1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dịch bệnh ở trung quốc thời minh (1368 1644) epidemic diseases in china during the ming period (1368 1644)”, tạp chí nghiên cứu trung quốc số (231

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 458,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LƯ VĨ AN* Tóm tắt: Vào thời Minh, do biến đổi khí hậu và thiên tai xảy ra thường xuyên nên ở Trung Qu ốc dịch bệnh đã nhiều lần bùng phát, với tỷ lệ tử vong cao khiến nhiều người chết,

Trang 1

LƯ VĨ AN*

Tóm tắt: Vào thời Minh, do biến đổi khí hậu và thiên tai xảy ra thường xuyên nên ở Trung

Qu ốc dịch bệnh đã nhiều lần bùng phát, với tỷ lệ tử vong cao khiến nhiều người chết, dẫn tới biến đổi nhân khẩu và tác động đến nhiều mặt kinh tế, xã hội, chính trị và quân sự Trong đó đáng kể

nh ất là hai đợt dịch bệnh quy mô lớn bùng phát vào những năm 1580 dưới thời Vạn Lịch và

nh ững năm 1630-1640 thời Sùng Trinh Bài viết này tìm hiểu về tình hình dịch bệnh nguồn gốc và các nguyên nhân d ẫn đến sự xuất hiện và lây lan của dịch bệnh ở Trung Quốc thời Minh, chủ yếu

là hai đợt dịch bệnh vào thời Vạn Lịch và Sùng Trinh Bài viết bước đầu đánh giá những tác động

c ủa dịch bệnh đối với xã hội Trung Quốc thời Minh và các biện pháp ứng phó với dịch bệnh của nhà Minh

Từ khóa: Dịch bệnh, dịch tễ học, thiên tai, nhà Minh, lịch sử môi trường

M ở đầu

Với đặc trưng là một nước đông dân,

có mật độ dân cư dày đặc, cũng là điều

kiện để bệnh dịch dễ dàng bùng phát và

lây lan nên Trung Quốc có một lịch sử

lâu dài về các bệnh dịch lưu hành(1) Việc

tìm hiểu dịch bệnh lây truyền qua các loài

vật trung gian truyền bệnh (vectorborne

diseases) và lây truyền qua nguồn nước

(waterborne diseases) là một vấn đề cơ

bản trong nghiên cứu lịch sử môi trường

của Trung Quốc được nhiều học giả quan

tâm từ rất sớm (刘翠溶, 2006: 19)(2)

Trong đó, dịch bệnh thời Minh

(1368-1644) nhận được sự chú ý nhiều hơn cả

Bởi nhà Minh là triều đại chịu ảnh hưởng

sâu sắc nhất của biến đổi khí hậu và

nhiều loại thiên tai như hạn hán, lũ lụt,

nạn đói, dịch bệnh và động đất(3) Hầu hết các nhà nghiên cứu về lịch sử thời Minh đều cho rằng dịch bệnh là một trong

những nguyên nhân quan trọng dẫn đến

thảm kịch diệt vong của triều đại nhà Minh

1 Tình hình d ịch bệnh ở Trung

Qu ốc thời Minh

Theo Joseph H Cha, trong tiến trình

lịch sử Trung Quốc từ năm 243 trước Công nguyên (TCN) đến năm 1911 tổng

cộng có 290 trận dịch quy mô lớn xảy ra ở nhiều địa phương, trong đó chỉ riêng thời Minh có tới 85 trận dịch, chiếm gần 1/3 tổng số các trận dịch trong lịch sử Trung

Quốc (William H McNeill, 1976: 264-266)

* Đại học Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ

Trang 2

Trần Húc thống kê qua ghi chép của Minh

s ử cảo (quyển 38, Ngũ hành nhất- Tật dịch)

và Minh s ử (quyển 28, Ngũ hành nhất -

Tật dịch) thì vào thời Minh có 75 lần dịch

bệnh xảy ra trong 54 năm (陳旭, 2016:

63) Còn theo Trương Chí Bân, qua việc

khảo cứu chi tiết các thông chí, huyện chí

của các địa phương thì vào thời Minh có

tới 264 trận dịch lớn nhỏ khác nhau được

ghi nhận (张志斌, 2007: 49-75) Tần suất

các trận dịch bệnh tăng dần theo từng

năm, trong đó dịch bệnh chủ yếu xảy ra vào cuối thời Minh, với số địa phương bị ảnh hưởng lên đến 1878 (xem Bảng 1) Theo ghi chép của các địa chí thì những

trận dịch bệnh thời Minh bùng phát vào hầu hết các mùa trong năm, tuy nhiên

dịch bệnh thường hay xảy ra vào mùa xuân và mùa hè (陳旭, 2016: 25), còn rất

ít xuất hiện vào mùa đông hoặc kéo dài qua mùa đông (Helen Dustan, 1975: 16)

