1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len Anh Quốc)

117 633 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len Anh Quốc)
Tác giả Phùng Minh Đức
Người hướng dẫn ThS. Đặng Thị Lan Thư
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 14,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len Anh Quốc)

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ NGOẠI T H Ư Ơ N G

TOREIGN TRADE UNIVERSinr

KHOA LUÂN TÓT NGHỈM*

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP

NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

(Nghiên cứu điển hình tại Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len Anh Quốc)

Sinh viên thục hiện : PHÙNG MINH Đ ứ c

Lớp :A15-K40D-KTNT Giáo xiêiUiướng dẫn : THS ĐẶNG THỊ LAN

T H ư V! e N

ỈA rC^Ỵi Ị

•333S

Trang 3

CHỮ VIẾT TẮT

XHCH Xã hội chù nghĩa

DNN&V Doanh nghiệp nhỏ và vừa

K H & Đ T Kế hoạch và Đẩu tư

HTX Hợp tác xã

UBND Uy ban nhân dân

DN Doanh nghiệp

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

Tp Thành phố

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

GTGT Giá trị gia tăng

YĨ ĐB Tiêu thụ đặc biệt

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam JJCA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bán

VÁT Thuế giá trị gia tăng

Trang 4

(Nghiên cệu điển hình tại còng ty TNHH dệt anh quốc) 27

2.1 Một sõi công cụ quản lý DNN& V 27

2 Ì Ì Đăng ký kinh doanh 27

2.Ì.2 Thanh tra, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với các DNN&V 34

2.3.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Dệt Anh Quốc 65

2.3.2 Tác động của quàn lý Nhà nước đối với Công ty TNHH Dệt

Anh Quốc 66

Trang 5

C H Ư Ơ N G 3 C Á C GIẢI P H Á P Đ Ể X U Ấ T N H Ằ M H O À N THIỆN Q U Ả N L Ý

DNN&V ở VIỆT N A M 73

3.1 Những giải pháp về phía Nhà nước nhằm hoàn thiện quản lý

DNN&VỞViệtNam 73

3.1.1 Quán triệt đường lối quan điểm cùa Đảng trong việc quản lý

các DNN&V ở Việt Nam 73

3.1.2 Giải pháp nâng cao hiệu quà của các cõng cụ quản lý đối với

DNN&V 77

3.1.3 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách hổ trợ

c á c D N N & V 85

3 Ì 4 Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước đối với DNN&V 94

3.2 Giải pháp đỗi với các DNN&V và Công ty TNHH Dệt Anh Quốc trong

hoàn thiện quản lý 95

3.2.1 Xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý 95

3.2.3 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý 96

3.2.4 Một số biện pháp khác 97

K Ế T L U Ậ N 99 TÀI LIỆU T H A M K H Ả O

P H Ụ L Ụ C

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng X H C N đang ngày càng được định rõ Cùng với quá trình đó, bộ phận các doanh nghiệp nhỏ và vừa ( D N N & V ) cũng đang nổi lên và chứng tỏ mình là một thành phần kinh tế quan trọng, không thể thiếu, góp phần đáng kể vào công cuộc công nghiệp hoa, hiện đại hoa đựt nước

Nước ta đang trong giai đoạn phát triển nên loại hình D N N & V chiếm số lượng lớn, 9 7 % tổng số doanh nghiệp trong cả nước [8] Hoạt động trên tựt cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, loại hình doanh nghiệp này hàng năm đóng góp một phần không nhỏ vào GDP cả nước, tạo công

ăn việc làm cho hàng chục triệu người lao động, bên cạnh đó còn khai thác các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ cùa các địa phương trên các vùng của cả nước Đồng thời với việc phát triển D N N & V đã hình thành nên một đội ngũ các nhà doanh nghiệp năng động, sáng tạo, thúc đẩy sản xuựt kinh doanh có hiệu quà hơn Các D N N & V đã trở thành một bộ phận quan trọng cùa nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoa, hiện đại hoa đựt nước

Tuy nhiên, phát triển D N N & V ở Việt Nam hiện nay còn gặp nhiều khó khăn Khả năng huy động vốn yếu, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp này vẫn còn thựp, tốc độ đổi mới công nghệ chậm, trình độ cùa đội ngũ lao động cũng nhu trình độ quản lý còn hạn chế, là những yếu tố tác động ngay từ bên trong bản thân doanh nghiệp Ngoài ra chính những phương thức quản lý khối doanh nghiệp này m à Nhà nước đưa ra cũng còn1

nhiều hạn chế và bựt cập Điều này đặt các D N N & V đứng trước những thách thức lớn trong việc tổn tại và phát triển Yêu cầu hiện nay là cần đánh giá thực trạng quàn lý D N N & V trong những năm vừa qua, từ đó đề ra những giải pháp phù hợp giúp quản lý các D N N & V hiệu quả hơn ở cả tầm vĩ m ô và vi mô Vì vậy, việc nghiên cứu để tài "Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Cõng ty sản xuựt và xuựt khẩu dệt len A n h Quốc)" là hết sức cần thiết và

có ý nghĩa thực tiễn đối với quản lý D N N & V nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung Tuy nhiên, đế tránh dàn trải, khoa luận giới hạn nghiên cứu quản lý ớ tẩm

vĩ m ô cùa Nhà nước là chủ yếu

Trang 8

Trong quá trình viết khoa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu là: kết hợp những kiến thức đã tích lũy trong quá trình học tập vói những quan sát đã thu thập được trong thực tế, kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo với việc đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế bằng các phương pháp so sánh, đánh giá phương pháp biên chứng và luôn tham khảo sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình cùa giáo viên hướng dẫn

Với đề tài "Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vạa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình t ạ i Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len A n h Quốc)", sau phần Lời nói đẩu, phần chính của khoa luận gồm ba chương:

- Chương 1: Một số ván đề chung vê quản lý DNN&V

- Chương 2: Phán tích thực trạng quản lý DNN&V ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Cóng ty TNHH Dệt Anh Quốc)

- Chương 3: Các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quản lý DNN&V ở Việt Nam

Trong quá trình hoàn thành khoa luận, tác giả đã nhận được sự chì bào tận tình của cô giáo hướng dẫn Đặng Thị Lan - Khoa Quán trị kinh doanh, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, và rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình và thiết thực

của các thầy cô giáo ở Trường Đ ạ i học Ngoại thương Hà Nội, của gia đình và

bạn bè Tác giả xin chân thành cảm ơn tất cà những sự giúp đỡ quý báu đó

Do quản lý là một vấn đề phức tạp với giới hạn của một khoa luận, chắc sẽ còn nhiều khiếm khuyết Rất mong được sự góp ý, phê bình của các thầy cô giáo

và bạn đọc để tác giả có thể hoàn thiện và nghiên cứu sâu tiếp

Hà Nội, ngày 5/11/2005

Sinh viên

Phùng Minh Đức Lớp A15 - K40D - Khoa KTNT,

Đ H Ngoại thương, Hà Nội

2

Trang 9

CHƯƠNG Ì MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN CỦA QUẢN LÝ DNN&V

1.1 VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA DNN&V TRONG NẾN KINH

Nói đến D N N & V là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên độ lớn hay quy m ô của các doanh nghiệp Việc phân loại D N N & V phụ thuộc vào loại tiêu chí sử dụng quy định giới hạn các tiêu chí phân loại quy m ô doanh nghiệp Điểm khác biệt cơ bặn trong khái niệm D N N & V giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy m ô doanh nghiệp và lượng hoa các tiêu chí ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể

Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về quy định các tiêu chí phân loại DNN&V, song có thể hiểu D N N & V theo khái niệm chung nhất như sau:

DNN&V là những cơ sỏ sản xuất - kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong nhữn% giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được

Qua nghiên cứu cho thấy tiêu chí đế xác định các D N N & V à mỗi một quốc gia là không giống nhau nhưng nhìn chung các quốc gia đều dựa vào 3 tiêu chí: số lao động, số vốn và doanh thu Tiêu chí về số lao động và vốn phặn ánh quy m ô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu chí về doanh thu lại đánh giá quy

3

Trang 10

m ô theo kết quả đẩu ra Như vậy, để phân loại D N N & V có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp, hoặc là sự kết hợp của cả 2 yếu tố đó (xem Bảng 1)

Bảng 1: Phân loại D N N & V ở một sôi nước Nước Phân loại Số lao động Sòi vốn Doanh thu

EU D N cực nhỏ <10 Không

D N n h ò <50 7 triệu ecu

DN vỞa <250 27 Đài Loan Chế tác, Nông, 0-200 80 triệu NT$ Không

lâm, ngư nghiệp 0-50 Không 100 triệu

DN vỞa 51-200 Không Không

có vốn đăng ký không quá l o tỷ đổng hoặc số lao động trung bình năm không quá 300 người" Đ ố i tượng áp dụng bao gồm:

- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

- Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước;

- Các Hợp tác xã đã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã

4

Trang 11

- Các hộ kinh doanh cá thể đãng ký theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 cùa Chính phủ về đăng ký kinh doanh (thay thế Nghị định 02/2000/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh)

Theo quy định tại Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2000 cùa Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì các hộ hộ kinh doanh cá thể vẫn thực hiện đăng

ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh theo cấp huyện, giống như Nghị định 02/2000/NĐ-CP cũ quy định Hộ kinh doanh cá thế chỉ được đăng ký kinh

doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá l o lao động, không có con dấu Nếu

hộ kinh doanh cá thể sử dụng hơn 10 lao động hoặc có hơn một địa điếm kinh doanh thì phải chuyển đậi thành doanh nghiệp Những hộ gia đình sản xuất nông lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ

có thu nhập thấp không phái đăng ký kinh doanh [2][3]

Rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước đang trong giai đoạn cậ phần hoa và phát triển quy m ô thành doanh nghiệp lớn nên để giới hạn đề tài, tác già sẽ theo hướng phân tích các D N N & V ngoài quốc doanh

1.1.2 Vị trí và vai trò của D N N & V trong nền kinh tế quốc dân

D N N & V có vị trí và vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể

cả các nước có trình độ phát triển cao Trong bối cảnh hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các D N N & V nhằm huy động tối đa các nguồn lực, phát huy tác dụng nhiều mặt đối với nén kinh tế và xã hội Vị trí, vai trò cùa các D N N & V đã được khẳng định bởi nhiều nhà phân tích kinh tế và quản lý

Nhìn chung, ờ các nước phát triển cũng như các nước đang phát'triển,

D N N & V chiếm 90 - 9 8 % tậng số doanh nghiệp một quốc gia (như Mỹ, Nhật Bản chiếm tới 97,9%; Đài Loan chiếm 97,7%; Thái Lan là 97,9%) và giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động xã hội [42], còn ở Việt Nam

là 9 7 % [8] (xem Phụ lục 1)

