1 Giải đọc văn bản bằng từ nguyên học: Trường hợp cụm từ “như tờ” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Etymology as a Method for Text Interpretation: The Case of “Như Tờ” in The Tale of Kie
Trang 11
Giải đọc văn bản bằng từ nguyên học:
Trường hợp cụm từ “như tờ” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Etymology as a Method for Text Interpretation:
The Case of “Như Tờ” in The Tale of Kieu by Nguyễn Du
Nguyễn Tuấn Cường
TS., Viện Nghiên cứu Hán Nôm – VASS
Tóm tắt: Truyện Kiều của Nguyễn Du chịu ảnh hưởng về nội dung cốt truyện
từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân; còn về ngôn từ sử dụng, thì chịu
ảnh hưởng từ tiếng Việt là chủ yếu, nhưng cũng còn có ảnh hưởng nhất định từ ngôn ngữ Hán văn của Thanh Tâm Tài Nhân, cũng như mở rộng ra là từ ngôn ngữ Hán văn nói chung trong thời trung đại ở Đông Á Xác định nguồn gốc dụng ngôn như vậy sẽ khiến cho chúng ta có một định hướng trong việc tìm hiểu ngữ nghĩa của một số
trường hợp ngôn từ khó lí giải trong Truyện Kiều Bài viết này xuất phát từ góc độ từ nguyên học (etymology) để tìm hiểu nguyên từ (etymon) của cách nói như tờ trong các trường hợp “Buồng không lạnh ngắt như tờ”, “Kiều nhi phận mỏng như tờ”, “Chung quanh lặng ngắt như tờ” được Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều, cũng như còn
được các tác giả khác sử dụng trong các truyện Nôm của họ Xưa nay, các nhà chú giải
và biên khảo Truyện Kiều thường phán đoán nghĩa của “như tờ” theo một trong hai
hướng: (1) như tờ giấy; (2) như đền thờ, vì “tờ” là cách nói trại của “từ” trong “từ vũ” nghĩa là đền thờ Cả hai hướng phán đoán này, vì mới là phán đoán, nên đều chưa đủ căn cứ khoa học Bài viết này tìm hiểu chứng cứ từ ngữ liệu văn chương cổ điển Trung Quốc để biện luận và ủng hộ hướng thứ nhất kể trên, còn hướng thứ hai thì tạm để tồn
nghi
Từ khoá: Truyện Kiều, từ nguyên học, giải đọc, Nguyễn Du (1765-1820)
Abstract: Nguyễn Du’s The Tale of Kiều, in the field of plot, is under the
influence of Jin Yun Qiao zhuan by Qingxin Cairen On language, this Nôm verse is
under the influence of Vietnamese language as a primary source, and also that of Qingxin Cairen’s Literary Sinitic, as well as of premodern East Asian Literary Sinitic Such way of identifying linguistic sources provides us a trend to investigate
incomprehensible words in The Tale of Kiều This paper bases on etymology to examine the etymon of “như tờ”, as in “Buồng không lạnh ngắt như tờ”, “Kiều nhi phận mỏng như tờ”, “Chung quanh lặng ngắt như tờ” in The Tale of Kiều, as well as
in other Nôm verses “Như tờ” has previously been explained in two ways: (1) like a sheet of paper, and (2) like a temple, since tờ derives from từ in từ vũ indicating
temple Both these two viewpoints remain unverifiable This paper attempts at examining China’s Literary Sinitic sources to argue and support the former, but let the latter unsolved