B ảng 1: Bảng thống kê thực trạng dịch bệnh thời Minh

T ỷ lệ trên tổng số trận dịch (%) 16,7 40,0 43,3

Ngu ồn: Qiu Hua Li - Yue Hai Ma - Ning Wang - Ying Hu - Zhao Zhe Liu, 2020, Overview of the Plague in the Late Ming Dynasty and Its Prevetion and Control Measures, Traditional Medicine Research, Vol 5, Issue 3, p 139

Vào thời Minh, ở Trung Quốc có hai

đợt dịch bệnh quy mô lớn bùng phát vào

năm 1580 và những năm 1630-1640 Do

hai đợt dịch này xảy ra trùng với thời trì

vị của hai đời vua Vạn Lịch (Minh Thần

Tông, 1572-1620) và Sùng Trinh (Minh

Tư Tông, 1627-1644) nên sử sách còn

gọi hai đợt dịch này là dịch bệnh thời

Vạn Lịch và dịch bệnh thời Sùng Trinh

D ịch bệnh thời Vạn Lịch (Các trận

d ịch những năm 1580)

Vào đời Vạn Lịch, trong khoảng thời

gian từ năm 1579-1584, một khu vực

rộng lớn ở miền Bắc Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi một loại

dịch bệnh mà các tài liệu chép là “đại đầu ôn” 《 大 頭 瘟 》 hoặc “đại đầu phong”

《 大 頭 風 》 Như tại Tẩm Châu, tỉnh Sơn Tây vào năm Vạn Lịch thứ 10 (1582)

“thiên d ịch lưu hành, tục gọi là đại đầu phong, có gia đình chết không còn một

ai” Dịch bệnh này đã lây lan rất nhanh chóng với tỷ lệ tử vong rất cao: 40% dân

số một phủ của tỉnh Bắc Trực Lệ Theo tường thuật của một danh y đương thời là Trương Giới Tân (1563-1640) thì các

Trang 3

triệu chứng của dịch bệnh này là ớn lạnh,

sốt và sưng phù ở đầu, cổ hoặc cổ họng

Một số ý kiến cho rằng “đại đầu phong”

có thể là bệnh viêm màng não (Helen

Dustan, 1975: 18-19), cũng có quan điểm

cho rằng nó là một tên gọi khác của bệnh

dịch hạch (曹树基, 1997: 20) Bởi theo

mô tả của các địa chí về các triệu chứng

bệnh như “hạch”《核》, “thũng hạng”

《腫項》, “đại đầu”《大頭》, “hầu tê”

《喉痹》, tức sự xuất hiện của khối u

hoặc hạch cứng, sưng phù cổ, đau họng

và tử vong từ hai đến ba ngày cho thấy

nó là bệnh dịch hạch (Marta E Hanson,

1997: 97-98) Trận dịch này có lẽ đã bắt

nguồn từ tỉnh Sơn Tây và bùng phát đầu

tiên ở các huyện Đại Đồng, Bảo Đức và

Thái Nguyên vào cuối năm 1579 đầu

năm 1580 Sang năm sau, từ huyện Đại

Đồng dịch bệnh lan ra phía Đông Bắc tới

tỉnh Hà Bắc, hoành hành ở huyện Tuyên

Hóa và huyện Hòa Lai, ngay phía Tây

Bắc của Bắc Kinh Cùng thời điểm đó,

dịch bệnh lây lan khắp tỉnh Sơn Tây, từ

Thái Nguyên ở trung tâm Sơn Tây đến

Lục An ở Đông Nam Sơn Tây Từ phía

Đông của Lục An, dịch bệnh lan đến phía

Bắc của tỉnh Hà Nam Đến năm 1582 thì

dịch bệnh lan tới Bắc Kinh (Marta E

Hanson, 1997: 100-101)

Tiếp theo đó, trong các năm

1586-1588 một trận dịch bệnh khác bùng phát

ở khu vực tiếp giáp giữa ba tỉnh Sơn Tây,

Hà Bắc và Hà Nam Tại huyện Trạch

Châu, tỉnh Sơn Tây đã ghi nhận một trận

dịch kéo dài trong ba năm từ năm

1586-1588 Dịch bệnh bùng phát tại huyện Vệ Huy, tỉnh Hà Bắc vào năm 1587, sau đó lan xuống phía Nam tới hai huyện Hoài Khánh và Khai Phong của tỉnh Hà Nam vào năm 1588 Sau đợt dịch này cho đến

năm 1610, khu vực Hoa Bắc tạm thời không bùng phát trận dịch lớn nào khác (Marta E Hanson, 1997: 102)

Trong khi đó, ở Hoa Nam tại khu vực

hạ lưu sông Dương Tử vào năm 1587 đã

xảy ra một trận dịch bệnh quy mô lớn cùng lúc với nạn đói nghiêm trọng ở Chiết Giang, ngay phía Nam Thái Hồ Sang năm sau, dịch bệnh lây lan khắp Chiết Giang và Giang Tô Không giống như các trận dịch ở Hoa Bắc, dịch bệnh các năm 1587-1588 ở miền Nam Trung

