Biế n đổ i khí hậ u và thiên tai ở đế chê Angkor Lịch sử Angkor trong khoả ng thờ i gian từ sau thế kỷ XIII thiế u vắ ng các văn bả n ghi chép... Ngay cả khi ngư ờ i Khmer đã thích ứ ng
Trang 1Ả n h hư ở ng củ a b iế n đổ i kh í hậ u
LƯ VĨ AN
T óm tắ t: Biế n đổ i khí hậ u và thiên tai gồ m các đợ t hạ n hán nghiêm trọ ng, gió mùa, dịch bệ nh và sự mấ t căn bằ ng hệ sinh thái đã gây ra sự suy vong và tàn lụ i củ a nề n văn minh Angkor ở Campuchia vào thế kỷ XIV - XV Tuy không phả i là yế u tố duy nhấ t như ng khí hậ u và thiên tai đã góp phầ n làm phả vd sự ổ n định củ a hệ thố ng thủ y lợ i baray ờ Angkor, ả nh hư ở ng tớ i sứ c sả n xuấ t, từ đó dẫ n tớ i khủ ng hoả ng kinh tế - xã hộ i
ở đế chế Angkor Sự tàn lụ i củ a nề n văn minh Angkor dể lạ i bài họ c lịch sử về tác độ ng
củ a khí hậ u và thièn tai đố i vớ i các xã hộ i và các nề n văn minh Bài viế t này tìm hiể u biế n đổ i khí hậ u và thiên tai xả y ra ở Angkor và nhữ ng tác độ ng củ a nó đố i vớ i nề n văn minh này vào thể kỷ XIV - XV.
T ừ kh óa: biế n đổ i khí hậ u, thiên tai, đế chế Angkor, Campuchia.
Mở đầ u
Angkor là mộ t thờ i kỳ vàng son trong
lịch sử dân tộ c Khmer ở Campuchia Vào
thờ i điể m phát triể n cự c thịnh kéo dài từ
thế kỷ IX đế n thế kỷ XII, Angkor trở thành
mộ t đê chê hùng mạ nh ở khu vự c Đông
Nam Á vớ i lãnh thổ rộ ng lớ n Không chỉ
lớ n mạ nh về mặ t chính trị - quân sự ,
Angkor còn đạ t nhiề u thành tự u về mặ t văn
hóa, tôn giáo và kiế n trúc Quầ n thể kinh
thành Angkor đư ợ c xem là mộ t trong
nhữ ng đô thị tiề n công nghiệ p có quy mô
lớ n nhấ t thê giớ i Thê như ng, từ thế kỷ XIII
trở đi, Angkor bắ t đầ u suy yế u và đế n giữ a thế kỷ XV thì tàn lụ i Có nhiề u quan điể m khác nhau chỉ ra các nguyên nhân dẫ n tớ i
sự suy vong củ a nề n văn minh Angkor ở phư ơ ng diệ n chủ quan và khách quan Mộ t trong số nhữ íig nguyên nhân chủ quan khiế n đê chê Angkor tàn lụ i là do các vị vua
kế vị yế u kém không có khả năng duy trì
đê chế , việ c xây dự ng đề n đài quá mứ c tố n kém làm tiêu hao nguồ n nhân lự c và tài nguyên, và bở i sự chuyể n đổ i từ Hindu giáo sang Phậ t giáo Nam tông, về nguyên nhân khách quan đư ợ c nhắ c đế n nhiề u nhấ t là do
sự xâm lư ợ c và cư ớ p phá củ a ngư ờ i Thái
* Lư Vĩ An, Đạ i họ c Istanbul, Thố ’ Nhĩ Kỳ
Trang 274 Nghiên cứ u Đông Nam Á, sô' 2/2022
(Xiêm) đã gây ra nhữ ng tổ n thấ t nghiêm
trọ ng121 Bên cạ nh đó, mộ t nguyên nhân
khách quan khác là ả nh hư ở ng củ a biế n đổ i
khí hậ u và thiên tai cũng đóng vai trò quan
trọ ng không kém trong việ c góp phầ n dẫ n
tớ i sự suy tàn củ a Angkor Trên cơ sở tham
khả o các nghiên cứ u củ a họ c giả phư ơ ng
Tây về vấ n đề này, bài viế t tìm hiể u sự
biế n đổ i khí hậ u, mấ t cân bằ ng sinh thái và
thiên tai xả y ra ở Angkor cũng như tác
độ ng củ a yế u tố này đố i vớ i sự suy vong củ a
nề n văn minh Angkor
1 Biế n đổ i khí hậ u và thiên tai ở đế
chê Angkor
Lịch sử Angkor trong khoả ng thờ i gian
từ sau thế kỷ XIII thiế u vắ ng các văn bả n
ghi chép Các sự kiệ n liên quan chủ yế u
đư ợ c đề cậ p gián tiế p trong sử sách Trung
Hoa hoặ c qua ghi chép củ a Champa và
Xiêm, như ng rấ t ít ỏ i<3) Điề u này đã tạ o
ra mộ t lỗ hổ ng trong việ c tìm hiể u lịch sử
Angkor giai đoạ n hậ u kỳ, từ đó dẫ n tớ i
nhữ ng bấ t đồ ng về quan điể m khi chư a
thể giả i đáp về nguyên nhân, mứ c độ và
thờ i gian suy tàn củ a nề n văn minh
Angkor Mộ t số nghiên cứ u củ a các nhà sử
họ c và khả o cổ họ c như Bernard Philippe
Groslier (1979), Brendan M Buckley
(2010) và Roland Fletcher (2003 và 2018)
xem xét vai trò củ a yế u tố môi trư ờ ng, khí
hậ u và thiên tai đố i vớ i lịch sử Angkor
Biế n đổ i khí hậ u và thiên tai xả y ra ở giai
đoạ n hậ u kỳ Angkor chủ yế u gồ m hạ n hán
và dịch bệ nh
H ạ n hán
Biế n đổ i khí hậ u diễ n ra ở Angkor có
