Vào thập niên 30 của thế kỷ XVII, tại Hà Lan sự bùng nổ của thương mại hoa tulip đã dẫn đến một hiện tượng được gọi là hội chứng hoa tulip hay cơn sốt hoa tulip.. Trên cơ sở tìm hiểu s
Trang 1719
Sự du nhập hoa tulip vào châu Âu và “hội chứng hoa tulip”
ở Hà Lan thế kỷ XVII
Lư Vĩ An*
Tóm tắt: Hoa tulip được du nhập từ Thổ Nhĩ Kỳ vào châu Âu từ giữa thế kỷ XVI Ngay
sau đó, tulip đã nhanh chóng trở thành loài hoa được ưa chuộng bậc nhất tại châu Âu thời
sơ kỳ cận đại Đặc biệt, hoa tulip đã sinh sôi mạnh mẽ khắp các tỉnh ở “Vùng đất thấp” (Hà Lan) và ngày nay được biết đến như là biểu tượng văn hóa của đất nước này Vào thập niên
30 của thế kỷ XVII, tại Hà Lan sự bùng nổ của thương mại hoa tulip đã dẫn đến một hiện tượng được gọi là hội chứng hoa tulip hay cơn sốt hoa tulip Nó được xem là một trong biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Hà Lan thời cận đại Bài viết này trước tiên tìm hiểu
về sự du nhập của hoa tulip vào châu Âu ở nửa sau thế kỷ XVI Sau đó, bài viết phân tích bối cảnh lịch sử, diễn biến cùng nguyên nhân của hội chứng hoa tulip ở Hà Lan vào đầu thế kỷ XVII
Từ khóa: hội chứng hoa tulip; cơn sốt hoa tulip; lịch sử vi mô; lịch sử Hà Lan
Ngày nhận 02/4/2021; ngày chỉnh sửa 22/5/2021; ngày chấp nhận đăng 30/12/2021
DOI: https://doi.org/10.33100/tckhxhnv7.6.LuViAn
1 Mở đầu
Tulip (tên gọi khoa học tiếng Latin là
tulipa, tiếng Hà Lan là tulp, tiếng Thổ Nhĩ
Kỳ là lale - vốn là từ ﻪﻟﻻ có nguồn gốc Ba
Tư, âm Hán Việt là uất kim hương và còn
biến âm là uất kim cương) là tên một loài
thực vật có hoa và củ, sống lâu năm, thuộc
họ loa kèn (liliaceae) Mặc dù không có giá
trị sử dụng về mặt y học, nhưng tulip lại
được trồng rộng khắp để làm cảnh vì hoa
của chúng rất đẹp (Baytop và cộng sự 2003:
79) Hoa tulip được trồng trên một khu vực
địa lý rộng lớn trải dài từ phía Nam châu Âu
(bán đảo Iberia đến bán đảo Balkan), phía
Bắc Châu Phi và đặc biệt là ở châu Á từ
Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ), Iran đến phía Đông
Bắc Trung Quốc và Nhật Bản Vùng trung
Đại học Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ;
email: luvianbt@gmail.com
tâm, nơi đa dạng các giống loài tulip nằm ở khu vực Trung Á Tulip được xem là quốc hoa của một số quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, song nó lại có sự kết nối đặc biệt với
Hà Lan, nơi có truyền thống canh tác, sản xuất và phổ biến loài hoa này từ thế kỷ XVII đến nay (Bermejo và cộng sự 2009: 60) Đặc biệt, trong thế kỷ XVII (chủ yếu là vào thập niên 30 của thế kỷ XVII), sự bùng nổ của thương mại hoa tulip tại Hà Lan đã dẫn đến hội chứng hoa tulip hay cơn sốt hoa tulip Đây được xem là một trong những ví dụ điển hình đầu tiên và cũng là nổi tiếng nhất của hiện tượng bong bóng kinh tế1 trong lịch
sử
1 Bong bóng kinh tế (hoặc bong bóng tài chính) là một thuật ngữ kinh tế học, dùng để chỉ hiện tượng giá trị của một loại hàng hóa, tài sản do tác động của nhiều yếu tố, chủ yếu là nạn đầu cơ, tâm lý đám đông, cảm tính khi định giá nên thông qua giao dịch, giá của loại hàng hóa, tài sản đó tăng đột biến, vượt qua giá trị thực tế ban đầu Tuy nhiên, sự tăng đột biến giá này không bền vững,
Trang 2Trong thời gian gần đây, tình trạng đầu
cơ đầy rủi ro ở các lĩnh vực đầu tư, kinh
doanh đã dẫn tới sự xuất hiện của các bong
bóng kinh tế tương tự cơn sốt hoa tulip ở Hà
Lan (ví dụ: cơn sốt nhà đất - thị trường bất
động sản, cơn sốt cổ phiếu - thị trường
chứng khoán và mới đây nhất là cơn sốt lan
đột biến) Do đó, việc tìm hiểu cơn sốt hoa
tulip ở Hà Lan gần 4 thế kỷ trước trở thành
vấn đề có ý nghĩa thực tiễn và rất đáng để
quan tâm Trên cơ sở tìm hiểu sự du nhập
của hoa tulip vào châu Âu cũng như cơn sốt
hoa tulip ở Hà Lan vào thế kỷ XVII, bài viết
sẽ góp phần lý giải bối cảnh kinh tế - xã hội,
các nguyên nhân và yếu tố dẫn tới cơn sốt
hoa tulip cũng như hệ quả, tác động của cơn
sốt hoa tulip thời bấy giờ Nghiên cứu về
cơn sốt hoa tulip cũng chỉ ra bài học lịch sử
cho các hoạt động đầu tư, nhằm hạn chế tình
trạng đầu cơ Dựa trên một số nghiên cứu
liên quan đến lịch sử hoa tulip và vấn đề cơn
sốt hoa tulip của các học giả như Murray
W.S (1909), Segal Sam (1993), Dash Mike