Key words: The Tale of Kiều, etymology, interprete, Nguyễn Du (1765-1820)
Trang 22
Cấu trúc bài viết:
1 Tiểu dẫn
2 Ngữ liệu và phân tích ngữ liệu như tờ trong văn Nôm
3 Một cách lí giải nguyên từ của như tờ trong cổ Hán văn
4 Tiểu kết
***
1 Tiểu dẫn
Xét từ góc độ ngôn ngữ, hiện nay, nếu đọc lướt Truyện Kiều thì dường như ai
cũng hiểu dù ít dù nhiều đại thể ý nghĩa của từng câu từng đoạn; nhưng, nếu dừng lại ở một điểm nào đó, rồi hỏi ý nghĩa của từng từ từng chữ, thì chưa hẳn lúc nào chúng ta cũng có câu trả lời thoả đáng, ngay cả với nhà ngôn ngữ học lịch sử tiếng Việt, chứ chưa nói đến độc giả phổ thông Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do khoảng cách thời gian từ khi kiệt tác văn chương này vấn thế cho đến nay đã trên 200 năm, độ lùi thời gian khiến cho nhiều từ ngữ, nhiều cách diễn đạt xưa đã trở nên lạ lẫm đối với độc giả đương đại Điều này là một trở ngại lớn để độc giả đương đại giải đọc và tiếp nhận các tác phẩm văn học cổ
Một trong những công cụ đắc lực giúp giải đọc từ ngữ cổ là từ nguyên học (etymology) Đây là một phân môn của ngôn ngữ học, nghiên cứu về nguồn gốc và lịch sử của từng từ riêng biệt Từ nguyên học có nhiệm vụ tìm hiểu và giải thích những hình thức và ý nghĩa gốc của từ, chú ý trước hết đến những từ mà nghĩa gốc bị lu mờ trong ngôn ngữ đương đại Để tìm hiểu nguyên từ (etymon), cần lưu ý tới quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ, các quy luật biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa, các vấn đề lịch sử ngôn ngữ, đời sống của các dân tộc trong lịch sử.1 Ở Việt Nam, từ nguyên học được
bắt đầu với cuốn từ điển Việt ngữ chánh tả tự vịcủa Lê Ngọc Trụ,2 trong đó tác giả đã lồng ghép giải thích rất nhiều từ nguyên của tiếng Việt, đặc biệt là các từ gốc Hán Từ thập niên 1990 trở đi, An Chi (tên khác là Huệ Thiên) qua các bài viết của mình cũng chứng minh được rất nhiều trường hợp từ nguyên tiếng Việt, sau này được tập hợp vào
bộ sách nhiều tập nhan đề Chuyện Đông chuyện Tây do nhà xuất bản Trẻ ấn hành từ
năm 2005 Gần đây có thêm những nghiên cứu của Trần Trọng Dương (nhiều bài viết lẻ) ở trong nước, và Nguyễn Hy Vọng3 ở nước ngoài
Truyện Kiều của Nguyễn Du chịu ảnh hưởng về nội dung cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân; còn về ngôn từ sử dụng, thì chịu ảnh hưởng từ
tiếng Việt là chủ yếu, nhưng cũng còn có ảnh hưởng nhất định từ ngôn ngữ Hán văn của Thanh Tâm Tài Nhân, cũng như mở rộng ra là từ ngôn ngữ Hán văn nói chung trong thời trung đại ở Đông Á Xác định nguồn gốc dụng ngôn như vậy sẽ khiến cho chúng ta có một định hướng trong việc tìm hiểu ngữ nghĩa của một số trường hợp
ngôn từ khó lí giải trong Truyện Kiều Bài viết này xuất phát từ góc độ từ nguyên học
1
Về khái niệm từ nguyên học (etymology) và nguyên từ (etymon), xem: Nguyễn Thiện Giáp, 777