Quốc nhiều khả năng là sự kết hợp giữa

sốt phát ban và những bệnh truyền nhiễm lây truyền qua nguồn nước như tiêu chảy, kiết lỵ và sốt thương hàn (Marta E Hanson, 1997: 109)

D ịch bệnh thời Sùng Trinh (Các trận

d ịch những năm 1630-1640)

Chỉ khoảng 40 năm sau đợt dịch năm

1580, một đợt dịch thứ hai phức tạp hơn

với quy mô rộng lớn và sức tàn phá nặng

nề hơn đã bùng phát ở miền Bắc Trung

Quốc Điều đáng chú ý là đợt dịch lần này xảy ra đồng thời với tình trạng hạn hán, nạn đói nghiêm trọng cùng với sự

Trang 4

tấn công của người Mãn Châu ở biên giới

Đông Bắc và các cuộc khởi nghĩa nông

dân rầm rộ

Đợt dịch lần này bùng phát đầu tiên ở

khu vực trung tâm và vùng Đông Nam

của tỉnh Sơn Tây vào năm 1633, cùng lúc

với một nạn đói kéo dài suốt mùa hè

Trong năm 1634, các huyện Ức Châu,

Liêu Châu và Thái Nguyên của tỉnh Sơn

Tây đã trải qua trận dịch bệnh dẫn đến

cuộc khởi nghĩa của nông dân Đến năm

1635-1636, một trận dịch khác lại bùng

phát tại Sơn Hải quan ở phía Đông tỉnh

Hà Bắc Dịch bệnh cũng xảy ra tại huyện

Du Lâm và huyện Diên An của tỉnh

Thiểm Tây từ năm 1636-1637 Cũng

trong năm 1637, dịch bệnh lại xuất hiện ở

huyện Đại Đồng phía Bắc Sơn Tây

(Marta E Hanson, 1997: 103-104) Sau

đó, dịch bệnh tạm thời lắng xuống ở khu

vực miền Bắc Trung Quốc trong khoảng

ba năm, ngoại trừ tỉnh Sơn Đông Vào

năm 1639, một trận dịch đã bùng phát dữ

dội ở vùng Tế Nam thuộc tỉnh Sơn Đông

Trận dịch lần này được cho là có mối liên

hệ với sự xâm lược của người Mãn Châu

vào Trung Quốc Bởi chỉ một thời gian

ngắn sau khi người Mãn Châu đánh vào

Trung Nguyên (Đông Xuân 1638-1639)

dịch bệnh đã bùng phát ở khu vực xung

quanh Tề Hà, tới Vũ Thành ở Tây Bắc và

Lâm Thanh ở phía Đông Một số ý kiến

cho rằng người Mãn đã mang mầm bệnh

tới Sơn Đông, song cũng có bằng chứng

cho đó là bệnh đậu mùa, một căn bệnh đặc hữu vốn đã lây truyền lâu đời ở Trung Quốc (Marta E Hanson, 1997: 104-105) Cũng vào năm 1639, một trận

dịch lớn khác do bệnh đậu mùa gây ra và

có mối liên hệ với trận dịch ở Tế Nam đã bùng phát ở khu vực hạ lưu sông Dương

Tử (Marta E Hanson, 1997: 106)

Sang năm 1640, một trận dịch với độc

lực lớn hơn bắt đầu bùng phát và lây lan

khắp miền Bắc Trung Quốc Bắt nguồn

từ Phượng Tường ở Tây Bắc tỉnh Thiểm Tây, dịch bệnh lây lan đến Hà Gian ở Hà

Bắc và hai huyện Trương Đức, Hoài Khánh phía Nam tỉnh Hà Nam Khác với

trận dịch thời Vạn Lịch đã hoành hành ở Sơn Tây, đợt dịch lần này lây lan đồng

thời khắp hai tỉnh Hà Bắc và Hà Nam

Năm 1641 ghi nhận tình hình dịch bệnh

tồi tệ nhất khi có 103 địa phương khác nhau báo cáo về bệnh dịch (J.N Hays, 2005: 113) Đương thời, tác phẩm Ôn

d ịch luận《溫疫論》của danh y Ngô

Hựu Tính mô tả rằng: “Vào năm 1641 lệ khí lan tràn, s ố bệnh nhân đặc biệt tập trung ở Sơn Đông, Chiết Giang, Nam và

B ắc Trực Lệ Tình hình tồi tệ nhất vào tháng th ứ năm và tháng thứ sáu” (Helen

Dustan, 1975: 15) Dịch bệnh tạm thời

lắng xuống trong năm 1642, nhưng sau

đó bùng phát trở lại ở ba tỉnh Hà Bắc, Hà Nam và Sơn Tây trong hai năm

1643-1644, cùng lúc với các cuộc khởi nghĩa nông dân và sự xâm lược của người Mãn