(2000), Pavord Anna (2001) và Goldgar
Anne (2007), bài viết sử dụng phương pháp
phân tích và so sánh đối chiếu để tổng hợp
và hệ thống hóa các nội dung cơ bản của chủ
đề nghiên cứu Ngoài ra, bài viết cũng vận
dụng cách tiếp cận của sử học vi mô
(microhistory) - tập trung nghiên cứu, diễn
giải một vấn đề hay một sự kiện, hiện tượng
lịch sử cụ thể trong một thời điểm, bối cảnh
nhất định - trong phạm vi bài viết này là cơn
sốt hoa tulip xảy ra tại Hà Lan vào thập niên
30 của thế kỷ XVII
2 Sự du nhập của hoa tulip vào châu Âu
Ngày nay khi nhắc đến hoa tulip, người
ta thường nghĩ ngay đến Hà Lan, nhưng
thực tế hoa tulip không phát nguyên từ Hà
thường chỉ mang tính nhất thời nên sau cùng sẽ đổ vỡ và
quay trở về giá trị thực ban đầu
Lan mà là một loài hoa có nguồn gốc lâu đời
ở phương Đông và chỉ được du nhập vào châu Âu trên dưới khoảng 5 thế kỷ Các nhà phân loại học tin rằng những giống hoa tulip đầu tiên mọc ra từ những bụi cây bên sườn dốc của dãy núi Thông Lĩnh (Pamir) và nảy
nở mạnh mẽ giữa thung lũng Thiên Sơn (Trung Á) Nguồn gốc lịch sử của việc trồng hoa tulip có thể bắt đầu từ Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ Thời điểm chính xác những bông hoa tulip bắt đầu được trồng vẫn còn là điều
bí ẩn, nhưng vào khoảng năm 1050 hoa tulip
đã được tôn sùng ở Ba Tư Hình ảnh hoa tulip trong áng thơ của Omar Khayyam - một học giả Ba Tư nổi tiếng sống vào thế kỷ
XI, cho đến nay vẫn được xem là ghi chép sớm nhất về hoa tulip trong lịch sử (Roding
và cộng sự 1993: 9) Hoa tulip cũng trở thành một biểu tượng quan trọng đối với người Thổ (Türk) Vào cuối thế kỷ XI, khi một nhóm bộ tộc Thổ là Selçuk xâm nhập vào Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ) thì hoa tulip bắt đầu xuất hiện trong nghệ thuật du mục Thổ Đến khi người Thổ Ottoman xuất hiện vào cuối thế kỷ XIII và dần trở thành thế lực thống trị khu vực từ đầu thế kỷ XV, thì họ
đã nâng tầm hoa tulip lên một vị trí nổi bật
mà nó chưa từng được có trước đó (Dash 2000: 21)
Đối với châu Âu, cho đến giữa thế kỷ XVI, không có bất cứ đề cập nào về tulip bởi các nhà thực vật học, nhà sưu tập thảo mộc hay y sĩ tại các trung tâm học thuật hàng đầu của châu Âu như Wittenburg, Montpellier, Padua và Viên (Pavord 2001: 53) Hình ảnh hoa tulip cũng không xuất hiện trong các tranh vẽ và miêu tả ở châu Âu thời bấy giờ Lý thuyết thường được chấp nhận nhiều nhất là hoa tulip đã được du nhập từ Thổ Nhĩ Kỳ vào châu Âu Những người phương Tây đầu tiên nhìn thấy hoa tulip có lẽ là những đặc phái viên ngoại giao của triều đình các nước châu Âu gửi sang đế chế Ottoman vào thế kỷ XVI Sớm nhất là
Trang 3đến giữa thế kỷ XVI, hoa tulip bắt đầu được
chú ý bởi người phương Tây (Dash 2000:
33)
Dựa theo lý thuyết cho rằng hoa tulip đã
du nhập vào châu Âu từ giữa thế kỷ XVI
qua ngả Thổ Nhĩ Kỳ, nhiều ý kiến cho rằng
Ogier Ghislain de Busbecq - đặc phái viên
của hoàng đế Habsburg Ferdinand I, đến
Ottoman vào năm 1554, là người đã mang
các củ tulip về châu Âu (Bermejo và cộng
sự 2009: 61) Trong bức thư đề năm 1555,
Busbecq đã mô tả các loại hoa có củ được
trồng trong các khu vườn từ Adrianople
(Istanbul ngày nay) như thủy tiên và lan dạ
hương, cũng như loài hoa khác mà người
Thổ Ottoman gọi là tulip: “Khi đi qua vùng
này, chúng tôi bắt gặp rất nhiều loài hoa ở
khắp nơi: hoa thủy tiên, hoa violet và loài
hoa tulip mà người Thổ gọi là tulipan
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy những loài
hoa này nở vào giữa mùa đông, vốn là mùa
không thích hợp Hoa thủy tiên và hoa violet
mọc rất nhiều ở Hy Lạp và chúng có mùi
thơm đến nỗi những người không quen với
nó sẽ bị đau đầu Hoa tulip thì có rất ít mùi
hoặc không có mùi, nhưng vẻ đẹp và màu
sắc đa dạng của nó làm mê hoặc mọi người”
(Busbecq 2011: 26)
Cũng bởi Busbecq gọi tulip là tulipan mà
danh tính loài hoa này trong ngôn ngữ các
nước châu Âu đã được biết đến không phải
là lale như cách gọi của người Thổ mà thay
vào đó là tulipan, một từ mà trong tiếng Thổ
Nhĩ Kỳ có nghĩa là turban (khăn quấn/khăn
xếp)2 Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng
thực tế Busbecq không hoàn toàn là người
đầu tiên đem tulip về châu Âu và thời điểm