khái niệm ngôn ngữ học, Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr 456-457
2
Lê Ngọc Trụ, Việt ngữ chánh tả tự vị, Saigon: Thanh Tân, 1959
3
Nguyễn Hy Vọng, Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, 3 tập, California: Đất Việt, 2012
Trang 33
để tìm hiểu nguyên từ (etymon) của cách nói “như tờ” được Nguyễn Du sử dụng trong
Truyện Kiều, cũng như còn được các tác giả khác sử dụng trong truyện Nôm của họ
2 Ngữ liệu và phân tích ngữ liệu như tờ trong văn Nôm
a Những ngữ liệu như tờ trong văn Nôm
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có 3 lần sử dụng như tờ
“Buồng không lạnh ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.” (câu 71-72)
“Chung quanh lặng ngắt như tờ,
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai.” (câu 2753-2754)
“Kiều nhi phận mỏng như tờ,
Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng.” (câu 2777-2778)
Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng có 2 lần sử dụng:
“Ngàn mây trắng bạc như tờ,
Bóng dâu chênh chếch đã vừa ngang vai.” (câu 1211-1212)
“Phận sao phận mỏng như tờ,
Nợ sinh thành biết bao giờ trả xong.” (câu 1433-1434)4
b Những chữ Nôm ghi như tờ
Ở hai bản Nôm cổ nhất, Liễu Văn đường 1866 và Liễu Văn đường 1871, vốn thuộc hệ bản Phường (là hệ thống văn bản mà, theo tôi, lưu giữ được nhiều nét nguyên
bản hơn hệ thống bản Kinh, chữ Nôm ghi cụm từ như tờ được viết rất thống nhất là “
如詞” Tương tự, bản Nôm Hoa tiên nhuận chính kí hiệu VNb.72, tờ 25b cũng ghi mặt
chữ Nôm là “如詞” đối với câu số 1211, còn ngữ liệu Truyện Hoa tiên ở câu số 1433
kể trên thì chưa rõ Lại Ngọc Cang lấy từ bản Nôm nào, tạm để tồn nghi
c Những từ đi kèm với như tờ: lạnh ngắt, lặng ngắt, mỏng, trắng bạc
Có 3 từ đi kèm với như tờ là lạnh ngắt, lặng ngắt, mỏng, trắng bạc
(1) Lạnh ngắt ở câu Kiều số 71, một số bản Quốc ngữ phiên là lặng ngắt, như
nhóm Nguyễn Văn Hoàn (1965: 16), Đào Duy Anh (1974: 455); tôi phiên là lạnh ngắt,
dựa theo mặt chữ Nôm viết là “冷�” ở các bản Liễu Văn đường 1866 và Liễu Văn đường 1871, là những Nôm cổ nhất trong hệ thống bản Phường.5
(2) Lặng ngắt ở câu Kiều số 2753, một số bản Quốc ngữ phiên là lạnh ngắt, tôi
phiên là lặng ngắt, cũng dựa theo mặt chữ Nôm viết là “ 汔” (chữ thứ nhất không có
bộ băng 冫), như ở hai bản Liễu Văn đường cổ nhất
(3) Mỏng ở câu Kiều số 2777, hai bản Liễu Văn đường ghi chữ Nôm là 蒙, đọc
là mỏng, không bản Quốc ngữ nào có cách đọc khác
4
Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện, Truyện Hoa tiên, Lại Ngọc Cang khảo thích và giới thiệu, Hà Nội: Văn hoá, 1961, tr 183, 205 Lại Ngọc Cang không chú giải nghĩa của từ như tờ
5
Nguồn ảnh chụp: Nguyễn Du, Đoạn trường tân thanh – Truyện Kiều đối chiếu Nôm – Quốc ngữ,
Thế Anh dịch, phiên âm và khảo dị, Hà Nội: Văn học, 2013, tr 54
Trang 44
(4) Trắng bạc ở câu Truyện Hoa tiên số 1211, bản phiên của Lại Ngọc Cang
