Họ tự gọi mình là người cung cấp dịch vụ Logistics - Logistics service providers chứ khônc gọi là người giao nhận hay người kinh doanh vận tải đa phương thức M T O như ở các nước đang
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
Ã-^&ìs Cũ
POHEISN TRSDE UNIVERÍIIY
XU HƯỚNG LOGISTICS TOÀN CẨU
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO DỊCH vụ N À Y ỏ VIỆT NAM
T H ư V'cN
Sinh viên thực hiện Lớp
Khoa Giáo viên hướng dẫn
Phạm Thị K i m Thanh Anh l i
Trang 3M Ụ C L Ụ C
Mỏ ĐẦU Ì
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẾ LOGISTICS 4
1.1 Khái quát về Logistics và các khái niệm khác có liên quan 4
1.1.1 Khái quát vổ Logistics 4
/ / / / Khái niệm Logistics 4
/ / 1.2 Chuỗi cung cấp (supply chain) 5
1.1.1.3 Người cung cấp dịch vụ Logistics 6
1.1.2 Vận tải và vận tải đa phương thức quốc tế 6
/ 1.2 ì Khái niệm vận tải và vận tải da phương thúc 6
/ 1.2.2 Người kinh doanh VTĐPT (M TO) l i
1.1.3 Dịch vụ giao nhận hàng hoa và ngưu giao nhận - Frcight
forwardcr 12
1.1.3.1 Môi giới hái quan 14
1.1.3.2 Người giao nhận đường bộ, đường sắt 14
1.1.3.3 Người giao nhận đường biển 14
1.1.3.4 Người giao nhận đường hàng không 16
1.1.3.5 Người giao nhận lập hợp (Groupage forwardcrs)
hay người gom hàng (Consolidator) 16
1.2 Các bên tham gia trong lĩnh vực dịch vụ Logistics 18
Ì 2 Ì Người cung cấp dịch vụ Logistics "bôn thứ ba" - Third party
Logistics providcrs 19
Ì 2.2 Tổ chức Inter-modal 21
Ì 2.3 Người vân tải - Transport providcrs 22
Ì 2.4 Người cung cấp dịch vụ lưu kho 22
Ì 2.5 Môi giói hải quan - Customs Brokers 23
Ì 2.6 Hệ thống quản lý chuỗi cung cấp - Supply Chàm Managcmcnt
Systcms (SCM) - Supply Chain Exccution Systems (SCE) 23
1.3 Địa vị pháp lý, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm và của
người giao nhận 25
Ì 3 Ì Địa vị pháp lý của người giao nhận 25
Ì 3.2 Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận 27
Trang 4C H Ư Ơ N G 2 QUA TRĨNH P H Á T TRIỂN CỦA LOGISTICS V À xu
H Ư Ớ N G LOGISTICS T O À N CẦU 29
2.1 Quá trình phát triển của dịch vụ Logistics 29
2 Ì Ì Sự thay đổi trong vai trò của người giao nhận 29
2.1.1.1 Giai đoạn ỉ: vai trò truyền thống như nsuởi tu
vấn cho người gửi hằng 29
2.1.1.2 Giai đoạn 2: Vãi trò trung gian như người gom
hàng 29
2.1.1.3 Giai đoạn 3: vai trò tiến bộ nhu người kinh
doanh vận tải đa phương thức 30
2.1.1.4 Giai đoạn 4: vai trò mới nhu người cung cấp
dịch vụ Logistics 34
2.1.2 Ba giai đoạn phát triển của Logistics 38
2.1.2.1 Phăn phối vật chất 38
2.1.2.2 Hộ thống Logistics - Logistics syslcm 39
2.1.2.3 Quản lý chuỗi cung cấp - Supply Ch ai rì
Managcmcnt (SCM) 41
2.1.3 Những yếu tố thúc đẩy sự phái triển của dịch vụ Logistics 50
2.2 Các dịch vụ Logistics dược cung cáp 51
2.2.1 Các dịch vụ được cung cáp Hôn quan đến quyết định về địa điểm 51
2.2.2 Các dịch vụ được cung cấp liên quan đến quyết định về sản phẩm 52
2.2.3 Các dịch vụ liên quan đến quyết định về hàng tồn kho 52
2.2.4 Các dịch vụ về vận tải 52
2.2.4.1 Lưu kho hàng hoa 53
2.2.4.3 Quắn lý hàng tồn kho 5 3
2.2.4.4 Gia công theo yêu câu 53
2.2.4.5 Các dịch vụ giá trị gia tăng 53
Trang 52.3 Xu hướng Logistics toàn cầu hiện nay 53
2.3 Ì E-LOGISTICS và thương mại điện tử - É C 55
2.3.2 Dịch vụ Logistics bên thứ ba - Outsourcing Logistics/Third partv
Logistics (3PLs) 63
2.3.3 Outsourcing quy trình kinh doanh- Busiiiess Proccss Outsourcing
(BPO)và4PLs 65 2.4 Các chế định pháp luật điều chỉnh các chủ thể tham gia dịch vụ
Logistics 67
CHƯƠNG 3 ĐÔI NÉT VỀ THỰC TRẠNG VÀ MỘT số GIẢI PHÁP
CHO VIỆC P H Á T TRIỂN DỊCH v ụ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM 69
3.1 Thực trạng kinh doanh dịch vụ Logistics tại Việt Nam 69
3.1.1 Giai đoạn phát triển hiện nay của dịch vụ Logistics của Việt Nam 69
3.1.2 Đánh giá chung về tình hình kinh doanh ngành dịch vụ GNKV 73
3.2 Một số giải pháp đề xuừt nhằm thúc đẩy sự phát triển của dịch
vụ Logistics tại Việt Nam 78
3.2.1.1 Phát triền ngành vận tải đường biển mũi nhọn 78
3.2.1.2 Phái triển khoa học công nghẹ trong ngành giao thông vận
tải nói chung và trong Logistics nói riêng 81
3.2.1.3 Ban hành các nghị định, thõng tư, chỉ thị có liên quan lới
dịch vụ giao nhận kho vận đàm bào tính khả thi 8 6
3.2.2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp 86
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
88
90
Trang 6MỎ ĐẦU Cúng vói sự phái triển của nén kinh tế thế giỏi, thị trường Loàn cầu ngày càng
trỏ nên nhạy cảm vòi những vấn dề về thỏi gian cũng như sự cạnh tranh ve giá cả Đen
cạnh đó là sự phái triển nhanh chóng của khoa học còng nghệ thòng Un và những yêu cẩu khớt khe trong các khâu quản lý nguyên vật liệu thò cũng như các bộ phận câu
thành sản phàm Trước những yêu cầu thực tiễn đó, dịch vụ LcgisUcs la dài và không ngừng phái triền, ngảv càng đáp ứng được những dôi hỏi ve yếu tó thòi gian vả dem
lại hiệu quả cao trong tĩnh vực kinh doanh
Thuật ngũ' Lcgistics xuất hiện vảo khoang những năm 1960 và liên tục phái triển
cho đến nay, dưực hiên như là việc quản lý toàn bộ hệ thống chuỗi cung cấp từ khâu nguyên liệu thô đen phân phối thành phẩm Mục liêu của nó là kiếm nghiệm từng quyết dinh trong kênh cung cấp một sản phẩm và tác dộng của nó đối vói Loàn bộ hệ thống Lcgistics trỏ thành một c.órig cụ sớc bén giúp các cóng Ly chèo lái khéo leo chuồi cung cấp, cho phép họ có được dứng nguồn nguyên VỘI liệu ỏ dùng noi và dùng lúc Diều quan trọng là LogisLics có the giúp làm giảm chi phí hàng Lổn kho, cãi thiện các dịch vụ khách hàng, đạt dược sự linh hoạt hơn và giâm các khoản đầu tư Lư bân Cúng vói những phát Iriên nhanh chóng cùa khoa học cõng nghệ, trong đó dặc biệt là ve
cõng nghệ thòng Un và truyền thông, đã thúc dạy không ngừng sự phái triển của
Lcgistic, ca ve xu hướng, về sự chặt chẽ trong các khâu của hệ (.hổng cũng như sú
tiện lọi và Lốc độ
o Việt Nam, các hoại dộng giao nhện hàng ỏ cẫng biên và các vùng biên giỏi có
lừ những năm [954, song cho đến nay Logistics vẫn là một khái niệm còn mỏi me đối
vói phần lớn các doanh nghiệp Một số ít doanh nghiệp dã cung cấp loại hình dịch vụ riàv nhưng Lhực chất vân là do các doi tác nưóc ngoài đảm nhiệm, còn các doanh
nghiệp Việt Nam chỉ dứng lo những phân công việc bong lãnh tho Việt Nam do có che
thủ tục của nước la còn phức tạp Đen cạnh các hoạt dộng (.rong lĩnh vực giao nhận
Trang 7'Phạm Giạ lam Qkanh - Móp < inh 11 ~K3S
k h o v ậ n đ a n g d i ễ n r a khá sôi đ ộ n g , chúng t a v ẫ n c ò n hàng l o ạ t n h ữ n g vân d e c ò n bãi cập vế co sỏ hạ lang vận lải, luật định, văn bân, còng Lác quằn lý, cóng nghệ, thiêu sự
họp tác và phối húp giữa hải quan, cảnh sái kinh tế, nhân viên câng vụ, kho bãi, và các
phương thức vận lải khác
Nhiệm vu trưổc mắt và làu dài của các Lổ chức liên quan cũng như chinh phủ là
phải đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế trên dẻ thúc dẫy dịch vu giao
nhận kho vận Liến lén một giai đoạn phát triển mỏi, theo kịp sự phái triển cũi]
Logistics Loàn cẩu Dẻ đạt được điểu này, việc lim hiểu sâu một cách hệ thống vổ
LogisUcs, đặc biệt tiếp cận vói những xu hưóng Logistics toàn cầu hiện nay là một vấn
để mang tinh cấp bách Dẫy cũng là lý do để tác giả mạnh dạn chọn de tài: "Xu hướng Logistics toàn cáu và một số giải pháp cho dịch vụ này ở Việt Num"
làm khoa luận tót nghiệp của mình, nhằm đóng góp những hiểu biết ve LogisLics cũng
như xu hưổng Logistic toàn cầu cho việc đẩy mạnh dịch vụ này ỏ Việt Nam
Mục Liêu của luận văn là tim hiểu vổ quá trinh phát triển của Logistic và xu hưótig
Logislics toàn cầu, trôn cứ sỏ đó dành giá thực trạng phát triển LogisLics ỏ Việt Nam
và đưa ra một số kiến nghị vổ giải pháp
Dè đạt được mục Liêu trẽn, cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Thu thập các tài liệu liên quan đến Logistics trẽn thế giói
- Tim thập các lài liệu liên quan đến Lcgislics ỏ Việt Nam
- Tong quan vổ lịch sử phát. triển của LogisUcs
- Tong húp và phàn Lích xu hưổng Logistics toàn cầu
- Phân lích và đánh giá thác trạng Lcgistics ỏ Việt Nam
- De xuất các giải pháp nhằm thúc đẫy sự phái triết! của dịch vu Lcgislics lại
Việt Nam
Trang 8Ngoài phần mục lục, lòi nói đầu, k ế t luận và tài liệu tham khảo nội dung của khoa
luận dược cấu trúc thành 3 chương như sau:
chừdng Ị Tong quan về Logistics
Chương 2 Quá trinh phái triển cua LcgisUcs và xu hưỏng Logislic* loàn cầu
chương^ Đói nót ve thực trạng và một số giải pháp cho việc phái triển dữch
vụ Logistics tại Việt Nam
LogisLics là mội tĩnh vực còn khá mới mê ỏ Việt Nam, mại khác do thòi gian có
hạn, nên chắc chắn khoa luận không tránh khỏi còn những thiếu sót Dãi mong nhận
dưọc sự đánh giá, góp ý của các thầy có và tất cả những ai quan Lâm đến vân dề đặt
ra trong khoa luận này
Nhân dầy, em xin bày Lỗ lòng biết ôn sâu sắc Lói thầy giáo Liên sĩ Nguyễn Văn
Hóng vê sự giúp dỡ nhiệt Lình và những ý kiến dóng góp qui báu txorig suốt quá trình
thực hiện khoa luận Lốt nghiệp
Em cũng xin chân thành câm ôn các thầy có giáo trong trướng Dại học Ngoại
thương, các có chú, anh chữ của cóng ty GEMADEPT Hà Nội cùng gia đinh, bạn bỏ và
Lất cả những người đã dộng viên, giúp đõ em trong qua trinh thu thập, xử lý tài liệu và hoàn thành khóa luận
Trang 9C H Ư Ơ N G 1
Q TỔNG QUAN VẾ LOGISTICS
1.1 Khái quát về Logistics và các khái niệm khác có liên quan
1.1.1 Khái quát về Logistics
1 ỉ 1 ì Khái niệm Logistics
Việc miêu tả khái niệm Logistics dỗ dàng hơn là việc định nghĩa khái niệm này Khái niệm Logistics thường được sử dụng trong quá trình tổ chức
và thực hiện chi tiết một kế hoạch hoạt động nào đó
Thuật ngữ Logistics xuằt hiện đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, liên quan đến việc di chuyển, cung cằp trang thiết bị, tiếp tế cho các đơn vị quân đội Trong hoạt động thương mại, quản lý Logistics là một quá trình tương tác nhằm tối ưu hoa các dòng nguyên vật liệu và nguồn cung cằp thông qua tố chức để đến với khách hàng Theo H ộ i đồng quàn lý Logistics của M ỹ thì