2 Turban (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: türban hoặc sarık) là một
loại khăn đội đầu rất phổ biến ở nhiều nền văn hóa khác
nhau, đặc biệt là trong giáo phái Sufi của Islam (Hồi giáo)
và cộng đồng đạo Sikh ở Ấn Độ Cách diễn tả hoa tulip là
tulipan có liên quan đến kiểu khăn đội đầu turban của
người Thổ Ottoman, với hàm ý là “bông hoa trong hình
dạng khăn xếp” (Baytop và cộng sự 2003: 79)
ông mang củ tulip về châu Âu cũng không phải là thời điểm khởi đầu của việc du nhập hoa tulip vào châu Âu (Potter 2013: 152) Theo đó, việc giới thiệu tulip vào châu Âu
đã diễn ra trước Busbecq và nó có thể thuộc
về một nhà thám hiểm Pháp tên là Pierre Belon (1517-1564), người vào năm 1546 đã thực hiện một chuyến đi tới vùng Levant (Cận Đông) và dành ba năm ở đó để khám phá cũng như thu thập các giống cây trồng (Pavord 2001: 53) Trong phần ba của tác
phẩm Les Observation de Plusieurs
Singularités (Quan sát một số điểm kỳ dị) xuất bản ở Paris năm 1553, Belon có miêu tả đến loài hoa ‘Lils rouges’, được cho chính là hoa tulip Giống như Busbecq, Belon cũng nhận ra sự đam mê của người Thổ Ottoman đối với các loài hoa Belon nhận xét rằng việc ít hương thơm của loài ‘Lils rouges’ (hoa tulip đỏ rất hiếm mùi thơm) không làm chúng mất đi sự quyến rũ trong mắt người Thổ Ottoman Loài ‘Lils rouges’ này không thể nào là hoa bách hợp (loa kèn, lily) vì hoa bách hợp hầu như không có màu đỏ Hơn nữa Belon chép rằng những bông hoa đỏ
‘Lils rouge’ rất phổ biến và xuất hiện hầu khắp khu vườn của mọi người (Pavord 2001: 55-57)
Tuy vẫn còn nhiều bàn luận về thời điểm chính xác hoa tulip được du nhập vào châu
Âu nhưng thời điểm những bông hoa tulip đầu tiên nở ở châu Âu được biết cụ thể là vào tháng 4 năm 1559 Nhà thực vật học người Thụy Sĩ Conrad Gessner (1516-1565) lần đầu tiên nhìn thấy hoa tulip nở trong khu vườn của Johannis Heinrich Herwart ở Ausburg, bang Bavaria, Đức Ông đã mô tả
sự kiện này trong tác phẩm có nhan đề De
Hortis Germaniae Liber Recens (Cuốn sách gần đây về khu vườn Đức) xuất bản hai năm sau đó (năm 1561) Ở trang 213 của tác phẩm này, Gessner chép rằng: “Vào đầu tháng 4 năm 1559, trong khu vườn của nghị viên khéo léo John Henry Herwart, tôi đã
Trang 4nhìn thấy có một loài thảo mộc nảy mầm từ
hạt giống được mang về từ Byzantia, hoặc
như một ai đó nói là từ Cappadocia Nó đã
phát triển với một bông hoa lớn màu đỏ,
giống như cây bách hợp đỏ, có tám cánh hoa
trong đó có bốn cánh bên ngoài cũng như
bên trong, với một mùi hương êm dịu, nhẹ
nhàng và tinh tế” (Murray 1909: 19) Mô tả
này của Gessner được xem như là báo cáo
đầu tiên về việc trồng hoa tulip ở Tây Âu
(Pavord 2001: 5) Để vinh danh Gessner,
nhà thực vật học Thụy Điển Carl Linnaeus
(1707-1778) sau này đã đặt tên cho nó là
Tulipa Gesneriana, một cái tên bao hàm tất
cả các bông hoa tulip đầu tiên của châu Âu
được trồng trong hai thế kỷ XVI và XVII
(Potter 2013: 153)
Sau khi được nhìn thấy lần đầu tiên tại
Augsburg vào năm 1559, hoa tulip đã nhanh
chóng lan tỏa rộng khắp châu Âu Nó được
biết tới ở Antwerp vào năm 1562 và khu vực
nước Bỉ ngày nay trước năm 1583, ở Leiden
(Hà Lan) trước năm 1590, ở Middleburg và
Lucerne (Thụy Sĩ) khoảng năm 1596 và ở
Monpellier (Pháp) khoảng năm 1598
(Pavord 2001: 68) Vài loại tulip từ Thổ Nhĩ
Kỳ được du nhập vào Trung và Tây Âu
thông qua Viên (Áo) Hoa tulip đã được du
nhập vào Viên năm 1572 và tới Frankfurt
năm 1593 Nhãn quan thẩm mỹ của người
châu Âu đương thời đối với hoa tulip cũng
khác so với người Thổ Ottoman Nếu như
loại hoa tulip phổ biến nhất ở Ottoman thời
gian đó có màu đỏ với các cánh hoa hình
Tây Âu lại ưa chuộng hoa có các kiểu dáng
khác nhau với bông hoa có nhiều màu
(Roding và cộng sự 1993: 10)
Liên quan đến sự du nhập hoa tulip vào
nước Anh, tác phẩm Remembrances of
Things to be Endeavoured at Constantinople
(1582) của Richard Hakluyt được xem là ghi
chép đầu tiên về việc giới thiệu tulip vào
