VIỆT NAM TRUNG ĐÔNG QUA TÁC PHẨM TÂY HÀNH NHẬT KÝ Lư Vĩ An TÓM T ẮT “Tây hành nhật ký” tức “Nhật ký đi Tây” là một tập du ký ghi chép hành trình đi sứ sang Pháp và Tây Ban Nha của sứ
Trang 1VIỆT NAM
TRUNG ĐÔNG QUA TÁC PHẨM TÂY HÀNH NHẬT KÝ
Lư Vĩ An
TÓM T ẮT
“Tây hành nhật ký” tức “Nhật ký đi Tây” là một tập du ký ghi chép hành trình đi sứ sang Pháp và Tây Ban Nha của sứ bộ nhà Nguyễn từ năm 1863-1864 do Phạm Phú Thứ, một trong những thành viên của sứ
b ộ, “Tây hành nhật ký” biên soạn Tác phẩm phản ánh nhận thức và hiểu biết của người Việt Nam đương thời về các vùng đất và con người nơi mà sứ bộ đi qua Trong chuyến hành trình đi sứ, từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 2 tháng 9 năm 1863, sứ bộ nhà Nguyễn đã ghé qua nhiều nơi thuộc lãnh thổ của đế chế Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ), mà nay là khu vực Trung Đông như Aden (Yemen), Suez, Cairo và Alexandria (Ai Cập) Do
đó trong “Tây hành nhật ký” có nhiều ghi chép rất thú vị về vị trí địa lý, đặc điểm dân cư cũng như phong tục tập quán của người dân bản xứ ở Trung Đông Bài viết này tìm hiểu về hành trình của sứ bộ nhà Nguyễn
ở Trung Đông Qua đó bài viết phân tích những ghi chép liên quan đến Aden, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ có trong tác phẩm
T ừ khóa: Tây hành nhật ký, nhật ký đi Tây, Phạm Phú Thứ, sứ bộ nhà Nguyễn, Trung Đông
Nhận bài: 18/4/2020; Phản biện và sửa chữa: 20/5/2020; Duyệt đăng: 5/9/2020
Abstract
“Tay hanh nhat ky” or “Nhat ky di Tay” (Diary of a Voyage to Western countries) is a travel book that describes the voyage of the Nguyen Dynasty’s diplomatic mission to France and Spain in 1863-1864, written
by Pham Phu Thu, one of the members of the legation, “Tay hanh nhat ky” reflects the awareness and knowledge of the Vietnamese about the lands and people where the legation visited at that time During the voyage, from August 8 to September 2, 1863, the Nguyen Dynasty’s diplomatic mission visited many places belong to the territory of the Ottoman Empire (Turkey) which now is the Middle East region such as Aden (Yemen), Suez, Cairo and Alexandria (Egypt) Therefore, there are many interesting descriptions of the geographic location, features of population as well as customs and habits of indigenous people in “Tây hành nhật ký” This article seeks to the voyage of the Nguyen Dynasty’s diplomatic mission in the Middle East Thence, the article analyzes the descriptions relating to Aden, Egypt and Turkey in the itinerary Keywords: Diary of a Voyage to Western countries, Pham Phu Thu, Nguyen Dynasty’s diplomatic mission, Middle East
Đại học Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Trang 21 D ẫn nhập
Năm 1858 liên quân Pháp-Tây Ban Nha
tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đến
năm 1862 thì thực dân Pháp chiếm được ba
tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Biên
Hòa và Định Tường Triều đình nhà Nguyễn
buộc phải kí hòa ước Nhâm Tuất (ngày 5
tháng 6 năm 1862) nhượng ba tỉnh miền Đông
Nam Kỳ cho thực dân Pháp Dẫu vậy, ngay
sau khi kí hòa ước, triều đình nhà Nguyễn vẫn
tìm cách để lấy lại ba tỉnh bị mất thông qua
các nỗ lực ngoại giao, bằng việc cử một đoàn
sứ bộ sang Pháp và Tây Ban Nha để thương
lượng lại các điều khoản đã kí (Trương Bá
Cần, 1967: 3) Theo tài liệu lưu trữ của văn
khố Bộ Pháp quốc hải ngoại (F.O.M
Indochine, Carton 10A, 30) thì sứ bộ của nhà
Nguyễn gồm có 63 người do triều đình Huế
đề cử và 9 người từ Sài Gòn do Pháp đề cử
(1) Sứ bộ do Phan Thanh Giản làm chánh sứ,
Phạm Phú Thứ làm phó sứ và Ngụy Khắc Đản
làm bồi sứ (Nguyễn Duy Oanh, 1974: 175)
(Trương Bá Cần, 1967: 16-17) Đoàn sứ thần
của triều đình nhà Nguyễn lên tàu Européen,
khởi hành từ cảng Sài Gòn vào ngày 4 tháng
7 năm 1863, đến cảng Suez (lúc đó vẫn chưa
