo

Trang 3

Đậu mùa được gọi là viruelas trong

tiếng Tây Ban Nha khu vực Mỹ Latinh

và huitzahuatl trong thổ ngữ Aztec, xuất

hiện lần đầu tiên ở Hispaniola vào năm

1518, bởi trước đó không có bất cứ ghi

nhận nào về sự tồn tại của đậu mùa ở

Tân Thế giới8 Mầm bệnh có thể lây

truyền thông qua các con thuyền từ Tây

Ban Nha hoặc Châu Phi đến Châu Mỹ

Theo giám mục Las Casas, vào tháng 12

năm 1518 hoặc tháng 1 năm 1519, một

bệnh dịch được xác định như đậu mùa

đã xuất hiện trong cộng đồng người bản

xứ ở Santo Domingo Một vài người

Tây Ban Nha nhiễm bệnh nhưng không ai

trong số họ chết Tuy nhiên, nó lại ảnh

hưởng lớn đến người bản xứ Các báo cáo

cho biết dịch bệnh đã giết chết từ 1/3 đến

1/2 dân số bản xứ9 Từ Hispaniola, đậu

mùa lan ra khắp vùng biển Caribbean và

bán đảo Yucatán vào những năm 1520

Trong Book of Chilam Balam of

Chumayel viết bằng thổ ngữ Maya ghi

nhận vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ XVI:

“đã có sự bùng phát của mụn mủ Nó là

bệnh đậu mùa”10 Khoảng năm 1520, đậu

mùa đã lan tới Mexico cùng với đoàn

viễn chinh của Pánfilo de Narváez Mầm

bệnh có lẽ đã được mang tới bởi những

người nhiễm bệnh từ Hispaniola tháp

tùng theo đoàn viễn chinh của Narváez

Những đề cập về bệnh đậu mùa ở

Mexico được phản ánh qua các ghi chép

của Hernán Cortés trong tập thư có tên là

Residencia (1529) và trong History of the

Indians of New Spain của nhà truyền

giáo Toribio de Benavente Motolinia,

viết vào cuối những năm 1530: “Dịch bệnh đầu tiên là một trận đậu mùa Nó

đã bùng phát theo cách thức này: Một trong những con thuyền của Cortés đến

có một người da đen mắc bệnh đậu mùa, thứ bệnh chưa từng được biết ở khu vực này Tân Tây Ban Nha rất đông đúc dân

cư vào thời gian đó Khi bệnh đậu mùa bắt đầu lây nhiễm cho người bản xứ, có quá nhiều người mắc bệnh ở tất cả các vùng đất, hơn một nửa trong số họ chết, trong khi ở các nơi khác thì có phần ít hơn Người bản xứ không biết phương thuốc chữa bệnh đậu mùa”11 Trong tác

phẩm Memorials, viết về sự kiện diễn ra

năm 1521 cũng có đoạn chép: “Trong năm đã xảy ra những tai họa chết chóc lớn nhất chưa từng thấy ở vùng đất Tân Tây Ban Nha này Có ba thảm họa chính yếu diễn ra được nói tới: Đầu tiên là sự chinh phục Mexico, kế đến là thứ mà

người bản xứ gọi là huei zahuatl, có

nghĩa là đại dịch của đậu mùa, khiến cho người chết vô số ở khắp mọi nơi vào thời điểm đó Ở các tỉnh số người chết quá nửa, ở những nơi khác thì ít hơn phân nửa, hoặc 1/3 dân số Thứ ba

là nạn đói có liên quan đến đại dịch”12 Đậu mùa lan đến thủ đô của người Aztec là Tenochtitlan, nơi bây giờ là Mexico City, sau sự xuất hiện của người Tây Ban Nha và cái chết của hoàng đế Moctezuma Bệnh dịch đã bùng phát dữ dội, lây nhiễm 25-50% dân số Aztec trong lúc chiến dịch đánh chiếm thành Tenochtitlan của thực dân Tây Ban Nha đang diễn ra Tháng 8/1521,