Trang 5

Châu Cùng lúc đó, ở khu vực hạ lưu

sông Dương Tử từ An Huy, Giang Tô và

Chiết Giang cũng bùng phát một trận

dịch lớn (Marta E Hanson, 1997: 107)

Một số nhà nghiên cứu cho rằng trận dịch

năm 1641 từ Hoa Bắc có thể đã lây lan

xuống tận phía Nam (曹树基, 1997: 27)

Như vậy, vào những năm 1640 ở Trung

Quốc dịch bệnh đã bùng phát và lan rộng

trên phạm vi cả nước, gây ra nhiều thiệt

hại, trong đó các tỉnh chịu thiệt hại nặng

nề nhất nằm ở phía Tây Nam của Bắc

Kinh, bao gồm Hà Bắc và Sơn Tây

Về loại bệnh gây ra các trận dịch ở

Trung Quốc đời Sùng Trinh, theo mô tả

của những tài liệu đương thời cho thấy sự

hiện hữu của nhiều loại bệnh khác nhau

Chẳng hạn, dịch bệnh vào những năm

1643-1644 được chép là “qua nhương

ôn”《瓜瓤瘟》(Melon pulp fever) hoặc

“tham đầu bệnh”《探頭病》(Peep fever)

Joseph Needham cho rằng đây có thể là

bệnh sốt bại liệt, nhưng Helan Dustan thì

cho nó là bệnh dịch hạch (Helen Dustan,

1975: 20) Cũng có quan điểm cho rằng

nó là “hoắc loạn”《霍亂》tức bệnh dịch

tả (cholera) (Kerrie L Macpherson, 2002:

29) Một vài địa chí ở Chiết Giang và

Giang Tô khi nói về dịch bệnh những

năm 1640-1644 thì nhắc tới “dương mao

ôn”《羊毛瘟》tạm dịch là chứng “sốt

len cừu” (Sheep’s wool fever), bởi những

người bị nhiễm bệnh này có cảm giác

như mọc lông cừu trên cơ thể Theo ghi

chép của Vũ Thành huyện chí 《武城县

志》: “Vào năm 1640 có một trận dịch hoành hành, các tri ệu chứng rất bất thường và không thể lý giải Nó được gọi

là dương mao ôn Sợi len cừu đột nhiên

xu ất hiện trên thực phẩm và trái cây Tất

c ả những ai vô tình ăn phải sẽ ngay lập

t ức bị nhiễm bệnh và chết” (Helen

Dustan, 1975: 24) Những miêu tả này có

thể suy đoán được căn bệnh là bệnh nấm

hoặc bệnh than (Helen Dustan, 1975: 26)

Chứng “sốt len cừu” này bùng phát đầu tiên ở Hồ Châu phía Nam Thái Hồ thuộc

tỉnh Chiết Giang vào năm 1640 và sau đó

là ở huyện Trấn Giang phía Tây Bắc Thái

Hồ thuộc tỉnh Giang Tô vào năm 1644 (Marta E Hanson, 1997: 109)

Tóm l ại, bằng cách kết hợp nhiều

nguồn tài liệu khác nhau, bước đầu có thể phác thảo được thực trạng dịch bệnh ở Trung Quốc thời Minh Các tài liệu đã ghi chép triệu chứng đặc trưng của các

bệnh dịch ở từng khu vực vào thời điểm khác nhau như sau: “sưng phù cổ” trong

trận dịch 1581-1582 ở Sơn Tây và Bắc

Hà Nam; “đau họng” trong trận dịch năm

1610 ở hai huyện Đại Đồng và Thái Nguyên (Sơn Tây); “mụn nhọt đau nhức” trong đợt dịch năm 1643 ở Bắc Kinh và khu vực xung quanh, “hạch cứng dưới vùng cánh tay” trong trận dịch năm 1644

ở huyện Lục An (Sơn Tây) (Marta E Hanson, 1997: 108) Dựa theo đó, các nhà nghiên cứu cho rằng bệnh dịch bùng

Trang 6

phát và lây lan ở miền Bắc Trung Quốc

vào đời Vạn Lịch trong những năm 1580

và đời Sùng Trinh trong những năm

1630-1640 phần lớn là bệnh dịch hạch,

chủ yếu là thể hạch (bubonic plague) và

trong một vài trường hợp có cả thể viêm

phổi (pneumonic plague) xuất hiện đồng

thời (曹树基, 1997: 21) Trong khi đó

các trận dịch hoành hành ở phía Nam, tại

khu vực hạ lưu sông Dương Tử vào các

năm 1587-1588 và những năm 1640, lại

là sự kết hợp các bệnh truyền nhiễm lây

truyền chủ yếu qua nguồn nước như

thương hàn và kiết lỵ (Marta E Hanson,

1997: 100)