(1961) không in nguyên bản chữ Nôm, tôi sử dụng bản Nôm kí hiệu VNb.72, tờ 25b ghi chữ “�泊”, phiên trắng bạc là chính xác
d Những cách chú giải nghĩa như tờ trước đây
(1) Như tờ giấy (1884)
Người đầu tiên đề xuất cách hiểu như tờ là học giả Pháp Abel Des Michels trong bản dịch và chú giải Truyện Kiều sang tiến Pháp in năm 1884 Câu 71 ông ghi là
“Phòng không lạnh ngắt nhữ [như] tờ” và dịch là “Sa chambre vide était froide et silencieuse”, rồi chú thích cách dịch từng từ là “(Dans sa) chambre – vide – le froid – pinçait – comme – un feuille de papier”.6 Có nghĩa là, dịch giả đã hiểu như tờ là như tờ giấy (comme un feuille de papier) Đó là cách hiểu hiển ngôn đầu tiên về như tờ trong lịch sử giải đọc Truyện Kiều
(2) Như đền thờ (1902)
Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (1854-1912) là tác giả của bản biên tập và chú giải
Truyện Kiều công phu, nổi tiếng (và cũng khá tai tiếng!), bản Nôm Đoạn trường tân thanh khắc in năm 1902 vốn có ảnh hưởng mạnh nhất tới tình hình Truyện Kiều trong
thế kỉ 20 Đối với câu số 71, Kiều Oánh Mậu đã chú giải bằng Hán văn khá cụ thể như sau (xem ảnh chụp):7
“如 祠 未 詳 一 說 祠 寂 也 寂 無 音 又 祠 祠 宇 但 祀
神無人喧鬧” Như tờ, vị tường Nhất thuyết, tờ, tịch dã
Tịch vô âm Hựu, tờ, từ vũ, đãn dĩ tự thần, vô nhân
huyên náo (Như tờ, chưa rõ Một thuyết nói tờ là yên
lặng, không có tiếng động Một thuyết khác nói tờ là
trong từ vũ [đền thờ], chỉ để thờ thần, không ai làm ồn
ào)
Kiều Oánh Mậu cho rằng có 2 thuyết <1> Tờ là
yên lặng, không có tiếng động <2> Tờ là đền thờ, tức là
bắt nguồn từ chữ từ trong từ vũ 祠宇, nghĩa là đền thờ, là
nơi trang nghiêm yên lặng, không có tiếng động Cách
<1> không thực sự rõ ràng, và hẳn là ai cũng có thể hiểu
như vậy, cho nên không có gì mới mẻ Đáng kể là cách
<2> cho rằng tờ là đền thờ, bổ sung thêm một cách cắt nghĩa như tờ trong lịch sử giải đọc Truyện Kiều
Bắt đầu từ hai cách hiểu trên, trong suốt thế kỉ 20, hàng trăm bản chú giải
Truyện Kiều bằng chữ Quốc ngữ đã lựa chọn một trong hai cách lí giải ấy, hầu hết đều
lựa chọn cách (1), vì quá nhiều ví dụ nên xin miễn ghi cụ thể; cũng có những bản lựa
chọn cách (2), như Bùi Khánh Diễn chú là “Tờ tức Từ đọc trạnh, nói phong-cảnh
6
Abel Des Michels, Les poèmes de l'Annam Kim Vân Kiều tân truyện (Tome premier), Paris: Ernest
Leroux, 1884, tr 18-19
7
Nguyễn Du, Đoạn trường tân thanh – Truyện Kiều đối chiếu Nôm – Quốc ngữ, Thế Anh dịch, phiên
âm và khảo dị, Hà Nội: Văn học, 2013, tr 54
Trang 55
mịch lạnh-lẽo như đền miếu”.8 Cũng có những bản sâm si cả hai cách, như trường hợp Đào Duy Anh (1974), ông ghi là: “như tờ giấy” đối với cách hiểu câu số 2777, và “như đền thờ” đối với hai câu còn lại.9
Với nguồn ngữ liệu từ điển cổ, ở Từ điển Việt Bồ La (1651) của A de Rhodes chưa thấy xuất hiện cụm từ như tờ Cụm từ này xuất hiện sớm nhất ở Tự vị Annam- Latinh (1772-1773) của P P de Behaine, chỉ ghi đơn giản: “Lặng như tờ: lặng phăng