liên quan đế n quá trình chuyể n đổ i từ thờ i
kỳ “Âm Trung cổ ” (Medieval Climate Anomaly hay Medieval Warm Period, MCA/MWP) sang thờ i kỳ “Tiể u Băng hà” (Litte Ice Age, LIA) Quá trình chuyể n đôi
từ MWP sang LIA (kéo dài khoả ng hơ n
200 năm từ đầ u thế kỷ XIII đế n đầ u thế kỷ XVI) đã tác độ ng mạ nh mẽ tớ i đế chế Angkor Trong giai đoạ n 950 - 1300 do tác
độ ng củ a “Âm Trung cổ ”, lư ợ ng mư a cao đã
tạ o điề u kiệ n cho sự phát triể n nhanh chóng củ a nề n nông nghiệ p và dân sô Angkor Tuy nhiên, từ cuố i thế kỷ XIII đế n giữ a thế kỷ XV, nhấ t là vào giai đoạ n 1290
- 1340 cùng vớ i sự khở i đầ u củ a “Tiể u Bâng hà” khí hậ u ở Campuchia trở nên khô hạ n
hơ n nhiề u Sự dịch chuyể n củ a Đớ i hộ i tụ liên chí tuyế n (Intertropical Convergence Zone (ITCZ)) bở i “Tiể u Băng hà” đã khiế n Angkor phả i hứ ng chịu nhữ ng đợ t hạ n hán kéo dài và vô cùng khắ c nghiệ t từ thế kỷ XIV4) Dự a theo phân tích chỉ sô hạ n hán Palmer (PDSI), các đợ t hạ n hán kéo dài
xả y ra vào cuố i thế kỷ XIV đầ u thế kỷ XV, trong đó năm khô hạ n nhấ t là 1403 Các trậ n hạ n hán quy mô lớ n thờ i kỳ này đã
đư ợ c nhắ c tớ i trong bộ biên niên sử Thái
đư ơ ng thờ i là Jinakalamali Prakorn cũng như các ghi chép khác cho thấ y mứ c độ nghiêm trọ ng củ a nó có thể kéo dài đế n
tậ n Sri Lanka, Ân Độ và miề n nam Trung Quố c(5) Các nghiên cứ u gầ n đây cũng nhậ n định rằ ng đã từ ng có mộ t sự thay đổ i lớ n
và đáng chú ý đố i vớ i chế độ khí hậ u củ a khu vự c, có tên gọ i là “sự khô hạ n chung
củ a bán đả o Đông Dư ơ ng” bắ t đầ u từ khoả ng cuố i thế kỷ XIII và kéo dài đế n cuố i thế kỷ XV hoặ c thế kỷ XVI Nó cho thấ y không chỉ riêng Campuchia thờ i Angkor mà cả khu vự c bán đả o Đông
Trang 3Lư Vĩ An - Ánh hư ở ng củ a biế n đổ i khí hậ u và thiên tai đôi vớ i nề n văn minh Angkor 75
Dư ơ ng thờ i kỳ này đề u trả i qua mộ t số kế t
hợ p căng thẳ ng về sinh thái và khí hậ u<6)
Biế n đổ i khí hậ u do “Tiể u Băng hà” còn
gắ n vớ i sự suy giả m nề n nhiệ t độ Bứ c xạ
Mặ t trờ i trong thờ i kỳ “Am Trung cổ ” từ
thế kỷ X đế n thê kỷ XIII rấ t mạ nh như ng
lạ i trở nên suy giả m vào thờ i kỳ “Tiể u
Băng hà” vớ i cự c tiể u Wolf Minimum xả y
ra vào giai đoạ n 1280 - 1340 Thêm vào đó
là sự gia tăng củ a hoạ t độ ng phun trào núi
lử a trong các năm 1225 - 1233, 1256 -
1262 và 144 - 1465 đã làm nhiệ t độ ở Bắ c
bán cầ u giả m rõ rệ t Không chỉ vậ y, hoạ t
độ ng gió mùa cũng có nhiề u biế n độ ng,
dẫ n tớ i sự suy giả m mạ nh củ a lư ợ ng mư a
theo mùa và gây ra các đợ t hạ n hán hế t
sứ c nghiêm trọ ng Các chỉ số siêu gió mùa
trong giai đoạ n từ thế kỷ XIV đế n thế kỷ
XV cao gấ p đôi so vớ i bình thư ờ ng* 7’ Ở
hầ u hế t khu vự c Châu Á gió mùa, lư ợ ng
mư a theo mùa chỉ giả m 10% là đủ để gây
ra mộ t đợ t hạ n hán lớ n, như ng trong phầ n
lớ n thế kỷ XIV, ở Angkor lư ợ ng mư a đã
giả m tớ i 20 - 30% và kéo dài khoả ng 30 -
40 năm Hạ n hán kéo dài như vậ y đã góp
phầ n làm tê liệ t hoạ t độ ng sả n xuấ t, ả nh
hư ở ng lên việ c trồ ng trọ t và thu hoạ ch các
vụ mùa cũng như hoạ t độ ng đánh bắ t cá
củ a ngư ờ i Khmer(8)
D ịch bệ nh
Liên hệ chặ t chẽ vớ i thiên tai mà ngư ờ i
Khmer phả i đố i mặ t là dịch bệ nh Rừ ng
rậ m nhiệ t đớ i gió mùa ở khu vự c Đông
Nam Á đư ợ c xem là mộ t “lồ ng ấ p sinh họ c”
hoàn hả o cho mầ m bệ nh lư u hành và phát
tán Hầ u hế t các dịch bệ nh đề u có nguồ n
gố c từ các loài sinh vậ t trung gian truyề n
bệ nh Biế n đổ i hệ sinh thái do thiên tai
hoặ c do tác độ ng tàn phá củ a con ngư ờ i cùng vớ i quá trình thuầ n hóa độ ng vậ t và
đô thị hóa khiế n cho mầ m bệ nh lây nhiễ m sang con ngư ờ i Sự thiế u vắ ng các văn bả n ghi chép có niên đạ i sau thế kỷ XIII khiế n cho các nhà nghiên cứ u rấ t khó xác định thự c trạ ng dịch bệ nh đã xả y ra ở Angkor Trên mộ t bi ký còn sót lạ i đư ợ c cho là có niên đạ i từ thờ i Jayavarman VII, ở khổ thứ 13 và 14 có nhữ ng dòng miêu tả như sau: “Nỗ i đau thể xác củ a mọ i ngư ờ i đã trở thành nỗ i đau tinh thầ n và phiề n muộ n