Đ ố i với Việt Nam, vị trí và vai trò của D N N & V lại càng quan trọng Hiện nay, Việt Nam đang ờ giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoa, hiện đại hoa với cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ tậ chức sản xuất, tậ chức quàn lý yếu kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới Yếu kém cơ bản vẫn là năng suất lao

động thấp, đất đai bình quân đẩu người thấp (khoảng o.lha/người), do đó tình

Trang 12

trạng dư thừa lao động khá nghiêm trọng Khoảng chênh lệch giữa mức sống thành thị và nông thôn cũng như chênh lệch giữa các vùng Bắc, Trung, Nam rất lớn và có xu thế ngày càng mở rộng dưới tác động cùa phát triển kinh tế thị trường trong những năm gỉn đày Quá trình đô thị hoa nông thôn chậm, tỷ lệ đô thị hoa rất thấp chỉ bằng 2 0 % so với các nước khiến cho quá trình tạo việc làm chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ diễn ra cũng chậm chạp [47] Trong bối cảnh này, D N N & V có một vai trò vô cùng quan trong, cụ thể là:

a Cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng và phong phú về sản phàm, góp phấn vào tăng trưởng kinh tế

Khu vực kinh tế các D N N & V đóng góp đáng kể vào sự phát triển và ổn định kinh tế của mỗi nước Việc phát triển D N N & V đóng góp quan trọng vào tốc

độ tăng trưởng nền kinh tế Lợi ích cao hơn m à tăng trưởng D N N & V đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoa và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, góp phỉn quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu, hạn chế buôn lậu, hàng giả trong nhiều mặt hàng thiết yếu như may mặc, thực phẩm, Đ ó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển trong những năm qua

Đặc biệt, với những nước m à trình độ phát triển kinh tế còn thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các D N N & V tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trường của nền kinh tế Chì tírth riêng trong lĩnh vực công nghiệp, trung bình hàng năm các D N N & V đã tạo

ra hơn 3 0 % giá trị sản lượng; hơn 5 0 % giá trị công nghiệp địa phương và đóng góp khoảng 2 5 % GDP Con số này ở Mỹ là hơn 5 0 % , ở Đức là 5 3 % , ờ Nhật Bản

là hơn 5 5 % [47] Theo số liệu thống kê, tính chung 9 tháng đẩu năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính đạt 308,6 nghìn tý đổng, tăng 16,5% so với cùng

kỳ năm 2004 Trong đó, doanh nghiệp Nhà nước tăng 9,6% (doanh nghiệp Nhà nước trung ương quản lý tăng 13,7%, doanh nghiệp Nhà nước địa phương quàn

lý tăng 0,5%); doanh nghiệp ngoài quốc doanh (trong đó chủ yếu là các

D N N & V ) tăng 24,8%; khu vực có vốn đỉu tư nước ngoài tăng 17,2% (dỉu mỏ và khí đốt giảm 8%, các ngành khác tăng 26,7%) (xem Phụ lục 2)

6

Trang 13

N ă m 2003, xét về mặt giá trị sản lượng, khu vực ngoài quốc doanh (mà tuyệt đại bộ phận là D N N & V ) ở Việt Nam chiếm 7 8 % mức bán lẻ, 6 4 % tống lượng vận chuyển hàng hoa, sản xuất ra 1 0 0 % sản lượng của một số loại sản phổm như đồ mộc, chiếu cói, mây tre đan, thủ công mỹ nghệ Hàng năm,

D N N & V tạo ra 4 6 % giá trị tổng sản phổm xã hội; 3 1 % giá trị tổng sản lượng cóng nghiệp [66, ngày 12/11/2003]

Trong tổng mức hàng hoa và dịch vụ bán lẻ, hàng năm D N N & V cung cấp trên dưới 8 0 % tổng mức bán lẻ của thị trường xã hội (xem Phụ lục 3) Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hoa và doanh thu dịch vụ 9 tháng năm nay theo giá thực tế ước tính đạt 334,28 nghìn tý đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tống mức tăng trên 10%, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước chỉ tăng 0,5%; kinh tế tập thế tăng 20,7%; kinh tế cá thể tăng 19,2%; kinh tế tư nhân tăng 35,1%; khu vực có vốn đổu tư nước ngoài tăng 32,9% [24] Rõ ràng là trong những năm qua, chất lượng

và hình thức của các hàng hoa và dịch vụ do khối các D N N & V tạo ra có bước tiến bộ rõ rệt, mặt hàng phong phú, đa dạng, phong cách tiếp cận thị trường hấp dẫn, do vậy đã dần chiếm lĩnh được thị trường trong nước như: hàng thực phổm tiêu dùng, hàng may mặc, đổ dùng gia đình thông thường, vật liệu xây dựng, dịch vụ vận tải và nhiều dịch vụ khác, ngân chặn được sự thống trị thị trường cùa hàng hoa Trung Quốc và các hàng hoa nhập lậu Khối lượng hàng hoa và dịch vụ xuất khổu tăng nhanh vê khối lượng và mật hàng ngày càng mở rộng

b Các DNN&V là nơi tạo ra công ăn, việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phẩn ổn định xã hội

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, thất nghiệp luôn là vấn để khiến cho các nhà quản lý và hoạch định phải trăn trở Theo số liệu thống

kê, tỷ lệ thất nghiệp cùa lao động trong độ tuổi khu vực thành thị từ năm 1996 trở lại đày dao động trong khoảng 5,0 đến 8,9% (xem Phụ lục 4) và năm 2005, con số này là 5,1%, giảm 0,5 điểm phần trăm so với 2004 [24] Thực tế cho thấy, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, m à đại bộ phận là các DNN&V, có xu hướng tạo ra nhiều việc làm hơn khu vực Nhà nước Liên tục từ năm 2000 đến 2004, khu vực Nhà nước, năm cao nhất cũng chỉ thu hút được khoảng 4,1 triệu lao

7

Trang 14

động Trong khi đó khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đã cung cấp trên dưới 8 9 %

cơ hội việc làm cho lao động ở Việt Nam (xem Bảng 2)

Bảng 2: Lao động đang làm việc tại thòi điểm 1/7 hàng n ă m

phân theo thành phần kinh t ế 1

Đơn vị: nghìn người

2000 2001 2002 2003 2004

Cả nước 37609,6 38562,7 39507,7 40573,8 41586,3

Kinh tế Nhà nước 3501,0 3603,6 3750,5 4035,4 4141.7 Kinh tế ngoài Nhà nước 33881,8 34597,0 35317,6 36018,5 36813,7 Khu vực có vốn đầu tư nước 226,8 362,1 439,6 519,9 630,9 ngoài

Nguồn: Tổng cục thống kẽ 2

Và theo báo cáo mới nhất cùa Tổng cục Thống kê, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tại thời điểm 1/7/2005 là 42,62 triệu người, tăng 2,5% so với cùng thời điểm 2004, trong đó lao động trong khu vực Nhà nước chiếm 10%, khu vực ngoài Nhà nước chiếm 88,3% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1,7% [24]

Vai trò của D N N & V trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người lao động còn lớn hơn nữa khi chi phí để tạo ra công ăn việc làm cho một người lao động trong D N N & V rồ hơn nhiều so với các khu vực khác Theo báo cáo cùa Ngân hàng thế giới thì để tạo một việc làm từ doanh nghiệp Nhà nước cần 1800 USD, trong khi khu vực tư nhân chỉ cần khoảng 800 USD [43]

Tạo công ăn việc làm cho người lao động cũng đồng nghĩa với tạo nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập các bộ phận dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các khu vực kinh tế khác nhau Khả năng sản xuất phân tán, sử dụng lao động tại chỗ vừa tạo việc làm, vừa tạo nguồn thu nhập ổn định cho dân cư trong các vùng góp phẩn quan trọng trong việc giảm bớt khoảng cách thu nhập và mức sống giữa các vùng trong nước

1 Không bao gồm lực lượng an ninh, quốc phòng

2 http://wwwigso.gov An/default.aspx?tabid=387&idmid=3&ItemID=3146

Trang 15

c Thu hút có hiệu quả nhất các nguồn vốn trong dân và tận dụng các nguồn lực xã hội khác

CÁC D N N & V thu hút được khá nhiều vốn trong dân do tính chất hiệu quả,

quy m ô sản xuất của nó đòi hỏi vốn không nhiều, thời gian thu hồi vốn nhanh Trong quá trình hoạt động, nhiều D N N & V có thể huy động vốn vay dựa trên cơ

sở họ hàng, bạn bè thân thuộc Chính vì vậy, các doanh nghiệp này có khả năng huy động, sầ dụng các khoản tiến đang phân tán và nằm i m trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư Hơn nữa, hiện nay, với chính sách động viên khuyến khích huy động sự đầu tư của dân cư cho kinh doanh nên việc thu hút vốn của dân cư đầu tư vào các D N N & V là một thắng lợi lớn của khu vực kinh tế này Kết quà điều tra cho thấy, đối với D N N & V đẩu tư vào thành lập doanh nghiệp dưới 500 triệu đồng, vốn cho một chỗ làm việc là 10 triệu đồng (bằng 1/5 đến 1/10 cùa doanh nghiệp lớn) [50] Ước tính phát triển trên 400.000 doanh nghiệp công nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đã thu hút khoảng 25.000 tỷ đổng, chưa kế phần thu hút hàng ngàn tỷ đồng nhàn rỏi khác phục vụ cho nhu cẩu ngấn hạn về vốn của doanh nghiệp [37]

Hơn nữa, với quy m ô nhỏ, gọn, được phân tán ờ hầu khắp các địa phương, vùng lãnh thổ nên các doanh nghiệp này có khả năng sầ dụng các nguồn lao động, nguyên vật liệu sần có ờ các địa phương không thích ứng với việc sản xuất quy m ô lớn, hoặc các sản phẩm phụ cùa các doanh nghiệp lớn chưa dùng đến Bên cạnh đó, còn rất nhiều tiềm năng khác trong dân chưa được khai thác, ví dụ như: tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, điều kiện tự nhiên, bí quyết nghề nghiệp Và việc phát triển các D N N & V sản xuất các hàng truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong những hướng quan trọng để sầ dụng tay nghề tinh xào của các nghệ nhân m à hiện đang có xu hướng bị mai một dần, thu hút lao động nông thôn, phát huy lợi thế của từng vùng đế phát triển kinh tế

d Góp phần quan trọng rào việc tăng nguồn hàng xuất khẩu

Với sự tiến bộ nhanh của khoa học - công nghệ, các D N N & V cùa chúng

ta vốn có ưu thế năng động lại có khả năng tiếp cận, đổi mới công nghệ nhanh chóng đã tham gia vào các ngành sản xuất kỹ thuật cao, do đó đã làm tăng sức cạnh tranh cùa các sản phẩm sản xuất ra, nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất

9

Trang 16

khẩu sang các nước trên thế giới Trong xu thế Việt Nam mở cửa nền kinh tế, từng bước hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, các D N N & V chính là chiếc cầu nối quan trọng cho sự hội nhập đó, đưa hàng hoa Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài Trong tất cả các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam hiện nay có lẽ chỉ có dầu thô là sản phẩm không phải cợa DNN&V Đáng chú ý là các D N N & V tư nhân tại nhiều địa phương đã mạnh dạn đầu tư công nghệ, mở rộng nhà xướng, tạo thêm nhiều sản phẩm có chất lượng để trao đổi Hem nữa, các sản phẩm cợa các ngành nghề truyền thống được chú trọng phát triển, tạo điều kiện cho các sản phẩm này bước ra thị trường bên ngoài ngày một tăng

e Đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình cóng nghiệp hoa, hiện đại hoa ở nước ta

Tình hình Việt Nam hiện nay (với khoảng 8 0 % dân số ờ nông thông còn nghèo nàn, lạc hậu) khi tiến hành công nghiệp hoa trong điều kiện tiềm lực về vốn còn quá thấp, phần lớn lực lượng lao động chưa được đào tạo, mặt bằng văn hóa thấp thì việc tiếp cận nhanh, hàng loạt với các loại cõng nghệ tiên tiến là điều vượt quá khả năng vé tài chính và trình độ chuyên môn kỹ thuật Chỉ có m ô hình D N N & V là thích hợp với đặc điểm cợa ta và có thể bắt kịp với sự thay đổi như vũ bão cợa khoa học kỹ thuật trên thế giới bời chúng dễ dàng đổi mới nhanh chóng hệ thống trang thiết bị Nói cách khác, quá trình phát triển D N N & V cũng

là quá trình cải tiến máy móc và thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cẩu thị trường đến một mức độ nào đó nhất định

sẽ dẫn đến đổi mới công nghệ, làm cho quá trình công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước diễn ra không chỉ ờ chiểu sâu m à cả ở chiều rộng

Trong tình hình chung cợa thế giới và nước ta hiện nay, công nghiệp hoa, hiện đại hoa phải đi đôi với bảo vệ môi trường, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoa, nhưng không gây căng thẳng về mặt xã hội như: di dân ra thành phố lớn, giải quyết nhà ở và hạ tầng xã hội Nhờ các thành tựu cợa tiến bộ khoa học công nghệ ngày nay, chẳng hạn như tiến bộ về tin học, công nghệ vệ sinh và sản xuất vật liệu mới đã cho phép doanh nghiệp tập trung thành các cụm, trung tâm công nghiệp ở các vùng lãnh thổ cợa đất nước và như vậy có thể giải quyết được yêu cầu trên

Trang 17

Như vậy, D N N & V có vai trò quan trọng không thể phủ nhận đối với sự phát triển kinh tế của nước ta Các doanh nghiệp này chính là "chân rết", là hệ thống "vệ tinh" cho các doanh nghiệp lớn trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm M ố i liên kết chặt chẽ này chính là nguồn động lực, là sức mắnh kinh tế, là cội nguồn xuất phát sự đổi mới của đất nước trong tương lai không xa

1.2 QUẢN L Ý DNN&V

1.2.1 Quản lý DNN&V

a Khái niệm và chức năng

Quản lý là cần thiết bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Khi có lao động liên kết của nhiều cá nhân và bộ phận thì tất yếu phải có hoắt động diều khiển chung đối với toàn bộ tổ chức để phối hợp hoắt động nhằm đắt mục tiêu chung

Quản lý có thể định nghĩa: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng

đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có

điều kiện biến động của môi trường." [44]

Chủ thể và đối tượng quản lý có thể là một người hoặc cả một hệ thống, tuy theo quy mô, phắm vi của hoắt động quản lý

Quá trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quàn lý Chức năng quản lý là loắi hoắt động riêng biệt của lao động quản lý, thể hiện ở những phương hướng tác động của chù thể quàn lý đến đối tượng bị quản lý Việc xác định đúng đắn chức năng quản lý là cần thiết để quản lý có hiệu quả và tổ chức

bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng gọn nhẹ, có hiệu lực, phù hợp với những chức năng quản lý

Theo phắm vi quản lý, người ta phân biệt chức nâng quản lý vĩ m ô và chức năng quản lý vi mô Theo nội dung, tuy đặc điểm, tính chất kỹ thuật của hệ thống m à phân chia quản lý thành các chức năng như: quàn lý sản xuất, quản lý marketing, quản lý nhân lực, quản lý tài chính, quàn lý công nghệ, hành chính, thông tin, v.v

Tuy nhiên đối với mọi nhà quản lý không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy m ô lớn nhỏ của tổ chức và môi trường xã hội, mọi quá trình quàn lý đều

Trang 18

được tiến hành theo giai đoạn tác động thể hiện các chức năng cơ bản: lập kế

hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra [47] Vì vậy, những chức năng này còn được

gọi là những chức năng chung của quản lý với nội dung cơ bản là:

- Chức năng lập kế hoạch hay quá trình thiết lập các mục tiêu và những phương thức hành động thích hợp để đạt mục tiêu

- Chức năng tổ chức hay quá trình xây dựng và bảo đảm nhũng hình thái

cơ cấu nhất đốnh để đạt mục tiêu

- Chức năng lãnh đạo hay quá trình chỉ đạo và thúc đẩy các thành viên làm việc một cách tốt nhất vì lợi ích cùa tổ chức

- Chức năng kiểm tra hay quá trình giám sát và chấn chỉnh các hoạt động

để đảm bảo việc thực hiện theo các kế hoạch

Trong quản lý toàn bộ nền kinh tế thì phải tuy theo nhiệm vụ của từng thời

kỳ có gắn với những lợi ích chính trố, xã hội m à việc sắp xếp thứ tự ưu tiên và nội dung các chức năng này có thể thay đổi Tuy nhiên, quản lý Nhà nước về kinh tế, trong đó có quàn lý các D N N & V gồm những chức năng cơ bản và chủ yếu sau:

- Nhà nước có chức năng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó quan trọng nhất là xây dựng một môi trường ổn đốnh

về chính trố, pháp luật, kinh tế, tâm lý xã hội, kết cấu hạ tâng Đây là những điều kiện cần thiết để các chủ doanh nghiệp, các nhà đẩu tư yên tâm bỏ vốn kinh doanh Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với khối các DNN&V, những người vốn

có nhiều e ngại, dè dặt khi khởi sự hoặc đặt chân vào một lĩnh vực mới Đồng thời, kinh doanh thuận lợi, ổn đốnh cũngf

'góp phần làm cho nền kinh tế đất nước phát triển bền vững và có hiệu quả Đây là một sự tác động qua lại, nhân quà với nhau

- Nhà nước có chức năng định hướng và hướng dẫn các thành phần kinh

Trang 19

chù kinh doanh nhưng do còn nhiều khó khăn cũng như những non kém về nhiều mặt với những lý do khác nhau nên sự nhanh nhạy nắm bắt và phân tích tình hình và xu huống vận động của thị trường vẫn còn rất hạn chế Do đó, Nhà nước

có chức năng định hướng phát triển kinh tế và hưụng dẫn các doanh nghiệp , các

tổ chức kinh tế hoạt động đúng định hướng, đúng mục tiêu kinh tế - xã hội m à Nhà nước đã đề ra Điều đó cũng đồng nghĩa với việc Nhà nước điều tiết thị trường, điều tiết nén kinh tế Đ ể thực hiện được chức năng này, Nhà nước phải sử dụng rất nhiều các biện pháp, các chính sách về đòn bẩy kinh tế, các công cụ tài chính, tín dụng và các nguồn lực kinh tế cùa đất nước Chính vì thế m à nền kinh

tế nước ta được gọi là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết cùa Nhà nước, hay nền kinh tế hàng hoa nhiều thành phân có sự quản lý của Nhà nước

- Nhà nước có chức năng tổ chức, sắp xếp lại nền kinh tế Các đơn vị kinh

tế, các vùng kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất được sắp xếp, được tố chức một cách hợp lý nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế đồng bộ, một hệ thống hiệu quả Đồng thời Nhà nước cũng tổ chức lại hệ thống quản lý cùa mình thông qua việc đổi mới và hoàn thiện thể chế, đơn giản và hợp lý hoa thủ tục hành chính Bên cạnh đó, Nhà nước còn đào tạo và đào tạo lại các cán bộ công chức của mình tạo

sự thống nhất và đồng đều trong nhận thức, trong trình độ chuyên môn, cũng như

về mặt đạo đức, lương tâm nghề nghiệp Tất cà những yếu tố này đều giúp tạo lập một nén kinh tế ổn định vững chắc có sức bật tốt, để ngày một tiến xa hơn theo kịp với các nước khác trên thế giới, nhanh chóng tham gia vào quá trình toàn câu hoa

- Nhà nước có chức năng kiểm tra, giám sát Nhà nước có các biện pháp

kinh tế thực hiện các mục tiêu của đất đất nước Đây là một quá trình kiểm tra một nhiệm vụ đang làm hay đã làm xong Kiểm tra là một chức năng cơ bản trong các mục tiêu cùa nền kinh tế và các kế hoạch, các nhiệm vụ vạch ra đế đạt tới mục tiêu này đã đang được hình thành Thực chất của việc kiêm tra là khá năng sửa chữa tới mức tối đa những sai lầm, những hạn chế trong một thời gian tối thiểu Đồng thời, việc kiểm tra cũng giúp lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật, vi phạm

13

Trang 20

chính sách của các doanh nghiệp, các cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Như vậy, để quản lý một hệ thống kinh tế như một doanh nghiệp, một ngành kinh tế hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân, chù thể quản lý phải thực hiện các tác động quản lý lên đối tượng bị quản lý để đạt mục tiêu cùa hệ thống Quản lý là nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu, mục tiêu này có thể do chủ thể quản

lý áp đớt, song cũng có thể do sự cam kết giữa chủ thể và đối tượng quản lý Sự tham gia của đối tượng quản lý vào việc xác định mục tiêu sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả quản lý

b Quản lý DNN&V ở tẩm vĩ mô

• Đối tương quản lý và chủ thể quản lý

Xét ở tầm vĩ mô, toàn bộ nén kinh tế quốc dân với tư cách là một hệ thống

có đối tương quàn lý là các quá trình kinh tế đang diễn ra với cơ cấu kinh tế tương ứng bao gồm hoạt động của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế và chù thể quàn lý là hệ thống các cơ quan quản lý từ Trung ương đến các

cơ sở gắn với cơ chế quản lý tương ứng, làm chức năng quản lý quản lý các quá trình kinh tế - xã hội ở các cấp khác nhau