phắc”, và liệt kê mục từ “lặng như tờ” này bên cạnh các mục từ “tờ thẻ, tờ mây, tờ giấy, tờ sách, trở tờ”,10 tức hiểu tờ là tờ giấy Đến Đại Nam quốc âm tự vị (1895-1896) của Huỳnh Tịnh Của thì ghi nghĩa các từ lặng lẻ [lẽ], lặng trang, lặng bặt, lặng như tờ đều là “êm ái, vắng vẻ, không động dạng” (tr 542), “biển lặng như tờ” là “biển lặng trang”, “lặng như tờ giấy trải” là “lặng trang” (tr 1064), tức cũng hiểu tờ là tờ giấy,
trang giấy, theo cách hiểu (1) Các từ điển về sau đều hiểu theo cách này, xin miễn nêu dẫn chứng
Cả hai cách hiểu (1) và (2) kể trên đều nặng tính phán đoán, chưa chỉ rõ nguồn ngữ liệu trước đó nằm ở đâu, vì vậy chưa đủ căn cứ khoa học
3 Một cách lí giải nguyên từ của như tờ trong cổ Hán văn
Như đã trình bày trên, về ngôn từ, ngoài nguồn ngữ liệu tiếng Việt, Truyện Kiều còn chịu ảnh hưởng nhất định từ ngôn ngữ Hán văn trong nguyên truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, cũng như mở rộng ra là từ ngôn ngữ Hán văn nói chung trong thời trung đại ở Đông Á Trong Truyện Kiều sử dụng nhiều điển tích điển cố trong ngữ liệu Hán văn cổ Trung Hoa Vì vậy, với trường hợp như tờ, có lẽ
cũng cần mở rộng phạm vi tìm kiếm sang nguồn ngữ liệu Trung Hoa
a Mỏng như tờ = bạc như chỉ (薄 如 紙)
Ngữ liệu sớm nhất mà tôi tìm được có thể giúp đưa ra lời giải về nguồn gốc
cách nói như tờ là bài thơ Chiêu Quân oán 昭君怨của Bạch Cư Dị 白居 (772-846)
đời Đường, in trong Toàn Đường thi, quyển 23 Bài thơ này có 2 phần, hai câu kết của
phần thứ nhất là: “自是君 薄如紙, 不須一向 丹青” (Tự thị quân ân bạc như chỉ, Bất tu nhất hướng hận đan thanh Tự thấy ơn vua mỏng như tờ giấy, Bất tất phải một mực hờn giận vẻ xinh đẹp của mình) Trong ngữ liệu này, “bạc như chỉ” (mỏng như giấy) hoàn toàn trùng khít với cụm từ mỏng như tờ trong Truyện Kiều và Truyện Hoa tiên, có điều ở thơ Bạch Cư Dị, chủ thể của mỏng như tờ là ơn vua, còn trong hai
truyện Nôm là thân phận của người phụ nữ Bạch Cư Dị có vị trí quan trọng trong lịch
sử thơ Đường nói riêng và lịch sử thơ ca Trung Quốc nói chung, vì vậy việc người
Việt xưa đọc thơ ông, trong đó có bài Chiêu Quân oán để tiếp nhận và sử dụng ý thơ
“bạc như chỉ” thành “mỏng như tờ” là điều hoàn toàn có thể xảy ra trong thực tế ở Việt Nam
Từ đời Minh trở đi, cụm từ “bạc như chỉ” 薄如紙” (mỏng như giấy) thường được dùng khi mô tả độ mỏng của đồ sứ Lệ này bắt đầu từ Văn Chấn Hanh文震亨
8
Bùi Khánh Diễn chú thích (1926), Kim Vân Kiều (Đoạn-trường tân-thanh), Saigon: Sống mới, 1960
(in lần thứ 3), tr 26
9
Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, Hà Nội: Khoa học Xã hội, 1974, tr 299
10
Pierre Pigneaux de Behaine, Tự vị Annam Latinh, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới
thiệu, TP Hồ Chí Minh: Trẻ, 1999, tr 492
Trang 66
(1585-1645) người đời Minh, viết cuốn Trưởng vật chí長物志, khi mô tả đồ Sài diêu