có kênh đào như hiện nay) vào ngày 17 tháng
8 Từ đây họ tiếp tục đi xe lửa đến Cairo và
Alexandria Sau đó vào ngày 2 tháng 9 năm
1863, từ Alexandria sứ bộ lên tàu Labrador
tiếp tục hành trình sang Pháp (A Delvaux,
1926: 70) Ngày 13 tháng 9 sứ bộ của nhà
Nguyễn đặt chân đến Paris nhưng mãi tới
ngày 5 tháng 11 mới có thể gặp hoàng đế Pháp
Napoléon III để trình quốc thư Cũng trong
tháng 11, từ ngày 10 đến ngày 22, sứ bộ nhà
Nguyễn đã đến Tây Ban Nha bằng tàu
Tercoire và yết kiến Nữ hoàng Isabella II vào
ngày 18 tháng 11 Đến ngày 22 tháng 11 thì
phái đoàn rời Madrid, lên tàu Japon trở về lại Sài Gòn ngày 18 tháng 3 năm 1864 (Nguyễn Duy Oanh, 1974: 192)
Trong chuyến hành trình đi sứ sang phương Tây, đoàn sứ thần của nhà Nguyễn đã
có dịp ghé thăm nhiều nơi khác nhau Cảnh
vật địa phương, đời sống và phong tục tập quán của người dân bản xứ và những điều mà
sứ bộ tai nghe mắt thấy trên đường đi sứ đã được ghi chép lại một cách tỉ mỉ trong tác phẩm 西 行 日 記 “Tây hành nhật ký” tức
“Nhật ký đi Tây”, do Phạm Phú Thứ chắp bút
trong khoảng thời gian từ năm 1863-1864 Về tác giả, Phạm Phú Thứ (1820-1882), tự Thúc Minh, hiệu Trúc Đường, biệt hiệu Giá Viên, quê ở xã Đông Bàn, huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam Ông đậu hội nguyên tiến sĩ khoa thi năm Quý Mão, niên hiệu Thiệu Trị thứ ba (tức năm 1843) Phạm Phú Thứ là một đại
thần giữ nhiều trọng trách trong triều đình hai đời vua Thiệu Trị và Tự Đức Ngoài ra, ông còn được được biết đến như một nhà canh tân
và nhà văn, nhà thơ với nhiều trước tác nổi tiếng Bên cạnh “Tây hành nhật ký” (Giá Viên biệt lục), Phạm Phú Thứ còn là tác giả của 蔗 園全集 “Giá Viên toàn tập”, 西浮詩草 “Tây
văn tập” (Trần Văn Giáp, 1990: 157-158)
(Nguyễn Hoàng Thân, 2011: 53)
“Tây hành nhật ký” gồm ba tập và theo lời
tựa thì tác phẩm được dâng lên vua Tự Đức vào ngày 24 tháng 02 năm Tự Đức thứ 17 (tức ngày 31 tháng 3 năm 1864) (Ngô Đình Diệm, 1919: 162) (Đặng Như Tùng dịch, 1998: 6)
Bản gốc của tác phẩm hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm với nhan đề 蔗 園別錄 “Giá Viên biệt lục”, gồm ba bản chép
khác nhau mang kí hiệu VHv 1170 (gồm 292 tờ), VHv 286/1-2 (gồm 188 tờ) và VHv 2232
Trang 3(gồm 104 tờ, riêng bản chép này thiếu mất tập
thứ ba) Tập thứ nhất và thứ hai của Tây hành
nh ật ký đã được Ngô Đình Diệm và Trần
Xuân Toản dịch sang tiếng Pháp (với sự hiệu
đính của Nguyễn Đình Hòe), đăng trên
Bulletin des Amis du Vieux Húe vào năm 1919
và năm 1921 Còn bản dịch tiếng Việt đầu tiên
của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm và Văn Vinh
Lê Khải Văn được đăng trên tạp san Văn Đàn
vào những năm 1960-1962 Bản dịch này sau
đó đã được Nhà xuất bản Văn hóa văn nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh tái bản vào năm
2001 Ngoài ra còn có một bản dịch khác của
Quang Nguyễn do nhà xuất bản Đà Nẵng phát
hành năm 1999
Là một tập du ký, Tây hành nhật ký ghi
chép lại toàn bộ những sự kiện và địa danh
trong chuyến hành trình sang Pháp của sứ bộ
nhà Nguyễn Đáng lưu ý, bên cạnh những ghi
chép về quãng thời gian sứ bộ lưu trú ở Pháp
danh ở khu vực Trung Đông như Aden, Suez,
Cairo ve Alexandria
Sứ bộ nhà Nguyễn đã lưu trú tại Trung
Đông 26 ngày và vào ngày 8 tháng 8 năm
1863, Suez vào ngày 17 tháng 8, đến Cairo
vào ngày 19 tháng 8 và Alexandria vào ngày
27 tháng 8 Do đó, trong Tây hành nhật ký có
những ghi chép hết sức quý giá về diện mạo
địa lí, đời sống và phong tục tập quán của
người dân Trung Đông, cũng như những cuộc
tiếp xúc, gặp gỡ giữa sứ bộ nhà Nguyễn với
đại diện chính quyền bản xứ
2 Nh ững ghi chép về Trung Đông trong
Tây hành nh ật ký
2.1 Ghi chép về Aden
Aden (ngày nay thuộc Yemen) là một cảng
biển có vị trí chiến lược quan trọng, kết nối