Cơ cấu kinh tế là tổng hợp các bộ phận hợp thành cùng với vị trí, tỷ trọng

và quan hệ tương tác giữa các bộ phận đó trong quá trình tái sản xuất xã hội [28] Hiện nay, cơ cấu hệ thống kinh tế Việt Nam được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau:

- Theo thành phần kinh tế: gồm có 6 thành phần, đó là: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư bản Nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; kinh

tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân;

- Theo phân ngành rộng: gồm có 3 khu vực: khu vực ì gồm các ngành khai thác các sản phẩm tự nhiên, khu vực l i gồm các ngành chế biến sản phẩm khai thác tự nhiên, khu vực I U gồm các ngành dịch vụ Ở mỗi khu vực lại chia thành các ngành khác nhau Ờ Việt Nam khu vực lớn nhất là nông lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ;

Trang 21

- Theo ngành hẹp: gồm 3 lĩnh vực chính: thương mại hàng hoa và dịch vụ đời sống; công nghiệp và xây dựng; và dịch vụ vận chuyên hàng hoa, hành khách;

- Sắp xếp 61 tỉnh thành 8 vùng kinh tế: đổng bằng sòng Hổng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông c ầ u Long (tháng 11/2003, mới tách thành 64 tinh thành) Như vậy, quản lý D N N & V ở tầm vĩ m ô là việc chủ thể quản lý (bộ máy hành chính Nhà nước được phân công quản lý kinh tế) thực hiện quản lý đối với đối tượng là các doanh nghiệp có quy m ô vừa và nhỏ

Phân hê chủ thể quản lý nếu xét một cách độc lập lại bao gồm 2 phân hệ không kém phần phức tạp Đ ó là hệ thống tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý kinh tế

Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý kinh tế với tư cách là chù thể quản lý bao

gồm những bộ phận, cá nhân có trách nhiệm, quyền hạn nhất định, có mối quan

hệ phụ thuộc theo chiều dọc, chiều ngang để thực hiện các chức năng quản lý (các cơ quan quản lý từ Trung ương đến cơ sở)

Cơ chế quản lý kinh íểlà phương thức m à qua đó Nhà nước tác động vào

nền kinh tế để định hướng nền kinh tế tự vận động đến các mục tiêu đã định Cơ chế quản lý kinh tế do chủ thể quản lý hoạch định, nó mang tính chù quan Chù thể quản lý thông qua cơ cấu tổ chức quản lý (bộ máy quản lý) xây dựng, sầ dụng, hoàn thiện cơ chế để tác động có hiệu quả nhất lên đối tượng quản lý và đạt mục tiêu đề ra [47]

Bản thân cơ chế quản lý kinh tế cũng là một hệ thống bao gồm các bộ phận như: các mục tiêu quản lý kinh tế, các chính sách, công cụ quản lý kinh tế (chiến lược, kế hoạch, pháp luật ), ngoài ra, cơ chế quản lý kinh tế còn chịu sự tác động cùa các nguyên tắc và phương pháp quản lý kinh tế, các yếu tố của truyền thống, văn hoa, đạo đức [28]

• Múc tiêu quản lý

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu quản lý Nhà nước đối với các

D N N & V là trạng thái mong muốn, có thể đạt tới của các D N N & V nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ m ô và mục tiêu tổng thể của nền kinh tế Mục tiêu tổng thể là mục tiêu tổng hợp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, ván hoa, xã hội

15

Trang 22

như các kỳ Đại hội đã xác định "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vãn minh" Mục tiêu kinh tế vĩ m ô bao gồm: ổn định, tăng trường, công bằng và hiệu quả [30], hay cụ thể hơn là đảm bảo tỷ lệ thất nghiệp thấp (hay toàn dụng nguồn nhân lực); kiềm chế và ổn định lạm phát ố mức thấp; cân bằng cán cân thanh

toán ở mức độ hợp lý; ổn định tỷ giá hối đoái; phân phối hợp lý, công bằng; tăng

trưống kinh tế [49] Ngoài ra, quản lý Nhà nước đối với các D N N & V nhằm góp phần đạt được những mục tiêu dài hạn của nền kinh tế như: tăng trường kinh tế

và tăng năng suất Đây là vấn đề quan trọng vì tăng trưống kinh tế là cơ số cho

sự phát triển, còn tăng năng suất, như Lênin đã nói, là chìa khoa cho thắng lợi của phương thức sản xuất này đối với phương thức sản xuất khác

Cụ thể hơn, quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp, trong đó có

D N N & V nhằm khuyến khích những ưu thế và hạn chế nhũng khuyết tật của thành phần kinh tế này:

- Đ ả m bảo cho các D N N & V kinh doanh đúng pháp luật, phát triển đúng hướng theo định hướng X H C N ố nước ta

- Tạo lập môi trường để các D N N & V yên tâm làm ăn, phát huy hơn nữa tiềm năng và vai trò của các D N N & V trong việc tạo việc làm, thu hút vốn vào sản xuất, kinh doanh, góp phần tăng trưống kinh tế đất nước

- Phát huy tính năng động, thích ứng nhanh, hiệu quả cao của các

D N N & V trong cơ chế thị trường

Làm cho các D N N & V kinh doanh có hiệu quả, ngày càng vãn minh, hiện đại

- Hạn chế những khiếm khuyết cùa các D N N & V như xu hướng độc quyền, tư nhân, xu hướng chạy theo lợi ích cục bộ, bộ phận và bóc lột vì tư lợi

- Kết hợp hài hoa lợi ích hợp pháp giữa các chù thể trong nền kinh tế thị trường, đó là: lợi ích quốc gia, lợi ích của địa phương, lợi ích của chủ doanh nghiệp, lợi ích của người lao động và lợi ích của các đối tượng khác

• Nôi dune của quản /ý

Nội dung cùa quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế trên tổng thể xuất phát

từ chức năng của quản lý Nhà nước, bao gồm: tạo lập môi trường kinh doanh,

Trang 23

định hướng và hướng dẫn, điều tiết, kiểm soát Điều 114 Luật Doanh nghiệp có quy định một số nối dung cu thể của quản lý Nhà nước như sau:

- Ban hành, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp

- Tổ chức đãng ký kinh doanh và hướng dẫn đãng ký kinh doanh

- Tổ chức thực hiện và quản lý đào tạo người quản lý doanh nghiệp, cán bộ quản lý Nhà nước và đội ngũ công nhân lành nghề

- Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của chiến lưầc, quy hoạch phát triển kinh t ế - x ã hội

- Kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chế độ báo cáo tài chính định kỳ và báo cáo khác

c Quản lý DNN&V ở tầm vi mô

Ớ tầm vi mô, hiện nay, để nói về quản lý ở phạm vị các doanh nghiệp, người ta thường sử dụng thuật ngữ "quản trị" Và quản trị doanh nghiệp đưầc định nghĩa như sau:

Quản trị doanh nghiệp là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp,

sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt đưầc mục tiêu đề ra của doanh nghiệp theo đúng luật định và thông lệ của xã hội

Trong một doanh nghiệp nhỏ độc lập đối tưầng bị quản lý là người lao động và các tiềm năng của doanh nghiệp, còn chủ thể quản lý là chủ thể doanh nghiệp cùng bộ máy quản lý, có phân hệ cơ chế nội bộ phù hầp với pháp luật và

cơ chế quản lý vĩ mô

Ở mức tập đoàn các doanh nghiệp hoặc tổng công ty, đối tưầng còn bao gồm các đơn vị, các doanh nghiệp thành viên với sự độc lập tương đối ớ các mức khác nhau

1.2.2 Yêu cầu về hoàn thiện quản lý DNN& V ở Việt Nam

Hoàn thiện quản lý là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, vì bản thân bất

cứ mót nền kinh tế nào cũng có xu hướng vân đông phát triển theo xu hướng

Ị T H ÍT V I Ễ N

•"' :' Ì 17

í £ D r i

Trang 24

xoáy trôn ốc, ngày một cao hơn Vì vậy, đổi mới, hoàn thiện quản lý nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng là việc phải làm thường xuyên

a Một số vấn đế đòi hỏi phải tăng cường quản lý đối với DNN&V

Các D N N & V của nước ta mặc dù trong mỗi bước trên đà phát triển đã thể hiện một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế xã hội, song trong cơ chế thị trường nó cũng đã bộc lộ những yếu kém của mình:

- Hứn chế về tài chính:

Hứn chế này bộc lộ qua sự không hoàn thiện của thị trường tài chính ở nước ta, đặc biệt là hoứt động của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng, khả năng hứn hẹp về khả năng tích tụ vốn bên trong và huy động vốn ngoài doanh nghiệp Đây đang là một trong những khó khăn lớn nhất đối với các D N N & V hiện nay Hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều khởi sự với số vốn đầu tư ít ỏi và chủ yếu dựa vào số tiền tích lũy của bản thân và vay cùa bứn bè, người thân Chỉ một số ít doanh nghiệp có đù điều kiện vay vốn thì chủ yếu là được vay ngấn hứn với lãi suất cao, các khoản vay trung và dài hứn còn rất hứn chế C ó tình trứng trên là do các doanh nghiệp không có đủ tài sản thế chấp để vay, còn các tổ chức cho vay thì thiếu tin tưởng và khả năng hoàn trả vốn và lãi vay cùa doanh nghiệp Ớ nước ta, cho đến nay, lãi suất cho vay đã thống nhất nhưng các D N N & V vay khó khăn hơn doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp ngoài quốc doanh vay khó khăn hơn doanh nghiệp nhà nước Do đó, các D N N & V nói chung, xí nghiệp tư nhân, hộ gia đình, cá thể có nguồn vốn rất nhò, trong đó vốn

cố định chiếm tới quá 2/3 tổng vốn Thiếu vốn là khó khăn lớn của loứi hình DNN&V Thiếu vốn dẫn đến hứn chế sản xuất - kinh doanh, chiếm dụng vốn của nhau, nợ vòng vo, khó có khả năng thanh toán đúng hứn, làm mất cả quyền

m à cơ chế đề ra, thậm chí phải đóng cửa doanh nghiệp

Các thủ tục xin vay vốn cùa ngân hàng phải có thế chấp bằng tài sản cố định, nhưng không thừa nhận đất thuê m à phải là nhà cửa hoặc công trình xây dựng trên mảnh đất đó, trong khi đó thủ tục về chuyển nhượng quyền sử dụng đất lứi quá phức tứp Bên cứnh đó là yêu cầu về luận chứng kinh tế - kỹ thuật chi tiết về phương án đầu tư, thời gian chờ đợi xét duyệt từ 3 - 6 tháng Nhìn chung, ngân hàng vẫn chưa thật sự quan tâm đến việc cho các doanh nghiệp nhỏ