柴窯,11 ông viết: “Xanh như da trời, sáng như gương, mỏng như giấy, tiếng như khánh” (青如天 明如鏡 薄如紙 聲如磬 Thanh như thiên, minh như kính, bạc như chỉ, thanh như khánh).12 Sau đó, Cốc Ưng Thái 谷應泰 (1620-1690) viết cuốn
Bác vật yếu lãm博物要覽, cũng trích dẫn lại lời Văn Chấn Hanh: “Người xưa bàn về
đồ Sài diêu, nói rằng: xanh như da trời, sáng như gương, mỏng như giấy, tiếng như
diêu viết: thanh như thiên, minh như kính, bạc như chỉ, thanh như khánh)
b Trắng bạc như tờ = bạch như chỉ (白 如 紙)
Sách Cổ kim y giám 古今醫鑒 do Cung Tín 龔信 (?-?) đời Minh biên tập, Cung Đình Hiền 龔廷賢 (1522-1619) tục biên, tổng cộng 16 quyển, là một bộ y thư mang tính tổng hợp Trong quyển 14, phần bàn về bệnh đậu mùa, có đoạn mô tả chứng bệnh này có thể nổi lên những mụn to, “bên trong là nước trong, không mủ, da mỏng, trắng như giấy, nặn vỡ thì chết” 內是清水,無膿皮薄,白如紙,擦破即死 (nội thị thanh thuỷ, vô nùng bì bạc, bạch như chỉ, sát phá tức tử).13 Trong đoạn trên có dùng cụm từ
“bạch như chỉ” 白如紙 (trắng như giấy), tương tự với “trắng bạc như tờ” trong văn
Nôm Truyện Hoa tiên đã dẫn trên Với niên đại xuất hiện khá sớm, từ thời Minh,
muộn nhất là đầu đời Thanh, tức đầu thế kỉ 17, cộng thêm ảnh hưởng khá lớn của y học Trung Quốc tới Việt Nam, cụm từ này cũng có khả năng ảnh hưởng tới ngôn ngữ văn Nôm Việt Nam giữa thế kỉ 18 Sau này, từ cuối đời Thanh trở đi, cũng như trong ngôn ngữ tiếng Trung Quốc hiện đại, cụm từ “mặt trắng như giấy” 臉白如紙 (kiểm bạch như chỉ) được sử dụng khá phổ biến
4 Tiểu kết
Cụm từ như tờ xuất hiện sớm nhất trong văn bản thành văn là vào năm
1772-1773, trong Tự vị Annam- Latinh của P P de Behaine, chỉ ghi đơn giản: “Lặng như tờ: lặng phăng phắc”, và hiểu tờ là tờ giấy Cụm từ này hẳn đã tồn tại từ trước thời
Nguyễn Du (1765-1820), bởi nó được từ điển ghi nhận từ năm 1772-1773 (khi Nguyễn
Du mới 8-9 tuổi), tức là nó phải xuất hiện trước đó ít lâu, nhưng nhiều khả năng là không thể có trước năm 1651 bởi từ điển của A de Rhodes chưa ghi nhận Tuy nhiên, cụm từ này hẳn đã trở nên nổi tiếng hơn bởi nó được Nguyễn Du sử dụng 3 lần trong
Truyện Kiều, cho nên Nguyễn Du có vai trò quan trọng trong việc phổ biến cụm từ này, khiến cho nó tồn tại mãi đến ngày nay Điều này cũng giống như cụm từ vang bóng đã có từ trước thời Nguyễn Tuân (1910-1987), nhưng nó chỉ trở nên nổi tiếng khi được dùng làm nhan đề cho tập truyện Vang bóng một thời (1940) của nhà văn này.14
11
Sài diêu 柴窯 : lò sứ nổi tiếng thời Ngũ Đại, thành lập năm 954, tương truyền người sáng lập là vua Thế Tông thời Hậu Chu, tên là Sài Vinh, nên gọi là Sài diêu (lò sứ của họ Sài) Màu men xanh đặc biệt của Sài diêu được người xưa ca ngợi là “vũ quá thiên thanh” (màu xanh da trời sau cơn mưa)
12
Văn Chấn Hanh 文震亨, 長物志圖說 ,濟南︰山東畫報出版社, 2004, tr 379
13
Cổ kim y giám 古今醫鑒, in trong Trung Hoa y thư tập thành – Tổng hợp loại 5 中华医书集成 : 综合类 5 , 北京:中医古籍出版社 , 1999, tr 252