"Logistics là quá trình l ậ p k ế hoạch, thực hiện và k i ể m soát dòng d i chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thò của hàng hoa trong q u y trình, những hàng hoa thành p h ẩ m và những thông t i n có liên quan t ừ khâu m u a sám nguyên vật liệu cho đến k h i được tiêu dùng, tằt cả với mục đích thoa m ã n yêu cầu của người tiêu dùng"
Từ đó có thể rút ra một số đặc trưng của Logistics như sau:
- Quản lý một cách thống nhằt xâu chuỗi từ khâu nguyên vật liệu đến kháu phân phối sản phẩm, dịch vụ khách hàng và tằt cả các thôn" túi có liên quan
- Giúp cắt giảm chi phí, giám các khoản đầu tư tư bản và tối ưu hoa quy trình kinh doanh
- Gắn liền với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, các thành lựu khoa học cõng nghệ góp phần không nhò phục vụ cho qua trình thực hiện dịch vụ Logistics
Trang 10- K i ể m nghiệm từng quyết định trong toàn bộ chuỗi cung cấp nhằm đảm bảo tính đúng đắn và hiệu quả
/ / 1.2 Chuỗi cung cấp (suppỉy chaỉn)
Chuỗi cung cấp dịch vụ là hệ thống cấc tổ chức tham gia vào các quy trình và các hoạt động khác nhau để tạo ra sản phẩm và giá trị cho khách hàng cuối cùng Nếu tất cả các công ly trong chuậi cung cấp riêng biệt nào
đó muốn tối ưu hoa hệ thống Logistics của họ một cách độc lập với các công
ty khác trong chuỗi thì việc quản lý dòng di chuyển của sản phẩm và thông tin trong cả chuỗi hay kênh cung cấp sẽ không tối ưu Những nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề này đưa đến kết quà là sự hình thành khái niệm quản lý chuỗi cung cấp - supply chain managemcnt (SCM) SCM đưa ra các nguyên tắc cơ bản về việc quản lý Logistics nhằm đạt được sự liên kết trong nội bộ tổ chức và với các tổ chức khác vượt qua giới hạn về địa lý và tổ chức
Trước đây, các chức năng như marketing, phân phối, lập kế hoạch, sản xuất và mua bán trong chuỗi cung cấp của một công ty được thực hiện một cách độc lập M ỗ i bộ phận đều có những mục tiêu riêng và đôi khi đối lập nhau Mục tiêu của bộ phận marketing là dịch vụ khách hàng chất lượng cao
và mức bán hàng tối đa Mục tiêu này mâu thuẫn với mục tiêu của bộ phận sản xuất là tối đa hoa số lượng vật liệu đưa vào quá trình sàn xuất và giảm mức chi phí m à không cần phải quan tâm nhiều vổ ảnh hưởng đối với mức độ tận kho và khả năng phân phối Các hợp đậng mua bán thường được đàm phán với rất ít thông tin nằm ngoài lịch sử các đặc điểm mua bán Hậu quả thường là một loạt các kế hoạch riêng lẻ của các bộ phận m à dề nhận thấy là không có một kế hoạch nào cho toàn bộ công ty Chính vì vậy m à một yêu cầu tất yếu nảy sinh là cần có một cơ chế m à qua đó tất cả các chức năng trên được [hống nhất với nhau Quản lý chuỗi cung cấp - SCM chính là chiến lược
để đạt được sự thống nhất đó Các chức năng thường được coi là thuộc trách nhiệm của lĩnh vực Logistics liên quan đốn hàng hoa cả về khòm: uian và thời gian: nhập kho, vận tái, quàn lý hàng lưu kho, và các hoại động khác có liên quan
Trang 111.1.1.3 Người cung cáp dịch vụ Logistics
Bắt đầu từ lĩnh vực vận tải đa phương thức, một vài công ty trong chuỗi vận tải ví dụ như hãng kinh doanh vận tải đường biển và cảng biến đã chuyển sang một lĩnh vực mới N h ó m các công ty đã chuyển sang hỗ trợ rất nhiều cho các công ty trong SCM chính là người giao nhận - trcight forwarfers ở các nước phái triển trên thế giới, người giao nhận đang mở rộng và phát triển nhọng hoạt động của họ, trong đó bao gồm cả một số hoặc tất cả các hoạt động thuộc về Logistics Họ tự gọi mình là người cung cấp dịch vụ Logistics
- Logistics service providers chứ khônc gọi là người giao nhận hay người kinh doanh vận tải đa phương thức ( M T O ) như ở các nước đang phát triển Phạm vi của các dịch vụ cung cấp cũng khác nhau giọa nhọng nguôi cung cấp khác nhau và đều có thể bao gồm từ dịch vụ tư vấn trong các lĩnh vực cụ thố trong quản lý chuỗi cung cấp cho đến việc tiếp quản quản lý thực hiện chuỗi cung cấp N h ư vậy có thể nói dịch vụ giao nhận hay dịch vụ vận chuyển đa phương thức chính là loại hình Logistics được biết đến phổ biến ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Trong các phần sau đày, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về loại hình Logistics này
1.1.2 Vận tải và vận tải đa phương thức quốc tế
/ 1.2 ỉ Khái niệm vận tải và vận tải đa phương thức
Sự di chuyển về không gian và thời gian của công cụ sản xuất, sản phẩm lao động và bản thân con người là một nhu cầu tất yếu của xã hội Trong nghĩa rộng, vận tải là một quy trình kỹ thuật của bất kỳ sự di chuyển vị trí nào và vật phẩm Còn với ý nghĩa kinh tế, vân tải chỉ bao gồm nhọng sự di chuyển của con người và vật phẩm thoa mãn đồng thời hai tính chất: hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động kinh tế độc lập Từ lâu, vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của con người và hàng hoa l ừ nơi này đến nơi khác Nhở có vận tải con người đã chinh phục được nhọng khoảng cách không gian và tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hoa và thoa mãn nhu cầu đi lại của con người Do vậy lịch sử phát triển cùa vận tải gắn liền với lịch sử phát triển của
xã hội loài người
Trang 12C ó nhiều phương pháp phân loại vận tải tuy theo các tiêu chuẩn được áp
dụng: Căn cứ vào phạm vi sử dụng, căn cứ vào môi trường và điều kiện hoại
động sản xuất, căn cứ vào đối tượng chuyên chở, vào khoảng cách hoạt động,
vào quy trình tổ chức chuyên chở hay căn cứ vào hành trình của phương tiện
vạn tải Tất cả các phương thức vận tải: đường sặt, đường biển, đường hàng
không, đường sòng, đường ô tô, đường ống tạo thành hệ thống vận tải thống nhất trong một nước, một nhóm nước và trên toàn thế giới Các phương
thức vận tải có mối quan hệ mật thiết với nhau, đổng thời lại có mối quan hệ
chặt chẽ với các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân
Vận tải quốc tế - là hình thức chuyên chở hàng hoa hoặc hành khách
giữa hai hay nhiều quốc gia, tức là điểm đầu và điểm cuối của hành trình
chuyên chở nằm trên lãnh thổ của hai nước khác nhau Nói một cách khác,
vận tải quốc tế là sự chuyên chở được tiến hành vượt ra ngoài phạm vi bicn
giới một nước Có hai hình thức vận tải quốc tế: Ì) Vận tải quốc tế trực tiếp là
hình thức chuyên chở được tiến hành trực tiếp giữa hai nước, và 2) Vạn tải
quốc tế quá cảnh là hình thức chuyên chở được tiến hành qua lãnh thổ của lì
nhất một nước thứ ba, gọi là nước cho quá cảnh
Vận tải quốc tế và buôn bán quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ
với nhau Vận tải được phát triển trên cơ sờ phát triển của sản xuất và trao đổi
hàng hoa Ngược lại, hoàn thiện hệ thống hệ thống vận tải, giảm giá thành
vận tải sẽ tạo điều kiện mở rộng quan hệ buôn bán quốc tế Thực tế đã chứng
minh rằng: vận tải là một yếu tố quan trọng có tác dụng khuyến khích hoặc
hạn chế buôn bán giữa các nước Buôn bán quốc tế đang đặt trước vận tải
quốc tế nhiều vấn để cần phải cải tiến và hoàn thiện Hiện nay, các phương
thức vận tải hiện đại đều tham gia phục vụ chuyên chở hàng hoa ngoại
thương, trong đó hình thức vận tải đường biển đóng vai trò chủ đạo Theo số
liệu thống kê của UNCTAD, chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10
-1 5 % giá FOB hoặc 8 - 9 % giá CIF của hàng hoa buôn bán quốc tế Do tiến
bộ khoa học kỹ thuật và tăng nàng suất lao động trong ngành vận lái m à giá
cước trung bình trong vặn tải quốc tế có xu hướng giảm xuống
Trang 13Ngày nay, hệ thống vận tải quốc tế phát triển, giá thành vận tải trên cự
ly chuyên chở dài giảm đã tạo điều kiện m ở rộng thị trường tiêu thụ, do đó làm thay đổi cơ cấu thị trường Những nước xuất khọu có khả năng tiêu thụ sản phọm của mình ở những thị trưởng xa xôi Ngược lại, nước nhập khọu có điều kiện lựa chọn thị trường cung cấp hàng hoa rộng rãi hơn Sự m ở rộng thị trường và thay đổi cư cấu thị trường trong buôn bán quốc tế được thể hiện ở cự
ly chuyên chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế ngày một tăng lên Vận tải quốc tế có tác đụng bảo vệ tích cực hoặc làm xấu đi cán cân mậu dịch và cán cân thanh toán Vận tải quốc tế có hai chức năng chính: phục vụ và kinh doanh Chức năng phục vụ thể hiện ở chỗ vận tải quốc tế đảm bảo nhu cầu chuyên chở hàng hoa xuất nhập khọu của m ỏ i nước Chức năng kinh doanh thể hiện trong việc thực hiện xuất nhập khọu hàng hoa sản phọm vận tải, nhất là sản phọm vận tải đường biển Xuất nhập khọu sản phọm vận tải là một hình thức xuất nhập khọu vô hình quan trọng Thu chi ngoại lộ
về vận tải quốc tế và các dịch vụ khác liên quan đến vận tải quốc tế là m ộ i bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế
Phát triển vận tải, đặc biệt là phát triển đội tàu buôn dân tộc có tác dụng tăng thêm nguồn thu ngoại tệ thông qua việc xuất khọu sản phọm vận tải, hoặc tiết kiệm chi phí ngoại tế bằng cách hạn chế nhập khọu sản phọm vận tải Do đó, vận tải quốc tế có tác dụng bảo vệ tích cực cán cân thanh toán quốc tế Nếu vận tải quốc tế của một nước không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở của ngoại thương thì đòi hỏi phải chi ra một lượng ngoại tệ nhất định để nhập khọu sản phọm vận tải Sự thiếu hụt trong cán càn xuất nhập khọu sản phọm vận tải có thể làm cán cân thanh toán quốc tế đã thiếu hụt càng thòm thiếu hụt Trái lại, dư thừa trong cán cân thanh toán về vận tải có thể bù đắp một phần thiếu hụt trong cán cân mậu dịch nói riêng và trong cán
cân thanh toán quốc tế nói chung T ó m lại, vận tải quốc tế là m ộ i yếu tồ
không thể tách rời trong buôn bán quốc tế " A i nói đến buôn bán quốc tế cũng phái nói đến vận tải Buôn bán quốc tế có nghĩa là hàng hoa được thay đổi người sờ hữu Còn vận tải làm cho hàng hoa đó thay đổi vị trí"