Trang 25

vay, bởi vì rủi ro trong các doanh nghiệp nhỏ là tương đối lớn, và chi phí trên vốn vay lớn

Đây là một trong những khó khăn lớn nhất đối với các D N N & V hiện nay Điều đó cho thấy cần phải tăng cường quản lý theo hướng cải cách hệ thống tín dụng, tạo điều kiện cho các DNN&V

- Hạn chế về thị trường:

Một vấn đề nan giải chung đối với các cơ sờ sản xuất - kinh doanh quy

m ô nhỏ và vừa, đểc biệt là đối với quy m ô nhỏ, là thiếu chiến lược về thị trường,

kế hoạch sản xuất - kinh doanh không bài bản, vì họ quen hoạt động theo kiểu

"đánh quả", "nền văn minh kinh doanh" với tinh thần kinh doanh chân chính chưa được tạo lập Điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của đất nước, vào nhận thức của các chù doanh nghiệp Mểt khác, các D N N & V gểp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường còn là do việc phát triển và mở rộng thị trường chưa đồng bộ, thiếu thông tin về thị trường, thiếu các tổ chức dịch vụ, tư vấn về thông tin thị trường ( 4 8 % số doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là D N N & V [32]), thiếu các hiệp hội tư vấn và hỗ trợ của chính họ, và do các rào cản đối với thương mại và thị trường, đểc biệt là thị trường quốc tế, từ đó dãn đến yếu tố vượt quá khả năng tiếp thị của các chủ doanh nghiệp Điều đó làm xuất hiện các

"đầu nâu" trong các làng nghề truyền thống thao túng khả năng tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp nhỏ [37], khiến cho các D N N & V không tận dụng được cơ hội kinh doanh, cộng tác với các doanh nghiệp ở ngoài và hàng hoa thì vẫn còn vắng bóng trên thị trường quốc tế Thông thường các doanh nghiệp phải mua thông tin từ rất nhiều nguồn khác nhau với chi phí rất cao, m à các nguồn tin

đó cũng không đảm bảo độ chính xác và kịp thời Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định sản xuất kinh doanh cùa các doanh nghiệp

Các D N N & V hoạt động vãn bị giới hạn bời thị trường địa phương (tỉnh, quận) là chù yếu, sự vươn ra nước ngoài còn quá ít Ngoài ra còn có một số yếu

tố hạn chế khác ảnh hưởng đến việc xâm nhập thị trường cùa các địa phương, đó

là việc xã, phường tự đểt ra các lệ phí khi vào địa phương tuy thuộc vào giá trị hàng hoa, làm cho người làm ăn chân chính phải xoay sờ làm trái cả luật lệ

Trang 26

Điều này đòi hỏi phải tăng cường hình thành, phát triển các tổ chức hỗ trợ các DNN&V, và đặc biệt phải đổi mới chính sách thương mại, đẩy mạnh hỗ trợ

D N N & V trong xuất khẩu

- Hạn chế về công nghệ, trang thiết bị và ứng dụng kố thuật

Theo tự đánh giá, có tới 7 2 % số doanh nghiệp có khó khăn về kố thuật, còng nghệ thấp kém [32] Trình độ công nghệ, trang thiết bị máy móc, kố thuật của các D N N & V không nằm ngoài tình trạng chung đó, thường là lạc hậu hơn so với thế giới từ 2 đến 3 thế hệ Ở nông thôn, nhiều cơ sở sử dụng công cụ cầm tay thủ công là chủ yếu, hơn 2/3 cơ sở tư nhân sử dụng máy móc, thiết bị cũ, do các

sơ sở quốc doanh thanh lý hoặc tự chế tạo; chỉ có một số ít máy móc, thiết bị hiện đại, còn nói chung, máy móc, thiết bị lạc hậu Mặt khác, tỷ lệ đổi mới và ứng dụng trang thiết bị, kố thuật cũng rất thấp Hạn chế này bắt nguồn từ nguồn vốn hạn hẹp nên các doanh nghiệp không có điều kiện đầu tư đổi mới trang thiết

bị, nâng cấp công nghệ để mở rộng năng lực cạnh tranh Một nghiên cứu cho biết tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị trong các D N N & V ờ thành phố Hồ Chí Minh

- trung tâm công nghiệp lớn nhất trong cả nước - cũng chỉ khoảng 1 0 % một năm tính theo vốn đẩu tư N h ư vậy, phải mất 10 năm mới đổi mới được hoàn toàn máy móc thiết bị Trong khi đó, nhiều sản phẩm công nghiệp hiện đại như các sản phẩm điện tử, viễn thông, hoa thực phẩm có chu kỳ sống rất ngắn, tỷ lệ công nghệ lạc hậu lại quá cao (hầu như trên 5 0 % ) nên với tốc độ đổi mới chậm chạp như hiện nay thì không thể tránh khỏi bị tụt hậu Do vậy, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp chưa phải là cạnh tranh đổi mới thiết bị và công nghệ, m à chủ yếu là cạnh tranh thu hút lao động có tay nghề cao, điều đó phụ thuộc vào chế độ trả công và đãi ngộ của các chủ doanh nghiệp

Nếu không có chương trình mục tiêu hỗ trợ, chuyển giao công nghệ thì

D N N & V khó có thể phát triển thật sự Một trong những lý do chính dẫn đến sự sụp đổ của các D N N & V là chất lượng sản phẩm kém, giá cả không đáp ứng yêu cầu thị trường Suy cho cùng cũng là do sự yếu kém về công nghệ sản xuất và khả năng đổi mới công nghệ

Điều đó cho thấy cần phải tăng cường quản lý theo hướng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thông tin mới nhất về sản phẩm, công nghệ và vật liệu,

20

Trang 27

giải quyết khó khăn về vấn để không có nhân lực có trình độ đê vận hành máy móc hiện đại, trang bị kiến thức về sản xuất và quản lý chất lượng, tăng cường quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp lớn hoặc các doanh nghiệp có vốn đẩu

tư nước ngoài để có sự hỏ trợ liên tục về kỹ thuật

- Về tình hình lao động và quản lý:

D N N & V có quy m ó tương đối nhỏ, phần lớn là dưới 100 công nhân Sô' lượng các D N N & V có dưới 100 công nhân chiếm đến hơn 9 2 % số các DNN&V Mặc dù giá nhân công ở thị trường lao động của Việt Nam là khá rẻ so với nhiều nước nhưng chất lượng lao động ờ loại hình doanh nghiệp này lại rất hạn chế Lao động trong các D N N & V chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kỹ nâng, trình độ vãn hoa thấp Số liệu điều tra cho thấy, chì có 5,13% lao động trong khu vực ngoài quốc doanh có trình độ văn hoa đại học, trong đó tập trung chủ yếu vào các Công ty T N H H và Công ty cổ phần [38] Đ ộ i ngũ quản lý

D N N & V lại thiếu kỹ năng quản trị kinh doanh, hoạch định chiến lược và rất lúng túng trước sự biến động của thị trường Theo điều tra, trình độ của chù doanh nghiệp cũng không kém phần hạn chế: 4 0 % có trình độ lớp 7, 3 5 % có trình độ lớp 19 (hệ cũ), 2 5 % có trình độ lớp 12 (hệ mới) và cứ 100 người thì mới

có Ì người có trình độ trên đại học, 3 người có trình độ đại học, 14 người có trình độ trung học hoặc tương đương [38]

Điều đó cho thấy để nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất - kinh doanh, việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho người lao động và chủ doanh nghiệp là vấn đề sống còn đối với bản thân các doanh nghiệp Chúng ta phải cải cách chính sách phát triển nguồn nhân lực và hỏ trợ tăng cường quản lý Như vậy, điểu cần thiết hiện nay là chúng ta phải có những chính sách ưu tiên, những chương trình hỏ trợ tích cực của Chính phủ cũng như các tổ chức kinh tế lớn, tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội của giới chủ Bời vốn, lao động, công nghệ, kỹ thuật, thị trường là những vấn đề cơ bản của một D N N & V

từ khi mới tạo dựng cho đến cả quá trình tồn tại và phát triển Trong khi đó, nước

ta, ngoài việc có nguồn lực dồi dào, giá nhân công rẻ có ưu thế so sánh hơn các nước, còn lại các yếu tố khác đều yếu kém Bởi vậy cần tăng cường quản lý theo hướng thiết lập hệ thống tổ chức các cơ quan hồ trợ phát triển; cải tổ lại hoạt

Trang 28

động của hệ thống tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng nhầm hỗ trợ cho các DNN&V; thiết lập hệ thống tổ chức tư vấn - dịch vụ - cung cấp thông tin cho DNN&V; thiết lập hệ thống tổ chức hỗ trợ đổi mới, nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật - công nghệ mói nhằm tởo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi là điều kiện tiền để để phát triển D N N & V ở nước ta trong quá trình chuyển đổi nển kinh tế

- Về tởo lập tinh thần, nỗ lực kinh doanh kinh doanh và thương hiệu sản phẩm

Qua điều tra trên 146 doanh nghiệp, các chuyên gia Viện Chiến lược phát triển và Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc đã rút ra nhận xét: "Trong phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam, người ta chưa thấy rõ những nỗ lực hướng tói nâng cao hiệu quả hoởt động và chất lượng sản phẩm Nhiều doanh nghiệp dường như phó mặc hoặc ít quan tâm tới việc cải thiện không ngừng hoởt động của mình, điều tất yếu để có thể đởt được chuẩn mực quốc tế Các công ty xuất khẩu Việt Nam thường có ít hoặc không có nhãn hiệu quốc tế riêng, thường phải dựa nhiều vào khách hàng và các đối tác chính để có đầu vào thiết kế, quy trình công nghệ, tiếp thị

và phân phối Nhiều doanh nghiệp coi Chính phủ như một tác nhãn quan trọng đến kết quả kinh doanh của họ và nỗ lực tìm kiếm càng nhiều ưu tiên, hởn ngởch, trợ cấp và bảo hộ càng tốt"[45] Một số thương hiệu Việt Nam gần đây đã bị nước ngoài đăng ký chiếm dụng m à các doanh nghiệp và nhà quản lý vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ Vụ việc Cõng ty Toàn Tiến bị đối tác nước ngoài đánh cấp thương hiệu, rồi kiện ngược lởi, là một bài học cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp làm ăn với nước ngoài, nhưng không biết lấy hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình [69]