củ a nhà vua hơ n là nhữ ng ngư ờ i bệ nh thự c
sự Vì chính nỗ i đau củ a nhà nư ớ c mớ i là
nỗ i đau củ a các vị vua chứ không phả i nỗ i đau củ a chính họ Vớ i sự giúp đỡ củ a các y
sĩ - nhữ ng chiế n binh thông thạ o về vũ khí
y họ c, nhà vua tiêu diệ t kẻ thù củ a vư ơ ng quố c - bịnh tậ t”<9) Rõ ràng, dịch bệ nh là
vấ n đề mà dân cư Angkor lúc bấ y giờ phả i chịu đự ng đã đư ợ c đề cậ p trong bi ký thờ i Jayavarman VII Nhữ ng căn bệ nh sau triề u đạ i củ a Jayavarman VII vẫ n tiế p tụ c
và ngày càng tồ i tệ hơ n trong hơ n 200 năm Các biên niên sử củ a ngư ờ i Thái chép
rằ ng vào khoả ng giữ a năm 1330 và 1352 ngư ờ i Thái và có thể là cả ngư ờ i Khmer đã
bị ả nh hư ở ng bở i dịch bệ nh đậ u mùa quy
mô lớ n khiế n “phầ n lớ n dân số không thể chố ng chọ i vớ i nó”(10) Trong khi đó từ năm
1351 đế n 1369, các đợ t bệ nh dịch tả bùng phát và gây ả nh hư ở ng nặ ng nề lên cả hoàng gia Khmer Làn sóng dịch tả tấ n công ngư ờ i Khmer là do sự gia tăng tiế p xúc vớ i ngư ờ i Xiêm từ giữ a thế kỷ XIII Bố i
cả nh hạ n hán khi đó khiế n dịch bệ nh lây truyề n nhanh chóng trong khi việ c ngăn chặ n và chữ a trị trở nên khó khăn hơ n Cũng khoả ng thê kỷ XIII, bệ nh dịch hạ ch
Trang 476 Nghiên cứ u Đông Nam A, số 2/2022
gây ra “Cái Chế t Đen” rấ t có thể đà lan
truyề n từ Miế n Điệ n sang ngư ờ i Mông cổ
trong quá trình họ bành trư ớ ng xuố ng khu
vự c Đông Nam Á Dịch hạ ch ắ t hẳ n đã lây
lan và bùng phát mạ nh mẽ ở Angkor thờ i
gian này và ư ớ c tính khoả ng 1/4 dân số
Angkor đã chế t vì dịch hạ ch111’ Ngay cả
khi ngư ờ i Khmer đã thích ứ ng vớ i nhữ ng
thách thứ c môi trư ờ ng xung quanh thì các
dịch bệ nh bùng phát và lây lan trong bố i
cả nh hạ n hán kéo dài đã giáng đòn ả nh
hư ở ng nặ ng nề đố i vớ i dân số Tuy không
có biể u hiệ n bệ nh tậ t mang tính quyế t
định nào đố i vớ i xã hộ i hậ u kỳ Angkor,
như ng rõ ràng hạ n hán và dịch bệ nh kéo
dài đã làm suy giả m dân số Angkor trong
vòng 100 nàm tiế p theo sau đó
B iế n đổ i m ôi trư ờ n g sin h th ái
Bên cạ nh thiên tai do biế n đổ i khí hậ u
và dịch bệ nh, mộ t số họ c giả phư ơ ng Tây
còn đư a ra giả thuyế t về khả năng bị thiệ t
hạ i sinh thái như mộ t yế u tô dẫ n đế n sự
suy tàn củ a Angkor Nhà khả o cổ họ c
ngư ờ i Pháp Bernard-Philippe Groslier cho
rằ ng Angkor là “nạ n nhân” củ a biế n độ ng
sinh thái và luậ n điể m này sau đó đã đư ợ c
củ ng cố bở i Roland Fletcher Thự c vậ y, sự
mở rộ ng quy mô khu phứ c hợ p đô thị
Angkor đã dẫ n tớ i hệ quả tấ t yế u là nhữ ng
thay đổ i về môi trư ờ ng trên diệ n rộ ng Để
mở rộ ng diệ n tích đấ t canh tác về phía
Phnom Kulen, ngư ờ i Khmer đã phả i phá
rừ ng Việ c phá rừ ng ở các sư ờ n dố c phía
bắ c kinh thành dẫ n tớ i sự xói mòn, sạ t lở
cũng như bồ i lấ p dòng chả y Phá rừ ng còn
khiế n lư ợ ng nư ớ c dự trữ từ sau các trậ n
mư a bị suy giả m'12’ Ngoài ra, để đáp ứ ng
mứ c tiêu thụ mộ t lư ợ ng gỗ khổ ng lồ cho
mụ c đích sinh hoạ t và nhấ t là việ c xây
dự ng cung điệ n, đề n đài ở Angkor, rấ t nhiề u cây cố i đã bị đố n hạ (131 Các hoạ t
độ ng canh tác nông nghiệ p và khai thác tài nguyên ở Angkor ban đầ u đã đạ t sự ổ n định cho đế n giữ a thế kỷ XII Như ng sau giai đoạ n này, khi đã đạ t đỉnh thì nó bắ t
đầ u xuố ng dố c, trong khi đó ngư ờ i Khmer chuyể n từ khai thác ở mứ c độ cho phép sang khai thác quá mứ c'14’ Điề u này dẫ n
tớ i môi trư ờ ng sinh thái và nguồ n tài nguyên bị suy thoái nghiêm trọ ng Thiệ t
hạ i về hệ sinh thái củ a Angkor đư ợ c biể u hiệ n cụ thể qua sự biế n mấ t củ a các loài chim Không có lờ i giả i thích khoa họ c nào cho hiệ n tư ợ ng này, song ngư ờ i Khmer tin