2 Nguyên nhân d ẫn đến dịch bệnh

th ời Minh

Theo quan niệm của y học cổ truyền

Trung Hoa, bệnh dịch là loại bệnh truyền

nhiễm cấp tính nguy hiểm và rất dễ lây

lan Trong các y văn và nguồn sử liệu

thường sử dụng các từ như ôn dịch, bệnh

khí, canh khí, dị khí, độc khí, dịch độc,

thặng canh chi khí để chỉ chung các loại

bệnh dịch Chúng bao gồm đại đầu ôn, hà

điệp ôn, dịch si, bạch hầu, lan hầu đan

chẩn, thiên hoa (đậu mùa), hoắc loạn

(dịch tả) và thử dịch (dịch hạch) (陳旭,

2016: 64) Về nguyên nhân dẫn đến dịch

bệnh, quan niệm của y học truyền thống

Trung Quốc thường nhấn mạnh vào vai

trò của môi trường như là nguyên nhân

cơ bản của các loại bệnh tật và những rối

loạn trong cơ thể con người là biểu hiện

tức thời của nó Theo quan niệm này,

bệnh tật được tạo ra bởi một khí độc trong môi trường, nó xâm nhập vào cơ

thể con người và phá vỡ sự cân bằng hài hòa bên trong cơ thể, gây ra bệnh tật Sự cân bằng này thường được diễn tả qua thuyết ngũ hành và âm - dương Nói cách khác, dịch bệnh theo tư tưởng dịch tễ học truyền thống của Trung Quốc là kết quả

từ những bất thường trong chu kỳ của khí Tác phẩm Ôn dịch luận - một trong

những chuyên khảo về bệnh dịch học có ảnh hưởng nhất vào cuối thời Minh, được

viết năm 1642 bởi danh y Ngô Hựu Tính (tức Ngô Hựu Khả, 1582-1652) xác định

rằng bệnh dịch là do lệ khí, tức một loại khí độc bất thường không tuân theo chu

kỳ thông thường gây ra (Marta E Hanson, 1997: 89) Quan niệm này về dịch bệnh

của người Trung Hoa còn chồng chéo với niềm tin dai dẳng về vai trò của thần linh

hoặc những âm hồn đã gây ra bệnh dịch Ngoài ra, xã hội thời Minh cũng nhấn

mạnh đến mối quan hệ giữa đạo đức cá nhân và cộng đồng với sự lây lan của

dịch bệnh (J.N Hays, 2005: 116)

Đó là quan niệm về dịch bệnh trong

thế giới quan của người Trung Hoa thời xưa, trên thực tế sự bùng phát của dịch

bệnh ở Trung Quốc thời Minh cũng như các thời kỳ khác có mối liên quan chặt chẽ giữa yếu tố sinh học với các yếu tố tự nhiên và xã hội