Việt Nam vẫn chưa tìm được lợi thế so sánh bằng những sản phẩm "độc đáo" riêng, hầu như D N N & V mới đang dừng lởi ờ chỗ có gì gọi là thế mởnh thì tập trung vào kinh doanh và đem ra chào bán Đ ó là nguyên nhân từ hai phía: trước hết,

D N N & V yếu kém cả về năng lực sản xuất lẫn công nghệ và kiến thức thương trường; sau đến, Nhà nước thiếu một cơ chế kích thích tốt, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ về ngành nghề và thị trường đối với loởi hình doanh nghiệp này [61]

Trang 29

- Các cơ chế để doanh nghiệp có thể liên kết thường xuyên với nhau còn thiếu trầm trọng

Các D N N & V Việt Nam nói chung và D N N & V chế biến nông sản thực phẩm nói riêng còn ở tình trạng riêng rẽ, phân tán, kém hiệu quả, các mối liên kết cần có chưa thực sự phát triển Một phẩn là do nhân thức yếu kém về lợi ích m à hợp tác mang lại và một phần khác là do Nhà nước thiếu biện pháp khuyến khích, tạo điểu kiện [13], [14],[19]

Chính sách thu mua nguyên vật liệu nhụt là giá cả chưa khuyến khích người sản xuụt nguyên liệu làm nhiều, làm có chụt lượng để bán cho Nhà nước; thậm chí

có lúc có nơi nguyên liệu thừa, không có nguồn tiêu thụ, tình trạng ép giá đối với người sân xuụt nguyên liệu vẫn còn hay xảy ra, nhụt là lúc vụ mùa thu hoạch, đánh bắt Chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh (trường hợp VINACAFE) đôi khi không tách bạch, tập trung vào cùng một tổ chức dẫn đến kém hiệu quả

Tình hình liên doanh đầu tư với tư nhân trong nước còn rụt ít, chủ yếu là liên doanh giữa tư bản nước ngoài với D N N N qui m ô lớn Giữa các D N N & V cùng ngành chưa có hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau nên chưa tạo nên sức mạnh để mở rộng thị trường

Cũng do mang nặng các tính chụt của một nền sản xuụt nhỏ, phân tán cho nên khi tham gia vào thị trường xuụt khẩu, doanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng cạnh tranh lẫn nhau trên thương trường, trong số đó có cả cạnh tranh không lành mạnh: "ta lại đánh ta", "doanh nghiệp này phá doanh nghiệp kia, địa phương này phá địa phương kia" Các đối tác nước ngoài đã nhanh chóng nhận ra đặc điểm này, và kết quả là giá xuụt khẩu hàng Việt Nam đã do chính các doanh nghiệp Việt Nam hạ xuống đến mức thụp không thể chắp nhận được, cả doanh nghiệp lẫn nền kinh tế quốc dân phải gánh chịu những thiệt hại lớn

Các hiệp hội kinh doanh, các cơ quan xúc tiến của Nhà nước chưa thực sự

hổ trợ cho doanh nghiệp Ví dụ, trong ngành đã thiết lập được một số hiệp hội sản

phẩm như hiệp hội ca phê ca cao, hiệp hội xuụt khẩu gạo, hiệp hội điều, hiệp hội thúy sản w tuy nhiên các hoạt động cùa các hiệp hội này vẫn chưa thực sự có hiệu quả trong việc hỗ trợ doanh nghiệp Các D N N & V không có khả-năng tự thiết lập hệ

23

Trang 30

thống thông tin thị trường, xây dựng các hoạt động xúc tiến thương mại, thêm vào

đó cũng không gặp thuận lợi khi tiếp cận với các kênh thông tin, các hiệp hội xúc tiến xuất khẩu D N N & V chưa được hưởng các chính sách ưu đãi công bằng như các doanh nghiệp Nhà nước qui m ô lớn trong phân bổ quota, sả dụng thông tin của Bộ chù quản [55],[33],[56]

Điều này cho thấy cần tăng cường tổ chức quản lý theo hướng xoa bỏ chế độ

Bộ chủ quản, tạo bình đẳng cho các thành phần kinh tế, gắn kết giữa các chủ thể tham gia

b Yêu cẩu vé hoàn thiện quản lý DNN&V ở Việt Nam

Ớ nước ta hiện nay, với xu hướng nền kinh tế mờ, bên cạnh sự tồn tại của hàng trăm nghìn D N N & V là hàng ngàn doanh nghiệp lớn thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt là doanh nghiệp lớn tư nhân, kể cả tư nhân trong nước và tư nhân nước ngoài Mặt khác, bàn thân D N N & V cũng là đối tượng quản lý rất đa dạng Nhưng các DNN&V, do quy m ô nhỏ nên họ thường gặp khó khăn về vốn, công nghệ, thông tin, tiếp cận thị trường, kể cả thủ tục hành chính

về việc thành lập doanh nghiệp Từ đó dẫn đến nhiều doanh nghiệp phải chững lại, thu hẹp sản xuất - kinh doanh, thậm chí phá sản Vì vậy, đòi hỏi phái có cơ chế, chính sách bảo vệ D N N & V để nó tồn tại và phát triển Mặt khác, quàn lý

D N N & V bị phân tán quản lý bởi nhiều đầu mối, các cơ quan quản lý thường chú trọng vào quản lý doanh nghiệp lớn và buông lỏng quản lý DNN&V Do vậy, họ thường có những hành vi trái pháp luật, gây khó khăn cho quản lý Nhà nước và xâm phạm quyền lợi cùa người tiêu dùng Vì vậy, D N N & V không những cần được quản lý, giám sát từ phía Nhà nước m à còn cần có sự hô trợ giúp đỡ từ bên ngoài, cần có người bảo vệ quyên lợi, cần có người đại diện nói lên tiếng nói cùa mình

Từ những thực tế trên, việc đổi mới cơ chế quản lý D N N & V là đòi hỏi tất yếu khách quan của nền kinh tế nước ta hiện nay Việc hoàn thiện quản lý đối với các D N N & V cần hoàn thiện theo hướng:

- Xây dựng môi trường pháp lý ổn định đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp

- Hoàn thiện khung pháp lý cho việc hình thành, phát triển các tố chức hỗ trợ D N N & V và cho hoạt động chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi

Trang 31

cho D N N & V đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị và ứng dụng kỹ thuật mới Cải cách hệ thống các chính sách cho phù hợp, trong đó đổi mới chính sách thương mại, đẩy mạnh hỗ trợ D N N & V trong xuất khẩu Đồng thội cải cách chính sách phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ tăng cưộng quản lý Bên cạnh đó phải chú ý cải cách hệ thống tín dụng, tạo điều kiện cho các D N N & V vay vốn

- Rà soát, hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước và phương thức quản lý đối vói D N N & V theo hướng các cơ quan này tập trung vào chức năng quản lý Nhà nước; tăng cưộng phối hợp đồng bộ giữa các Bộ ngành địa phương; tăng cưộng quản lý nhà nước thông qua pháp luật, chính sách, xoa bỏ cơ quan chủ quản đối vói DNNN; nâng cao trình độ cán bộ công chức quản lý Nhà nước

- Thành lập và hoàn thiện tổ chức hoạt động của cơ quan đầu mối đối vói quản lý và trợ giúp, khuyến khích phát triển vói loại hình DNN&V

- Hình thành và phát triển một mạng lưới hệ thống các tố chức tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ các D N N & V trên các lĩnh vực: xuất khẩu, tài chính, chuyển giao công nghệ, đào tạo

- Phát triển các tổ chức đại diện theo ngành hàng và theo loại hình sở hữu để vừa bảo vệ quyền lợi vừa giúp đỡ lẫn nhau, vừa nói lên tiếng nói của ngưội chủ, ngưội lao động và tham mưu cho nhà nước trong xây dựng quy hoạch chính sách liên quan đến ngành, giới, lợi ích của mình Đ ó là các hiệp hội như hội công thương gia, ngành hàng, liên minh HTX, công đoàn ngoài quốc doanh

- Liên kết trong kinh doanh là vấn đề quan trọng để đảm bảo hoạt động thành công cẩn giúp đỡ hình thành và hoàn thiện hoạt động của các tổ chức liên kết như hiệp hội, HTX, Tổ hợp tác Cần nghiên cứu, tổng kết các m ô hình tổ chức tiến tiến, có hiệu quả của các thành phần tham gia và nhân rộng chúng trong thực tiễn Hình thức quan hệ theo kiểu "mạng lưới" giữa các doanh nghiệp là một hình thức hợp tác được áp dụng ở nhiều nước và tỏ ra có hiệu quả Những mạng lưới các doanh nghiệp được coi là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh, của hiệu quả hoặc sự hoàn thiện của các doanh nghiệp cũng như các quốc gia [46] cân nghiên cứu hoàn thiện tổ chức quản lý việc liên kết theo chiến lược "mạng lưới" cho các loại hình D N m à trong đó D N N & V là những mắt xích quan trọng của mạng lưới liên kết này

Trang 32

*

* *

Thời gian qua, mặc dù, đã phát triển nhanh về số lượng và từng bước thể hiện được vai trò và vị trí của mình trong sự phát triển kinh t ế - x ã hội Việt Nam, nhưng xét một cách tổng thể thì những đóng góp của D N N & V vẫn chưa xứng với tiềm lực của mình Các D N N & V với đặc thù là quy m ó nhấ, phân tán, nên việc quản lý đối vói loại hình doanh nghiệp này không đơn giản, nhất là trong quá trình thực hiện quản lý còn gặp nhiều khó khăn, vấp váp nảy sinh như hiện nay Vì vậy trong từng thời kỳ, tùng giai đoạn, Nhà nước cần lựa chọn những công cụ quản lý và đưa ra những chính sách hỗ trợ một cách phù hợp đối với khu vực các D N N & V và hoàn thiện quản lý là yêu cầu cấp bách để phát triển khối doanh nghiệp này

26

Trang 33

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DNN&V

Ở VIỆT NAM

(Nghiên cứu điển hình tại Công ty TNHH Dệt Anh Quốc)

Kể từ khi khu vực kinh tế tư nhân ra đời và được thừa nhận sau năm 1986, loại hình doanh nghiệp quy m õ vừa và nhỏ đã dần chuyển mình về cả lượng và chất và ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng trong nền kinh tế Đạt được kết quả đó không thể không kể đến vai trò của Nhà nưằc trong việc xác định mục tiêu, sử dụng các công cụ, thi hành các biện pháp, chính sách hô trợ nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển Nhưng trong quá trình thực hiện, dường như đã thành quy luật tất yếu, bên cạnh những thành công là những điểm bất cập chưa khắc phục được Tuy nhiên, để tránh dàn trải, phần dưằi đây

sẽ chỉ đi sâu phân tích những phương thức quản lNhà nưằc có tác động trực tiếp đến các DNN&V