rằ ng sự biế n mấ t củ a các loài chim là điề m báo về sự diệ t vong115’
2 Tác độ ng củ a biế n đổ i khí hậ u và thiên tai đế n đế chế Angkor
Hạ n hán do biế n đổ i khí hậ u và dịch
bệ nh cùng vớ i nhữ ng vấ n đề về môi trư ờ ng sinh thái đã tác độ ng mạ nh mẽ đế n hạ
tầ ng cơ sở kinh tế - xã hộ i củ a nề n văn minh Angkor Đố i vớ i mộ t nề n văn minh lúa nư ớ c tiề n công nghiệ p phụ thuộ c vào lũ theo mùa hàng năm để duy trì hệ thố ng nông nghiệ p thủ y lợ i rộ ng lớ n và phứ c tạ p như Angkor thì tình trạ ng hạ n hán kéo dài
là điề u hế t sứ c tai hạ i Sả n xuấ t nông nghiệ p ở Angkor phát triể n mạ nh mẽ từ thế kỷ IX đế n thế kỷ XII, sau đó xuố ng dố c nhanh chóng, tư ơ ng ứ ng vớ i các giai đoạ n biế n đổ i khí hậ u xả y ra cùng thờ i gian,16) Khi các đợ t hạ n hán trở nên nghiêm trọ ng vào thế kỷ XIV cùng vớ i tác độ ng kép củ a gió mùa chắ c chắ n đã làm gián đoạ n hoạ t
độ ng sả n xuấ t nế u mạ ng lư ớ i thủ y lợ i không còn hiệ u quả Nề n kinh tê dư ờ ng
Trang 5Lư Vĩ An - Ánh hư ở ng củ a biế n đổ i khí hậ u và thiên tai đố i vớ i nề n văn minh Angkor 77
như tê liệ t vào nử a sau thế kỷ XIV, đư ợ c
chỉ ra bở i sự gián đoạ n củ a ghi chép có
niên đạ i từ năm 1300 đế n 1450 ở Angkor,
điề u đã cho thấ y rằ ng sự thư a thớ t hoặ c
vắ ng bóng củ a hoạ t độ ng con ngư ờ i trong
giai đoạ n này(17);
Angkor bị thiên tai ả nh hư ở ng đáng kể
còn bở i chính quy mô cơ sở hạ tầ ng rộ ng
lớ n củ a nó(18) Khu vự c xung quanh Siem
Reap và phía tây bắ c hồ Tonle Sap - trung
tâm củ a nề n vàn minh Angkor là “mộ t
đồ ng bằ ng ngậ p lụ t tự nhiên” Các vị vua
Khmer ban đầ u đã khá hiệ u quả trong việ c
lợ i dụ ng lũ mùa bằ ng hệ thố ng thủ y lợ i quy
mô lớ n gọ i là baray - các hồ chứ a nư ớ c
nhân tạ o xung quanh Angkor Wat, Angkor
Thom, Banteay Chhmar nố i vớ i các kênh
đào để dẫ n nư ớ c vào hồ Tonle Sap hoặ c các
cánh đồ ng lúa Đư ợ c xem là yế u tố số ng
còn củ a ngư ờ i Khmer, hệ thố ng baray
chính là cơ sở hạ tầ ng quan trọ ng củ a nề n
kinh tế Angkor Các baray giúp ổ n định
tổ ng thể sả n xuấ t bằ ng cách ngăn chặ n lũ
lụ t theo mùa, cung cấ p nư ớ c vào mùa khô
và duy trì mự c nư ớ c ngầ m cầ n thiế t quanh
năm cho giế ng, ao và kênh Nó còn đư ợ c sử
dụ ng cho mụ c đích tư ớ i tiêu khẩ n cấ p Tuy
nhiên, tình trạ ng hạ n hán kéo dài thư ờ ng
xuyên đã gây áp lự c cho cơ sở hạ tầ ng này
và cả xã hộ i Angkor Từ đầ u thê kỷ XIII,
hệ thố ng tây baray bắ t đầ u khô cạ n(19)
Điề u này đặ t ra các yêu cầ u cấ p bách trong
việ c tìm kiế m giả i pháp mớ i và độ t xuấ t để
ứ ng phó Ý tư ở ng cho rằ ng tình trạ ng thiế u
nư ớ c có thể khắ c phụ c bằ ng cách tái thiế t
các phầ n củ a mạ ng lư ớ i thủ y lợ i đã đư a tớ i
việ c kênh Siem Reap đư ợ c đào vào thế kỷ
XIII, dẫ n trự c tiế p dòng chả y qua khu vự c
trung tâm kinh thành Hệ quả củ a quyế t
định này khiế n cho nư ớ c dâng cự c mạ nh, điề u vố n không nằ m trong khả nàng vậ n hành bình thư ờ ng củ a hệ thố ng thủ y lợ i(20) Không chỉ vậ y, trong thờ i kỳ hạ n hán,
nư ớ c trong hệ thố ng baray còn đư ợ c sử
dụ ng cho nhu cầ u sinh hoạ t để duy trì dân
số Dân số củ a đô thị Angkor rấ t lớ n nên
lư ợ ng nư ớ c cầ n đáp ứ ng do đó cũng rấ t nhiề u Theo tính toán, hệ thố ng hồ chứ a
nư ớ c baray chỉ có thể đủ cung cấ p nư ớ c cho
từ 100.000 đế n 200.000 ngư ờ i, trong khi dân số Angkor thờ i đó ư ớ c tính khoả ng 750.000(21) Hạ n hán kéo dài nhiề u năm khiế n lư ợ ng nư ớ c cầ n thiế t cho tư ớ i tiêu không còn trong khi lúa là cây trồ ng cầ n
rấ t nhiề u nư ớ c để trồ ng trọ t(22) Hơ n nữ a việ c chặ t phá rừ ng trên diệ n rộ ng để canh tác và thay thế rừ ng bằ ng các cánh đồ ng lúa khiế n lư ợ ng nư ớ c cầ n thiế t cho tư ớ i tiêu
vư ợ t quá khả năng củ a hệ thố ng thủ y lợ i
Mộ t đô thị lớ n phụ thuộ c vào cơ sở hạ tầ ng thủ y lợ i khổ ng lồ đã bị ả nh hư ở ng nghiêm trọ ng đế n mứ c lấ n át cả mạ ng lư ớ i cung