mạng lưới giao thông hàng hải từ Ấn Độ Dương qua Hồng Hải (Biển Đỏ) (Mustafa L Bilge, 1988: 367) Theo ghi chép của Phạm Phú Thứ trong Tây hành nhật ký thì sứ bộ nhà Nguyễn đến cảng Aden (tác phẩm chép là
A-điên) vào giờ mão (khoảng 7 giờ sáng) ngày
hai mươi bốn tháng sáu (tức ngày 8 tháng 8 năm 1863) (Phạm Phú Thứ, 2001: 78) Sứ bộ nhà Nguyễn lưu trú tại Aden trong hai ngày, đến ngày hai mươi sáu (tức ngày 10 tháng 8) thì tiếp tục khởi hành đi đến Suez
Tuy thời gian dừng chân của sứ bộ nhà Nguyễn ở Aden rất ngắn nhưng Tây hành
nh ật ký cũng có những ghi chép thú vị về vị
trí địa lí và đặc điểm cư dân bản địa ở Aden
Chẳng hạn, tác phẩm miêu tả “vịnh này thuộc
A-r ờ-bi (còn có tên là A-ráp) phía bắc giáp Tu-du-ki (Thổ Nhĩ Kỳ) và vượt qua một vịnh
(vịnh Persian) là đến nước Bì-rờ-xa (Persia),
“người các nước đến tập trung buôn bán,
nhân kh ẩu chừng hơn bốn trăm (bản dịch
tiếng Pháp là 40.000) Người Tây khi nói nhân
kh ẩu là kể cả già trẻ, trai gái, trú tại đó hoặc lui t ới buôn bán Ở đó chỉ có người các nước
Mi ến Điện, Xà-bà (Java), Bì-rờ-xa, A-rờ-bì, người châu Á Phi Lợi Gia (châu Phi) và người phương Tây, còn người Thanh (Trung Quốc) thì không đến đây” (Phạm Phú Thứ, 2001:
79-80) Về cư dân của Aden, tác phẩm chép:
“Người bản xứ (thổ dân A-rờ-bi) tóc quăn, da
đen, mặc áo hở tay và cài cúc bên tay trái, họ
s ống rải rác nhiều nơi theo từng giống người
v ật có các thứ lạc đà, lừa, bò mộng, cừu núi,
và khoai tây ch ứ không có thóc gạo và các thứ
Trang 4ngũ cốc khác Những người ở rải rác ven bờ
bi ển thì sống về nghề đánh cá hoặc nghề buôn,
nhưng cũng đều bị người Anh nô dịch cả”
(Phạm Phú Thứ, 2001: 81)
Ngoài ra, Tây hành nh ật ký còn đề cập đến
sự hiện diện của người Anh và người Pháp ở
nơi này: “Người Anh đến ở đây trên hai mươi
năm qua, làm bãi chứa than để tiếp tế cho
sa (Pháp) cũng thuê đất, chở than đến chứa ở
đấy và đặt lãnh sự để trông coi”; cùng sự nổi
dậy của người dân bản địa để chống lại ách
thống trị ngoại bang “Một số dân bản xứ
không ch ịu đầu hàng, họ rình nơi vắng để giết
người Anh” (Phạm Phú Thứ, 2001: 79)
Trong thời gian ở Aden thì một thành viên
của sứ bộ là thông ngôn Nguyễn Văn Trường
bị bệnh và đột ngột qua đời nên đã được chôn
cất tại Aden (Phạm Phú Thứ, 2001: 81)
Sau thời gian tạm dừng chân lại ở Aden,
đoàn sứ bộ của nhà Nguyễn tiếp tục hành trình
đến Suez vào cuối giờ mão (từ 5 giờ đến 7 giờ
sáng) ngày hai mươi sáu tháng sáu (tức ngày
10 tháng 8 năm 1863)
2.2 Ghi chép v ề Suez
Suez (Ai Cập) ngày nay là một kênh đào
có vị trí chiến lược trọng yếu kết nối Hồng
Hải với Địa Trung Hải, nhưng vào thời điểm
mà đoàn sứ bộ nhà Nguyễn đến Suez (năm
1863) thì nơi đây vẫn chỉ là một cảng biển,
chưa có kênh đào Ý tưởng đào kênh đã được
manh nha từ những năm 1560 dưới thời
Sultan Selim II (1566-1574) của đế chế
Ottoman Nhưng dự án đào kênh chỉ chính
thức được khởi công vào năm 1859 và mãi
đến năm 1869, (tức sáu năm sau khi sứ bộ nhà
Nguyễn ghé qua) thì kênh đào Suez mới được
khai thông (Mustafa L Bilge, 2010: 186)
Theo ghi chép của Tây hành nhật ký thì sau khi rời Aden, đến ngày mùng bốn tháng bảy (tức ngày 17 tháng 8 năm 1863) sứ bộ nhà Nguyễn mới tới được cảng Suez Như vậy tàu của sứ bộ nhà Nguyễn đã có một hải trình kéo dài khoảng 7 ngày để đi từ Aden đến Suez:
“Từ A-điên đến đây phải bảy ngày, thuyền đi
được bốn ngàn sáu trăm bốn mốt dặm với hơn sáu mươi chín trượng” (Phạm Phú Thứ, 2001:
87) Trong hải trình khoảng 7 ngày này, tàu của sứ bộ nhà Nguyễn đã đi qua nhiều địa danh nổi tiếng ở khu vực Trung Đông, được nhắc đến trong Tây hành nhật ký như cảng Djeddah, vịnh Aqaba, cảng Djoubal và núi Sinai Chẳng hạn, tác phẩm chép về cảng Djeddah (ngày nay thuộc Ả Rập): “Ngày hai
chín tháng sáu (13 tháng 8 năm 1863), giờ
d ậu (từ 5 đến 7 giờ tối), thuyền đi ngang qua núi Xu-bà-gia (?) ở phía tây và đối diện với