2.1 M Ộ T SỐ C Ô N G C Ụ QUẢN L Ý DNN&V

2.1.1 Đăng ký kinh doanh

Đăng ký kinh doanh là một công cụ quản lý Nhà nưằc rất quan trọng ở tất

cả các nưằc có nền kinh tế thị trường Ở nưằc ta, đăng ký kinh doanh là hành vi thừa nhận sự xuất hiện và tồn tại của doanh nghiệp, ghi nhận và quản lý những thông tin ban đầu về doanh nghiệp một cách thống nhất Cơ sở pháp lý cho việc

đăng ký kinh doanh đối vằi công ty và hộ kinh doanh cá thể là các văn bản quy định về đăng ký kinh doanh và các luật điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp và công ty, hộ

Trưằc năm 2000, thủ tục đăng ký kinh doanh được quy định tại Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty và Thông tư 07/TT-ĐKKD ngày 29/7/1991 cùa Trọng tài kinh tế Nhà nưằc [48] Nhìn chung, thời kỳ này, thủ tục đăng ký

kinh doanh đối vằi doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất phức tạp, đòi hỏi mất

27

Trang 34

nhiều thời gian, chi phí, tiền bạc, phải chứng nhận 5 - 6 loại giấy tở và xin con dấu ở các cơ quan [47]

Kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực năm 2000, việc đăng ký kinh doanh về cơ bản đã được dễ dàng, thuận lợi hơn Nhiều loại giấy phép trái với Luật Doanh nghiệp đã được bãi bỏ [22] Theo báo cáo của Bổ K H & Đ T , từ đầu năm 2000 đến tháng 9 năm 2003, đã có hơn 75.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (gấp gần 1,7 lần so với giai đoạn 1991-1999); với số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung khoảng gần 10 tỷ đô la Mỹ (gấp hơn 4 lẩn so với 1991-1999), cao hơn số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đãng ký trong cùng thời kỳ Ngoài ra, cũng có hơn 15.000 chi nhánh, vãn phòng đại diện và khoảng 800.000 hổ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh; đưa tổng số hổ kinh doanh cá thể trong cả nước lên khoảng hơn 2,5 triệu hổ [15]

Nhìn chung, cho đến nay, tình hình đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp cổ những thay đổi tích cực:

- Giảm bớt thủ tục phiền hà và rút ngắn thời gian cho doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh:

Ngày 02/04/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2004/NĐ-CP, là văn bản hướng dẫn thực hiện việc đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Trong đó có quy định rõ thời gian đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp là 15 ngày [3] Song để thu hút đầu tư, phòng đăng ký kinh doanh thuổc Sở K H & Đ T của nhiều tỉnh thành trong cả nước đã tăng cường hướng dẫn

và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm thời gian đăng ký kinh doanh xuống còn 7 hoặc 3 ngày, cá biệt có Hà Giang chỉ còn 24 giờ [21]

Hầu hết các địa phương đã có m ô hình "mổt cửa" trong đãng ký kinh doanh, kết quả của việc đơn giản hoa các thủ tục hành chính Tức là, các doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh chỉ cần nổp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại phòng đãng ký kinh doanh và sau đó đến phòng đăng ký kinh doanh để nhận đãng ký kinh doanh, m ã số thuế và dấu Với "mổt cửa" m à có thể thực hiện cả 3 thủ tục đăng ký kinh doanh là điều rất có lợi cho doanh nghiệp Nhiều tỉnh thành

đã nhân rổng cơ chế "mổt cửa" ra tất cả các sở ngành, xuống quận, huyện và

28

Trang 35

đưa thành tích này vào các trang, các bản kêu gọi đầu tư như một đảm bảo cho sự thông thoáng khi đến làm ăn tại địa phương Không chỉ có thế, các thủ tục hành chính phải đơn giản, rõ ràng, công khai, và cơ quan hành chính Nhà nước phải giải quyết công việc nhanh chóng cho doanh nghiệp và tự chịu trách nhiệm phối

hợp giữa các bộ phận có liên quan đến việc cổp phép s ờ K H & Đ T cổp tỉnh,

thành, phố chịu trách nhiệm cổp giổy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp còn phòng đăng ký kinh doanh cổp huyện thì cổp cho các hộ kinh doanh

cá thể

- Nghị định số 109/2004/NĐ-CP quy định cụ thể, chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh Đạc biệt, so với Nghị định cũ 02/2000/NĐ-CP, Nghị định 109 có bổ sung một chương cụ thể hóa một bước quy định về đặt tên doanh nghiệp và giao cho Bộ K H & Đ T hướng dẫn chi tiết Các quy định về đăng ký lập chi nhánh, văn phòng đại diện, đăng ký bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh, đăng ký thay đổi địa điểm chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, đăng ký đổi tên doanh nghiệp, đăng ký đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đều được bổ sung, hoàn thiện hơn Nghị định còn bổ sung quy định hướng dẫn việc đăng ký thay đổi thành viên công ty

- Theo Nghị định này, hộ kinh doanh cá thể chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dổu Nếu hộ

kinh doanh cá thể sử dụng hơn l o lao động hoặc có hơn Ì địa điểm kinh doanh

thì phải chuyển đổi thành doanh nghiệp

Trong công tác đăng ký kinh doanh

vẫn còn một số hạn chế:

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp

luật liên quan đến thẩm quyền, thủ tục, điểu

kiện đăng ký kinh doanh và cổp phép đối với

những ngành nghề kinh doanh có điều kiện

do nhiều cơ quan quản lý Nhà nước ban

vụ đòi nợ, tư vổn hôn nhân dược coi là ngành nghé kinh doanh có điều kiện nhưng lại không có các quy định về điêu kiện kinh doanh

để điểu tiết và quản lý; một số ngành nghề yêu cầu phải có chứng chỉ ngành ngề như tu vổn pháp ly, dịch vụ thiết kế phương tiện vận tài nhưng chua có vãn bàn hướng dẫn, quy định về điều kiện, trình

lự, thủ tục cổp mới, sửa đổi, thu hồi giổy phép hoạt động [68, ngày 26/10/2005]

Trang 36

- Mặt khác, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh

có điều kiện kinh doanh được quy định tại luật, pháp lệnh hoặc nghị định nhưng

trên thực tế, các điều kiện cụ thể thường được quy định tại thông tư, quyết định

cùa các Bộ, UBND các cấp với điều kiện, thủ tục, thời gian cấp thường không rõ

ràng, gây cản trở không chẫ đối với cõng tác quản lý Nhà nước, m à cả đối với những người có ý định hoặc đang kinh doanh các ngành nghề nói trên

- Đáng chú ý là một số quy định còn mâu thuẫn nhau như mâu thuẫn giữa

Nghị định 125/2004/NĐ-CP' và Luật Doanh nghiệp trong việc góp vốn của nhà

đầu tư nước ngoài vào công ty TNHH, công ty cổ phẩn; giữa Luật Thương mại,

Nghị định số 54/2000/NĐ-CP2

và Luật Doanh nghiệp về tên doanh nghiệp

Theo báo cáo từ cộng đồng doanh nghiệp cũng như theo khảo sát của VCCI, vẫn

còn hơn 300 giấy phép con thuộc 22 ngành nghề gây cản trờ các nhà đầu tư tham

gia thị trường Trong đó ngành văn hóa thông tin có 41 giấy phép; nông nghiệp:

37 giấy phép; ngân hàng: 34 giấy phép; tài chính: 24 giấy phép; giao thông vận

tải: 23 giấy phép Nói về điều này, Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa đưa ra giải pháp

"5 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, thủ tướng Chính phủ đã quyết định bãi bỏ

186 giấy phép kinh doanh, chứng chẫ hành nghề thì đến nay số lượng giấy phép

con lại tăng lên cả trăm cái Rõ ràng việc tập trung xoa một vài giấy phép thì chẫ

là "bắt cóc bỏ đĩa", xoa cái này nó lại mọc ra cái khác" [67, ngày 15/10/2005],

[68, ngày 26/10/2005]

- Trình tự, thủ tục và điều kiện đăng ký kinh doanh ở một số địa phương

• đối với một số ngành, nghề vẫn trái với Luật Doanh nghiệp; can thiệp hành chính trái pháp luật vào công việc nội bộ của doanh nghiệp vẫn còn xảy ra ở

nhiều nơi, gây tác động tiêu cực đối với quản lý Nhà nước và người kinh doanh,

tạo cơ hội cho nạn tham nhũng, không công bằng, thu hẹp cơ hội kinh doanh, hạn chế cạnh tranh

1 Nghị định 125/2004/NĐ-CP ngày 19/5/2004 về sửa dổi, bổ sung một số điểu của Nghị dinh

số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều cùa Luật Doanh nghiệp

2 Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 về "bảo hộ quyền sờ hữu cõng nghiệp đối với bí mật doanh nghiệp, chẫ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không

lành mạnh liên quan tới sờ hữu cõng nghiệp"

Trang 37

- Chi phí gia nhập thị trường vẫn cao so với các nước trong khu vực Đ ể hoàn thành thủ tục gia nhập thị trường doanh nghiệp, ở trường hợp đơn giản nhất, thông thường phải tiến hành 4 bước tại 3 cơ quan khác nhau: đăng ký kinh doanh, khắc dấu, đăng ký m ã sổ thuế và mua hoa đơn tài chính Hoàn tất 4 bước nói trên, trung bình phải mất 50 ngày với chi phí khoảng gân 2 triệu đồng (nếu làm qua các doanh nghiệp dịch vụ thì chi phí này còn cao hơn nhiều) Như vậy, cộng với một sổ chi phí khác, tổng chi phí gia nhập thị trường đổi với trường hợp tổt nhất khoảng 3 triệu đổng Chi phí gia nhập thị trường ở mức cao, đang có xu hướng tiếp tục tăng lên, đã tác động không tổt tới môi trường kinh doanh [47][25][68, ngày 26/10/2005]

Từ cuổi năm 2002, do tác động của thuế môn bài (là một lệ phí hành nghề) tăng cao bất hợp lý, hàng trăm doanh nghiệp tư nhân đã giải thể chuyển thành hộ kinh doanh cá thể, hạn chế phần nào việc mở rộng quy m ô kinh doanh Ngoài ra, để quản lý chặt chẽ việc đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp, ngành thuế đã đặt ra nhiều yêu cầu phức tạp trong việc bán hoa đơn tài chính, làm sổng lại nhiều thủ tục hành chính đã lỗi thời như kiểm tra trụ sở đăng ký, hợp đổng thuê trụ sở , tăng thêm chi phí và thời gian đổi với việc gia nhập thị trường