V ề yếu tố tự nhiên, được biểu hiện qua

sự biến đổi khí hậu, điều kiện tự nhiên và

Trang 7

môi trường sinh thái Trong đó đáng chú

ý nhất là biến đổi khí hậu bởi nó có tác

động rất lớn đến sự xuất hiện của nhiều

loại thiên tai như hạn hán, lũ lụt và các

thảm họa khác Dưới thời Minh, có tới

1011 lần xảy ra thiên tai như lũ lụt, hạn

hán, nạn châu chấu, mưa đá, bão, động

đất, băng tuyết và nạn đói, trong đó chỉ

riêng lũ lụt là 196 lần, xảy ra gần như

hàng năm (张丽芬, 2005: 78) Các loại

thiên tai này có mối liên hệ chặt chẽ với

sự bùng phát của dịch bệnh Chẳng hạn

nạn đói là yếu tố góp phần dẫn đến sự

bùng phát và làm nghiêm trọng hóa dịch

bệnh Nhiều trận dịch bệnh lớn ở Hoa

Bắc thời Minh xảy ra cùng lúc với nạn

đói Lũ lụt và hạn hán thường xuyên dẫn

đến nạn đói và khi nạn đói xuất hiện thì

thường sau đó là sự phát sinh của các trận

dịch bệnh Nó như một chu kỳ luẩn quẩn

của lũ lụt + hạn hán -> nạn đói -> dịch

bệnh Đồng thời nó cũng phản ánh quy

luật một thiên tai có thể dẫn đến sự xuất

hiện của một hoặc một số thiên tai khác

và thiệt hại do thiên tai thứ phát gây ra

đôi khi còn vượt xa thiên tai ban đầu (张

丽芬, 2005: 78) Biến đổi khí hậu còn

ảnh hưởng sâu sắc tới mức độ phổ biến

và sự nghiêm trọng của các bệnh truyền

nhiễm lây truyền từ vật chủ và trung gian

của chúng, vì nhiều loài vật chủ mang

mầm bệnh rất nhạy cảm với nhiệt độ và

độ ẩm môi trường (Huidong Tian - etc.,

2017: 12972) Nhiệt độ suy giảm do biến

đổi khí hậu đóng vai trò là tác nhân của

dịch bệnh trong lịch sử Các đợt dịch quy

mô lớn bùng phát vào những năm 1580

và 1640 trùng khớp với sự giảm nhiệt độ,

sự sụt giảm lượng mưa hoặc kết hợp cả hai (Harry F Lee - etc., 2017: 56) Bên

cạnh đó, sự sụt giảm lượng mưa và hậu

quả từ các đợt hạn hán nghiêm trọng vào

thời Vạn Lịch và Sùng Trinh đã dẫn đến

nạn đói kéo dài, làm tỷ lệ suy dinh dưỡng tăng cao, từ đó khiến cho sức đề kháng

của con người đối với bệnh tật bị suy

giảm (Harry F Lee - etc., 2017: 59) Bên cạnh thiên tai do biến đổi khí hậu,

sự biến đổi của môi trường sinh thái cũng

là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự xuất hiện của dịch bệnh Từ thời Minh

trở đi, hầu hết thảm thực vật rừng trên cao nguyên hoàng thổ bị phá hủy do sự gia tăng của hoạt động cải tạo đất và chăn nuôi ngựa Sự tàn phá nghiêm trọng thảm

thực vật rừng đã tạo ra những thay đổi

lớn trong hệ sinh thái (张丽芬, 2005: 79)

Nó làm mất cân bằng hệ sinh thái, khiến cho mầm bệnh từ môi trường tự nhiên xâm nhập vào con người Nguồn gốc của

mầm bệnh gây ra hai đợt bệnh dịch hạch

ở Hoa Bắc cuối thời Minh nằm ở các ổ

dịch tự nhiên thuộc cao nguyên Nội Mông, nơi mà chúng vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Giống chuột gerbil Mông

Cổ (tên khoa học là meriones unguiculatus) là vật chủ tự nhiên của loại

bọ chét mang trực khuẩn dịch hạch

Trang 8

(yersinia pestis) gây bệnh dịch hạch ở

khu vực này Thông thường trực khuẩn,

bọ chét và chuột gerbil tồn tại trong mối

quan hệ cộng sinh, hiếm khi biến đổi

sang con người (Marta E Hanson, 1997:

98) Tuy nhiên, từ thời Gia Tĩnh

(1522-1566) trong các năm 1533-1534 đã có

các đợt di cư lớn của người Hán đến định

cư ở khu vực phía Bắc Sơn Tây giáp với

Nội Mông Những người Hán khi đến

đây định cư, bằng việc chuyển đổi các

đồng cỏ thành đất canh tác nông nghiệp

đã bắt đầu làm thay đổi sâu rộng môi

trường của khu vực, từ đó làm đảo lộn sự

cân bằng sinh thái của các ổ dịch tự nhiên

(曹树基, 1997: 28) Sự bùng phát và lây

lan của những trận dịch bệnh ở thời Minh

trong giai đoạn từ 1580-1640 bắt nguồn

từ sự biến đổi này Bên cạnh đó, nhiều

nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ giữa

sự bùng phát dịch bệnh với việc mở rộng

chợ buôn bán ngựa dọc theo biên giới

Nội Mông thời kỳ này Năm 1571, nhà

Minh đã cho thiết lập các khu chợ buôn

bán ngựa với người Mông Cổ tại bốn đồn

canh dọc theo Vạn Lý Trường Thành ở

phía Bắc Sơn Tây và Hà Bắc Những đồn

canh này có vị trí gần với các khu định

cư lớn ở phía Nam Nội Mông nơi dịch

bệnh đã bùng phát vào các năm

1580-1582 Ví dụ, trận dịch bùng phát ở Đại

Đồng phía Bắc Sơn Tây nằm ngay phía

Nam đồn canh Đắc Thắng và phía Tây

đồn canh Tân Bình, hai trong bốn chợ

buôn bán ngựa lớn (Marta E Hanson, 1997: 101)

V ề yếu tố xã hội, tuy điều kiện tự

nhiên là yếu tố quan trọng dẫn đến dịch

bệnh bùng phát, song nó không phải là

yếu tố duy nhất Nguyên nhân cơ bản của

dịch bệnh còn do các yếu tố xã hội gây ra

bởi con người Vì yếu tố tự nhiên chỉ giữ vai trò hoàn cảnh, tức điều kiện khách quan bên ngoài, đến khi thông qua yếu tố

xã hội, tức điều kiện chủ quan bên trong thì chúng mới có thể ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội Tình hình kinh tế - xã hội rối ren của Trung Quốc vào cuối thời Minh