c ửa Chiết Đa (Djeddah) ở phía đông (cửa này thu ộc về A-rờ-bi, từ bờ biển phía bắc này đi vào trong đất liền chừng vài chục dặm thì đến
đây)” (Phạm Phú Thứ, 2001: 84) Ghi chép về
vịnh Aqaba: “Ngày mùng ba tháng bảy (16
tháng 8 năm 1863), vào giờ sửu (từ 1 giờ đến
3 giờ sáng), thuyền đi ngang qua cửa vịnh
A-ca-bà (Aqaba) ở phía đông (thuộc A-rờ-bi,
trăm dặm, vịnh này dẫn vào xứ Du-đề (Judea,
tức xứ Palestine và Israel ngày nay), còn gọi
(Bethlehem), t ục truyền rằng đó là nơi Di-du
(Jesus) giáng sinh, l ại có thành Gia-liêm
(Jerusalem), tương truyền là nơi Di du phục sinh, nay thu ộc về nước Tu-du-ki (Thổ Nhĩ
Kỳ)” Sau đó tàu của sứ bộ đi vào cảng
Djoubal: “Thuyền vào cửa Duy-bàn (Djoubal)
Trang 5(phía tây là Y- điệp (Ai Cập), phía đông là
m ột trăm hai mươi dặm) Phía tây cũng có
đảo gọi là Duy-bàn, nước Y-điệp có dựng đèn
chi ếu ở đấy Lại có một ngọn núi hết sức cao
l ớn gọi là Xi-na-y (Sinai) (sách tây chép rằng
ba ngàn năm về trước, Mô-i-căng (Moise),
người Xu-diêu (Judea), lên trên núi, bắt được
m ột hòn đá có mười điều răn, bèn truyền lại
cho h ọc trò Mười điều răn ngày nay của đạo
Da-tô (Ki tô) là do đó mà ra)” (Phạm Phú Thứ,
2001: 85-86)
Sứ bộ của nhà Nguyễn đến cảng Suez vào
giờ sửu (từ 1 đến 3 giờ sáng) ngày mùng bốn
(tức ngày 17 tháng 8 năm 1863) và lưu lại ở
đây đến ngày mùng sáu (ngày 19 tháng 8) thì
tiếp tục khởi hành đi Cairo Tuy thời gian sứ
bộ ở Suez cũng rất ngắn nhưng trong Tây
diên cách địa lí và đặc điểm dân cư của Suez:
“Chỗ này thuộc về đất của nước Y-điệp, cũng
là nơi tiếp giáp của châu Á Phi Lợi Gia với
đất châu Á Tế Á ở đông nam và với hải phận
ch ục dặm, hai bên bờ đều là cồn cát, thuyền
các nước đậu ở bến thường là mười mấy
d ựng nhiều dãy phố và hiệu buôn Dân số ước
nước tốt, nên người ta phải lấy nước ở sông
Nhĩ-lô (sông Nile) (sông này bắt nguồn từ
Y-điệp rồi ra biển)” (Phạm Phú Thứ, 2001: 87)
Cũng trong thời gian ở Suez, sứ bộ nhà
Nguyễn đã có cuộc gặp gỡ với quan trấn -
người đứng đầu thành Suez và vị lãnh sự
người Pháp ở nơi này: “Giờ tỵ (từ 9 đến 11
giờ sáng), quan trấn thành Xu-ết (Tây hành
nh ật ký chép Suez là Xu-ết) cùng với lãnh sự Phú-lãng-sa ở thành phố là Ê-vi-gia (?) đến thăm chúng tôi” Theo đánh giá của sứ bộ thì
người Pháp đặt lãnh sự ở cả Suez và Alexandria, nhưng chức lãnh sự ở Alexandria
có quyền lớn hơn chức lãnh sự ở Suez (Phạm Phú Thứ, 2001: 87-88) Qua ghi chép của tác phẩm, có thể thấy được tầm ảnh hưởng rất đáng kể của người Pháp ở Ai Cập thời bấy giờ, mặc dù khi đó Ai Cập vẫn còn là một xứ phụ thuộc của đế chế Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ:
“Nước này từ lâu đời đã có quan hệ hữu hảo
v ới Phú-lãng sa Tôi hỏi để tìm hiểu thì được lãnh s ự Phú-lãng-sa cho biết là những nơi mà phái đoàn chúng tôi đi qua đều thuộc đất Y-điệp và người Y-Y-điệp nhận các tổn phí về vận chuy ển xe cộ, nhà ở cũng như lương thực,
hoàn l ại” (Đặng Như Tùng dịch, 1998: 34)
Cũng trong thời gian ở Suez, khi tàu của sứ
bộ nhà Nguyễn vừa mới vào cảng Suez, có một câu chuyện thú vị xoay quanh lá cờ khâm sứ của sứ bộ được ghi chép lại trong Tây hành nhật
ký đó là theo nghi thức đón tiếp sứ bộ ở Suez,
sứ bộ nhà Nguyển cần phải treo cờ của nước mình lên cột buồm giữa tàu Tuy nhiên, vì lá cờ
mà sứ bộ mang theo có màu giống với cờ của
xứ Ai Cập (đều màu đỏ) nên để phân biệt, sứ bộ
đã đính thêm bốn chữ “Đại Nam khâm sứ” ở hai mặt lá cờ (Phạm Phú Thứ, 2001: 90) Khi đó ở Suez kênh đào vẫn chưa hoàn tất nên để tiếp tục hành trình, đoàn sứ bộ nhà Nguyễn phải dùng xe lửa di chuyển tới Cairo Như vậy, sau hai ngày dừng chân ở Suez, giữa giờ thìn (khoảng 9 giờ sáng) ngày mùng sáu (tức ngày 19 tháng 8 năm 1863) sứ bộ lên xe lửa đi Cairo
Trang 62.3 Ghi chép về Cairo
Khởi hành từ Suez vào giữa giờ thìn đến
giờ ngọ (tức giữa trưa) của ngày hôm đó
(ngày 19 tháng 8) thì sứ bộ nhà Nguyễn đã
đến được Cairo, kinh đô của Ai Cập, mà Tây