- Việc thành phổ "quản" toàn bộ khổi doanh nghiệp (kể cả D N N N và DNTN) khiến xuất hiện tình trạng ngày càng có nhiều doanh nghiệp "mất tích" khỏi địa chỉ đăng ký kinh doanh trong hồ sơ ban đầu Thực chất của hiện tượng này là các doanh nghiệp thành lập không nhằm sản xuất kinh doanh m à chì để mua bán hoa đơn khổng, trổn thuế và lấy tiền ngân sách Nhà nước Theo sổ liệu tổng hợp mới đây nhất của Cục thuế Hà Nội, từ đầu năm 2005 đến nay, trên địa bàn thù đô đã có tới 453 doanh nghiệp bỏ trổn khỏi địa điểm đăng ký kinh doanh, mang theo hơn 9.000 bộ hoa đơn Con sổ này trong năm 2004 tương ứng

là 499 doanh nghiệp và 46.000 bộ hoa đơn và năm 2003 là 240 doanh nghiệp và 39.000 bộ hoa đơn Hơn nữa, giữa cơ quan quản lý cấp tình và cấp huyện không

có sự thổng nhất thông tin Trong khi Cục thuế thành phổ và Phòng đáng ký kinh doanh không đù lực lượng, thời gian đi tìm lại những doanh nghiệp này thì các

cơ quan quận, huyện lại phát hiện ra nhiều doanh nghiệp loại này xuất hiện trên địa bàn mình nhưng không được cấp phép quản lý và thu thuế m à chỉ được

Trang 38

nhất là thông báo cho Cục thuế và Phòng đãng ký kinh doanh thành phố [66, ngày 29/8/2005][21]

- Cơ chế "một cửa" là một giải pháp hiệu quả cùa cải cách hành chính nhưng chưa được thực hiện đầy đủ, thống nhất về bản chất tại nhiều địa phương

và đang trở thành một rào cản đặc biệt cho công tác đăng ký kinh doanh Theo

các doanh nghiệp thì quy trình này chỉ làm kéo dài thổi gian và mất thêm một công đoạn hành chính không cần thiết nữa cho công tác đăng ký kinh doanh Thậm chí, nhiều trưổng hợp, tổ "một cửa" không có chuyên môn và thẩm quyển về đăng ký kinh doanh nên không thể tư vấn cho doanh nghiệp, hay đơn giản là những sai sót nhỏ cũng không thể phát hiện để trả lại cho doanh nghiệp ngay từ đầu Với tình trạng này, doanh nghiệp sai ở một mục nhỏ trong cả quá trình thì lại phải làm lại từ đầu và lại thêm một lẩn qua tổ "một cửa"

- Bẩn thân cơ quan đăng kỷ kinh doanh cũng có những hạn chế:

+ Sự phối hợp cùa các cơ quan Nhà nước có liên quan còn chưa đều Có những văn bản như thông tư hướng dẫn việc cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn pháp lý, hướng dẫn việc xác định nhân thân ngưổi thành lập doanh nghiệp đó được Thủ tướng yêu cầu ban hành từ lâu, nhưng vẫn chưa được ban hành; những vấn đề cơ bản như quản lý và bảo hộ tên doanh nghiệp, tính liên tục của "pháp nhân doanh nghiệp" trên địa bàn toàn quốc là không thể thực hiện được Việc giao nhiệm vụ tổ chức đăng ký kinh doanh cho một cơ quan hành pháp (cụ thể là

Sở K H & Đ T ) là chưa theo thông lệ quốc tế, vì ở các nước khác dịch vụ này là do

cơ quan tư pháp đảm nhận [22] [25]

+ Quản lý theo kiểu cắt khúc do các cơ quan quản lý Nhà nước còn rất thiếu sự phối hợp trong thực hiện các chức năng cùa mình Phổ biến nhất là các doanh nghiệp phải chuẩn bị rất nhiều hồ sơ, thậm chí là hổ sơ tương tự nhau để nộp cho các cơ quan Nhà nước tiến hành các thủ tục Điều đó khiến cho doanh

r- H ọ p2

Qua khảo sát ở Đắc

Lắc cho thấy, hồ sơ đãng ký kinh

doanh sẽ được nộp tại "một cửa", sau

đó tổ một cửa lại chuyển đến phòng

đăng ký kinh doanh để giải quyết

Nếu phải sửa đổi, bổ sung, hồ sơ được

chuyên lại cho tổ "một cửa" thông

báo cho doanh nghiệp nhận về sử

chữa, bổ sung Hồ sơ sau khi sửa chữa

lại bắt dầu lại hành trình rắc rối như

trên Đ ế n khi có giấy đăng ký kinh

doanh thì phòng đáng ký kinh doanh

lại chuyển qua tổ "một của" để doanh

nghiệp nhận [68, ngày 26/10/2005]

Trang 39

nghiệp mất rất nhiều thời gian đến gõ cửa từng cơ quan quản lý Nhà nước để thực hiện các yêu cầu của họ Và một thói quen là doanh nghiệp sẽ phải cung cấp bất cứ thông tin nào m à cơ quan Nhà nước cần, mặc dù các thông tin đó các

cơ quan Nhà nước hoàn toàn có thể tìm kiếm một cách dễ dàng Hợu quả là doanh nghiệp mất thời gian còn cơ quan Nhà nước vẫn không thể thực hiện chức năng quản lý thống nhất, hiệu quả [68, ngày 26/10/2005]

+ Bộ K H & Đ T chưa thực hiện được đúng chức năng nhiệm vụ của mình, chưa hoàn thành việc xây dựng hệ thống quản lý doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc (hệ thống mạng lưới mới kết nối đến 10 tỉnh, thành phố) Trách nhiệm cùa

Bộ theo phạm vi hiện hành chỉ thiên về tư vấn, hướng dẫn nghiệp vụ hơn là quản

lý Nhà nước về đăng ký kinh doanh Bộ không có thẩm quyền bất buộc phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sửa chữa vi phạm cũng như bảo vệ việc tuân thù đúng và thống nhất các quy định về đăng ký kinh doanh trên phạm vi toàn quốc + Cơ quan quản lý cấp Trung ương chủ yếu mới chỉ tợp trung vào soạn thảo văn bản, hướng dẫn nghiệp vụ Còn địa phương chỉ tợp trung vào đăng ký kinh doanh, chưa theo dõi cợp nhợt tình hình phát triển doanh nghiệp và phối hợp với các cơ quan khác trong việc giúp đỡ hỗ trợ quản lý Nhà nước

+ Trong thực thi công vụ, cán bộ đăng ký kinh doanh phải chịu áp lực lớn

về tâm lý, có thể bị kỷ luợt ngay cả khi họ thực hiện đúng quy định của pháp luợt Ớ một số địa phương, cơ quan công an thường đến kiểm tra việc đãng ký kinh doanh, coi việc đăng ký kinh doanh là nơi tạo ra doanh nghiệp vi phạm pháp luợt Cơ quan đăng ký kinh doanh thường phải kiểm điểm, giải trình trước UBND, Hội đồng nhân dân, công an điều tra về doanh nghiệp vi phạm pháp luợt hay doanh nghiệp có tranh chấp cấp cơ quan Nhà nước [21]

+ Một bộ phợn không nhỏ cán bộ, công chức, nhất là ở các cấp chính quyền địa phương, còn trễ nải, chưa làm hết chức trách phợn sự của mình trong quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp; một số cán bộ, công chức làm trái các quy định pháp luợt về cán bộ, công chức, về chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm đã trực tiếp hoặc gián tiếp đăng ký thành lợp doanh nghiệp lạm dụng quyền lực quản lý Nhà nước phục vụ hoạt động kinh doanh riêng, gây cạnh tranh không lành mạnh và giảm hiệu lực quản lý Nhà nước; hoặc tiếp tay cho doanh nghiệp vi

33

Trang 40

phạm pháp luật, nhất là trong mua bán hoa đơn, gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng, v.v

- Những khiếm khuyết của cơ quan đăng ký kinh doanh và hoạt động đăng

ký kinh doanh nói trên có thể do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

+ Một là, việc xây dựng và tăng cường năng lực "hệ thống" cơ quan đăng

ký kinh doanh chưa được các Bộ có liên quan (nhất là Bộ K H & Đ T , Bộ Nội vụ và UBND) quan tâm đúng mức, về cơ bản vẫn giao khoán cho Sở K H & Đ T

+ Hai là, địa vị pháp lý cùa cơ quan đăng ký kinh doanh rất yếu và phụ thuộc, không tương xứng với chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn được giao, kinh phí hoạt động không gỉn với số lượng công việc

+ Ba là, một số không nhỏ các cán bộ, nhất là các cấp lãnh đạo chưa nhận thức đúng bản chất của đăng ký kinh doanh, chỉ làm thù tục "khai sinh" cho doanh nghiệp và quản lý "hộ khẩu" của doanh nghiệp; chưa nhận thức rõ về đăng ký kinh doanh và thành lập doanh nghiệp, về các điều kiện kinh doanh đối với các ngành nghề kinh tế có điều kiện từ đó chưa phân biệt và tách biệt trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với đăng ký kinh doanh và quản lý Nhà nước đối vãi hoạt động kinh doanh [21]

2.1.2 Thanh tra, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối vói các DNN&V

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là một chức năng quan trọng, là khâu không thể thiếu trong hoạt động quản lý, góp phần làm cho hoạt động quản lý ngày càng hoàn thiện và có hiệu quả

Hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển trong môi trường cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật, nhưng điều đó không có nghĩa

là các doanh nghiệp hoạt động trong nén kinh tế thị trường một cách tự do vì các văn bản pháp luật của Nhà nước cũng như các chính sách kinh tế và công cụ quản lý vĩ m ô cùa Nhà nước cũng đã thể hiện vai trò giám sát, kiếm tra, điều tiết của Nhà nưốc đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nói riêng, trong đó có DNN&V Có thể khái quát sự kiểm tra, giám sát cùa Nhà nước trên một số vấn đề cơ bản sau:

34

Ngày đăng: 12/03/2014, 17:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Lao động đang làm việc tại thòi điểm 1/7 hàng  n ă m - Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len Anh Quốc)
Bảng 2 Lao động đang làm việc tại thòi điểm 1/7 hàng n ă m (Trang 14)
Bảng 3: So sánh các loại sử dụng đất - Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len Anh Quốc)
Bảng 3 So sánh các loại sử dụng đất (Trang 67)
Hình 1:  M ô hình cơ cấu tổ chức của Công ty  T N H H Dệt Anh Quốc - Hoàn thiện quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam (Nghiên cứu điển hình tại Công ty sản xuất và xuất khẩu dệt len Anh Quốc)
Hình 1 M ô hình cơ cấu tổ chức của Công ty T N H H Dệt Anh Quốc (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w