Trang 14otĩi/ /tíf tfftạ /tìàst ?fff/ tia mài đẠ 'ạùỉề' p/tá/ì fi/t/ĩ í/ị?/t £ựi nài/ Á' w/ê/
Vận tải quốc tế là một công cụ quan trọng của buôn bán quốc tế N ó có tác dụng thúc đẩy buôn bán giữa các nước ngày càng mở rộng và phát triển
Đ ồ n g thời, buôn bán quốc tế lại tạo ra những tiền đề cho vận tải quốc tế phát triển không ngừng Vai trò, vặ trí của m ỗ i phương thức vận tải trone buôn bán quốc tế không giống nhau Điểu này phụ thuộc vào đặc điểm cụ thế của mối quan hệ buôn bán và đặc điếm kinh tế - kỹ thuật của từng phương thức vận tải Trong tổ chức chuyên chở hàng hoa xuất nhập khẩu, trước hết phải nắm vững phạm vi áp dụng tối ưu của từng phương thức vận tải Ta sẽ tìm hiểu cụ thế về từng phương thức vận tải trong mục sau của chương này Trong mục này ta sẽ tìm hiểu kỹ hem về vận tải đa phương thức
Vận tải da phương thức(VTĐPT)
V T Đ P T (Multimodal transporl) hay còn gọi là vận tải liên hợp (Combineđ transport) là một phương thức vận tải trong đó hàng hoa được chuyên chở bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau, trên cơ sử một chứng từ vận tải, một chế độ trách nhiệm và chỉ một người chặu trách nhiệm
về hàng hoa trong suốt hành trình chuyên chờ từ một đặa điểm nhận hàng để chở ở nước này đến một đặa điểm giao hàng ử nước khác
Từ đặnh nghĩa trên đây về V T Đ P T chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản khác biệt giữa V T Đ P T với các phương thức vận tải thông thường truyền thống:
Có ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau tham gia vận chuyển hàng hoa
V T Đ P T quốc tế dựa trên một hợp đồng đơn nhất và được thể hiện trên một chứng từ đơn nhất, chứng từ có thể có những tên gọi khác nhau như: chứng từ V T Đ P T (Multimodal transport documcnt), vận đơn V T Đ P T (Multimodal transport Bin oi" Lading), hay vận đơn vận tải liên hợp (Combined transport Bin oi'Lading)
Người kinh doanh V T Đ P T (Multimodal transport operator - MTO) hành động như người chủ uy thác chứ không phải như đại lý của người gửi hàng hay đại lý cùa người chuyên chở tham gia vào V T Đ P T
Người kinh doanh V T Đ P T là người chặu trách nhiên đối với hàng hoa trong một quá trình vận chuyển từ khi nhận hàng để chuyên chớ cho tới khi giao xong hàng cho người nhận kể cả việc chậm giao hàng ở nơi đến
Như vậy, M T O chặu trách nhiệm đối với hàng hoa theo một chê độ trách nhicm nhất đặnh Chế độ trách nhiệm của M T O có thể là chế độ trách nhiệm
Trang 15từng chặng (Network Liability System) hoặc chế độ trách nhiệm thống nhất ( U n i l b r m Liability System) tuy theo sự thoa thuận của hai bên
Trong V T Đ P T , người gửi hàng phải trả cho M T O tiền cước chở suốt của tất cả các phương thức vận tải m à hàng hoa được vận chuyến theo giá đơn nhất được thoa thuận
Trong V T Đ P T quốc tế, nơi nhận hàng đụ chở va nơi giao hàng ờ những nước khác nhau và hàng hoa thường được vận chuyụn bằng những công cụ vận tải như container, pallet, trailer
T ó m lại, V T Đ P T được hình dung là một hợp đồng vận chuyụn đun nhất, một chứng từ đơn nhất và một giá cước đơn nhất với một chế độ trách nhiệm nhất định Như vậy, nếu trong một hành trình, hàng hoa cũng được vận chuyên bằng hai hay nhiều phương thức vận tải nhưng lại sử dụng hai hay nhiều chứng từ và hai hay nhiều chế độ trách nhiệm của các phương thức vận tải tương ứng thì đó không phải là V T Đ P T m à người ta gọi là vận lải dúi đoạn Trên thực tế, chú hàng có nhiều cách lựa chọn phương thức vận tải đổ vận chuyụn hàng hoa của mình: có thụ là đơn phương thức, đa phương thức, hoặc có thụ là vận tải đút đoạn Việc lựa chọn phương thức vận tải nào sẽ tuy thuộc vào yêu cầu vận chuyụn của hàng hóa và hiệu quả m à phương thức vận tải đó mang lại
Có thụ đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của V T Đ P T Đ ó là kết quả tất yếu của quá trình phát triụn ngành vận tải, do yêu cầu của cuộc cách mạng container đặt ra và một nguyên nhân quan trọng đó là do nhu cầu hoàn thiện hệ thống phân phối vật chất cùa các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong xã hội Bước vào thế kỷ 20, sản xuất vật chất của xã hội đã đạt năng suất lao động rất cao nhờ áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến và thành tựu mới của công nghệ thông tin Muốn tối ưu hoa quá trình sản xuất, giảm giá thành nâng cao khả năng cạnh tranh cùa hàng hoa, chỉ còn cách cải thiện hệ thống quản lý phân phối vật chất (Physical Distribution Management) đụ giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, bán thành phẩm
và thành phẩm Hệ thống phân phối vật chất hay còn gọi là "LOGISTICS" là nghệ thuật quản lý sự vận động cùa nguyên vật liệu của thành phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng
Hệ thống phân phối vật chất gồm 4 yếu tố cơ bản: vận tải, marketing,
phân phối, quản trị Trong đó, vận tái là khâu quan trọng nhất Chì phí vận tải
thường chiếm 1/3 tổng chi phí của Logistics, muốn giảm chi phí của quá trình này phải giảm chi phí vận tải, bao gồm nhiều chạng khác nhau từ nơi
Trang 16CỈOtt /tíSÁtrợ ,£fíợ/jf/sj tữàtt gầu ữà Htàỉ ià'ợ/át p/ttíp e/tfí dệek tụt này Ớ' Wê/ Mâm
sản xuất đến nơi tiêu thụ ở các nước khác nhau Việc vận tải phải đảm bảo thời hạn giao hàng, phải đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho sản xuất kịp thời đúng lúc, cung cấp hàng hoa kịp thời cho người tiêu dùng, từ đó giảm đến mức thấp nhất chi phí thiệt hại do lưu kho tồn đọng sản phẩm (Inventory Costs) để giảm toàn bủ chi phí Logistics nói chung Việc ra đời V T Đ P T đã đáp ứng những yêu cầu trên đây
N h ư vậy, V T Đ P T ra đời là kết quả của sự phát triển ngành vận tải, do nhu cầu hoàn thiện hệ thống phân phối vật chất và cũng yêu cầu và điều kiện
m à cuủc cách mạng container đặt ra
1.1.2.2 Người kinh doanh VTĐPT (MTO)
Theo Công ước của Liên hợp quốc, MTO "là bất kỳ người nào tự mình hoặc thông qua mủt người khác thay mặt cho mình, ký mủt hợp đồng
V T Đ P T và hoạt đủng như là mủt người uỷ thác chứ không phải là mủt người đại lý hoặc người thay mặt người gửi hàng hay những người chuyên chở iham gia công việc V T Đ P T và đảm nhân trách nhiệm thực hiện hợp đổng"
Quy tắc về chứng từ V T Đ P T của H ủ i nghị Liên hợp quốc về buôn bán
và phát triển, Phòng thương mại quốc tế định nghĩa như sau: "MTO là bất kỳ người nào ký kết hợp đổng V T Đ P T và nhận trách nhiệm thực hiện hợp đồng
đó như là mủt người chuyên chở" "Người chuyên chở là người thực sự thực hiện việc chuyên chở hoặc mủt phần chuyên chờ, dù người này với người kinh doanh V T Đ P T có là mủt hay không"
M T O gồm 2 loại: 1) M T O có tàu (Vessel Operating Multimodal
transport operators -VO-MTOs) và 2) M T O không có tàu (Non Vessel
Operating Multimodal transport operators - N V O - MTOs) M T O có tàu bao gồm các chủ tàu biển, kinh doanh khai thác tàu biển những m ở rủng kinh doanh cả dịch V T Đ P T Các chủ tàu này thường không sở hữu và khai thác các phương tiện vận tải đường bủ, đường sắt và đường hàng không m à phải
ký hợp đổng để chuyên chở trên các chặng đó nhằm hoàn thành hợp đồng
VTĐPr MTO không có tàu gồm có:
+ Chủ sở hữu của mủt trong các phương tiện vận tải khác khôn" phải là
tàu biển như ôtô, m á y bay, tàu hoa H ọ cung cấp dịch vụ V T Đ P T do đó phải
đi thuê các loại phương tiện vận tải họ không có
+ Những người kinh doanh dịch vụ liên quan đến vận tải như bốc dữ kho hàng
Trang 171.1.3 Dịch vụ giao nhận hàng hoa và người giao nhận - Freight
f o r w a r d e r
Đặc điểm của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ử những
nước khác nhau Sau khi ký kết hợp đổng, để quá trình vận chuyển hàng hoa
từ nước người bán sang nước người mua được bắt đầu cần phải thực hiện m ộ i loạt các công việc khác liên quan đến quá trình chuyên chở như bao bì , đóng gói, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, vận tải hàng hoa đến cảng đích, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận hàng Những công việc đó được gọi là giao nhận vận tải hàng hoa (gọi tắt là giao nhận) Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế ( F I A T A ) về dịch vụ giao nhận, dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là bất
kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoa cũng như các địch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chỏng từ liên quan đến hàng hoa Theo luật thương mại Việt Nam, dịch vụ giao nhận hàng hoa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoa từ người gửi, tổ chỏc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thù tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan đổ giao nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, cùa người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (các khách hàng) Mục tiêu của giao nhận hàng hoa
là hoàn thành đúng yêu cầu của khách hàng và thu được hiệu quả cao nhài,
lâu dài và bền vững
Nói một cách ngắn gọn, giao nhận hàng hoa là tập hợp những nghiệp
vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hoa l ừ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng) K h i hàng hoa được gửi từ nước người mua sang nước người bán ví dụ
Trang 18như gửi bằng đường biển thì phải thực hiện một l ộ trình vận chuyển tươm: đối phức tạp Cảng m à hàng hoa được xếp lên tàu trong hầu hết các trường hợp đều cách nơi hàng hoa bắt đầu hành trình vận chuyển một khoảng cách (từ nhà máy hoỏc từ kho) K h i đến cảng nước người mua, một lần nữa hàng hoa phải được vận chuyển đến điểm đến cuối cùng Quá trình trước và trong vận chuyển được thực hiện bằng nhiều phương tiện khác nhau như bàng xe tải, tàu hoa hoỏc sà lan Sự phức tạp này đòi hỏi phải tìm hiểu rõ về các sự kiện có thể xảy ra, các tài liệu văn bản, và các chi phí có liên quan Doanh nghiệp có thể tự thực hiện các công việc này và tìm ra cách tốt nhất và rẻ nhai hoỏc thuê các chuyên gia trong lĩnh vực này - những người được gọi là