hành nh ật ký chép là thành Kê Như vậy sứ bộ
chỉ mất khoảng hơn hai giờ để di chuyển từ
Suez sang Cairo: “Giữa giờ ngọ, đến thành
Kê, kinh đô của nước Y-điệp Trong hai giờ
này, xe đi được hai trăm mười dặm” (Phạm
Phú Thứ, 2001: 93) Theo ghi chép của Tây
lại lưu trú ở Cairo khoảng 9 ngày, tới ngày 27
tháng 8 mới tiếp tục khởi hành lên đường
Thời gian dừng chân ở Cairo khá lâu nên hoạt
động của sứ bộ ở đây cũng như ghi chép của
Tây hành nh ật ký về Cairo được xem là nhiều
hơn các nơi khác
Sau khi đến Cairo thì vào hôm sau, ngày
mùng bảy (tức ngày 20 tháng 8 năm 1863),
đoàn sứ bộ đã có buổi yết kiến Phó vương Ai
Cập khi đó là İsmail Paşa (Isma’il Pasha),
người cai trị Ai Cập trong giai đoạn
1863-1879 (2) Theo ghi chép của Tây hành nhật ký
thì “Quốc trưởng năm đó ba mươi hai tuổi”,
nơi tiếp đón sứ bộ được gọi là “lầu Lê-xi-đề
(cung điện Gezirah) nằm trên đảo giữa sông
Nhĩ-lô” (Phạm Phú Thứ, 2001: 94)
Bên cạnh đó, Tây hành nhật ký cũng có các
mô tả về diên cách địa lí và khái quát lịch sử
của Ai Cập: “Đất nước Y-điệp nam-bắc dài
hơn một ngàn năm trăm dặm, đông-tây rộng
hơn một ngàn ba trăm sáu mươi dặm, chiếm
là m ột nước lớn vậy Ba, bốn ngàn năm về
trước, nước họ đã có vua, sau bị nước
Tu-du-cô (cũng gọi là Tu-du-ki) thôn tính, rồi bị
nước Phú-lãng-sa đánh chiếm Được bốn
năm, tổ tiên của Quốc trưởng hiện nay là Mê-hi-m ết Á-li (Mehmed Ali) trước kia đi học ở Tu-du-ki, ra làm quan k ỵ binh, đang đi chinh chi ến thì gặp dịp người Phú-lãng-sa trong nước có chuyện phải bãi binh Mê-hi-mết bèn
l ại nước Người Phú-lãng-sa không trở lại
mình làm ba-sa (paşa) Từ đó, nước Y-điệp
tách ra làm chư hầu của Tu-du-cô, phải chịu sưu cống, truyền đến nay - năm đầu của
ba-sa It-ma-in (İsmail) là bốn đời, sáu mốt năm
v ậy” (Phạm Phú Thứ, 2001: 95-96) Những
ghi chép này khi đối chiếu lại với thực tế lịch
sử của nước Ai Cập thì hoàn toàn trùng khớp
Đó là việc Ai Cập bị người Thổ Ottoman thôn tính năm 1517, trở thành một trấn (beylerbeyliği hay eyalet) thuộc đế chế
Ottoman Đến cuối thế kỉ XVIII, khi ảnh hưởng của đế chế Ottoman ở đây bắt đầu suy yếu, vào năm 1798 người Pháp đứng đầu là Napoléon Bonapart đã mở cuộc viễn chinh sang Ai Cập, kéo dài đến năm 1801 Bốn năm sau, vào năm 1805 Mehmed Ali Paşa trở thành tổng trấn (vali) của Ai Cập và bắt đầu triều đại cai trị của mình, kéo dài đến thời của İsmail Paşa là trải qua bốn đời, nếu tính luôn İsmail Paşa là đời thứ năm (Seyyid Muhammed es-Seyyid, 2004: 563) (Hilal Görgün, 2004: 569)
Ghi chép về khí hậu và dân cư của Ai Cập:
“Khí hậu ấm nóng, hai ba năm mới có trận
mưa nhỏ Dân trong nước dùng nước sông Nhĩ-lô để uống, múc, tưới Người ta đặt máy, đào mương ngoài ngàn dặm để dẫn nước sông v ề các nơi, dùng không hết Ven hai bên
b ờ sông, trồng dây tiêu, lúa mì, dưa, bông, lúa cùng các th ứ cây có trái lạ Từ bờ ruộng bên này đến bờ ruộng bên kia trông xa tắp…Dân
Trang 7s ố cả nước hơn bốn triệu, riêng thành Kê có
b ốn chục vạn Số binh lính thường trực là bốn
v ạn, khi động binh thì đến hai chục vạn”
(Phạm Phú Thứ, 2001: 100) Về diện mạo của
thành Cairo, Tây hành nh ật ký chép: “Thành
Kê là m ột nơi đô hội lớn, có sông Nhĩ-lô bao
cung điện Trên bờ sông, phố xá của người Y
kéo dài mười mấy dặm (phần lớn là nhà nóc
xe ng ựa qua lại như thoi, tiếng ca hát, tiếng
kèn tr ống náo nhiệt đến đêm Người Phú,
người Anh, người Y-ta-li ở buôn bán cũng
đông” (Phạm Phú Thứ, 2001: 96)
Tây hành nh ật ký còn đề cập đến chữ viết
tượng hình của người Ai Cập: “Chữ viết hình
côn trùng, chim, thú và vi ết hàng ngang từ
phía tay m ặt sang Cũng có người viết chữ
(Phạm Phú Thứ, 2001: 96)
Tác phẩm miêu tả rất chi tiết về trang phục
truyền thống cùng với phong tục tập quán của
người dân xứ Ai Cập Đại khái rằng: “Theo
t ục họ, hễ thấy khách cùng người tôn quí thì
cúi mình, đưa bàn tay từ ngang tim lên đến