cấ p cơ bả n củ a nó Điề u đó đã dẫ n tớ i vụ mùa thấ t bát, đói kém xả y ra
Mặ c dù đư ợ c xem là tài sả n chiế n lư ợ c
củ a Angkor, như ng baray không hẳ n là
mộ t hệ thố ng quả n lý nư ớ c luôn hiệ u quả
Nó cũng có như ợ c điể m nhấ t định và thiên tai do biế n đổ i khí hậ u đã khiế n cho nhữ ng như ợ c điể m này bộ c lộ Đư ợ c thiế t lậ p trong mộ t cả nh quan bằ ng phẳ ng vớ i độ
dố c trung bình 9:10.000 không có dòng chả y vớ i lư ư lư ợ ng tố i thiể u, các con kênh
lấ p bùn nặ ng khiế n phù sa lên nhanh, hệ thố ng thủ y lợ i củ a Angkor đã ẩ n chứ a nhiề u nguy cơ Ban đầ u các baray hoạ t
độ ng nhằ m giữ cân bằ ng việ c trữ nư ớ c và
lắ ng đọ ng phù sa Nó rấ t cầ n thiế t cho việ c
Trang 678 Nghiên cứ u Đông Nam Á, sô' 2/2022
Ổ n định dòng chả y và tư ớ i tiêu củ a đồ ng
bằ ng Angkor Như ng tớ i khi bị hư hạ i thì
nó không thể sử a chữ a đư ợ c, dễ bị xói mòn
nghiêm trọ ng và bồ i lấ p bở i lư ợ ng cát và
đấ t sét khổ ng lồ <23) Từ giữ a thế kỷ XI đế n
giữ a thê kỷ XIV, lư ợ ng phù sa bồ i lấ p
khoả ng 0,3m mỗ i thế kỷ , đế n thờ i hậ u
Angkor thì lư ợ ng bồ i lấ p là Im Nư ớ c trong
baray cũng không tố t cho việ c tư ớ i tiêu
ruộ ng lúa vì chúng thiế u chấ t hữ u cơ Nế u
hạ n hán khiế n nư ớ c cạ n kiệ t thì nó sẽ gây
ra thay đố i nghiêm trọ ng tớ i mứ c không
thể nào phụ c hồ i đư ợ c Đó là quá trình acid
hóa và sự nhiễ m sắ t(24) Việ c phá rừ ng đầ u
nguồ n cũng khiế n cho các con kênh bị bồ i
lấ p phù sa nhanh hơ n mứ c có thể khơ i
thông
* 251 Nó làm giả m giá trị tư ớ i tiêu củ a
nguồ n nư ớ c cũng như sự số ng củ a các loài
cá Bernard Philippe Groslier còn suy đoán
rằ ng dòng chả y cạ n kiệ t và bị bồ i lấ p là
điề u kiệ n thuậ n lợ i cho muỗ i gây bệ nh số t
rét sinh sả n Từ đó dẫ n tớ i sự bùng phát
củ a bệ nh số t rét ở Angkor(26)
Tóm lạ i, hệ thố ng thủ y lợ i baray đã
đóng vai trò quan trọ ng cho sự phát triể n
thịnh vư ợ ng củ a nề n văn minh Angkor
Song nó chỉ hoàn thành đư ợ c 2/3 chặ ng
đư ờ ng lịch sử , sau đó trở nên tắ c nghẽ n và
dẫ n tớ i tàn lụ i Sự thấ t bạ i củ a hệ thố ng
thủ y lợ i đã góp phầ n dẫ n tớ i sự diệ t vong
củ a đế chế Angkor
Sự sụ p đổ củ a mạ ng lư ớ i thủ y lợ i dư ớ i
tác độ ng củ a hạ n hán kéo dài và áp lự c môi
trư ờ ng sinh thái đã dẫ n tớ i nhiề u hệ lụ y
đố i vớ i số phậ n củ a nề n văn minh Angkor:
Thứ nhấ t, mạ ng lư ớ i thủ y lợ i phứ c tạ p
và bao la rộ ng lớ n rấ t dễ bị ả nh hư ở ng bở i
các nguy cơ thiệ t hạ i lớ n và không thể
phụ c hồ i Về bả n chấ t, cho tớ i khi hệ thông thủ y lợ i ở Angkor trở nên ổ n định ở trạ ng thái cân bằ ng mớ i, nhữ ng thiệ t hạ i đã gây
ra sự gián đoạ n và rủ i ro khó lư ờ ng Vì vậ y theo lẽ tự nhiên thì di chuyể n đế n khu vự c khác đơ n giả n hơ n việ c cố gắ ng khắ c phụ c các thiệ t hạ ií27)
Thứ hai, nhu cầ u ngày càng tăng đố i vớ i
đấ t đai, nguồ n nhiên liệ u và vậ t liệ u xây
dự ng khiế n Angkor chịu áp lự c về hạ n chế tài nguyên tích lũy Sự thiế u hụ t nguồ n đấ t màu mỡ kế t hợ p vớ i thờ i tiế t khô hạ n đã khuyên khích sự dịch chuyể n sang các vùng đấ t màu mỡ và ít dân cư hơ n, ẩ m ư ớ t
hơ n ở phía đông nam và phía tây Nó đã trở thành mộ t đặ c điể m chính củ a lịch sử khí hậ u Angkor giai đoạ n hậ u kỳ(28)
Thứ ba, nhữ ng khó khăn củ a sả n xuấ t nông nghiệ p nộ i địa đã thúc đẩ y sự chuyể n
đổ i sang thư ơ ng mạ i hàng hả i Ngay sau các đợ t hạ n hán vào cuố i thế kỷ XIV đầ u thê kỷ XV, Angkor đã dầ n hư ớ ng tớ i sự hộ i nhậ p thư ơ ng mạ i khu vự c nhiề u hơ n Sự
ủ ng hộ thư ơ ng mạ i triề u cố ng củ a nhà Minh khi đó đã mở ra cơ hộ i cho các quố c gia Đông Nam Á Trong nỗ lự c nhằ m thu hút thư ơ ng mạ i Trung Hoa, từ năm 1371
đế n năm 1419, Angkor đã cử các đoàn triề u cố ng sang Trung Quố c nhiề u hơ n so