đã góp phần vào mức độ nghiêm trọng

của dịch bệnh thời kỳ này Dân số cả nước tăng dần từ cuối thế kỷ XIV đến

cuối thế kỷ XVI khiến các đô thị trở nên quá tải Đường phố tràn ngập rác, phân

và ruồi nhặng là điều kiện thuận lợi cho

mầm bệnh sinh sôi phát triển Ví dụ, sự bùng phát dịch bệnh ở Hoa Bắc vào

những năm 1580 được cho là bởi áp lực nhân khẩu quá mức ở khu vực từ Thiểm Tây đến Sơn Tây và Hà Bắc (曹树基, 1997: 31) Lũ lụt thường xuyên cũng khiến cho mầm bệnh dễ bộc phát và lây lan nhanh chóng Chẳng hạn ruồi có thể truyền bệnh sốt thương hàn, trong khi

muỗi (sinh sản ở những nơi ẩm thấp do

ngập lụt) thì truyền bệnh sốt rét (Helen Dustan, 1975: 15) Mặt khác, tình trạng phiêu tán do thiếu lương thực và nạn đói

dẫn tới việc cả con người và các loài vật

Trang 9

gặm nhắm đều cùng tìm kiếm thức ăn ở

những vùng đất mới hoang vu Một khi

con người và chuột - vật trung gian mang

mầm bệnh, di chuyển cùng nhau đã khiến

cho vi khuẩn yersinia pestis từ chuột lây

truyền sang cơ thể người bùng phát thành

bệnh dịch và dòng người lưu tán đã khiến

cho dịch bệnh lây lan trên phạm vi rộng

lớn (Qiu Hua Li, 2020: 138) Một số tài

liệu cho biết vào thời gian xảy ra hạn hán

và nạn đói nghiêm trọng, người dân ở

Sơn Đông đào bới cả ổ chuột gerbil để

tìm kiếm các hạt giống, thậm chí có

người còn ăn cả chuột (Marta E Hanson,

1997: 99) Điều này đã làm mất khả năng

kháng bệnh và khiến cho mầm bệnh xâm

nhập trực tiếp vào cơ thể con người Bên

cạnh đó, từ trung kỳ đến hậu kỳ nhà

Minh, chính sự rối ren, xã hội loạn lạc và

nhiều thiên tai xảy ra liên tiếp khiến cho

đời sống của người dân lầm than khốn

đốn, cuối cùng đã dẫn tới các cuộc khởi

nghĩa bùng phát Bất ổn xã hội không chỉ

làm nhà Minh lung lay mà còn đẩy nhanh

tốc độ lây nhiễm dịch bệnh bởi trong bối

cảnh loạn lạc việc kiểm soát dịch bệnh là

vô cùng khó khăn (张丽芬, 2005: 80)

Như vậy, có thể thấy mối liên hệ chặt

chẽ giữa dịch bệnh với biến đổi khí hậu,

thiên tai và các yếu tố kinh tế - xã hội

(Qing Pei - etc., 2015: 73) Biến đổi khí

hậu và thiên tai được coi là yếu tố quan

trọng trong việc gây ra dịch bệnh, song

cũng chỉ là nguyên nhân cuối cùng dẫn

tới sự gia tăng xuất hiện của dịch bệnh ở Trung Quốc thời Minh Sự lan rộng của

dịch bệnh được xác định bởi các khía

cạnh kinh tế và xã hội Nó là mối liên hệ tương quan giữa biến đổi khí hậu, thiên tai, kinh tế - xã hội và dịch bệnh như một quy luật trong lịch sử Trung Quốc (Qing Pei - etc., 2015: 77-78)

3 Tác động của dịch bệnh thời Minh

Tác động đáng kể nhất của dịch bệnh

thời Minh là khiến cho nhiều người thiệt

mạng, dẫn tới sự suy giảm dân số và biến đổi nhân khẩu

Về tỷ lệ tử vong do dịch bệnh gây ra, trong đợt dịch bùng phát những năm

1580, ở Định Đào (Sơn Đông) và Trung Mưu (Hà Nam) có hơn 1/2 dân số thiệt

mạng Ở huyện Kỷ (Hà Nam) từ giữa mùa xuân tới mùa thu có hơn 10.000

người chết Tại huyện Mạnh Tân “có rất nhi ều trường hợp trong một gia đình không còn ai s ống sót và cả gia tộc bị xóa s ổ bởi bệnh dịch” Ở huyện Lục An,

có hơn 30.000 người chết vì nạn đói và

dịch bệnh vào năm 1586 (Helen Dustan, 1975: 29) Theo ghi chép của Tân Lạc huy ện chí《新樂縣志》, “đại đầu ôn

d ịch vào mùa xuân hạ năm Vạn Lịch thứ

10 (1582), dân ch ết 4/10” Số người chết

vì dịch bệnh ở hai tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây

có thể lên tới 7 triệu (曹树基, 1997: 30-31) Tào Thụ Cơ ước tính tỷ lệ tử vong ở ba

tỉnh Hoa Bắc là Sơn Tây, Hà Bắc và Hà

Trang 10

Nam trong trận dịch các năm 1587-1588 là

từ 40 đến 50%, số người chết khoảng 7,8

triệu người, khiến cho dân số ba tỉnh Hoa

Bắc giảm từ 25,6 triệu (năm Vạn Lịch thứ

8) xuống còn 12,8 triệu người sau năm

1588 (曹树基, 1997: 31)