người giao nhận và hoỏc môi giới (hình 1)
2 Giao hằng cho người chuyên chở
3 Chuyển hàng vào trạm giao nhân đóng gói hàng lẻ - CFS (Cargo Terminal)
4 Lưu kho tại bãi container ( Storage át stcvedore's premises)
5 Đua hàng hoa qua lan can tàu lừ móc cẩu (Loading ôn boaRÌ tiu ship's rail)
6 Chất xếp hàng hoa trên boong tàu
7 Dỡ hàng trong lan can tàu (inner board)
8 Dỡ hàng qua lan can tàu từ móc cẩu (outer board)
9 Lưu kho ở bãi conlainer
10 Khai báo hải quan
11 Đưa hàng vào trạm giao nhận đóng gói hàng lẻ
12 Giao hàng cho người mua
1 Train the Tminers ôn Multimocỉal Transport & Logistỉcs NíanagemeiU Vietnam - October 2002
Trang 19Từ S ơ đồ trên có thể thấy, trước khi tới được điếm đến cuối cùng hàng hoa phải qua rất nhiều công đoạn Vì vậy để hàng hoa vận chuyển liền mạch không gặp những trì hoãn không đáng có thì tất cả các khâu trên phải được lên k ế hoạch trước một cách kỹ lưỡng Theo xu hướng hiện nay trong kinh doanh, trự về với việc kinh doanh có trọng tâm (core-bussiness), có thế thấy các công ty như Shell và Phillips đã bỏ việc tự thực hiện giao nhận trong một nhóm m à thuê chuyên gia từ các còng ty giao nhận Những người giao nhận này sẽ sắp xếp toàn bộ việc vận chuyển hàng hoa đến điểm giao hàng cuối cùng, trong đó bao gồm cả việc lập các chứng từ thanh toán như lập hóa đơn tín dụng chứng từ, các giấy phép đăng ký.v.v
C ó thể chia người giao nhận thành các nhóm như sau: 1) môi giới hải quan; 2) người giao nhận đường biển; 3) người giao nhận đường bộ và đường sắt; 4) người giao nhận hàng không và 5) người giao nhận tập hợp
/ 1.3.1 Môi giới hải quan
Những người này thực hiện việc làm các giấy tờ hải quan như giấy
thông quan, các chứng từ nhập kho ngoại quan, làm các chứng từ chuyển tải cho vận chuyển hàng trong kho
ì.1.3.2 Người giao nhận đường bộ, đường sắc
Người giao nhận đường bộ, đường sắt sau khi nhận hàng của người gửi hàng, ngoài những trách nhiệm như một người chuyên chự đường bộ, đường sắt, họ còn cung cấp các dịch vụ khác ví dụ như làm các chứng từ cẩn thiết liên quan đến quá trình vận chuyển, tổ chức nhập kho, lưu kho hàng hoa, lấy mầu hàng, cân đo, đóng gói lại hoặc phân phối hiện vật
1.1.3.3 Người giao nhận đường biển
Hiện nay vận tải đường biển giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong chuyên chự hàng hoa trên thị trường thế giới Vận tải đường biển là ngành vặn tải chủ chốt so với các phương thức vận tải khác trong chuyên chự hàng hoa xuất nhập khẩu, nó đảm nhận chuyên chờ gần 8 0 %2
tổng khối lượng hàng hoa trong buồn bán quốc tế Níiuvên tắc "tự do đi biển" đã tạo điểu kiện thuận lợi cho ngành vận tải đường biển và nhờ đó tàu thuyền mang mọi quốc tịch được
tự đo hoạt động trên các tuyến thương mại quốc tế K h ố i lượng hàng h o a
Trang 20chuyên chở bằng đường biển quốc tế tăng nhanh qua các giai đoạn Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoa trong buôn bán quốc tế Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở trên cự ly rất dài, khối lượng lớn Tuy nhiên, vận tải đường biển không thích hợp với chuyên chớ những hàng hoa đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh, trong chuyên chở đường biển thường gặp nhiều rầi ro và nguy hiểm
Ư u điểm nổi bật nhất cầa vận tải đường biển là giá thành thấp (bằng một phần m ư ờ i so với hàng không), trọng tải tàu biển lớn, cự ly chuyên chở trung
bình dài, năng suất lao động cao V ớ i tiến bộ khoa học kỹ thuật và hoàn thiện
cơ chế quản lý trong ngành vận tải đường biển, hiệu qua kinh tế chắc chắn
ngày một tăng lên Tuy nhiên, vận tải đường biển có một số nhược điểm: vận
lải đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, tốc độ cầa tàu biển
còn thấp và việc tanh tốc độ khai thác cầa tàu biển còn bị hạn chế (tốc độ cầa
một tàu chở hàng hoa bình thường là 16-20 hải lý/giờ, tàu biển có tốc độ kỹ
thuật cao nhất cũng chỉ khoảng 35 hải lý/giở) Do đó, thời gian giao hàng cầa
vận tải đường biển chậm Vận tải đường biển không thích hợp với chuyên chở
các hàng hoa xuất nhập khẩu đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh
Từ những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nói trên cầa vận tải đường biển, ta
có thể rút ra kết luận một cách tổng quái về phạm vi áp dụng như sau:
+ Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoa trong buôn
bán quốc tế
+ Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoa khối lượng
lớn, chuyên chở trên cự ly dài nhưng không đòi hỏi thời gian giao hàng
nhanh chóng
Với đạc điểm như vậy, vận tải yêu cầu về chứng từ rất chặt chẽ và
nghiêm ngặt K h i xuất khẩu hàng hoa bằng đường biển, người giao nhận
được uy thác sẽ lo liệu hàng từ khi thông quan cho đến khi hàng được xếp lên tàu thực hiện các khâu vận chuyển liên quan đến vận tái đường biển trong đó
bao gồm cả việc làm các chứng từ và lưu kho khi cần thiết như các chứng từ
hải quan, các chứng từ với cảng và tàu (chỉ thị xếp hàng, biên lai thuyền phó
vận đơn đương biển, bản lược khai hàng hoa, phiếu kiểm đếm, sơ đổ xếp
hàng) và các chứng từ khác (hoa đơn thương mại, giấy chứng nhận xuất xứ,
phiếu đóng gói, giấy chứng nhận số lượng/ trọng lượng, chứng từ bảo
hiểm )- H ọ có kiến thức chuyên m ô n vổ đi biển trong phạm vi toàn cầu H ọ
Trang 21liên hệ thường xuyên với những người chào hàng của các tổ chức chuyên chở
nên có thể cập nhật những thay đổi mới nhất
/ 1.3.4 Người giao nhận đường hàng không
Vận tải hàng không quốc tế mang tính quốc tế cao Do đặc điểm tốc độ
cao của vận tải hàng không nên các quy định, thủ tực, chứng từ, ngôn ngữ có liên quan đến hoạt động hàng không ở những nước khác nhau thường tương
tự nhau và thống nhất trên phạm vi toàn cầu Thực tế, hầu hết các nước có ngành hàng không đều thừa nhận hay áp dựng các quy tắc, công ước quốc tế (International A i r Transport Association - I A T A ) liên quan đến hoạt động của ngành hàng không dân dựng Vận tải hàng không quốc tế là một ngành
kinh doanh tổng hợp Vận tải hàng không là ngành đòi hỏi đầu tư rất lớn như
m á y bay, sân bay, điều khiển bay và hàng loạt các dịch vự hỗ trợ khác, do đó
thời gian thu hồi vốn thường rất dài và lợi nhuận trực tiếp từ vận tải hàng
không thuộc có khi còn thua lỗ Các hãng hàng không quốc tế không mong
đợi lợi nhuận cao trực tiếp từ việc chuyên chở hàng hoa cũng như hành khách
m à họ thu lợi nhuận từ nhiều nguồn kinh doanh khác như địch vự khách sạn,
du lịch, dịch vự mặt đất, kho hàng, giao nhận Vì vậy, ngoài đầu tư vào lĩnh
vực vận chuyển, các hãng hàng không còn đầu tư vào nhiều lĩnh vực liên
doanh, liên kết L ợ i nhuận từ những ngành kinh doanh có liên quan chính là
nguồn hỗ trợ để ngành hàng không bù đắp chi phí và phát triển
Người giao nhận hàng không cũng có một vị trí không nhò trong việc
phát triển và đảm bảo lợi nhuận cho các hãng hàng không H ọ lo mọi khâu
liên quan đến vận tải hàng không kể cả làm các chứng từ cần thiết, lưu kho
hàng hoa hay phân phối hiện vật nếu yêu cầu Nhờ có m ố i liên hệ thường
xuyên với các công ty chuyên chở nên họ luôn cập nhật m ọ i thay đổi, đáp
ứng được yêu cầu của các khách hàng dù là người gửi hàng (người xuất khẩu)
hay người nhập khẩu Nếu người giao nhận là đại lý gom hàng (sẽ trình bày ở
phần sau) thì phải nhận lô hàng nguyên bằng vận đơn chù sau đó chia lẻ hàng
và giao hàng cho các chú hàng lẻ và thu hồi lại vận đơn gom hàng
1.1.3.5 Người giao nhận tập hợp (Groupage forwarders) hay người gom hàng (Consolidator)
Vai trò của người giao nhận như người chuyên chớ quay lại vổ thời
điểm đầu thế kỳ k h i m à những người giao nhận Châu  u thuê nhữnt; toa tàu
Trang 22cfif/ //íffỉtttf Mvợ/j/ù'j /tìàti eầu tú/ mả/ là 'ự/tĩì p/f/íp f>A/f dịeA tụi M//Ỉ/ ớ fừ/ệ/ Wam
nguyên từ Frankí'urt đi Munich hoặc từ Munich đi M i l a n và chấp nhận cả những gói hàng lẻ không đủ để đóng trong một toa nguyên từ những người gửi hàng và giao chúng cho những người nhận hàng thông qua đại lý của họ tại điểm đến Người giao nhận cung cấp dịch vụ này dưẩi danh nghía của họ
và tự phát hành phiếu gửi hàng (consignment note) liên quan đến những điểu kiện thương mại tiêu chuẩn của họ Vì giá thuê một toa nguyên có thể thương lượng được còn mức phí cho mỗi lô hàng lẻ lại cao nên người giao nhạn hưởng khoản chênh lệch và vãn có thể cung cấp dịch vụ cho khách hàng vẩi mức phí thấp hơn so vẩi mức phí m à các hãng tàu đưa ra
ơ Mỹ, những người hoạt động xe tải cũng cung cấp một dịch vụ iươne
tự được g ọ i là dịch vụ L T L (less-than-truck load) H ọ thường là những chuyên gia trong việc xử lý, sắp xếp hàng hoa và tận dụng tối đa dung tích giẩi hạn của xe tải Hàng hoa được họ giao đến cjo người nhận vẩi mức phí rất kinh tế V ẩ i việc phát minh ra container, thì sự xuất hiện của những người gom hàng bằng đường biển là tất yếu Những người gom hàng này (hay còn gọi là người giao nhận) nhận các gói hàng nhỏ lẻ từ những người gửi hàng tại các kho hàng hoặc các trạm giao nhận đóng gói hàng lẻ (CFS) Những gói hàng này sẽ được phân loại theo địa điểm đến và theo đó được đóng vào các container Hầu hết các dịch vụ này đều được thực hiện một cách đều đặn thường xuyên khoảng một lần mỗi tuần, và về cơ bản là giống vẩi dịch vụ m à các cùng ty tàu biển cung cấp đối vẩi hàng LCL Những người giao nhận tập hợp này cấp cho người gửi hàng một vận đơn đường biển (B/L) riêng của họ, thường được biết vẩi cái tên House B/L- vận đơn gom hàng Những hoạt động của người gom hàng đã mở rộng phạm vi hoạt động của người giao nhận K h i người giao nhận cung cấp các dịch vụ gom hàng, anh ta đã đóng vai trò một bên chính trong quá trình vận chuyển hàng hóa chứ không còn là đại lý của người gửi hàng hoặc của người chuyên chở nữa Các dịch vụ gom hàng phổ biến trong vận tải bằng đường biển và đường hàng không mặc dù những người hoạt động xe tải và đường sắt cũng cung cấp dịch vụ này Người giao nhận cơ bản -"ultimate íbnvarder" là người giao nhận không có tàu riêng N V O C C (non-vessel operating c ô m m n carrier), trên thực tế là người kết hợp tất cả các chức năng của người gửi hàng và người chuyên chở