Trang 4

khi đội quân viễn chinh của Hernán

Cortés tiến vào thành phố sau một cuộc

bao vây dài, một nửa cư dân ở đây đã

chết vì bệnh dịch Các kênh đào trong

thành phố và hồ Texcoco bị tắc nghẽn

bởi thi thể của người bệnh đậu mùa13

Hoàng đế Cuitláhuac, người kế vị và là

em của Moctezuma cũng mất vì bệnh

đậu mùa Thời gian trị vì của ông hết

sức ngắn ngủi Một hậu duệ của hoàng

tộc Aztec sau này là Fernando de Alva

Ixtlilxochitl viết trong tác phẩm

Horribles crueldades rằng Cuitláhuac

chỉ cai trị không quá 40 ngày khi qua

đời trong đợt bùng phát khủng khiếp của

đậu mùa14 Cái chết của nhà cai trị Aztec

trong đợt dịch đã khiến cho chính quyền

sụp đổ và kết quả là nhiều kẻ thù của

người Aztec đã liên minh với Tây Ban

Nha Sự mất mát thảm khốc về mặt nhân

khẩu do bệnh tật và chiến tranh dẫn đến

sự hủy diệt của đế chế Aztec

Từ Mexico, dịch bệnh phát tán và lan

tới khu vực Trung Mỹ, nơi một trận dịch

đã bùng phát và cướp đi sinh mạng của

nhiều cư dân Guatemala vào năm

1520-1521 Bệnh đậu mùa có thể cũng là

nguyên nhân gây ra trận dịch ở Panama

vào năm 152715 Sau đó, bệnh đậu mùa

lan rộng khắp các khu vực rộng lớn ở

Châu Mỹ, đến tận Andes ở Nam Mỹ và

bùng phát thành đại dịch Các biên niên

sử của người Inca lẫn Tây Ban Nha

đều ghi chép về ảnh hưởng của một

dịch bệnh xảy ra ở đế chế Inca từ 5-7

năm trước khi Francisco Pizarro dẫn

đầu đoàn viễn chinh xâm lược nơi này

Mô tả bởi người Inca cho thấy thảm họa này có thể do bệnh đậu mùa gây ra Mầm bệnh đã lây lan tới Inca thông qua các con tàu đến từ Trung Mỹ hoặc Panama và dịch bệnh đã bùng phát ở đế chế Inca từ năm 1524 đến năm 153016 Dịch bệnh đã giết chết hoàng đế Inca đang trị vì là Huayna Capac và người con trai thứ hai cũng là người được chỉ định thừa kế - Ninan Cuyochi Cái chết của Huayna Capac và người kế vị đã dẫn đế chế Inca tới cuộc nội chiến giành quyền lực giữa hai người anh em cùng cha khác mẹ là Huáscar và Atahualpa Thêm vào đó, trong các năm 1530-1531 một làn sóng bệnh dịch khác có lẽ là đậu mùa và sởi đã ảnh hưởng đến vùng thượng Nam Mỹ Năm 1532, khi Pizarro đặt chân tới Inca thì nơi đây đang hỗn loạn bởi nội chiến và tình trạng dịch bệnh Pizarro đã nhanh chóng tận dụng thời cơ này để chinh phục đế chế Inca17

Có thể thấy, sự xuất hiện của đậu mùa và nhiều dịch bệnh khác, kết hợp với sự tàn bạo của thực dân Châu Âu trong quá trình xâm chiếm thuộc địa ở Châu Mỹ đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về văn hóa, kinh tế, chính trị

và xã hội ở các nền văn minh bản địa tại Tân Thế giới18 Trong đó, bệnh đậu mùa dường như trở thành yếu tố tấn công Châu Mỹ một cách dữ dội, đóng vai trò quan trọng trong việc hủy diệt các cộng đồng cư dân ở Trung và Nam Mỹ Sự di chuyển của tàu thuyền, hàng hóa và lao động trong hoạt động thương mại hàng hải ở thuộc địa Châu Mỹ đã khiến cho