Đối với đợt dịch những năm 1640,

chẳng hạn trong trận dịch năm 1641, tỷ lệ

tử vong ước đoán từ 20-40% dân số

Riêng ở tỉnh Chiết Giang có từ 80 - 90%

số hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dịch

bệnh Các tài liệu đương thời cho biết

thiệt hại nhân mạng bởi dịch bệnh là

không thể đếm được, người chết vô số

(J.N Hays, 2005: 113) Trần Kỳ Đức

chép trong tác phẩm Tai hoang ký sự

《災荒記事》vào năm 1641 như sau:

“N ếu không phải vì loạn lạc thì một

người sẽ chết vì đói Nếu không chết vì

đói, họ cũng sẽ chết vì dịch bệnh” (Marta

E Hanson, 1997: 110) Các báo cáo từ

những địa phương cụ thể có thể cho thấy

mức độ nghiêm trọng của trận dịch bệnh

Ví dụ ở huyện Vũ (Tô Châu), năm 1641

bệnh kiết lỵ đã giết chết 70% số người

bệnh Thi thể của các nạn nhân được thu

gom mỗi ngày trong suốt bốn tháng đến

mùa đông năm đó và nó được xem là

thảm họa tồi tệ nhất lịch sử kể từ thế kỷ

XII (Angela Ki Che Leung, 1987: 142)

Trong trận bệnh dịch hạch từ tháng 8-12

năm 1643, ước tính có tới 1/5 dân số của

Bắc Kinh thiệt mạng Theo Minh sử kỷ sự

b ản mạt《明史紀事本末》do Cốc Ưng

Thái soạn thì trong trận dịch năm 1643 dân số ở Bắc Kinh bị tổn thất đáng kể Ở

Từ Châu (Nam Trực Lệ) số người chết

mà không có quan tài chôn cất là nhiều

vô số Ở Thương Thủy (Hà Nam) “vào tháng 6, có r ất ít dấu hiệu cho thấy sự

s ống của con người, tất cả những gì nghe

th ấy được trên đường phố là tiếng vo ve

c ủa ruồi” (Helen Dustan, 1975: 30) Một

số nghiên cứu cho rằng số người chết vì

bệnh dịch hạch vào những năm cuối khi nhà Minh diệt vong ở mức 10 triệu người (Qiu Hua Li, 2020: 138) Tỷ lệ tử vong

do dịch bệnh gây ra ở tỉnh Sơn Tây vào năm 1644 ở mức từ 80% hoặc 90% (J.N Hays, 2005: 114) Đó là một tỷ lệ rất cao, chưa từng được biết tới trong lịch sử dịch

tễ học (Helen Dustan, 1975: 31) Dịch

bệnh rõ ràng đã tác động rất lớn đến sự

biến đổi nhân khẩu của Trung Quốc thời Minh cả về mức độ lẫn tính lâu dài

Bên cạnh mặt nhân khẩu, dịch bệnh còn gây ra những tác động đáng kể khác trên phương diện kinh tế - xã hội, chính

trị - quân sự và tâm lý xã hội Trước tiên,

dịch bệnh tác động đến nền kinh tế Việc dân số bị giảm mạnh do dịch bệnh, nạn đói và biến loạn xã hội đã dẫn tới tình

trạng thiếu hụt lao động và làm giảm năng suất sản xuất của xã hội, tàn phá kinh tế Giá lương thực tăng cao chính là

biểu hiện của sự bất ổn kinh tế do dịch

bệnh gây ra Ví dụ, năm Sùng Trinh thứ

14 (1641), tại Giang Nam xảy ra dịch

Ngày đăng: 15/10/2022, 16:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

ảnh hưởng lên đến 1878 (xem Bảng 1). Theo ghi chép c ủa các địa chí thì những  tr ận dịch bệnh thờ i Minh bùng phát vào  hầu hết  các  mùa  trong  năm,  tuy  nhiên  d ịch bệnh thường hay  xả y ra vào mùa  xuân và mùa hè (陳旭, 2016: 25), còn r ất  ít  xu ất - Dịch bệnh ở trung quốc thời minh (1368 1644)  epidemic diseases in china during the ming period (1368 1644)”, tạp chí nghiên cứu trung quốc số (231
nh hưởng lên đến 1878 (xem Bảng 1). Theo ghi chép c ủa các địa chí thì những tr ận dịch bệnh thờ i Minh bùng phát vào hầu hết các mùa trong năm, tuy nhiên d ịch bệnh thường hay xả y ra vào mùa xuân và mùa hè (陳旭, 2016: 25), còn r ất ít xu ất (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w