Khái niệm người nom hàng đày là một khái niệm xuất hiện nhiều vấn
đề chưa rõ ràng Rất nhiều người giao nhận thích kinh doanh dịch vụ gom
Trang 23•phạm giũ Xun <3tuudt-£Ểp dinh 11X38
hàng hoặc tập hợp này (Groupage business) nhưng lại không chắc chắn nó thực chất là gì hoặc làm sao có thể kinh doanh lĩnh vực này m à tránh được những m ố i nguy hiểm trong kinh doanh Trong lĩnh vực giao nhận container, các từ như LCL, gom hàng hay tập hợp đều là một Các công ty tàu biển gọi
đó là L C L và hầu hết những người chuyên chở đường biển đều cung cấp dủch
vụ L C L đổ bổ sung vào hoạt động chính của họ là kinh doanh hàng container nguyên (FCL) Còn những người giao nhận thì gọi đó là gom hàng hoặc tập hợp (consolidation / groupage) khi họ chấp nhận những lô hàng nhỏ lẻ và gộp lại cho đủ trọng tải (giống như cách m à những người chuyên chở đường biến đóng các gói hàng L C L vào đủ một containcr)
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, cách m à người giao nhận và đại lý chuyên chở nhìn nhận ngành kinh doanh L C L hoặc gom hàng lại rất khác nhau Đ ố i với nhiều người chuyên chở, như đã đề cập ở trên, kinh doanh L C L chỉ là để bổ sung cho lĩnh vực kinh doanh chính của họ là FCL Trên thực tế
có những người chuyên chở ở một số nước không nhận các gói hàng lẻ L C L
vì những lý do rất khác nhau Đ ố i với những người gom hàng thì đày là lĩnh vực kinh doanh chính của họ, phần lợi nhuận chính của họ là từ việc gom hàng chứ không phải l ừ việc nhận các lô hàng nguyên (mặc dù một số người gửi hàng và nhận hàng lại nghĩ rằng những người giao nhận thu được lợi nhuận rất lớn từ việc nhận giao các lô hàng nguyên đan giản vì phí giao nhận các lô hàng FCL cao hơn nhiều so với phí hàng LCL)
1.2 Các bên tham gia trong lĩnh vực dủch vụ Logistics
Lĩnh vực Logistics bao gồm hai bộ phận chính đó là cộng đồng những người gửi hàng (shipper community) - được đủnh nghĩa là những tổ chức, cư quan sản xuất và bán sản phẩm, và cộng đồng những người cung cấp các dủch
vụ (service providcrs communitv) - là những tổ chức cung cấp các đủch vụ vận tải, phân phối và các dủch vụ có liên quan Mặc dù hai bộ phận này có vủ trí, triển vọng khác nhau những yếu tố then chốt, chủ đạo có thể tạo nên một dủch vụ Logistics hoàn hảo đó chính là thông tin Sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu vổ các chủ thể trong cộng đồng những người cung cấp dủch vụ
Trang 241.2.1 N g ư ờ i cung cấp dịch vụ Logistics "bên t h ứ b a " - T h i r d p a r t y Logistics providers
Bẽn cạnh cộng đồng những người gửi hàng - được phân loại là những
người tiêu dùng các dịch vụ vận tải và phân phối, thì thị trường Logistics được thống trị bởi các nhà cung cấp dịch vụ vận tải, lưu kho và người cung cấp dịch vụ Logistics "bén thứ ba" - Third Party Logistics Providers M ộ t xu hướng hiỗn nay của các tổ chức, công ty về viỗc quản lý chuỗi cung cấp của
họ là sử dụng một phần hoặc toàn bộ các chức năng dịch vụ Logistics của bên thứ ba - Third Party Logistics Providers - 3PLs Có thể định nghĩa đây là các công ty độc lập tự thiết kế, thực hiỗn và/ hoặc quản lý những nhu cầu Logistics chuỗi cung cấp của khách hàng Yếu tố chủ chốt phân biỗt giữa một 3PLs và một người cung cấp dịch vụ vận tải là phần lợi nhuận tăng thêm của người cung cấp 3PLs thu được dựa vào nguồn thông tin và kiến thức chuyên
m ô n cung cấp chứ không phải là cung cấp một dịch vụ phổ biến, không có tính phân biỗt với chi phí thấp nhất (cạnh tranh về giá) Nhiều tổ chức 3PLs
đã phát triển hỗ thống toàn cầu vừa bằng cách thành lập công ty riêng của họ
ở những vị trí chủ chốt, hay bằng cách thiết lập mối liên kết với những người cung cấp dịch vụ ở những nước khác Những tổ chức 3PLs này tạo điều kiỗn thuận lợi cho viỗc mở rộng các doanh nghiỗp, cung cấp kiến thức chi tiết vồ những thị trường Logistics phong phú trong đó bao gồm cả thông tin về vận tải, Logistics và các thông tin khác có liên quan Những thông tin then chốt liên quan đến lưu kho hàng và phân phối, các chứng từ hải quan quốc tế, mức phí giao nhận đa phương thức và các điều khoản thương mại quốc tế khác có liên quan đều được người cung cấp 3PLs thu thập và xử lý
Bên cạnh viỗc cung cấp các thông tin chuyên m ô n có giá trị, chìa khoa
đế các tổ chức 3PLs có thể quàn lý chuỗi cung cấp toàn cầu phức tạp với những quy tắc và nhiều vấn đề khác chính là nhờ vào hỗ thống cơ sở hạ tầng
ưu thế và viỗc đàm phán cước phí dựa trên phạm vi cơ sở khá rộng, tạo nôn
ưu thế về chi phí Thêm vào đó, đối với các công ty có các nhu cầu về sản phẩm mang tính thời vụ thì viỗc sử dụng các dịch vụ Logistics của bẽn thứ ba
có thể chuyển từ chi phí cố định sang chi phí biến đổi về mấu chốt, điều này
có thể mang lại lợi nhuận đáng kể Theo nghiên cứu của Emst & Young và trường Đ ạ i học của Tennessee, những tổ chức sử dụng dịch vụ của các công
ty 3PLs đã giảm được chi phí Logistics trung bình khoảng 7,8%; giâm tài sản
Trang 25'Phạm OM Xan CỊhanli - Móp <Auh 11X38
đầu tư Logistics 2 1 % và giảm chu trình thòi gian đặt hàng từ 6,3 xuống còn 3,5 ngày
Sự phát triển đáng kể của công nghệ thông tin - điểm mấu chốt cho phíp phát triển một nền kinh tế toàn cầu mang xu hướng thông tin, vừa mở ra những cư hội cũng như những thử thách trong lĩnh vực chuỗi cung cấp Logistics Phần lớn các công ty quy m ô lớn đều đầu lư vào hệ thống doanh nghiệp lớn và đang ngày càng đòi hằi đối tác chuỗi cung cấp Logistics của
họ thắt chặt m ố i liên kết hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất dòng vận động thông tin thông qua chuỗi cung cấp Những người cung cấp 3PLs đã có những phản ứng lại trước những thách thức này bằng cách thiết lập những m ố i liên kết với những công ty phẩn mềm độc lập hoặc tự phát triển công nghệ thông tin trong nội bộ tổ chức Chính điều này lại mở ra một thị trường cho những người cung cấp phần mềm, là những người đã đáp ứng được một loạt những đòi hằi của hệ thống quản lý chuỗi cung cấp -
Supply Chain Execution (SCE) Hệ thống này bao gồm hệ thống quản lý âún
đạt hàng Order Management Systems (OMS), hệ thống quản lý lưu kho Warehouse Management Systems (WMS) và hệ thống quản lý vận tải -Transportation Management Systems (TMS)
-N h ư vậy, những người cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ thông tin - chìa khoa để phát triển một nền công nghiệp mang xu hướng thông tin (inibrmation intensive industry), đã đáp ứng được những nhu cầu ngày càng tăng về phần mềm điều hành chuỗi cung cấp Những ứng dụng này là vổ quản lý d ữ liệu, những áp dụng tiềm năng thương mại điện tử (ÉC) và trình đơn web cho phép phát triển công nghệ
Những ứng dụng cho phép các tổ chức (hoặc người cung cấp dịch cu 3PLs của họ) tối ưu hoa được hệ thống lưu kho hàng hoa, phân phối và vận tải, vận chuyến hàng hoa bàng nhiều phương thức vận tải và thực hiện các vụ giao dịch thông qua hệ thống truyền thông d ữ liệu - Electronic Data Interchange (EDI) Việc trao đổi tài liệu doanh thương bằng phương pháp điện l ử ngày càng được sử dụng phổ biến, mở ra những cơ hội nhũn" người cung cấp giải pháp giá trị gia tăng trong lĩnh vực này Trước đày việc trao đổi thông tin dựa trên những chứng từ thương mại và vận tải truyền thống vói những bộ chứng từ giao dịch được tiêu chuẩn hoa trao đổi giữa các đối tác
Trang 26(Việc trao đổi tài liệu bằng phương pháp điện tử có thể bao hàm một tỷ lệ lớn
dữ liệu trao đối theo cách truyền thống trước đây)
Những chi phí liên quan đến việc trao đổi trên trong nhiều trường hợp
đã gây trở ngại cho các tổ chức có quy m ô nhỏ do nó đòi hỏi phủi chuyến các
dữ liệu đầu vào nhập một cách thủ công vào trong hệ thống Logistics Việc
sử dụng Intemet, hay phương pháp diện tử trên phạm ví toàn cầu dã thay đổi mọi thứ Hiện nay các đối tác Logistics hoàn toàn có thể liên hệ với nhau dù với quy m ô nhỏ tới đâu, với những dòng thông tin thời gian thực trên phạm vi toàn cầu Thậm chí đối với các tổ chức không chọn việc sử dụng các chức năng dịch vụ Logistics của người thứ ba thì nhu cầu hợp nhất dữ liệu chuồi cung cấp Logistics trong hệ thống nội bộ của các công ty này đang khôns ngừng tăng lên Trên thực tế, một chuỗi cung cấp toàn cầu thường bao gồm nhiều đối tác làm ăn - các nhà cung cấp, các khách hàng và những người cung cấp dịch vụ - sẽ không thể tồn tại m à không có nhân tố quyết định là sự trao đổi thông tin thời gian thực
1.2.2 Tổ chức Inter-modal
Inter-modal được định nghĩa là "thực hiện hay có liên quan đến quá trình vận tủi bằng hơn một phương thức vận chuyển trong một cuộc hành trình" M ộ t định nghĩa hoàn chỉnh hơn là "khái niệm về việc vận chuyển hành khách và hàng hoa bằng hai hoặc nhiều hơn hai phương thức khác nhau
m à trong đó tất củ các phần việc trong quá trình vận chuyển bao gồm cá trao đổi thông tin đều được liên kết và thống nhất với nhau một cách hiệu quủ" ( n g u ồ n - Intermodal Freight Transportation -4"'Edition)
Lĩnh vực này của ngành công nghiệp vận tủi đang có những bước phái triển đáng kể Chìa khoa để có thể thực hiện thành công một "quá trình vặn chuyển hàng hoa bằng hai hoặc hơn hai phương thức vận tủi một cách thống nhất liền mạch và linh động" chính là việc trao đổi thông tin kịp thời và chính xác giữa các bên Việc sử dụng E D I cũng như các công nghệ khác đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin đó đồng thời mớ ra nhữnt;