vớ i 500 năm trư ớ c(29) Trong bố i cả nh đó,
để thúc đẩ y các hoạ t độ ng thư ơ ng mạ i,
dư ờ ng như tầ ng lớ p cai trị Khmer đã bắ t
đầ u từ bỏ trung tâm nông nghiệ p khổ ng lồ
tạ i Angkor để chuyể n tớ i mộ t nơ i khác mang định hư ớ ng thư ơ ng mạ i nhiề u
hơ n(30> Việ c chuyể n kinh đô đế n các địa điể m thư ơ ng mạ i khả thi hơ n đã đánh dấ u
sự che khuấ t yế u tố Angkor trong nhậ n thứ c củ a giớ i cai trị Khmer thờ i đó
Trang 7Lư Vĩ An - Ả nh hư ở ng củ a biên đổ i khí hậ u và thiên tai đố i vớ i nề n văn minh Angkor 79
Trong các thế kỷ XIV và XV, đế chê
Angkor phơ i bày rấ t nhiề u áp lự c về kinh
tế , xã hộ i và địa chính trị Nhữ ng yế u tố
này khiế n Angkor dễ bị ả nh hư ở ng bở i biế n
đổ i khí hậ u và hạ n chế khả năng thích ứ ng
vớ i sự thay đổ i Nó diễ n ra bố i cả nh nhữ ng
thách thứ c chính trị bên ngoài Angkor,
trong đó đáng kể nhấ t là sự đe dọ a củ a
ngư ờ i Xiêm cũng đang ngày càng gia
tăng
* 31’ Sau nhữ ng biế n độ ng dữ dộ i về
chính trị - xã hộ i và bị tác độ ng mạ nh mẽ
bở i thiên tai ở cuố i thế kỷ XIV đầ u thế kỷ
XV, như hệ lụ y tấ t yế u, Angkor không thể
tiế p tụ c tồ n tạ i và duy trì vai trò bá chủ khu
vự c củ a mình Việ c dờ i đô về Longvek và
sau đó là Oudong đã đánh dấ u sự kế t thúc
củ a thờ i kỳ Angkor vàng son trong lịch sử
Campuchia Tuy nhiên, Angkor không phả i
bị bỏ hoang ngay khi ngư ờ i Thái chiế m
đóng và cư ớ p phá năm 1432 mà là vào mộ t
thờ i điể m sau năm 1444(32) Khi các nhà
truyề n giáo Bồ Đào Nha là Diego do Couto
và Gabriel Quiroga de San Antonio ghé
thăm Angkor lầ n lư ợ t vào các năm 1550 và
1570 ghi chép rằ ng nơ i đây vẫ n còn đông
dân cư Angkor Thom dư ờ ng như chỉ bị bỏ
hoang từ năm 1629 Cho đế n khi ngư ờ i
Pháp đặ t chân tớ i nơ i này vào giữ a thế kỷ
XIX, tạ i đây vẫ n còn các nhà sư lư u trú Tuy
nhiên, kinh thành đã trở thành mộ t phế
tích hoang tàn vớ i phầ n lớ n diệ n tích bị bao
phủ bở i rừ ng rậ m nhiệ t đớ i(33) Việ c ngư ờ i
Khmer rờ i bỏ Angkor vào mộ t thờ i điể m
sau năm 1444 góp phầ n củ ng cố thêm cho
lậ p luậ n rằ ng Angkor bị bỏ hoang không
phả i hoàn toàn do yế u tô chiế n tranh -
chính trị mà còn do các yế u tố khác, rấ t có
thể là bở i tác độ ng củ a thiên tai và sự thay
đổ i môi trư ờ ng sinh thái đã phân thích
Bên cạ nh đó, cũng cầ n bàn luậ n tớ i mố i liên hệ giữ a các biệ n pháp ứ ng phó củ a nhà nư ớ c Angkor (yế u tô chủ quan nộ i sinh) vớ i tác độ ng củ a thiên tai (yế u tố khách quan) Trư ớ c nhữ ng tác độ ng củ a thiên tai, nhà nư ớ c Angkor đã có mộ t số biệ n pháp ứ ng phó nhấ t định đư ợ c đề cậ p
ở trên như cả i tạ o hệ thố ng baray, đào kênh Siem Reap và tìm kiế m sự thay thế hoạ t độ ng nông nghiệ p nộ i địa bằ ng thư
ơ ng mạ i hàng hả i Tuy nhiên, dư ờ ng như các biệ n pháp này đã tỏ ra không hiệ u quả trong bố i cả nh Angkor gặ p phả i nhiề u vấ n
đề về sự tranh giành quyề n lự c nộ i bộ và
áp lự c ngoạ i xâm từ Ayutthaya Cùng vớ i xây dự ng phát triể n đấ t nư ớ c và bả o vệ chủ quyề n lãnh thổ thì ứ ng phó thiên tai cũng là mộ t trong nhữ ng chứ c năng cơ bả n
củ a các nhà nư ớ c và nề n văn minh trong lịch sử Vào lúc nề n văn minh cư ờ ng thịnh, dù thiên tai xả y ra như ng vớ i chính sách quả n lý và ứ ng phó thiên tai hiệ u quả thì xã hộ i vẫ n có thể duy trì đư ợ c sự ổ n định Đế n khi nhà nư ớ c suy vong do các nhân tố chủ quan như tranh giành quyề n
lự c nộ i bộ , xung độ t và chiế n tranh, đồ ng thờ i trùng hợ p vớ i thờ i kỳ thiên tai và khí
hậ u bấ t thư ờ ng xả y ra thì nề n tả ng củ a xã
hộ i ắ t hẳ n bị lung lay Trong bố i cả nh này, khi thiên tai xả y ra như ng năng lự c quả n trị và ứ ng phó vớ i thiên tai củ a nề n văn minh kém hiệ u quả , không đáp ứ ng
đư ợ c yêu cầ u phòng chông và khắ c phụ c
hậ u quả thiên tai thì tác độ ng tiêu cự c củ a thiên tai đố i vớ i xã hộ i càng rõ rệ t Trong trư ờ ng hợ p củ a nề n văn minh Angkor thê