ngang trán để chào Tôi tớ thì vòng tay kính
c ẩn, nếu có đưa vật gì thì quỳ xuống mà đưa
B ạn bè gặp nhau thì chạm mũi để tỏ tình thân
ái H ọ lấy vợ, gả chồng từ rất sớm: trai gái từ
mười tuổi trở lên là cưới gả ” (Phạm Phú
Thứ, 2001: 97) Đáng lưu ý là ghi chép về tục
hút thuốc và uống cà phê của người dân Ai
Cập, trong đó cà phê là thứ rất đỗi xa lạ dưới
góc nhìn của người Việt thời bấy giờ Về tục
hút thuốc: “Họ có tục nghiện hút ống điếu
Ống điếu được gọi là xuy-bút (tiếng Thổ Nhĩ
Kỳ: çubuk) (ống tròn gần hai tấc, dài chừng
ba thước, miệng điếu làm bằng đá có vân
cái l ại bằng ngọc Loại ống điếu vòng tròn giá
Cũng có loại điếu bình có nước gọi là
na-ki-lê (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: nargile)…” Về tục uống cà phê: “Trà đậu quí gọi là ca-hòe (cà
phê) rót trong chén nh ỏ để trên đế làm bằng
b ạc hay vàng sợi Sau khi ăn cơm hoặc khi đãi khách, đều chỉ dùng một chén mà thôi” (Phạm
Phú Thứ, 2001: 97) Ở đây nargile (vốn là từ qalyân trong tiếng Ba Tư) và cà phê (kahve) đều là những tập tục của người Thổ Ottoman được lan truyền đến các vùng lãnh thổ thuộc
đế chế Ottoman, trong đó có Ai Cập Đặc biệt
cà phê sau đó đã lan tỏa đến các thành phố lớn
ở châu Âu và cả thế giới (İdris Bostan, 2001: 203)
Về tôn giáo của xứ Ai Cập, Tây hành nhật
ký chép như sau: “Họ theo đạo Hồi, nên làm
nhi ều tháp thờ thần Ma-hô-mét, tháp rất to và đẹp Đạo trưởng của họ gọi là Y-mang (imam)
theo đạo, bất kể ở nơi nào, đều hướng về phương Đông lạy và đọc kinh năm lần (Mộ
c ủa Ma-hô-mét ở tại thành La-mết, phía đông nước Y-điệp, cho nên họ hướng về phương đông lạy; khi lạy, dùng nước để rửa mặt, nếu không có nước thì lấy cát xát mặt) Quốc trưởng của họ lập đàn riêng, cứ mỗi ngày làm
l ễ ba lần Đạo của họ cấm ăn thịt heo và uống rượu, cho nên trong nước không nấu rượu và
Tác phẩm cũng đề cập đến lễ hội truyền
thống của người Hồi giáo Theo Tây hành
nh ật ký thì ngày mười ba tháng bảy (26 tháng
8 năm 1863) là ngày lễ của Ai Cập: “A-mết
(Ahmed) nói ngày hôm đó là ngày mười tháng
ba c ủa nước Y-điệp (lịch của các nước
Trang 8phương Tây đều bắt đầu từ năm sinh của
Da-tô, tính đến nay là 1863 năm Còn nước Y theo
đạo Hồi, tính từ khi Ma-hô-mét xướng ra đạo
đến nay là 1280 năm Lịch Hồi không có phép
tính nhu ận, nên cứ ba mươi ba năm thì có một
năm bốn mùa thay đổi không theo lệ thường)
Thường năm, ngày này là ngày lễ lớn của đạo
H ồi (A-mết theo đạo Da-tô) Nhân dịp đó,
người ta mời chúng tôi và Lý-a-nhi (Henri
Reunier) đến nhà thờ riêng của con cháu
Đặc biệt trong thời gian lưu trú ở Cairo, sứ
bộ nhà Nguyễn đã có dịp tham quan thành phố
và chiêm ngưỡng nhiều thắng cảnh, di tích
lịch sử nơi đây, trong đó cụm kim tự tháp ở
Giza - một trong bảy kì quan của thế giới cổ
đại Bởi vậy trong Tây hành nhật ký có ghi
chép về kim tự tháp, đồng thời cũng đề cập
đến các kì quan còn lại của thế giới cổ đại: “Ở
xa xa, trên đất bằng, nổi lên ba chóp cao sừng
s ững Chúng tôi hỏi người ta nói rằng, đó là
lăng tẩm của các vị quốc trưởng thời trước
c ủa nước Y-điệp Người ta dùng nhiều thứ đá
để xây những ngôi mộ cao hơn ba trăm bảy
mươi thước Những kim tự tháp là những kỳ
quan c ủa thế giới ghi trong sách Âu” Các kỳ
quan khác bao gồm “pho tượng lớn bằng
đồng ở Tiểu Á; mô-do-lê-âm (mausoleum)
ở Ba-bi-luân (Babylon); thành Ba-bi-luân;
đền thờ Đi-a-na (Diana tức nữ thần Artemis
trong thần thoại Hy Lạp cổ đại) ở thành
Y-phê-do (Ephesus); tượng Du-bi-tê (tức thần
Jupiter trong thần thoại Hy Lạp cổ đại) tại
thành O-liêm (Olympia) thu ộc nước Lê-cô
(Hy Lạp)” (Phạm Phú Thứ, 2001: 103-106)
Với những ghi chép này Tây hành nhật ký
cũng chính là tài liệu đầu tiên của người Việt
đề cập đến bảy kỳ quan của thế giới cổ đại