cơ hội mới trong lĩnh vực quủn lý thông tin Logistics Có nhiều chú thổ tham gia trong dòng di chuyển của hàng hoa bằng phương thức Intcr-modal đó là người chuyên chứ, người giao nhận, trạm containcr cuối cùng, người được uy
Trang 27quyền, v.v M u ố n thực hiện thành công đòi hỏi phải có khả năng liên kết tất
cả những chủ thể trẽn trong hệ thống
1.2.3 Người vận tải - Transport providers
Ngành công nghiệp vận tải bao gồm những nhà cung cấp dịch vụ sau: dịch vụ vận tải đường sắt, đường bộ, đường thúy và đường hàng không Chi tiết về tửng dịch vụ vận tải đã được trình bày kỹ ử phần 1.1.3 1.2.4 Người cung cấp dịch vụ lưu kho
Bên cạnh hệ thống lưu kho bãi của người gửi hàng và của tổ chức 3PLs, những người kinh doanh dịch vụ lưu kho kiếm lời cũng cung cấp những cơ sở vật chất lưu kho cho cả hàng khô và hàng cần bảo quản trong điều kiện nhiệt
độ đặc biệt Đ ó có thể là kho hàng theo hợp đồng - Contract Warehousing hay kho hàng còng cộng - Public Warehousing facilities
Contract VVarehousing: các tổ chức cung cấp dịch vụ lưu kho cho một khách hàng thường dựa trên một hợp đồng dài hạn Các dịch vụ được cung cấp có thể bao gồm các dịch vụ giá trị gia tăng phụ thêm - value added services - ví dụ như lắp ráp, cấu hình, v.v Đây là một địch vụ đang ngày càng phát triển phần lớn là do yêu cẩu về kho hàng có sử dụng web
Public \Varchousing: những kho hàng này chứa hàng cho nhiều khách hàng khác nhau dù là ngắn hạn, theo m ù a hay dài hạn Bên cạnh dịch vụ quản lý lưu kho và vận tải, những người kinh doanh dịch vụ này còn cung cấp
cả các dịch vụ giá trị gia tăng nếu có yêu cầu
Tcmperaturc Controlled Warehousing/Frozen Storage - kho hàng có điều chình nhiệt độ/ kho làm lạnh: những kho hàng này cũng giống như các kho hàng trên, điểm khác biệt cư bản là chúng có thế điều chình được nhiệt độ tuy theo yêu cầu của mật hàng đạc lưu kho - làm lạnh hoặc làm đông lạnh, V.V
Loại kho này được sử dụng nhiều trong công nghiệp thực phẩm và để đáp ứng nhu cầu của thị trường về các dịch vụ giá trị gia tăng ngày càng tăng
Các nhà cung cấp dịch vụ lưu kho khác: bên cạnh những dịch vụ lưu kho truyền thống trên, còn có những hình thức lưu kho chuyên dụng khác như phân phối trong nội địa, hoặc lưu kho và phân phối những hàng hoa lưu chuyển chậm hay hàng hoa nguy hiểm
Trang 28Nói tóm lại, tất cả nhưng người cung cấp dịch vụ lưu kho đều đáp thìa
những nhu cầu của thị trường và cung cấp cả các dịch vụ giá trị gia tăng bao
gồm việc cấu hình, bước lắp ráp cuối cùng hoặc các chức năng khác thường
đưỏc thực hiện như một phần của bước "hoàn thiện cuối cùng" trong quá
trình sản xuất Điều này đang ngày càng đòi hỏi sự hỏp nhất với hệ thống lập
k ế hoạch quản lý nguồn lực doanh nghiệp - Entcrprisc Resource Planning
(ERP) của khách hàng và những hệ thống chủ chốt khác
1.2.5 Môi giới hải quan - Customs Brokers
K h i hàng hoa đưỏc vận chuyển qua biên giới của các nước thì đòi hỏi
phải hoàn thành những thủ tục chứng từ cần thiết tuân theo các quy định hải
quan và luật lệ khác Những người môi giới hải quan đã đưỏc cấp bằng cung
cấp các dịch vụ trong cả hai lĩnh vực nhập khẩu và xuất khẩu Thêm vào đó
hàng hoa chuyên chở đưỏc gom và vận chuyển trên toàn cầu thông qua
những người giao nhận đa phương thức quốc tế (international multi-modal
Freight Forwarders), là những người không sở hữu hoặc không trực tiếp vận
hành các phương tiện, đổng thời họ có thể hành động như một đại lý và cung
cấp các dịch vụ phụ thêm
1.2.6 Hệ thống quản lý chuỗi cung cấp - Supply Chain Management
Systems (SCM) - Supply Chain Execution Systems (SCE)
M ộ i trong những biện pháp then chốt để có thể quản lý đưỏc chuỗi cung
cấp hỏp nhất chính là chi phí tổn kho - ở những điểm nút trùng lặp trên cơ sử
tính bất ổn và không đoán trước đưỏc của các quy trình chuỗi cung cấp Loại
bỏ đưỏc việc nhập d ữ liệu trùng lặp sẽ có thể giảm đưỏc chi phí ở mỗi đầu
mối cung cấp Có hai bộ phận chức năng cùa phần mềm quyết định trong
việc quản lý nhập dữ liệu đó là:
Hệ thống lập kế hoạch quản lý nguồn lực doanh nghiệp
-Enteiprise Resource Planning (ERP): hệ thống này thực hiện các chức năng
trong nội bộ doanh nghiệp (inter-enterprise)
Hệ thống điều hành chuồi cung cấp - Supplv chain Execution
systems (SCE): tập trung vào việc quản lý các chức năng đưỏc thực hiện bên
ngoài doanh nghiệp (extra-enterprise/ suppiy chain)
Trang 29<J)l,ạm Qlạxún gíltanli -Móp dinh 11X38
Vì vậy do các tổ chức hiện nay đang mở rộng mục tiêu toàn cầu của họ thông qua việc hợp tác với các đối tác chuỗi cung cấp và thương mại khác nên cần thiết phồi đồm bồo sự hợp nhất trong các dữ liệu kinh doanh chú chốt trong cồ hai hệ thống ERP và SCE
Hệ thống SCE bao gồm: hệ thống quồn lý đơn đặt hàng - Order management systems (OMS); hệ thống quồm lý lưu kho - Warchousc management systems (WMS) và hệ thông quồn lý vận tồi - Transportation Managemcnt systems (TMS) Sự kết hợp việc áp dụng cồ ba hệ thống OMS,
W M S và TMS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ thông tin giữa các đối tác Logistics trong chuỗi cung cấp Điều này sẽ loại bỏ được những bất trắc và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giồm chi phí hàng tổn kho
Những hệ thống này cho phép người sử dụng giám sát được hoạt động của chuỗi cung cấp; phát hiện những thay đổi trong nhu cầu (và nó liên quan thê nào đến nguồn cung cấp) và sẽ cho phép một chuỗi cung cấp tối ưu Bôn cạnh khồ năng quàn lý của những ứng dụng phần mềm quồn lý chuỗi cung cấp này còn có những công cụ phần mềm khác cung cấp những chức năng lập kế hoạch và phồn ứng một cách năng động - những chức năng này bao gồm những chương trình lèn kế hoạch và lập mục tiêu tiên bộ (advanccd planning and scheduling - APS) có thể cung cấp những phân tích giồ định
"what i f ' và hỗ trợ cho việc ra quyết định
Những lợi ích cơ bồn của những hệ thống này chỉ đạt được khi những hoạt động Logistics tốt nhất được bao hàm trong quá trình thực hiện he-thong, chú ý đồm bồo các quy trình giá trị gia tăng, tránh việc kéo dài các quá trình kinh doanh hiện hành K h i sử dụng hệ thống này cần thực hiện cồ việc xác định nhu cầu thông tin, vấn đề tính toán thời gian hợp lý và nhũn"
cơ chế thông báo đặc biệt trong trường hợp có sự sai khác, không thống nhất Việc trao đổi thõng tin giữa các hệ thống áp dụng này cũng như đối với hệ thống pháp luật và hệ thống ngoài doanh nghiệp có thể thực hiện được thông qua nhiều công nghệ khác nhau như: truyền tin thông qua EDI, các chương trình ứng dụng Intemet, middlcvvare hoặc các công cụ phần mồm thư tín khác Các d ữ liệu phồi được trao đổi trong thời gian thực tránh những sai lầm thường gặp về thông tin quá cũ hoặc chỉ mang tính dự đoán "store and forward" hoặc xử lý thông tin theo khối
Trang 301.3 Địa vị pháp lý, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm và của người giao nhận
1.3.1 Địa vị pháp lý của người giao nhận
Do thiếu luật lệ quốc tế về lĩnh vực giao nhận, địa vị pháp lý của người giao nhận ở lừng nước khác nhau, tuy theo luật pháp ở nước đó Nói chung ứ những nước có luật tập tục (common law) - là luật không thành văn, thõng dụng trong các nước thuộc khối liên hiệp Anh, hình thành trên cơ sở tập quán phổ biến trong quan hệ dân sự nhiều thế kể - thì địa vị pháp lý đó dựa trên khái niệm về đại lý Người giao nhận lấy danh nghĩa của người uy thác (tức
là người gửi hàng hay người nhận hàng) để giao dịch cho công việc của người
uy thác Hoạt động của người giao nhận khi đó phụ thuộc vào những quy tắc truyền thống về đại lý, như việc mẫn cán khi [hực hiện nhiệm vụ của mình, phải trung thực với người uy thác, tuân theo những chỉ dẫn hợp lý của người
uy thác, mặt khác được hưởng những quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm phù hợp với vai trò của một đại lý Trong trường hợp người giao nhận đảm nhiệm vai trò của người uy thác (người uể thác là người cho phép và chì đại một người khác - người đại lý - hành động cho lợi ích của mình, chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của mình) tự mình ký kết hợp đồng sử dụng cho người chuyên chở và các đại lý, thì anh ta không được hưởng những quyền lợi nói trên, anh ta phải chịu cho cả quá trình vận tải hàng hoa kể cả khi hàng nằm trong tay những người chuyên chở và địa lý m à anh ta sử dụng
Tuy nhiên trong thực tế, thường có khác biệt tuy theo loại dịch vụ m à người giao nhận đảm nhiệm Chẳng hạn như khi người giao nhận chịu trách nhiệm lo liệu vận tải bộ, tự mình vận chuyển hàng hoa, người giao nhận đảm nhận vai trò người uể thác nhưng nếu như người uể thác có một đại lý m à khách hàng của người giao nhận biết và đổng ý chỉ định thì người giao nhận nhận làm dịch vụ gom hàng và cấp vận đơn riêng của mình thì người giao nhận trở thành người uy thác
ỏ những nước có luật dân sự (Civil Law) - là nơi luật quy định quyền hạn và việc bồi thường của mỏi cá nhân - thì địa vị pháp lý, quyền lợi và nghĩa vụ cùa những người giao nhận giữa các nước có khác nhau Thông thường những người giao nhận ử những nước đó lấy danh nghĩa của mình
Trang 31/phạm ĩriiị Xim Qtuudt - MAp cAnli 11X38
giao dịch cho công việc của người uy thác, họ vừa là người uy thác, vừa là đại
lý Đ ố i với người uy thác (người nhận hàng hay người gửi hàng) họ được coi
là đại lý của người uy thác và đối với người chuyên chở thì h ọ lại là người uy thác Tuy nhiên, thể chế mỗi nước có những điểm khác nhau Ví dả Pháp là một nước có luật dân sự, ngoài trách nhiệm về các hoạt động giao nhận người giao nhận còn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng đắn hợp đồng vận tải đã đăng ký về phương diện này, người giao nhận thường được coi như người chuyên chở K h i có trách nhiệm nảy sinh trong việc thực hiện vận tải thực sự, luật của Pháp cho phép chủ hàng có quyền kiện người giao nhận hoặc người chuyên chờ Song Đ ứ c cũng là m ộ i nước có luật dân sự thì địa vị pháp lý của người giao nhận thực hiện hợp đồng vận tải trừ phi bản thân anh ta trực tiếp thực hiện hợp đồng vận tải
Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế ( F I A T A ) đã soạn thảo một bản mẫu Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn để các nước tham khảo xây dảm: các điều kiện cho ngành giao nhận của mình, giải thích rõ ràng các nghĩa vả, quyền lợi và trách nhiệm của người giao nhận Bản mẫu này có một số điểm chính:
Người giao nhận phải:
+ Tiến hành chăm sóc chu đáo hàng hoa được uỷ thác
+ Điểu hành và lo liệu vận tải hàng hoa được uỷ thác theo chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề những vấn đề liên quan đến hàng hoa đó
+ Người giao nhận không nhận đảm bảo hàng đến vào một ngày nhất định, có quyền cẩm g i ữ hàng khi khách hàng của mình không thanh toán các khoản chi phí
+ Chỉ chịu trách nhiệm về lỏi lầm cùa bản thân mình và người làm công cho mình không chịu trách nhiệm về sai sót của bên thứ ba, miễn là đã tỏ ra mẫn cán thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba
N h i ề u Hiệp hội coi "Điền kiện kinh doanh tiêu chuẩn" là m ộ i trong những phương tiện chủ yếu nhằm duy trì và nàng cao tiêu chuẩn nghề nghiệp
Trang 32của ngành giao nhận và đã thông qua "Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn" cho hội viên của mình làm căn cứ hợp đồng hoặc đính kèm hợp đổng ký với khách hàng
Những điều kiện này thường được hình thành phù hợp với tập quán thương mại hay thể chế pháp lý hiện hành ở tầng nước Trong bản "Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn" của các nước Malaysia, Indonesia, Thái Lan, nội dung có một số điểm:
+ Bản điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn có 3 phẩn:
Phần điều kiện chung
Phần doanh nghiệp đóng vai trò đại lý
Phần công ty đóng vai trò uy thác
+ Công ty giao nhận có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ với tinh thần khẩn trương, khéo léo, có cân nhắc và quan tâm thích đáng theo sự đòi hỏi hợp lý của nghề nghiệp, tiến hành những bước hợp lý để thực hiện chỉ thị của khách hàng bảo vệ lợi ích của khách hàng khi thực hiện công việc
+ Có quy định rõ về miễn trách, giới hạn bồi thường tổn thất
+ X u hướng chung là người giao nhận muốn đóng vai trò đại lý, nhưnc khi đã lấy danh nghĩa của mình đứng ra là bên uỷ thác ký kết hợp đồng để thực hiện chỉ thị của khách hàng, thì phải chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hoa xảy ra trong quá trình tầ khi nhận hàng cho đến khi giao hàng
Ớ những nước chưa có điểu kiện kinh doanh tiêu chuẩn thì hợp đồng giữa người giao nhận và khách hàng quy định những quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm m ỗ i bên
1.3.2 Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận
Tầ những cơ sở pháp lý nói trên, có thể phân biệt quyền hạn, nghĩa vụ
và trách nhiệm của người giao nhận khi đóng vai trò đại lý và khi đóng vai trò người uy thác Ớ địa vị nào, người giao nhận cũng phải chăm sóc chu đáo hàng hoa được uy thác, thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề có liên quan đến vận tải hàng hoa Nhưng khi là đại lý, người giao nhận chịu trách nhiệm do lỗi lầm, sai sót của bản thân mình và những
Trang 33người dưới quyền (cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp) Lõi lầm, sai sót đó
có thể là: giao hàng trái chỉ dẫn, gửi sai địa chỉ, lập chứng nhầm lẫn, làm sai thù tục hài quan, quên tlrông báo khiến hàng phải lưu kho tốn kém v.v Người giao nhận không chịu trách nhiệm về tổn thởt do lỗi lầm, sai sót của bên thứ ba (người chuyên chở, người ký hợp đổng phụ, nhận lại dịch vụ v.v ) miễn là người giao nhận đã biểu hiện sự cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bôn thứ ba đó Khi người giao nhận đóng vai trò người uy thác thì ngoài những trách nhiệm của đại lý nói trên, người giao nhận còn chịu trách nhiệm về cả những hành vi và sơ suởt của bên thứ ba m à người giao nhận sử dụng để thực hiện hợp đồng Ó trường hợp này người giao nhận thường thương lượng với khách hàng giá dịch vụ (giá khoán, giá cả gói), chứ không phải chỉ nhận hoa hồng như đại lý Người giao nhận thường đóng vai trò người uy thác khi thu gom hàng lẻ gửi đi, khi kinh doanh vận tải đa phương thức, khi đảm nhận [ự vặn chuyển hàng hoa hay nhận bảo quản hàng hoa trong kho của mình
Trong việc hình thành những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, người giao nhận được hưởng một số miễn trừ trách nhiệm m à lẽ ra họ phải chịu Trong luật tập tục, người giao nhận k h i hoạt động như người chuyên chứ (chang hạn khi người giao nhận tự làm vận tải bộ) là một người chuyên chở
"công cộng", người giao nhận phải chịu trách nhiệm về tổn thởt hàng hoa trừ trường hợp tổn thởt do nội tì của hàng hoa, do thiên tai hay những nhàn tố khác được miễn trừ trách nhiệm theo luật tập tục Trong thực tế, người giao nhận không phải là "người chuyên chở công cộng", hơn nữa, việc những người giao nhận kiên quyết giành quyền chởp nhận hay từ chối chuyên chở các lô hàng (không phải là luôn đứng ra chởp nhận bởt cứ hàng hoa nào được yêu cầu chuyên chở) giúp người giao nhận vững vàng lập trường của mình là người giao nhận thực hiện bình thường chức năng của người vận tải riêng chứ không phải là người vận tải công cộng
Trang 34C H Ư Ơ N G 2
Q U A T R Ì N H P H Á T T R I Ể N C Ủ A L O G I S T I C S V À xu H Ư Ớ N G
L O G I S T I C S T O À N C Ẩ U
2.1 Quá trình phát triển của dịch vụ Logistics
2.1.1 Sự thay đổi trong vai trò của người giao nhận
2.1.1.1 Giai đoạn 1: vai trò truyền thống như người tư vấn cho người gửi hàng
Người giao nhận hành động như một đại lý thanh toán và chuyển hàng clcaring and forwarding agent Ở vai trò này, người giao nhận hành động như một đại lý của người gửi hàng hoấc người nhận hàng và ràng buộc người gửi hàng hoấc người nhận hàng như một bên chính trong vụ giao dịch đó
-2.1.1.2 Giai đoạn 2: vai trò trung gian như người gom hàng
Nguôi giao nhận thực hiện một số công việc nhất định ví dụ như gom hàng, chuyên chở hàng hoa bằng đường bộ - road haulagc và khai báo hải quan với vị trí như là chủ hàng Trên thực tế, những người giao nhận này thực hiện tất cả các chức năng trong chuỗi vận tải và có thể tổ chức thực hiện loàn
bộ việc vận chuyển từ nhà máy của người gửi hàng cho đến cảng đến Tuy nhiên họ không tự phát hành chứng từ vận tải của chính họ trên quãng đường vận tải m à không phải là người chuyên chở thực sự Điều này cũng tương l ự
trong lĩnh vực vận tải đường biển Vận đem của người gom hàng "House B i n
of lading" chỉ là vận đơn nội bộ giữa nguôi gom hàng với người gửi hàng và
người gửi hàng vẫn phải tiếp tục dựa vào vận đơn đường biển - Ocean b i n o i
lading được người vận tải đường biển cấp để có thể thanh toán qua ngân hàng
và dùng trong trường hợp xảy ra mất mát hoấc tổn thất đối với hàng hoa Những người giao nhận này chỉ còn cách một bước với dịch vụ vận tải đa phương thức
Trang 352.1.1.3 Giai đoạn 3: vai trò tiến bộ như người kinh doanh vận tải đa phương thức
a Sự ra đời của vận tải đa phương thức (VTĐPT)
V T Đ P T ra đời vào cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thố kỷ
20 Nguyên nhân của sự ra đời V T Đ P T đã được trình bày cụ thể ở mục 1.1.2 trong chương Ì, trong đó đòi hỏi hoàn thiện hệ thống phân phối vát chạt Physical Distribution Managcment (hay chính là Logistics theo cách gọi hiện nay) cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng
Trong giai đoạn đầu những năm 30, V T Đ P T chưa được áp dụng nhiều Chỉ từ sau năm 1960, V T Đ P T mới được mở rộng và phát triển do kết quả tác động của nhiều yếu tố: sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, quá trình thương mại hoa toàn cầu Bước tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ trong vận tải là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển V T Đ P T Trong đó cần phải kể đến là sự hình thành phương thức vận tải bằng container (sẽ trình bày rõ hơn trong phần sau) Hàng hoa được đựng trong các thùng tiêu chuẩn (container, xe thùng, các toa chuyên dụng, sà lan ) khi phải chuyển từ dạng vận tải này sang dạng vận tải khác thì không phải dỡ ra và xếp lại Chính những ưu điểm đó đã tạo điều kiện Ihuận lợi cho sự phát triển của V T Đ P T Trong giai đoạn hiện nay các nước châu Á đang có nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh V T Đ P T đặc biệt là do tăng khối lượng hàng vận chuyển bằng container xuạt nhập khẩu Sự phát triển sôi động cùa sản xuạt hàng hoa tạo nên sự trao đổi giao lưu buôn bán phát triển với các châu lục khác nhạt là Tây  u và Bắc M ỹ làm tiền đề đạy nhanh nhu cầu V T Đ P T Các nước đang tăng cường xây dựng cơ sờ hạ tầng, xây dựng mạng đường trên đạt liền trong đó có tuyến đường sắt - đường biển thục hiện V T Đ P T nhằm đám bảo nhu cầu vận chuyển hàng ngoại thương giữa các nước trong vùng với các nước châu Âu Việc xây dựng mạng lưới đường sắt có tầm cỡ chiến lược như
là một phương án tối ưu mang lại lợi ích cho vận tải ngoại thương cùa các nước và cho sự phát triển kinh tế và xã hội nói chung
Trang 36T ó m lại, quá trình hình thành và phát triển của vận tải đa phương thức là kết quả tất yếu, khách quan của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong vận tải, sự tác động của quá trình thương mại hoa quốc tế, sự tiến bộ của công nghệ tin học cũng như nhu cầu đòi hỏi của hệ thống quản lý phân phối vật chất m à bây g i ờ là Logistics Giai đoạn này đang là thời kữ phái triển mạnh cùa V T Đ P T quốc tế
b Hai cuộc cách mạng kỹ thuật trong vận lải đường thúy
"Dim vị hoa" trong vận tải tàu chợ (Liner shipping - unitừation)
M ộ t bước phát triển quan trọng về kỹ thuật đó là việc kinh doanh vận tải tàu chợ Trong suốt những năm 60, hệ thống gửi hàng tàu chợ "san sẻ hàng"