kỷ XIV - XV có thể thấ y, do gặ p phả i sự khủ ng hoả ng nộ i bộ và xung độ t kéo dài
vớ i Ayutthaya nên năng lự c quả n trị và
Trang 880 Nghiên cứ u Đông Nam Á, số 2/2022
ứ ng phó thiên tai củ a Angkor cũng trở nên
yế u kém Nói cách khác, Angkor đã thấ t
bạ i trong ứ ng phó vớ i thiên tai, không
thích nghi vớ i điề u kiệ n khí hậ u và thiên
tai khắ c nghiệ t Đế n đây thì vai trò lịch
sử củ a nó cũng không còn phù hợ p nữ a Đó
là lúc yế u tố khí hậ u và thiên tai cộ ng hợ p
vớ i nhữ ng yế u tố nộ i sinh góp phầ n làm
cho khủ ng hoả ng diễ n ra trầ m trọ ng hơ n,
dẫ n tớ i sự diệ t vong củ a Angkor
Kế t luậ n
Tóm lạ i, biế n đổ i khí hậ u, thiên tai và
sự thay đổ i môi trư ờ ng sinh thái là nhữ ng
yế u tố đã góp phầ n dẫ n tớ i sự tàn lụ i củ a
nề n văn minh Angkor Nó cho thấ y điề u
kiệ n tự nhiên, biế n đổ i khí hậ u và thiên tai
đóng vai trò tác độ ng đáng kể đế n sự hư ng
thịnh và suy vong củ a các đế chế , các nề n
văn minh và các xã hộ i trong lịch sử Tuy
chỉ là yế u tố hoàn cả nh khách quan bên
ngoài như ng khí hậ u và thiên tai đã không
ngừ ng tác độ ng trự c tiế p hoặ c gián tiế p
đế n xã hộ i bằ ng các cách thứ c đa dạ ng
khác nhau Dĩ nhiên, chúng không phả i là
yế u tố duy nhấ t có thể quyế t định vậ n
mệ nh củ a mộ t đế chế hay mộ t nề n văn
minh Yế u tô chủ quan như chủ trư ơ ng,
chính sách quả n lý và ứ ng phó thiên tai
củ a xã hộ i hay chính phủ cũng rấ t quan
trọ ng Do đó, sự suy vong và tàn lụ i củ a đế
chế Angkor là kế t hợ p củ a các yế u tố
khách quan và chủ quan như sự mấ t cân
bằ ng sinh thái, biế n đổ i khí hậ u và thiên
tai, mâu thuẫ n nộ i bộ và sự yế u kém củ a
các nhà cai trị và nhữ ng cuộ c xâm lăng
quấ y nhiễ u củ a ngư ờ i Thái Sự tàn lụ i củ a
Angkor đư ợ c coi là sự sụ p đổ củ a nề n văn
minh nhiệ t đớ i điể n hình ở Đông Nam Á
Dù vậ y, sự sụ p đổ củ a Angkor thự c chấ t chỉ
là sự thay đổ i căn bả n củ a mộ t trung tâm nông nghiệ p trả i rộ ng, phân tán thay vào
đó là các thị trấ n thư ơ ng mạ i mớ i, nhỏ gọ n
hơ n ở xa ngoạ i vi củ a trung tâm đô thị cũ
Đó là sự tàn lụ i củ a kinh thành Angkor và
kế t thúc củ a mộ t thờ i kỳ lịch sử chứ không phả i sự sụ p đổ hoàn toàn củ a dân tộ c và nhà nư ớ c Khmer Nề n văn minh Khmer
vẫ n tiế p tụ c duy trì<34>
Anh hư ở ng củ a biế n đổ i khí hậ u và thiên tai ở đế chế Angkor trong quá khứ cũng để lạ i các bài họ c lịch sử quý báu cho việ c thích ứ ng vớ i biế n đổ i khí hậ u, phòng chố ng thiên tai củ a các chính phủ và xã
hộ i ngày nay Vớ i Campuchia và vùng
đồ ng bằ ng sông Cử u Long (Việ t Nam), trong bố i cả nh biế n đổ i khí hậ u khu vự c ngày càng nghiêm trọ ng và nguồ n tài nguyên sinh thái bị khai thác quá mứ c như hiệ n nay, việ c chặ t phá rừ ng đầ u nguồ n, chặ n dòng chả y ở thư ợ ng lư ư để xây dự ng các đậ p thủ y điệ n đã khiế n cho lư u vự c sông Mekong, nhấ t là ở vùng hạ nguồ n bị
ả nh hư ở ng nặ ng nề Môi trư ờ ng, hệ sinh thái xung quanh suy thoái, mộ t số khu vự c
bị bồ i lấ p phù sa, trong khi nơ i khác thì xói mòn, sạ t lở Lũ mùa thấ t thư ờ ng làm ả nh
hư ở ng đế n sinh kế củ a ngư ờ i dân Sả n xuấ t nông nghiệ p trồ ng lúa, nuôi tôm và đánh
bắ t cá bị thiệ t hạ i nặ ng Từ các tác độ ng này đặ t ra yêu cầ u cầ n phả i có nhữ ng giả i pháp để ứ ng phó hiệ u quả bao gồ m đề xuấ t chính sách quả n lý rủ i ro thiên tai, tăng
cư ờ ng hợ p tác giữ a hai nư ớ c Việ t Nam - Campuchia cũng như các nư ớ c khác trong
lư u vự c sông Mekong nhằ m hạ n chế tố i thiể u tác độ ng tiêu cự c củ a thiên tai, ổ n định đờ i số ng ngư ờ i dân./
Trang 9Lư Vĩ An - Ánh hư ở ng củ a biế n đổ i khí hậ u và thiên tai đố i vớ i nề n văn minh Angkor 81
CHÚ THÍCH
1 Daniel Geogre Edward Hall (bả n dịch) (1997),
Lịch sử Đông Nam Á, Hà Nộ i: Nxb Chính trị
Quố c gia, tr 191.