Anh Trong tác phẩm này, Richard Hakluyt viết rằng: “Và trong vòng bốn năm nay, có những thứ được mang từ Viên vào Anh quốc cho những bông hoa gọi là Tulipas và chúng cùng những thứ khác thu được một ít từ Constantinople bởi một người đàn ông xuất chúng tên là M Carolus Clusius” (Murray 1909: 19) Hakluyt tuy nhiên đã nhầm lẫn khi cho rằng việc du nhập tulip là bởi nhà thực vật học Carolus Clusius (Charles de L’Escluse, 1526-1609) Tuy hoa tulip du nhập vào nước Anh muộn hơn so với lục địa châu Âu nhưng ảnh hưởng của chúng vẫn không kém phần kịch tính Theo John Gerard thì một trong những người đầu tiên trồng hoa tulip ở nước Anh là dược sư James Garrett sống tại Lime Street, Luân Đôn, nơi có cộng đồng những người yêu hoa
xứ Flander hoặc Huguenot (người thuộc Giáo hội Kháng cách) Nhà thực vật học Clusius cũng đã từng lưu trú tại đây trong các chuyến viếng thăm Luân Đôn vào những năm 1570-1580 và có lẽ đã mang theo một số giống tulip mà James Garrett đã trồng trong khu vườn tại Aldgate (Potter 2013: 159) Một nhân vật khác đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá hoa tulip vào Anh
là John Tradescant - người quản lý vườn hoàng gia tại cung điện Oatlands của nhà vua Charles I Vào năm 1611, Tradescant đã mua 800 củ giống tulip ở Haarlem và 500 củ khác ở Brussels khi ông đi qua Vùng đất thấp (Low Lands hoặc Low Countries) và miền Bắc nước Pháp để thu thập số lượng lớn các loài thực vật, cây trồng cho Robert Cecil - Tổng trưởng ngân khố Anh, người đang tạo ra khu vườn mới tại Hatfield House John Tradescant sau đó cũng đã sở hữu thêm nhiều hoa tulip cho khu vườn của riêng mình tại South Lambeth, bao gồm giống Tulip Caffa được gửi bởi đại sứ tại Istanbul là Sir Peter Wyche (Potter 2013: 160)
Trang 5Trong khi đó, nhà thực vật học xứ Wales
là Sir Thomas Hanmer thì phát triển tình yêu
hoa tulip của mình ở Pháp, nơi đã diễn ra
một cơn sốt hoa tulip trước khi nó bùng phát
ở Hà Lan Trong hai thập niên đầu của thế
kỷ XVII, củ của tulip đã được chào đón ở
Pháp như món quà của con rể tương lai Đặc
biệt vào thập niên 1610 đã có một cơn sốt
hoa tulip ở Paris khi giới quý tộc bắt đầu
cạnh tranh lẫn nhau để giới thiệu với triều
đình Pháp những mẫu vật quý hiếm và
ngoạn mục của hoa tulip như một xu hướng
thời trang thịnh hành (Dash 2000: 62)
Chuyên luận đầu tiên về hoa tulip tại Pháp
có nhan đề Traitté compendieux et abregé
des tulippes et de leurs diverses sortes et
espèces được xuất bản ở Paris năm 1617
Sau đó, nhiều chuyên luận khác về tulip tiếp
tục được ấn hành trong thế kỷ XVII, đưa ra
tuyên bố về sự tột bậc của hoa tulip như
Reine des fleurs tức nữ hoàng của các loài
hoa Đỉnh điểm trong tất cả là Le Floriste
François của Charles de la Chesnée
Monstereul xuất bản năm 1654 chỉ tập trung
vào hoa tulip như thể đây là loài hoa duy
nhất đáng được trồng Tulip đã có một vị trí
đáng kể trong các khu vườn ở nước Pháp khi
số lượng của chúng không ngừng tăng lên,
từ hai tá giống được đề cập trong chuyên
luận tulip đầu tiên năm 1617, thành tổng
cộng 450 giống trong chuyên luận của de la
Chesnée Monstereul vào giữa thế kỷ XVII
(Potter 2013: 163-164)
Về sự du nhập của hoa tulip vào Vùng
đất thấp, những thùng hàng chứa củ tulip từ
Istanbul đã được mang tới Antwerp (ngày
nay thuộc Bỉ, khi đó vẫn là xứ Hà Lan thuộc
Tây Ban Nha) vào năm 1562, trước khi
chúng được biết đến tại Amsterdam Hoa
tulip nhanh chóng lan rộng khắp 17 tỉnh của
Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, mặc dù cuộc
cách mạng làm gián đoạn quá trình này một
thời gian ngắn Cuộc cách mạng đã dẫn đến
sự ra đời của Cộng hòa Hà Lan ở 7 tỉnh phía Bắc, nơi mà xung quanh Haarlem, việc trồng hoa tulip đầu tiên ở Hà Lan đã được bắt đầu (Pavord 2001: 129)
Đáng lưu ý, sự du nhập của hoa tulip vào Vùng đất thấp gắn liền với vai trò và tên tuổi của nhà thực vật học lừng danh Carolus Clusius Được xem là một nhân vật quan trọng trong sự phát triển của nền thực vật học châu Âu cận đại, Clusius không chỉ quan tâm đến hoa tulip mà còn giúp nó lan tỏa rộng rãi ra khắp châu Âu, giống như việc lan tỏa khoai tây có ảnh hưởng lớn đến lịch
sử nhân loại (Goody 2010: 271) Clusius đã mang rất nhiều củ giống hoa tulip đến Leiden để trồng và phục vụ mục đích nghiên cứu khi đặt chân đến nơi này vào ngày 19 tháng 10 năm 1593 (Dash 2000: 48) Nhưng Clusius cũng không phải là người đầu tiên trồng tulip ở Hà Lan Theo biên niên sử gia Nicolaes van Wassenaer thì người đầu tiên trồng tulip tại Vùng đất thấp là dược sư Walich Ziwertsz3 ở Amsterdam Walich đã trồng tulip trong khu vườn của mình từ năm