- "break bulk" truyền thống đã trở nên ngày càng không thế đáp ứng được với khối lượng buôn bán ngày càng tăng trên thế giới, và những người quan sát tinh ý có thể thấy rằng phương thức cũ đó đã đến lúc phải được thay thế
Đ ể giải quyết vấn đề này, việc palél hoa (palletization) và container hoa (containerization) đã được đưa ra để đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển của hàng hoa Việc đóng những hàng bách hoa vào các đơn vị hàng tiêu chuẩn đã mang lại những hiệu quà rộng khắp hơn mong đợi Vào đầu những năm 60, hàng hoa được vận chuyển từ châu  u sang nước M ỹ có thể phải mất hàng tháng, nhưng 20 năm sau, chì vài ngày sau khi rời nhà máy ở vùng trung du nước Anh, chuyến xe container chở hàng đã có thể có mặt tại điểm đến ớ vùng bờ tây nước M ỹ với toàn bộ số hàng an toàn, không bị hư hỏng hay mất mát và sẵn sàng chuyển sang vận chuyển bằng tàu hoa hoặc sà lan với tỉ lệ trì hoãn thấp nhất T ó m lại, ngành công nghiệp vận tải đường thúy đã buộc các tố chức phải tự giải quyết các vấn đề cơ bản của mình và điều này đã mỏ rộng cửa cho sự phái triển kinh tế toàn cầu
Cuộc cách mạng chuyên chở hàng rời - Bulk Shippiũíi rcvolution
Cuộc cách chuyên chở hàm; rời cũng có những hiệu quá khá lớn Việc chuyên chở hàng nguyên liệu thò rời bằng đường biến lần đầu tiên được coi
Trang 37là một phần của quy trình thống nhất mua bán nguyên liệu thô m à trong việc đầu tư có thổ lãng được năng suất lao động Bằng cách thuê đội vận tải, chi phí vận chuyển hàng rời đã giảm đi theo cách là việc nhập khẩu trực tiếp nguyên liệu thô bằng đường biển cách xa hàng ngàn dặm lỉi rẻ hơn nhiều so với việc mua của người cung cấp trên đất liền chỉ cách có vài trăm dỉm Ví
dụ như: cước phí vận chuyển bằng đường sắt trên một tấn than từ Virginia
đến Jacksonville, Horida gần gấp ba lẩn cước phí vận chuyển bằng đường
biển từ Hampton Road đến Nhật Bản với khoảng cách là 10.000 dặm Nhữne tàu trọng tải lớn đóng một vai trò trung lâm trong quy trình vận tải này Trong suốt khoảng thời gian 50 năm từ năm 1945 đến 1995, các thùng chứa dầu đã được tăng kích cỡ lẽn 20 lần và kích cỡ các tàu chở hàng khô rời đã
tăng lên từ l o đến 15 lần Việc xử lý hàng ở các cảng hiệu quả hơn và sự kết
hợp chặt chẽ hơn với vận tải đất liền đã giúp hoàn thiện hơn sự thay đổi này
c Hiệu quả của container hoa trong vận tải
Vân chuyển hàng hoa X N K bằng container có thể đem lỉi một số hiệu quả kinh tế của đối với chú hàng như: giảm chi phí bao bì vận tải, giảm chi phí giao hàng, rút ngắn thời gian lưu thông hàng ho, giảm tỷ lệ tổn thất, mất mát hàng hoa trong container, tỳ lệ hao hụt chỉ vào khoảng 0,5 % đến Ì % (trong khi đó nếu vận chuyển bằng phương pháp thông thường thì tỷ lệ hao hụt tới 8 % ) , góp phần thực hiện hợp đồng mua bán ngoỉi thương, góp phần giảm bớt trách nhiệm cho chù hàng và việc trao đổi tập quán thương mỉi quốc tế, giảm được phí bảo hiểm cho hàng chuyên chờ
Đ ố i với người chuyên chở vận chuyển hàng hoa X N K bằng container đem lỉi một số hiệu quả kinh tế như sau: giảm đáng kể thời gian neo đậu ờ cảng đến để làm hàng, tiết kiệm được chi phí ở cảng làm hàng, tiết kiệm được chi phí xếp dữ, tăng năng lực khai thác tàu và khối lượng hàng hóa chuyên chở, cước phí vận chuyển có khả năng cỉnh tranh hơn, giảm bới sự khiếu nỉi
về hàng hoa trong chuyC-n chở
Trang 38Bên cạnh đó, việc chuyên chở hàng hoa X N K đường biển bằng container có một số hiệu quả xã hội Container hoa trong vận chuyển hàng hoa X N K bằng đường biển đạt những hiệu quả về mặt xã hội như sau: tăng năng suất lao động xã hội, tiết kiệm chi phí cho sản xuất xã hội, tạo điều kiện
áp dụng quy trình kỹ thuật mới trong ngành vận tải, góp phịn đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước, tạo ra những việc làm mới, dịch vụ mới, giải quyết lao động cho xã hội, đảm bảo an toàn cho lao động ngành nghề trong xã hội
Ngoài những lợi ích trên đây, container hoa trong vận tải biển còn mang lại nhiều lợi ích khác nữa như:
Thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng quan hệ hợp tác buôn bán với các nước trên thế giới
Thay đổi cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trường trong kinh doanh X N K Góp phịn cải thiện cán cân thanh loàn trong hoạt động thương mại quốc tế
Tạo điều kiện cho đất nước hoa nhập vào sự vận động chung về
k i n h tế xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới
T ó m lại, vận chuyển hàng hoa bằng containcr giữ một vị trí quan trọng
trong hệ thống vận tải phục vụ nền kinh tế quốc dân Đây là phương thức vận
tải tiên tiến đã và đang mang lại hiệu quả cao trong chuyên chở, đặc biệt là vận chuyển bằng đường biển Chính vì vậy, so với lịch sử phát triển của vận tải đường biển, vận tải container mới ra đời song tốc độ phát triển khá nhanh
Đ ế tạo khả năng áp dụng phương thức chuyên chở hiện đại này, nhiều nước trên thế giới đã xây dựng đội tàu chuyên dụng có trọng tải lớn để chuyên chở container Xây dựng các cảng container với trang thiết bị xếp dỡ hiện đại, tự động hoa cùng với hệ thống kho tàng, bến bãi địy đủ tiện nghi nhằm khai thác triệt để ưu thế cùa vận chuyển hàng hoa trong containcr bằng đường biển Vận chuyển hàng hoa bằng container ra đời đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực trong vận chuyển hàng hoa XNK, từ việc đóng hàng, phưỡn" pháp gửi hàng cũng như các chứng từ trong giao nhận vận chuyển hànc hoa Có thổ
Trang 39nói vận chuyển hàng hoa bằng container là một cuộc cách mạng trong vận chuyển, nó đã đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của vận tải đa phương thức trong giao nhận hàng hoa X N K trong đó người giao nhận đóng vai trò như một người kinh doanh vận tải đa phương thức
Trước những bước biến chuyển trình bày ở trên, người giao nhận đã mớ rộng phạm vi hoạt động của mình và đóng một vai trò m ớ i là một người kinh doanh V T Đ P T V ớ i vai trò này, người giao nhận sẽ cấp một vận đơn B/L hay một chứng từ vận tải đa phương thức cho toàn bộ hành trình cùa hàng hoa, từ lúc hàng hoa đưệc đặt dưới sự kiểm soát của người giao nhận cho đến khi hàng hoa đưệc giao cho người nhận ờ điểm đến cuối cùng Tuy nhiên, việc cấp một chứng từ vận tải đa phương thức và chấp nhận chịu trách nhiệm vổ toàn bộ việc thực hiện chuồi vận tải không có nghĩa là người giao nhận chấp nhận chịu trách nhiệm đối với mọi sai sót trong suốt hành trình Điều này còn tuy thuộc vào những điều khoản quy định trong hệp đổng vận tải Điều quan trọng là người giao nhận thực hiện giao dịch với tư cách một bôn chính trong hệp đồng với người gửi hàng, và với người chuyên chở đường biển / đường
bộ và đường sắt hay đường hàng không m à anh ta ký hệp đồng phụ
2.1.1.4 Giai đoạn 4: vai trò mới như người cung cấp đích vụ Logisãcs
ơ Bão Mỹ, Tây A u và ở các nước phát triển trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương - ESCAP, những người giao nhận hiện nay đang cung cấp một loạt các dịch vụ như những người cung cấp dịch vụ Logistics "bên thứ ba" - T h i r d p a r t y Logistics Providers
-Trong nền kinh tế toàn cầu rất sôi động hiện nay, một còng ty sản xuất phải chú ý đến những điểm ưu việt của Logistics để có thể đạt đưệc lệi thố cạnh tranh cũng chính là nhằm để thoa mãn đưệc nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng và vưệt qua đưệc các đối thủ cạnh tranh Những quy trình Logistics của một công ty (không chí gồm quá trình vận tài, xử lý và đưa nguyên vật liệu thô vào sản xuất và hoàn thiện khâu đưa thành phẩm ra thị trường) hiện nay đã vưệt ra khỏi ranh giới doanh nghiệp cũng như vưệt qua
Trang 40biên giới quốc gia và tìm đến các khách hàng cũng như người cung cấp
Không còn giống như việc kinh doanh trước đây, các quy trình quản lý cẩn
phải được thay đổi và tiếp thêm sức sống mới cùng với văn hoa cùa doanh
nghiệp Những nhà quản lý cần phải sáng tạo và có tầm nhìn xa và nắm vài
trò chỉ đạo, hướng dẫn trong việc phát triồn, mờ rộng ranh giới và hiệu quả
của hoạt động Logistics
Do nguồn tài nguyên sẩn có của nhiều doanh nghiệp sản xuất còn hạn chế,
nên sẽ là sáng suốt nếu cấc doanh nghiệp này tập trung nguồn tài nguyên của họ
vào những lĩnh vực cho phép họ cung cấp những dịch vụ có giá trị có m ộ i khòm;
hai cho khách hàng và sử dụng những dịch vụ của một bên thứ ba
-' o u t s o u r c i n g -' - đối với những hoạt động m à doanh nghiệp không có sẩn nguồn
tài nguyên hoặc không thực sự xuất sắc Việc outsourcing như trên sẽ hiệu quả và
kinh tế hơn nhiều so với việc doanh nghiệp tự làm lấy Đ ố i với những doanh
nghiệp đi sau trong lĩnh vực Logistics - đây là tình trạng của nhiều doanh nghiệp
hiện nay - thì vãn có những cơ hội đáng kồ cho họ đồ thiết lập một sự cộng tác
chiến lược với một người cung cấp dịch vụ Logistics bẽn thứ ba - Third Party
Logistics Provider - (được bắt nguồn từ trong lĩnh vực quân sự, trong chuông
tình phòng thủ chiến lược - Strategic Deíense Initiative - do Tổng thống Mỹ
Ronald Reagan đề xuất năm 1983 - '3PLs') Nếu quản lý tốt, sự cộng tác này có
thồ góp phần làm giảm chi phí, tăng hiệu quả và cải thiện đáng kồ trong việc đáp
ứng, thoa mãn nhu cầu của khách hàng
Những ưu điồm của việc sử dụng hợp lý dịch vụ Logistics của bòn thứ
ba khá nhiều ngay cho dù việc cộng tác này chỉ mang lại lợi nhuận cho các
nhà sản xuất trong một sớ lĩnh vực mũi nhọn Thứ nhai là, việc sử đụng dịch
vụ cùa 3PLs phải thật uyồn chuyồn giúp công ty có thồ tận dụng nguồn nội
lực và tài sản của mình tập trung vào những hoạt động trọng tâm tận dụng
tác dụng đòn bẩy của tài sản và kiến thức chuyên m ô n của người cung cấp
dịch vụ 3PLs đồ thu được những lợi nhuận gia tăng Hệ thống mạng lưới và
cư sở hạ tầng toàn cầu của người cung cấp dịch vụ 3PLs cần phải tạo điều
kiện cho phép công ty thích ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn trước nhũn;: điều