Trang 5

mầm bệnh lưu hành và thường xuyên

bùng phát thành những đợt dịch nghiêm

trọng Mầm bệnh đã xâm nhập và lây

nhiễm sâu rộng trong các cộng đồng cư

dân bản địa lẫn di dân ở Tân Thế giới

Trong suốt ba thế kỷ từ XVI đến XVIII,

khoảng 10-20 năm lại xảy ra những trận

dịch đậu mùa lớn trên hầu khắp các

thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào

Nha ở Tây bán cầu Đáng lưu ý, từ cuối

thế kỷ XVIII, các đợt dịch đậu mùa lớn

thường xuyên xảy ra ở Châu Mỹ Ở

Mexico City, bệnh đậu mùa cùng với sốt

rét là nguyên nhân dẫn tới 25.000 ca tử

vong trong năm 1761-1762 Một trận

dịch đậu mùa ở Caracas (Venezuela)

vào cuối những năm 1760 đã khiến

6.000 người chết Ở cao nguyên

Ecuador, nếu trước đây cứ 12 năm mới

có một đợt dịch đậu mùa bùng phát thì

từ năm 1764 trở đi, khoảng 2 năm/lần

lại xảy ra đậu mùa19 Đậu mùa cũng lây

lan ở khu vực Bắc Mỹ, bùng phát ở các

khu định cư của thực dân Anh, Pháp và

Hà Lan Trong đó đợt dịch đầu tiên ở

Bắc Mỹ xảy ra vào các năm 1617-1619

đã giết chết rất nhiều người bản địa ở

Massachusetts Boston cũng thường

xuyên ghi nhận nhiều đợt đậu mùa bùng

phát vào các năm 1636, 1659, 1666,

1677-1678, 1689-1690 và 1697-169820

Vào cuối những năm 1770, bệnh đậu

mùa bùng phát trở lại ở Mexico City và

lây lan lên phía bắc tới thuộc địa Anh ở

Bắc Mỹ Trong thời kỳ này, bệnh đậu

mùa được cho là đã đóng vai trò quan

trọng trong cuộc chiến tranh cách mạng

giành độc lập của 13 thuộc địa Bắc Mỹ Điều này được phản ánh qua việc tướng George Washington đặc biệt lo lắng về

sự nguy hiểm của bệnh đậu mùa đối với lực lượng quân đội lục địa Cuộc bao vây Boston kéo dài từ tháng 6/1775 đến tháng 3/1776 phần lớn là do sự hiện hữu của bệnh đậu mùa trong thành phố

và bởi George Washington lo sợ rằng căn bệnh sẽ tấn công khiến cho binh lính mắc bệnh Khi người Anh rút lui, ông đã ra lệnh chỉ cho những người từng mắc đậu mùa đóng giữ thành phố Ngoài ra vào năm 1777, ông đã bắt buộc tất cả tân binh phải được thực hiện cấy đậu mùa21

Bệnh đậu mùa là căn bệnh rất nguy hiểm bởi tỷ lệ tử vong rất cao, đặc biệt

là ở trẻ em Trong hàng thế kỷ các nhà chức trách và Giáo hội đã tiến hành nhiều biện pháp để ngăn chặn đậu mùa, bao gồm cách ly người bệnh và tiến hành chữa trị Biện pháp dự phòng đậu mùa bằng kỹ thuật cấy/truyền đậu mùa (variolation) cũng được áp dụng Tại Tân Thế giới, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã du nhập kỹ thuật này lần đầu tiên vào Brazil năm 1728, nhưng ban đầu nó không được thực hành rộng rãi22 Đến giữa thế kỷ XVIII, biện pháp

dự phòng đậu mùa bằng kỹ thuật cấy mới bắt đầu được sử dụng ở khu vực Caribbean Thử nghiệm diễn ra ở Santo-Domingo năm 1745 và sau đó việc thực hành ở Barbaros vào năm 1750

đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do bệnh đậu mùa Đến giữa những năm 1780,