1573, khi Clusius vẫn đang còn ở Viên
(Dash 2000: 54) Trong tác phẩm Historisch
Verhaalvào tháng 4 năm 1625 (Vol IX, bản số 9), Wassenaer viết rằng: “Bông hoa tulip đầu tiên được nhìn thấy ở Amsterdam là thuộc khu vườn của dược sư Walich Zieuwertz, trước sự kinh ngạc của tất cả người trồng hoa; nhưng chúng đã tăng lên đáng kể sau khi nhà thực vật học Clusius đến Leiden, người mà bên cạnh tulip còn mang theo nhiều loại thực vật quý hiếm khác, chẳng hạn lan dạ hương của Peru, thứ
đã được bán đến 49 florin” (Murray 1909: 19) Hơn nữa, trước khi Clusius đến Leiden thì Johan van Hoghelande đã trồng một số
3 Vào thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, ở Hà Lan việc sử dụng họ vẫn chưa phổ biến Hầu hết mọi người đều lấy tên của cha để thêm vào tên của chính mình như một cách
để phân biệt Theo cách này, Walich Ziwertsz được hiểu
là Walich, con của một người tên Ziwert hoặc Sievert (tức Ziwertszoon hay Ziwert’s son)
Trang 6lượng nhỏ củ giống tulip tại Trường Đại học
Leiden vào năm 1590 (Murray 1909: 19)
Mặc dù vậy, Clusius lại là người duy nhất ở
Hà Lan cũng như ở cả Châu Âu có đủ năng
lực để miêu tả, phân loại và hiểu về loài hoa
này Nghiên cứu đầu tiên của Clusius về hoa
tulip được đề cập đến trong chuyên luận có
tựa đề Historia (Lịch sử), xuất bản năm
1576 Sau đó, ông đã sửa và bổ sung công
trình này, tiếp tục xuất bản các chuyên luận
khác về hoa vào năm 1583 và cuối cùng là
kiệt tác Rariorum Plantarum Historia
(Chạm khắc lịch sử thực vật) xuất bản năm
1601 khi đang ở Leiden (Dash 2000: 54)
Nhờ vào công sức nghiên cứu, lai tạo của
Clusius cũng như của các nhà thực vật học
người Anh và người Pháp khác mà số lượng
giống hoa tulip ngày càng đa dạng Vào năm
1600, có khoảng hơn 100 giống, đến thập
niên 1630 có khoảng 1.000 giống (trong đó
có 500 giống gốc từ Hà Lan) Đến giữa thế
kỷ XVIII tăng lên 2.500 và ngày nay có tới
5.000 giống được biết đến (Dash 2000: 61)
Như vậy, kể từ khi được phát hiện và du
nhập vào châu Âu, hoa tulip với màu sắc
đẹp mắt và sự biến đổi giống vô tận đã biến
nó trở thành một loài hoa đặc biệt Không
chỉ người Thổ Ottoman và Hà Lan mà tất cả
các nhà thực vật học thuộc mọi dân tộc đều
dành sự quan tâm đặc biệt với hoa tulip Đến
những năm 1600 thì hoa tulip đã được say
mê ở khắp châu Âu
3 Hội chứng hoa tulip ở Hà Lan thế kỷ
XVII
Hội chứng hoa tulip (hay cơn sốt hoa
tulip và bong bóng uất kim hương, tiếng Hà
tulpenwoede, tulpengekte hay bollengekte,
tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là lale çılgınlığı, lale
deliği, lale balonu hay lale spekülasyonu)
được xem là một trong những biến cố quan
trọng nhất trong lịch sử Hà Lan thời sơ kỳ
cận đại (Baytop và cộng sự 2003: 79) Nó cũng là chủ đề cơ bản và phổ biến nhất trong lịch sử Hà Lan với nhiều nghiên cứu liên quan đã được công bố4 Không phải đơn thuần mà cơn sốt hoa tulip lại diễn ra mạnh
mẽ và đạt tới đỉnh điểm tại Hà Lan Vùng đất thấp hội tụ những yếu tố để dẫn đến hiện tượng này
Về bối cảnh kinh tế - xã hội, Hà Lan thời bấy giờ không giống với phần còn lại của lục địa châu Âu Trong khi hầu hết các quốc gia châu Âu vào thế kỷ XVII vẫn còn duy trì chế độ quân chủ chuyên chế thì Hà Lan đã
là một nhà nước cộng hòa liên bang Tích lũy tư bản ở Cộng hòa Hà Lan không ngừng tăng lên Sự ra đời của công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereenigde Oost-Indische Compagnie, viết tắt là VOC) vào năm 1602 và công ty Tây Ấn Hà Lan (Geoctrooieerde Westindische Compagnie, viết tắt là GWC) vào năm 1621 có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình phát triển của thương mại hải ngoại Hà Lan Sự thể chế hóa thương mại của Hà Lan cũng diễn ra mạnh mẽ: việc thiết lập phòng bảo hiểm năm 1598, thị trường giao dịch năm 1618, Ngân hàng công Wisselbank vào năm 1609 và ngân hàng tín dụng năm 1614 đã thu hút vốn và lãi suất từ khắp châu Âu đổ về Hà Lan Kinh tế chuyển biến dẫn theo đời sống xã hội cũng có nhiều thay đổi Tại Hà Lan đã hình thành một lối sống đô thị thông qua thương mại và nhập