Sau một khoảng thời gian dừng chân ở Cairo, vào giờ giữa thìn (khoảng 8 giờ sáng) ngày mười bốn (tức ngày 27 tháng 8 năm 1863) sứ bộ nhà Nguyễn rời Cairo tiếp tục lên tàu Labrador để đi tới Alexandria (Phạm Phú Thứ, 2001: 107-108)
2.4 Ghi chép v ề Alexandria
Theo ghi chép của Tây hành nhật ký thì vào
cuối giờ ngọ (1 giờ chiều) sứ bộ đến thành Alexandria (trong tác phẩm chép là
Á-lê-xang-rí, cũng gọi là thành Xang-rí) Từ Cairo đến Alexandria mất hai tiếng rưỡi và xe lửa
chở sứ bộ đã đi được 370 dặm (Phạm Phú Thứ, 2001: 111) Cho đến khi lên tàu Labrador để
tiếp tục hành trình sang Pháp vào ngày hai mươi tháng bảy (tức ngày 2 tháng 9 năm 1863) thì sứ bộ nhà Nguyễn đã dừng chân tại Alexandria khoảng một tuần
Cũng như những nơi khác mà sứ bộ đã ghé
lưu trú, Tây hành nhật ký trước hết ghi chép
về diện mạo của thành Alexandria: “Phố đều
là ba, b ốn tầng Người Y cùng với người Anh, người Phú ở buôn bán rất đông, hàng hóa Tây phương tràn ngập Ở các cổng đường qua lại,
có ch ừa đất trống để trồng cỏ, hoa và xây
nước lên Mỗi ngày cứ đến chiều vặn vòi thì nước phun thành hình hoa, làm nơi dạo chơi
v ạn, mật độ kém hơn thành Kê, nhưng nhà
c ửa, thành quách phần lớn là mới làm, lại rất sang và đẹp” (Phạm Phú Thứ, 2001: 112)
Trong thời gian ở Alexandria, sứ bộ nhà Nguyễn cũng gặp gỡ lãnh sự Pháp và viên quan trấn thành tại đây Tây hành nhật ký đề cập đến sự hiện diện và ảnh hưởng của người
Trang 9Pháp ở Alexandria: “Ở đây, nước
Phú-lãng-sa đặt chánh và phó lãnh sự cùng một quan
năm có cầu vai bằng chỉ vàng và một quan ba
các vi ệc thuyền bè, tiền bạc và hàng hóa”
(Phạm Phú Thứ, 2001: 113)
Tây hành nh ật ký cũng ghi chép sự tích về
nữ hoàng Cleopatra - vị nữ hoàng nổi tiếng
trong lịch sử Ai Cập cổ đại thời kì Hy Lạp hóa,
người cai trị cuối cùng của Ai Cập trước khi
bị biến thành một tỉnh của đế chế La Mã (năm
30 trước Công nguyên): “Trên một trái gò cao
ở phía nam thành ấy có một trụ đá, cao bốn
trượng, ghi sự tích một bà phi của quốc
trưởng nước Y thời trước (chuyện rằng: vài
trăm năm về trước, quốc trưởng nước Y-điệp
là Lê-Mê (Ptolemee) ch ết, em trai lên nối ngôi,
nàng Cơ-lê-ô là cung phi của Lê-Mê, bị em
tru ất ngôi, bèn chạy sang phương Tây, vào
nước Rô-ma xin nước ấy giúp Quốc trưởng
giúp nàng Cơ-lê-ô tự xưng là quốc trưởng và
quan tên là Ốc-tao (Octavian, tức Augustus)
đến bắt An-toan Cơ-lê-ô kêu xin không được
An-toan th ắt cổ chết, Cơ-lê-ô cũng lấy một
người vùng đó muốn ghi nhớ Cơ-lê-ô nên
114-115) Tuy ghi chép này chưa hoàn toàn
chính xác, chẳng hạn về mặt thời gian là hơn
hai ngàn năm chứ không phải vài trăm năm,
nhưng nó cũng đã phản ánh sự quan tâm của
sứ bộ về các sự tích lịch sử thú vị của địa
phương nơi mà họ đi qua
Trong lúc sứ bộ nhà Nguyễn dừng chân tại
Alexandria, thì vào ngày mười sáu tháng bảy
(tức ngày 29 tháng 8 năm 1863), một thành
viên của sứ bộ là chánh y Nguyễn Văn Huy
bệnh qua đời và được chôn cất lại ở Alexandria (Phạm Phú Thứ, 2001: 115) Theo ghi chép của Tây hành nhật ký thì sau khoảng một tuần lưu trú ở Alexandria, vào giờ
tỵ (từ 9 đến 11 giờ sáng) ngày hai mươi tháng bảy (tức ngày 2 tháng 9 năm 1863), sứ bộ lên
tàu Labrador để tiếp tục hành trình sang Pháp
Quãng thời gian sứ bộ nhà Nguyễn dừng chân lưu trú ở khu vực Trung Đông kết thúc Sau khi hoàn tất sứ mệnh ngoại giao ở Pháp và Tây Ban Nha, trên đường trở về vào ngày 23 tháng 01 năm 1864, sứ bộ có quay lại Alexandria, một tuần sau thì đến Suez, và tại đây sứ bộ lên tàu Japon để về lại Sài Gòn (Hà Xuân Liêm dịch, 2004: 120)
2.5 Ghi chép liên quan đến Thổ Nhĩ Kỳ
Mặc dù đoàn sứ bộ nhà Nguyễn trong suốt chuyến hành trình chưa từng đi đến İstanbul, kinh đô của đế chế Ottoman khi đó, nhưng
Tây hành nh ật ký cũng nhiều lần nhắc đến
Thổ Nhĩ Kỳ với tên gọi 須油姑 “Tu Du Cô” hoặc 須油箕 “Tu Du Ky” (3) Khảo cứu các ghi chép trong tác phẩm, có thể thấy được nhiều dữ kiện, nội dung có liên quan đến Thổ Nhĩ Kỳ vào thời bấy giờ