Trang 6

có hơn 40.000 người ở Santo-Domingo

đã được cấy đậu mùa Phương pháp này

được triển khai thường xuyên ở

Caribbean hơn bất kỳ nơi nào khác trên

thế giới trước khi vắc-xin đậu mùa

được khám phá23 Trong khi đó, tại các

thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế

giới, việc giới thiệu kỹ thuật cấy đậu

mùa diễn ra muộn hơn và các hoạt động

dự phòng đậu mùa bằng kỹ thuật này

cũng tiến hành rất chậm, mãi đến cuối

thế kỷ XVIII mới được tiến hành: ở

Chile (1765), Venezuela (1769),

Argentina (1777), Peru (1778), Mexico

(1779), Guatemala (1780), Colombia

(1782), Puerto Rico (1792) và Paraguay

(1797)24 Sự bùng phát của các đợt dịch

đậu mùa ở Tân Tây Ban Nha vào thế kỷ

XVIII đã góp phần thúc đẩy hoạt động

cấy đậu mùa, làm nổi bật những ưu

điểm và khuyết điểm của phương pháp

này Nó được cho là đã giúp cứu sống

hàng ngàn người trong khi tỷ lệ tử vong

do biện pháp này chưa đến 1%, thấp hơn

rất nhiều so với cái chết gây ra bởi bệnh

đậu mùa tự nhiên25

2 Sự du nhập vắc-xin và chiến dịch

tiêm chủng đậu mùa ở Tân Thế giới

đầu thế kỷ XIX

Một trong những bước ngoặt đột phá

đối với việc phòng ngừa bệnh đậu mùa

trong lịch sử nhân loại khởi đầu bằng sự

kiện bác sĩ phẫu thuật người Anh là

Edward Anthony Jenner (1749-1823)

khám phá ra vắc-xin đậu mùa Sau khi

quan sát cẩn thận và nhận thấy những

người từng bị đậu bò (cowpox) không bao giờ mắc đậu mùa, ông kết luận rằng

việc nhân tạo ra một thể variola nhẹ

bằng cách tiêm chủng sẽ chống lại bệnh đậu mùa chết người26 Quả thực, y học hiện đại ngày nay đã tìm ra mối liên hệ

về mặt di truyền giữa virus variola gây đậu mùa ở người với virus cowpox gây

bệnh đậu ở bò Do sự tương đồng về mặt di truyền nên virus cowpox có thể tạo ra lớp bảo vệ chéo chống lại virus variola trong cơ thể con người

Vào ngày 14/5/1796, Edward Jenner

đã tiến hành kiểm tra giả thuyết của mình bằng cách lấy vật chất từ vết loét trên tay một người vắt sữa bò tên là Sarah Nelmes - người đã bị lây bệnh bởi con bò của chủ cô ấy, rồi đưa vật chất này vào cánh tay của cậu bé nông dân tám tuổi tên James Phipps - vốn chưa bao giờ được cấy hoặc mắc bệnh đậu mùa tự phát Vết loét đã xuất hiện tại chỗ tiêm và cậu bé mắc bệnh chỉ trong một ngày Để xác định xem liệu cậu bé sau khi tiêm virus đậu bò có miễn dịch khỏi sự lây nhiễm của bệnh đậu mùa hay không, vào ngày 1 tháng 7, cậu bé tiếp tục được cấy (inoculation) mụn mủ của đậu mùa, nhưng bệnh hoàn toàn không xảy ra Việc kiểm chứng tiếp tục được thực hiện vài tháng sau đó, nhưng cũng không có bất kỳ dấu hiệu bệnh xuất hiện27 Sau phát hiện quan trọng này, Edward Jenner đã nộp báo cáo lên Hội Hoàng gia (Royal Society), tuy nhiên ban đầu luận thuyết này của ông

bị khước từ Không ngừng nỗ lực,

Trang 7

Edward Jenner lặp lại thí nghiệm của

mình với 28 trường hợp khác nhau28 rồi

thu thập những kết quả nghiên cứu thành

tác phẩm An Inquiry into the Cause and

Effects of Variola Vaccinae, A Disease,

Discovered in Some of the Western

Counties of England, Particularly

Gloucestershire, and Known by the

Name of Cowpox xuất bản năm 179829

Edward Jenner đã sử dụng thuật ngữ

tiêm chủng (vaccination, có nguồn gốc

từ vacca hay vaccus trong tiếng Latin,

nghĩa là con bò) để gọi quy trình sản

xuất bệnh đậu bò ở người (Variolae

vaccinae) Thuật ngữ vắc-xin (vaccine)