cư Amsterdam khi đó trở thành trung tâm tài chính của thế giới (Goldgar 2007: 7&9) Như vậy, đến thế kỷ XVII, Hà Lan đã trở thành quốc gia giàu có và thịnh vượng bậc nhất ở châu Âu Mặt khác, sự gia tăng tích lũy tư bản ở Hà Lan đã mở đường cho sự xuất hiện của tầng lớp tư sản và thương
4 Vào năm 1942, Ernst Heinrich Krelage đã viết một cuốn
sách có tựa đề Bloemenspeculatie in Nederland: De Tulpomanie van 1636-1637 en de Hyacintenhandel
1720-1736, hệ thống hóa các sự kiện liên quan đến cơn sốt hoa tulip Cho đến nay, cuốn sách này vẫn được xem là nghiên cứu tiên phong về hội chứng hoa tulip tại Hà Lan
Trang 7nhân giàu có Những người này có khả năng
chi tiêu xa hoa cho những thứ đẹp đẽ như
hoa tulip Về mặt sinh thái tự nhiên, hoa
tulip rất thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng
của Vùng đất thấp Củ giống tulip phát triển
tốt nhất trong đất cát được tìm thấy ở một số
vùng của Cộng hòa Hà Lan, nơi có vành đai
đất khô và trắng chạy dọc theo bờ biển từ
Leiden đến thành phố Haarlem, ngay phía
Tây của Amsterdam, sau đó đến Alkmaar ở
cực Bắc của cộng hòa (Dash 2000: 64)
Yếu tố tự nhiên và bối cảnh kinh tế - xã
hội thuận lợi nói trên đã giúp cho hoa tulip
được phát triển mạnh mẽ ở Hà Lan Hoa
tulip đã nhanh chóng trở thành biểu tượng
cho sự giàu có và thịnh vượng của Cộng hòa
Hà Lan (Cộng hòa Bảy tỉnh Thống nhất) Từ
những năm 1620, hoa tulip đã phổ biến ở
Vùng đất thấp hơn bất cứ nơi nào khác và nó
đã nhanh chóng làm lu mờ các đối thủ như
hoa bách hợp và hoa cẩm chướng Hoa tulip
được trồng khắp nơi ở Hà Lan và được say
mê bởi ngày càng nhiều người sành điệu
hiểu biết Câu chuyện hoa mỹ được tạo ra từ
giá trị của hoa tulip đã trở thành câu chuyện
của chính đất nước Hà Lan (Dash 2000: 93)
Từ nửa đầu năm 1635 và sau đó, thị trường
hoa tulip đã phát triển mạnh chưa từng có ở
khắp các tỉnh Hà Lan, xuất hiện ở bất kỳ nơi
đâu có sẵn hoa tulip: Haarlem và
Amsterdam, Gouda và Rotterdam, Utrecht
và Delft, Leiden và Alkmaar, Enkhuizen,
Medemblik và Hoorn (Pavord 2001: 134)
Tầng lớp tư sản và thương nhân Hà Lan
giàu có là những người sưu tầm và thưởng
lãm hoa sành điệu Họ bao gồm những
người có địa vị và ảnh hưởng nhất ở Hà Lan,
như Paulus van Beresteyn ở Haarlem - thành
viên hội đồng quản trị nhà thương bệnh
phong tại địa phương, cũng là người đã cho
trồng hoa tulip khắp trong thành phố và
Jacques de Gheyn - một họa sĩ giàu có từ
Den Haag (Hague) Ngoài ra, còn có
Guillelmo Bartolotti van de Heuvel là một trong hai người giàu có nhất ở Amsterdam với tổng giá trị tài sản lên tới 400.000 gulden (fl hoặc ƒ)5 (Dash 2000: 65) Ngoài
tham gia vào thương mại hoa tulip còn đến
từ các tầng lớp trung gian: người sành điệu hoa, một số nghệ sĩ nổi tiếng và các công dân bình thường như thương nhân, thợ thủ công lành nghề, nhà sản xuất và chuyên gia, được kết nối bởi mối quan hệ gia đình, tôn giáo, thương mại hoặc địa phương Tham vọng đầu cơ của họ được miêu tả như những người tham gia vào cuộc đua đầy lừa gạt khi giá của tulip tiếp tục tăng cao (Potter 2013: 166) Giai đoạn này của hoa tulip được gọi
là ‘windhandel’ (giao dịch trong gió) Đối với người bán hoa, “giao dịch trong gió” có nghĩa là kinh doanh thuần túy đơn giản không được kiểm soát (Dash 2000: 96-97) Khi số lượng người tham gia vào đầu tư thương mại tulip tăng lên, giá của các giống được ưa chuộng nhất cũng bắt đầu tăng theo: lúc đầu chậm nhưng sau đó tăng lên nhanh chóng từ cuối năm 1634 (Pavord 2001: 140) Tốc độ này tiếp tục kéo dài tới năm 1635 và vào mùa đông năm 1636 giá trị của một số củ tulip đã tăng gấp đôi chỉ trong chưa đầy một tuần Cơn sốt hoa tulip lên đến đỉnh điểm chỉ trong hai tháng: tháng 12 năm
1636 và tháng 1 năm 1637 Trong vài tuần, tiền bạc và của cải đã được đổ vào thương mại hoa tulip khi người dân Hà Lan khắp bảy tỉnh đổ xô đầu tư bất cứ thứ gì mà họ có chỉ để sở hữu củ tulip Đương nhiên, nhu cầu tăng mạnh này đã góp phần đẩy giá lên cao hơn nữa (Dash 2000: 92) Một sử gia đương thời đã ghi chép lại sự tăng giá như sau: chẳng hạn một bông ‘Admirael de Man’
5 Gulden (guilder, kí hiệu là fl.) là một đơn vị tiền tệ cũ của Hà Lan, được lưu thông từ thế kỷ XVII đến đầu thế