2 Daniel Geogre Edward Hall, Sđd, tr 200.
3 Daniel Geogre Edward Hall, Sđd, tr 199.
4 Brian Fagan (2008), The Great Warming: Climate
Change and the Rise and Fall of Civilizations,
New York: Bloomsbury Press, p 212.
5 Brendan M Buckley - et al (2010), “Climate as
a contributing factor in the demise of Angkor,
Cambodia”, PNAS, 107:15, p 6748.
6 Victor Lieberman (2003), Strange Parallels:
South east Asia in Global Context, c 800-1830, Vol.
1, New York: Cambridge University Press, p 239.
7 Roland Fletcher (2018), “Angkor, food produc
tion, water management and climate change:
The trajectory or urbanism in SE Asia to the
mid-second millennium CE”, in Federia Sulas -
Innocent Pikirayi (eds), Water and Society from
Ancient Times to the Present: Resilience,
Decline and Revival, p 247.
8 Lawrence G Gundersen (2015), “A
Reassessment of the Decline of the Khmer
Empire”, International Journal of Culture and
History, 1:1, p 63.
9 Lawrence G Gundersen, Ibid., p 66.
10 Lawrence G Gundersen, Ibid., p 64.
11 Lawrence G Gundersen, Ibid., p 65.
12 Bernard Philippe Groslier (1979), “The
Angkorian Hydraulic City: Exploitation or
Over-Exploitation of the Soil?”, Bulletin de
I’Ecole franẹ aise d’Extreme-Orient, 66, p 174.
13 John Tully (2005), A Short History of
Cambodia, Singapore: Allen & Unwin, p 53.
14 Bernard Philippe Groslier, Ibid., p 177.
15 John Tully, Ibid., p 53.
16 Bernard Philippe Groslier, Ibid., p 171.
17 Roland Fletcher, Ibid., p 252.
18 Roland Fletcher, Ibid., p 254.
19 Victor Lieberman - Brendan Buckley, “The
Impact of Climate on Southeast Asia, circa 950-
1820: New Findings”, Modern Asian Studies,
46:5, p 1072.
20 Roland Fletcher, Ibid., p 247.
21 Brian Fagan, Ibid., p 209.
22 Lawrence G Gundersen, Ibid., p 64.
23 Roland Fletcher, Ibid., p 254.
24 Bernard Philippe Groslier, Ibid., p 175.
25 John Tully, Ibid., p 52.
26 John Tully, Ibid., p 53.
27 Roland Fletcher, Ibid., p 252.
28 Victor Lieberman, Ibid., p 239.
29 Victor Lieberman, Ibid., p 240.
30 Brendan M Buckley - et al., Ibid., p 6750.
31 Victor Lieberman, Ibid., p 238-239.
32 Daniel Geogre Edward Hall, Sdd, tr 212.
33 John Tully, Ibid., p 49-50.
34 Roland Fletcher, Ibid., p 253.
TÀI LIỆ U THAM KHẢ O
1 Bernard Philippe Groslier (1979), “The Angkorian Hydraulic City: Exploitation or Over-Exploitation of the Soil?”, Bulletin de
Ư Ecole franqaise d’Extreme-Orient, 66, 161-202.
2 Brendan M Buckley - et al (2010), “Climate as
a contributing factor in the demise of Angkor,
Cambodia”, PNAS, 107:15, 6748-6752.
3 Brian Fagan (2008), The Great Warming:
Climate Change and the Rise and Fall of Civilizations, New York: Bloomsbury Press.
4 Daniel Geogre Edward Hall (bả n dịch) (1997),
Lịch sử Đông Nam Á, Hà Nộ i: Nxb Chính trị Quố c gia.
5 Guy D Middleton (2017), Understanding
Collapse: Ancient History and Modern Myths,
New York: Cambridge University Press.
6 John Tully (2005), A Short History of Cambodia, Singapore: Allen & Unwin.
7 Lawrence G Gundersen (2015), “A Reassessment of the Decline of the Khmer Empire”, International Journal of Culture and
History, 1:1, 63-66.
8 Roland Fletcher (2018), “Angkor, food produc tion, water management and climate change: The trajectory or urbanism in SE Asia to the mid-second millennium CE”, in Federia Sulas - Innocent Pikirayi (eds), Water and Society from
Ancient Times to the Present: Resilience, Decline and Revival, 238-258.
9 Victor Lieberman - Brendan Buckley (2012),
“The Impact of Climate on Southeast Asia, circa 950-1820: New Findings”, Modern Asian
Studies, 46:5, 1049-1096.
10 Victor Lieberman (2003), Strange Parallels:
Southeast Asia in Global Context, c 800-1830,
Vol 1, New York: Cambridge University Press.