cũng bắt nguồn từ kỹ thuật tạo ra bệnh

đậu bò ở người30 Kể từ đó, thuật ngữ

vaccination đã được sử dụng để mô tả

tất cả các loại chủng ngừa có mục đích

Không giống như phương pháp cấy

đậu mùa (variolation), việc tiêm chủng

đậu mùa chỉ tạo ra một tổn thương tại vị

trí được tiêm, không gây bệnh nghiêm

trọng hoặc tử vong và không thể lây

truyền sang người tiếp xúc Đáng chú ý,

trong các lần thử nghiệm tiêm chủng sau

đó, Edward Jenner cho biết vắc-xin có

thể được truyền ít nhất bốn lần từ tay tới

tay (arm-to-arm) mà không thay đổi tác

dụng của nó Điều này góp phần làm

giảm đáng kể sự phụ thuộc nguồn cung

vắc-xin từ động vật31 Mặc dù kỹ thuật

tiêm chủng của Edward Jenner ban đầu

rất sơ khai, còn một vài hạn chế ở sự

truyền nhiễm bạch huyết, tình trạng

thiếu hụt virus cowpox, cũng như vấp

phải nhiều sự chỉ trích và chống đối32,

nhưng thành quả mà ông mang lại đã đặt nền móng quan trọng cho y học hiện đại xác định tiềm năng của việc tiêm vắc-xin với một chủng virus gây bệnh ở động vật song có khả năng tạo miễn dịch phòng bệnh ở người33 Năm 1802,

Hạ viện Anh đã tặng cho Edward Jenner 10.000 Bảng như phần thưởng cho nghiên cứu đột phá của ông Đồng thời, ông chuyển đến London để giám sát việc tiêm chủng tại Hiệp hội Hoàng gia Jennerian, được thành lập bởi sự bảo trợ của nhà vua và hoàng hậu Anh34 Ngoài

ra, để vinh danh đóng góp của bác sĩ Edward, người ta đã gọi phương pháp tiêm chủng đậu mùa do ông phát hiện là

kỹ thuật chủng ngừa Jennerian

Sau khám phá về vắc-xin của Edward Jenner, từ đầu thế kỷ XIX việc tiêm chủng đậu mùa đã bắt đầu được phổ biến rộng khắp Châu Âu và Bắc Mỹ, qua đó góp phần xác nhận lý thuyết của Edward Jenner về việc tiêm virus đậu

bò mang lại sự miễn dịch chống lại bệnh đậu mùa35

Tin tức về vắc-xin đậu mùa và kỹ thuật tiêm chủng mới đã lan truyền đến Tây Ấn thuộc Anh vào năm 1799 Kể từ thời điểm này, hầu hết các chuyến hàng gửi từ Anh đều mang theo các mẫu bạch huyết vắc-xin, nhưng khi tới nơi thì nó thường mất hiệu năng Nhận ra lợi ích của việc tiêm chủng đậu mùa theo phương pháp mới, những nỗ lực nhằm giới thiệu vắc-xin vào Tân Thế giới đã được thúc đẩy Sớm nhất là vào đầu năm 1801, bác sĩ John Rooke ở vịnh Montego,

Trang 8

Jamaica đã nhận vắc-xin để sử dụng cho

đồn điền của Charles Rose Ellis John

Rooke đã tiêm chủng cho khoảng 4.000

người và qua đó giúp ngăn chặn một đợt

bệnh đậu mùa bùng phát ở khu vực

này36 Nhận thức về sự thành công của

vắc-xin đậu mùa, các thuộc địa của Tây

Ban Nha ở Tân Thế giới cũng bắt đầu

tìm cách du nhập nó Đầu năm 1802,

Hiệp hội kinh tế Havana nhận được bản

sao tác phẩm của Edward Jenner dịch

sang tiếng Tây Ban Nha có tựa đề

Origen y descubrimiento de la vacuna.