kỷ XXI, trước khi quốc gia này chuyển sang sử dụng đồng euro Gulden cũng được hoán đổi với florin Vào thế
kỷ XVII, giá trị của gulden tương đương 10,16g bạc 100 gulden thời bấy giờ quy đổi được 6.000 USD hiện nay
Trang 8được mua với giá 15 gulden có thể bán lại
tới 175 gulden; còn bông ‘Root en Gheel
van Leyde’, tăng gấp 12 lần từ 45 gulden lên
550 gulden, bông ‘Generalissimo’ tăng 10
lần từ 95 gulden lên 900 gulden Giá của
một bông tulip tuyệt vời khác là ‘Generael
der Generaelen van Gouda’ đã tăng 2/3
trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm
1634 đến tháng 12 năm 1635, sau đó tăng
thêm 50% trong sáu tháng từ tháng 12 năm
1635 đến tháng 5 năm 1636 Tiếp đó, nó lại
tăng gấp ba lần nữa từ tháng 6 cùng năm đến tháng 1 năm 1637 Do vậy, một củ tulip vốn
đã đắt đỏ có giá từ 100 gulden, khi bắt đầu cơn sốt đã có giá trị lên cao không dưới 750 gulden chỉ hai năm sau đó (Dash 2000: 92-93) Vào đầu tháng 2 năm 1637, khi cơn sốt hoa đạt đỉnh điểm thì giá của các hợp đồng tulip đạt ở mức cao hơn 20 lần so với mức ở đầu tháng 11 năm 1636 và đầu tháng 5 năm
1637 (Thompson 2007: 99) Xem bảng 1:
Bảng 1: Danh sách của các củ tulip với trọng lượng và mức giá
59 azen 6 Admiral Liefkens 1015
(Nguồn: Murray 1909: 29)
6Được coi là nhất phẩm trong tất cả các
giống tulip là bông hoa có tên ‘Semper
Augustus’ Giá của ‘Semper Augustus’ đã
tăng một cách kinh ngạc: Nó được niêm yết
ở mức 1000 gulden vào năm 1623, hơn một
thập kỷ trước, khi cơn sốt hoa tulip đạt đỉnh
điểm Trong mùa xuân năm 1624, giá của
mỗi củ tulip loại này tăng lên 1.200 gulden
và khi đó nó chỉ còn có 12 củ Vào năm
1625, mức giá được tăng lên gấp đôi,
khoảng 3.000 gulden Đến năm 1633 giá của
nó là 5.500 gulden và vào tháng đầu tiên của
năm 1637 khi cơn sốt hoa tulip đạt đỉnh
điểm thì giá được đưa ra là 30.000 gulden
6 Azen (aces, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: zerre) là một đơn vị cực
nhỏ được sử dụng bởi thợ kim hoàn Một azen chỉ bằng
1/20 gram Thường thì một củ tulip trưởng thành có thể
nặng từ 50 đến 1000 azen tùy thuộc vào từng giống
cho ba củ tulip ‘Semper Augustus’, tức 10.000 cho một củ giống loại này (Pavord 2001: 133) Vào thời điểm bấy giờ, khi mà thu nhập bình quân hàng năm chỉ khoảng
150 gulden thì với giá của một củ tulip
‘Semper Augustus’ như vậy người ta có thể mua được một ngôi nhà đắt đỏ với một khu vườn nhỏ và cả nhà xe ngựa cạnh một kênh đào ở Amsterdam (Potter 2013: 166) Bởi khi đó, một căn hộ hạng nhất tại các thành thị của Hà Lan có giá khoảng 5000 gulden Còn những biệt thự đắt nhất trên những kênh đào của Amsterdam với vườn và nhà
xe ngựa cũng chỉ khoảng 10.000 gulden (Roding và cộng sự 1993: 14) Tulip, do đó
có giá trị như khoảng đầu tư đầy lợi nhuận
và vô cùng đắt đỏ
Trang 9Ngoài ra, trong thời gian xảy ra cơn sốt
hoa tulip, một củ tulip tên ‘Somerschoom’
cũng có giá 1.010 gulden Còn củ tulip tên
‘Viceroy D’Orange’ (Vijce roij van Orange)
trong cuộc đấu giá năm 1637 đạt tới 4.600
gulden, chỉ đứng sau nhất phẩm ‘Semper
Augustus’ và ‘Catolijn van Enchuysen’ (ở
mức 5.400 gulden) (Roding và cộng sự
1993: 17) Đương thời, người ta đã tính toán
và so sánh giá của các củ tulip đắt đỏ với giá
sinh hoạt thị trường hiện hành Chẳng hạn,
với giá của một củ tulip ‘Viceroy D’Orange’
vào năm 1636 - trước khi cơn sốt tulip bùng phát, khi đó vẫn chỉ khoảng 2.500 gulden,
có thể hữu ích hơn khi mua 2 tải lúa mì, 4 tải lúa mạch, 4 con bò béo, 8 con lợn béo, 12 con cừu béo, 2 thùng rượu lớn, 4 thùng bia,
2 thùng bơ, 1.000 cân phô mai (pound Anh), một cái giường bằng vải lanh, một bộ quần
áo và một chiếc cốc bằng bạc (Murray 1909: 29) Bình quân, một củ tulip với giá 3.000 gulden có thể quy đổi và mua được một số lượng hàng hóa khổng lồ như sau (Bảng 2):
Bảng 2: Tổng giá trị hàng hóa được quy đổi với giá của một củ tulip
1 chi ếc giường với nệm và trải giường 100
(Nguồn: Dash 2000: 128)
Thế nhưng, ngay sau đỉnh điểm của cơn
sốt hoa tulip đầu năm 1637 là cuộc khủng
hoảng đến bất ngờ trên thị trường khiến củ
tulip bị mất giá ngay lập tức Hoảng loạn đã
xảy ra khi mà tất cả mọi người chỉ muốn bán