Khi nói đến mối liên hệ phụ thuộc của Ai Cập với Thổ Nhĩ Kỳ, việc Thổ Nhĩ Kỳ đặt
chức phó vương (hidiv) với tước hiệu pasha ở
Ai Cập thì tác phẩm cho biết: “ba-sa là chức
quan l ớn của nước Tu-du-ki, nước Y-điệp
cũng như là chức phó vương vậy” (Phạm Phú
Thứ, 2001: 88) Pasha (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: paşa) ở đây là tước hiệu cao nhất của người đứng đầu về mặt quân sự và hành chính vào thời Ottoman (Abdülkadir Özcan, 2007: 182)
Tây hành nh ật ký cũng miêu tả quốc kỳ của
Thổ Nhĩ Kỳ, dù trong tác phẩm nói đến là cờ
Trang 10xứ Ai Cập, nhưng thực chất đó là cờ của Thổ
Nhĩ Kỳ vì khi đó Ai Cập vẫn còn là phiên
thuộc của Thổ Nhĩ Kỳ: “Cờ nền đỏ, ở giữa là
hình trăng lưỡi liềm màu trắng bọc lấy một
Thứ, 2001: 90)
Ở một nội dung khác, Tây hành nhật ký
miêu tả mũ fez (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: fes), một
loại mũ truyền thống của người Thổ Ottoman:
“Cả nước trên dưới đều đội mũ bằng tơ hoặc
nhung đỏ (đó là loại mũ tròn, có kết một chum
dây tơ màu đen, dài chừng ba tấc, buông thòng
xu ống phía sau)” (Phạm Phú Thứ, 2001: 97)
Trong thời gian lưu trú ở Alexandria, sứ bộ
nhà Nguyễn có dịp tham quan các thắng cảnh
ở đây, bao gồm kênh đào mang tên của Sultan
Mahmud II, người cai trị đế chế Ottoman-Thổ
Nhĩ Kỳ trong giai đoạn (1808-1839) Tác
phẩm chép về nguồn gốc tên gọi của con kênh
đào này như sau: “Ở về phía đông bắc đường
tiếng Pháp đã được Hán Việt hóa) Đầu
mương nối với sông Nhĩ-lô, đuôi mương giáp
Trung H ải Xưa kia, khi Mê-hi-mết vừa lấy lại
được nước thì đào mương này, dẫn nước ngọt
l ợi cho dân (Ma-mục-di-e là tên của vua nước
Tu-du-cô, Mê-hi-m ết bấy giờ xin lệnh vua đào
mương, nên khi đào xong lấy tên vua đặt tên
mương để tỏ lòng nhớ ơn)” (Phạm Phú Thứ,
2001: 111)
Sau khi đến Paris, trong lúc chờ đợi tiếp
kiến hoàng đế Pháp, sứ bộ nhà Nguyễn đã có
nhiều hoạt động ngoại giao khác nhau, bao
gồm việc gặp gỡ đại diện phái bộ ngoại giao
của Thổ Nhĩ Kỳ tại Paris (Trương Bá Cần,
1967: 18) (Nguyễn Duy Oanh, 1974: 189)
Theo ghi chép của Tây hành nhật ký thì vào ngày mười sáu tháng tám (tức ngày 28 tháng
9 năm 1863) M Pha-ry, mang tước “Bê” (Bey
- cũng là một danh xưng của người Thổ) (Orhan F Köprülü, 1992: 12), trợ lí của đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ đến thăm sứ bộ và mời sứ bộ thu xếp gặp gỡ (Trần Xuân Toản, 1921: 166) Sau
đó, đến ngày hai mươi hai (tức ngày 4 tháng
10 năm 1863), sứ bộ đến thăm đại sứ Thổ Nhĩ
Kỳ và được tiếp đón rất trọng thị (Trần Xuân Toản, 1921: 171) Vào ngày hai tháng chín (tức ngày 14 tháng 10 năm 1863), thì ngài đại
sứ của Thổ Nhĩ Kỳ là MM Đê-mẫn-lô, có
tước “Ba-sa” (paşa) cùng phó sứ là Ba-di, tước “Bê” (Bey) đến thăm đáp lễ sứ bộ tại khách sạn nơi sứ bộ cư trú (Trần Xuân Toản, 1921: 185) Đáng lưu ý, sứ bộ nhà Nguyễn còn so sánh sự khác biệt giữa phái đoàn ngoại giao của nước Thổ Nhĩ Kỳ với các nước khác
ở Paris Theo Tây hành nhật ký thì “trang
ph ục các đại sứ nước ngoài tại Pháp đều
gi ống nhau, ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ với mũ tròn màu đỏ” (tức mũ fes đã nhắc đến ở trên) (Trần
Xuân Toản, 1921: 167) Ngoài ra, Tây hành
nh ật ký cũng đề cập đến mối quan hệ giữa Nga
và Thổ, khi Nga hùng mạnh lên thì tìm cách xâm chiếm lãnh thổ của Ottoman, như việc
cảng “Xi-việt-tô-bô-lô” (Sebastopol) trước
đây từng thuộc Ottoman sau bị Nga chiếm, hay cuộc chiến tranh giữa hai nước này vào tám năm về trước [tức cuộc chiến tranh Crimea trong giai đoạn 1853-1856] (Trần Xuân Toản, 1921: 181-182)
Như vậy, có thể thấy tuy sứ bộ nhà Nguyễn chưa đến İstanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng khi ở Paris sứ bộ đã có cơ hội gặp gỡ đại diện của người Thổ Ottoman tại hải ngoại Nói cách khác, đây có thể là sự tiếp xúc đầu tiên giữa người Việt và người Thổ Nhĩ Kỳ trong lịch sử