Theo lời đề nghị của bác sĩ Tomás

Romay y Chacón, một phần thưởng trị

giá 300-400 pesos đã được đưa ra cho

người đầu tiên tìm thấy bệnh đậu bò ở

địa phương hoặc giới thiệu nó từ nước

ngoài Dù vậy, những nỗ lực ban đầu

nhằm đưa vắc-xin vào khu vực này gặp

nhiều trở ngại Các mẫu bạch huyết

vắc-xin mà Tomás Romay nhận được từ Tây

Ban Nha và Mỹ đều bất hoạt Nỗ lực

chuyển vắc-xin từ New Orleans tới

Mexico vào tháng 8/1802 và từ Tây Ban

Nha tháng 12 cùng năm cũng thất bại37

Trong khi đó, các trận dịch đậu mùa

nghiêm trọng xảy ra ở phó vương quốc

Tân Granada và Peru buộc nhà chức

trách đưa ra các biện pháp dự phòng cấp

bách mới Trong bản kiến nghị gửi lên

nhà vua Carlos IV cuối năm 1802, hội

đồng tại Santa Fé de Bogotá đã kêu gọi

sự trợ giúp38 Chính phủ hoàng gia Tây

Ban Nha ý thức rõ về tác động tàn phá

của đậu mùa đối với nền kinh tế thuộc

địa, cũng như nhận thấy tiềm năng của

việc tiêm chủng để phục vụ cho chương trình nghị sự của họ ở chính quốc Ngoài ra, tháng 3/1803 Hội đồng Tây

Ấn (Consejo de Indias) đã khảo sát về tính khả thi của một chuyến hành trình vắc-xin39 Trên cơ sở đó, vào ngày 28/06/1802, vua Carlos IV đã công bố sắc lệnh hoàng gia về một chuyến hành

trình từ thiện, có tên gọi La Real Expedición Filantrópica de la Vacuna

(The Royal Philanthropic Vaccine Expedition) tức Hành trình vắc-xin từ thiện của hoàng gia nhằm cung cấp một cách có hiệu quả nguồn vắc-xin tới các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Châu Mỹ

và Philippines40 Chuyến hành trình này được chỉ huy bởi Francisco Xavier de Balmis (1753-1819) - bác sĩ phẫu thuật của Carlos IV, nên còn được gọi là chuyến viễn dương Balmis Là một người tiêm chủng nhiệt huyết và từng có kinh nghiệm đi tới Tân Thế giới để thu thập các loại thực vật và thảo dược nên bác sĩ Balmis đã được đề cử bởi Hội đồng Tây Ấn cho chức trách dẫn đầu đoàn viễn dương Về đội ngũ phụ trách tiêm chủng tham gia chuyến hành trình gồm có bác sĩ Balmis là đội trưởng, Joseph Salvany - đội phó, 3 trợ lý phẫu thuật, 2 trợ lý sơ cấp cứu và 4 y tá41 Ngoài ra, để duy trì hiệu năng vắc-xin trong suốt chuyến hành trình, đội ngũ của Balmis đã quyết định mang theo 22 đứa trẻ mồ côi từ 8-12 tuổi ở La Coruña như nguồn “vắc-xin sống”42

Khởi hành từ La Coruña, Tây Ban Nha ngày 30/11/1803 trên tàu Maria Pita

Trang 9

do thuyền trưởng Pedro del Barco y

Espana chỉ huy, nơi đầu tiên đội ngũ

Balmis dừng chân là quần đảo Canary43

Ở mỗi nơi họ dừng chân đều thành lập

các ủy ban tiêm chủng với những chức

năng: (1) phổ biến lợi ích của vắc-xin

tới người dân, (2) cung cấp việc sản

xuất bạch huyết vắc-xin từ nguồn bệnh

đậu bò địa phương, (3) quản lý nguồn

vắc-xin, (4) lập hồ sơ tiêm chủng và lưu

trữ sổ đăng ký, (5) phát triển hệ thống

giám sát cho các sự cố bất lợi44 Sau khi tới Venezuela, Balmis quyết định tách đội ngũ của mình làm hai nhóm: nhóm

do Salvany dẫn đầu tiếp tục hành trình tiêm chủng trong lãnh thổ phó vương quốc Peru (ngày nay là Colombia, Ecuardo, Peru, Bolivia và Chile), còn nhóm của Balmis dẫn đầu sẽ tiến hành tiêm chủng ở phó vương quốc Tân Tây Ban Nha và sau đó là sang Philippines45 (xem Bảng 1)

Bảng 1: Danh sách các địa điểm tiêm chủng đậu mùa ở Tân Thế giới

thực hiện bởi đội ngũ Balmis-Salvany

Stt Địa điểm Thời gian vắc-xin được

giới thiệu Nguồn vắc-xin Hành trình của Balmis

1 Quần đảo Canary 12/1803 Từ chuyến hành trình (chính quốc)

2 Puerto Rico 11/1803 St Thomas (Đảo Virgin thuộc Đan

Mạch)

Hành trình của Salvany

Nguồn: Catherine Mark - José G Rigau Pérez, 2009, “The World’s First Immunization Campaign: The Spanish Smallpox Vaccine Expedition, 1803-1813”, Bulletin of the History of Medicine, Vol 63, No 1, pp 76-77.