mà không ai muốn mua (Murray 1909:
27-28) Nó dường như đúng với các tiên đoán
về thị trường sẽ bị phồng lên như bong bóng
với nhiều người bán hơn người mua, niềm
tin tan biến và thị trường sụp đổ Sự kiện bắt đầu với cuộc đấu giá thất bại ở Haarlem vào ngày 3 tháng 2 năm 1637 Tin đồn bắt đầu lan truyền về sự mong manh của thương mại hoa tulip và tin tức về cuộc đấu giá thất bại
đã dẫn đến cuộc khủng hoảng (Potter 2013: 167) Bị đe dọa bởi cuộc đấu giá thất bại tại Haarlem, những người trồng tulip từ các thành thị như Alkmaar, Delft, Enkhuizen,
Trang 10Gouda, Haarlem, Hoorn, Leiden,
Medemblik, Rotterdam, de Streek, Utrecht
và Vianen đã triệu tập một hội nghị tại
Amsterdam vào ngày 23 tháng 2 (W.S
Murray cho là ngày 24 tháng 2) (Murray
1909: 28) với hy vọng sẽ giải quyết cuộc
khủng hoảng bằng cách đưa ra quyết định tất
cả các hợp đồng kí kết trước tháng 11 năm
1636 đều được coi là hợp pháp và được ràng
buộc thi hành, trong khi các hợp đồng sau
tháng 11 có thể bị hủy bỏ sau khi thanh toán
10% giá thỏa thuận Tuy nhiên Thống đốc
Hà Lan và Tây Friesland sau đó đã bác bỏ
quyết định này, tuyên bố tất cả các giao dịch
chưa hoàn thành kể từ đầu năm 1636 là
không hợp lệ Tháng 4 năm 1637, Tối cao
Pháp viện Hà Lan cũng ra thông cáo về việc
giải quyết các rắc rối pháp lý liên quan đến
các giao dịch, được cho là có tính chất đứng
về phía người mua hơn người bán (Pavord
2001: 155) Vào tuần đầu tiên của tháng 2
năm 1637, cơn sốt hoa tulip chính thức kết
thúc
Sự sụp đổ của thị trường hoa tulip vào
năm 1637 đã khiến cho những người trồng
hoa phải chịu phần lớn thiệt hại tài chính từ
cơn sốt hoa Với việc Tối cao Pháp viện Hà
Lan hủy bỏ tất cả các hợp đồng cơ bản,
người trồng không thể tìm được người mua
mới hoặc thu hồi số tiền mà họ đã nhận
được trong hợp đồng Mặc dù thời gian cơn
sốt hoa tulip diễn ra rất ngắn, nhưng thiệt hại
về mặt tài chính mà nó gây ra là không hề
nhỏ Số vụ phá sản ở Amsterdam tăng gấp
đôi từ năm 1635 đến năm 1637 (French
2006: 10-11) Điển hình là các vụ phá sản cá
nhân, trong số đó có họa sĩ phong cảnh Jan
van Goyen, người đã chi một số tiền lớn cho
hoa tulip trong vài tuần cuối cùng của cơn
sốt Jan van Goyen đã tích trữ các củ tulip
có giá 60 gulden/củ để sau đó phải chứng
kiến giá trị của chúng giảm xuống chỉ còn
vài gulden (Roding và cộng sự 1993: 19)
Thế nhưng, theo nhiều đánh giá thì nền kinh
tế Hà Lan lúc bấy giờ lại không bị ảnh hưởng nghiêm trọng (Potter 2013: 168) Trong khi đó, hệ quả về mặt văn hóa và tâm lý xã hội của cơn sốt hoa tulip được phản ánh chủ yếu qua các chuyên luận và trước tác đương thời Nổi tiếng nhất là ba cuộc đàm thoại có tên gọi ‘Samen-spraecken’ giữa hai người thợ dệt tên là Waermondt và Gaergoedt, bàn về sự hưng thịnh và suy vong của nữ thần Flora, được viết bởi Adriaen Roman Nó được in lần đầu vào năm 1637 và được tái bản bổ sung vào năm 1643 Đến năm 1734 gần 100 năm sau
sự kiện, khi thương mại hoa lan dạ hương đe dọa sẽ gây ra một cơn sốt đầu cơ tương tự, bản in lần thứ hai đã được phát hành như một lời nhắc nhở về bong bóng kinh tế Sự hưng thịnh và sụp đổ của Flora cũng được
sử dụng trong nhiều hình ảnh và văn bản
khác như Floraes Gecks-kap of Afbeeldinge
van’t wonderlijcke Iaer van 1637 doen d’eene Geck d’ander uytbroede, de Luy Rijck sonder goet, en Wijs sonder verstant waeren (Trò hề của Flora hay bức tranh của năm 1637 dị thường khi người này lừa người kia và khi người ta giàu có mà không
có của cải và khôn ngoan mà không có não)
De Mallewaagen alias het valete der Bloemisten (Cỗ xe của những kẻ ngốc hay lời từ biệt những người trồng hoa) (Roding
và cộng sự 1993: 19-20)
Bàn về nguyên nhân dẫn đến cơn sốt hoa tulip, một số quan điểm cho rằng hội chứng hoa tulip ở Hà Lan không chỉ đơn thuần liên quan đến niềm say mê hoa tulip và biến động giá của nó mà sự xuất hiện của đầu cơ còn liên quan đến chính sách của chính phủ nhằm mở rộng số lượng tiền (sự gia tăng mạnh của việc cung cấp tiền xu và vàng thỏi
ở Hà Lan trong thập niên 1630) do đó đã thúc đẩy môi trường đầu cơ Giá của hoa tulip chỉ đóng vai trò là biểu hiện của quá trình này (French 2006: 12) Từ những năm 1631-1632 và đặc biệt là cuối thập niên