Trang 10

Trong quãng thời gian này, tại

Venezuela nhờ sự hợp tác nhiệt tình của

nhà chức trách và Giáo hội địa phương,

việc tiêm chủng đã được tiến hành với

kết quả vượt ngoài mong đợi của đội

ngũ Balmis Theo đó có hơn 12.000

người được tiêm chủng trong vòng chưa

đầy một tháng46 Trong báo cáo cuối

năm 1804, có 12.450 người từ 31 thành

phố, thị trấn ở Venezuela đã được tiêm

chủng47 Còn ở Mexico, ước tính có ít

nhất 100.000 người đã được tiêm chủng,

hầu hết là trẻ em - nhóm tuổi thường dễ

bị mắc bệnh đậu mùa nhất48 Đặc biệt,

chỉ riêng cộng đồng Mixtec có 16.983

người được tiêm ngừa49 Trong khi đó,

nhóm của Salvany cũng đạt được các

kết quả đáng chú ý trong nỗ lực tiêm

ngừa đậu mùa cho các khu vực mà họ đi

qua, như vào tháng 5/1804: tiêm chủng

cho 2.000 cư dân bản địa ở Tolima

(Colombia)50 Theo báo cáo của Salvany,

kể từ khi tới Cartagena de Indias, nhóm

của ông đã hoàn thành 56.237 lần tiêm

chủng, không bao gồm số lần tiêm

chủng được thực hiện bởi học viên do

Salvany đào tạo hoặc từ những người

mà ông cung cấp vắc-xin51 Một ủy ban

tiêm chủng cũng được thiết lập ở nơi

này Đội ngũ của Salvany còn tiến hành

tiêm chủng cho khoảng hơn 100.000

người ở Bogot52 và khoảng hơn 197.000

người ở Peru53 Riêng tại Chile, trợ lý

của Salvany là Manuel Grajales - người

tiếp tục hoạt động ở Chile tới năm 1812

đã thực hiện tiêm chủng cho khoảng

400.000 người54

Nhờ các nỗ lực của đội ngũ Balmis-Salvany, trong thập niên đầu sau chiến dịch tiêm chủng đậu mùa do Balmis và Salvany tiến hành, hoạt động tiêm chủng quy mô lớn và các văn phòng tiêm chủng đã được thiết lập khắp lãnh thổ Tân Thế giới thuộc Tây Ban Nha từ miền Trung đến Nam Châu Mỹ Một ước tính cho biết khoảng 20% dân số của Tân Tây Ban Nha đã được hưởng lợi ích từ việc tiêm chủng đậu mùa55 Có thể thấy, hành trình mang vắc-xin từ Tây Ban Nha đến Tân Thế giới do đội ngũ Balmis-Salvany thực hiện là chiến dịch tiêm chủng đậu mùa đầu tiên và có quy mô lớn nhất thế giới, đồng thời là minh chứng ấn tượng về việc phổ biến vắc-xin đậu mùa, cũng như kỹ thuật tiêm chủng ra toàn thế giới thời bấy giờ

3 Kết luận

Sự xuất hiện, lây lan và bùng phát của bệnh đậu mùa do hệ quả của các cuộc phát kiến địa lý đã mang lại những thay đổi sinh học lớn lao đối với Châu

Mỹ Nó đã không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng còn tác động tới kinh

tế - xã hội và cả số phận của các nền văn minh bản địa ở khu vực này Việc phòng chống và ngăn ngừa bệnh đậu mùa do đó đã trở thành vấn đề rất được quan tâm ở Tân Thế giới Nỗ lực mang nguồn vắc-xin ngừa bệnh đậu mùa hiệu quả và thúc đẩy hoạt động tiêm chủng của đội ngũ Balmis-Salvany ở Tân Thế giới đầu thế kỷ XIX đã mang lại những kết quả đầy triển vọng So với ngày nay,

Ngày đăng: 15/10/2022, 16:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w