14
Về từ nguyên của từ vang bóng, xem: Nguyễn Tuấn Cường, “Tiếng vang và cái bóng: Khảo luận nhan đề tác phẩm Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (qua ngữ liệu chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ),”
Tạp chí Ngôn ngữ, số 6/2011, tr 46-55
Trang 77
Về từ nguyên, có thể nghĩ đến một nguồn gốc của như tờ trong tiếng Việt bắt
nguồn từ cách nói “như chỉ” 如紙 (giống tờ giấy, như tờ giấy) trong cổ Hán văn Cụm
từ “bạc như chỉ” 薄如紙” (mỏng như giấy) xuất hiện trong thơ Bạch Cư Dị đời Đường, hoàn toàn tương đồng với cách kết hợp “mỏng như tờ” trong văn Nôm Tương tự, cụm
từ “bạch như chỉ” 白如紙 (trắng như giấy) bắt đầu được dùng trong tài liệu y học cuối đời Minh (muộn nhất là đầu đời Thanh, tức đầu thế kỉ 17), tương đồng với cách biểu
đạt “trắng bạc như tờ” trong văn Nôm Niên đại của hai cách kết hợp của “như chỉ” kể
trên ở cổ Hán văn cũng sớm hơn khá nhiều về mặt thời gian so với sự xuất hiện của
cụm từ “như tờ” trong tiếng Việt, vốn khó có thể sớm hơn năm 1651, và chắc chắn
không muộn hơn niên đại 1772-1773
Trên đây đã tạm phác hoạ một khả năng để truy tìm nguyên từ của như tờ trong Truyện Kiều cũng như trong văn Nôm nói chung Nguyên từ “như chỉ” 如紙 hiện nay mới chỉ có thể giải quyết được cách kết hợp “mỏng như tờ” và “trắng bạc như tờ” trong văn Nôm Còn hai cách kết hợp “lặng ngắt như tờ” và “lạnh ngắt như tờ” thì hiện chưa tìm được nguyên từ, vậy để tồn nghi, chờ tìm hiểu thêm
Hà Nội, tháng 7 năm 2015
Nguyễn Tuấn Cường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Du, Truyện Kiều bản Nôm Tự Đức thứ 19 Liễu Văn đường 1866, Thế Anh
phiên âm và khảo đính, Hà Nội: Văn học
2 Nguyễn Du, Truyện Kiều bản Nôm cổ nhất Liễu Văn đường 1871, Nguyễn Quảng
Tuân phiên âm và khảo dị, Hà Nội: Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học,
2002
3 Nguyễn Thiện Giáp, 777 khái niệm ngôn ngữ học, Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội,
2010, tr 456-457
4 Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện, Truyện Hoa tiên, Lại Ngọc Cang khảo thích và giới
thiệu, Hà Nội: Văn hoá, 1961, tr 183, 205
5 Abel Des Michels, Les poèmes de l'Annam Kim Vân Kiều tân truyện (Tome premier),
Paris: Ernest Leroux, 1884
6 Nguyễn Du, Đoạn trường tân thanh – Truyện Kiều đối chiếu Nôm – Quốc ngữ, Thế
Anh dịch, phiên âm và khảo dị, Hà Nội: Văn học, 2013
7 Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, Hà Nội: Khoa học Xã hội, 1974
8 Lê Ngọc Trụ, Việt ngữ chánh tả tự vị, Saigon: Thanh Tân, 1959
9 Nguyễn Hy Vọng, Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, 3 tập, California: Đất Việt, 2012
10 Bùi Khánh Diễn chú thích (1926), Kim Vân Kiều (Đoạn-trường tân-thanh), Saigon:
Sống mới, 1960 (in lần thứ 3)
11 Nguyễn Tuấn Cường, “Tiếng vang và cái bóng: Khảo luận nhan đề tác phẩm Vang
bóng một thời của Nguyễn Tuân (qua ngữ liệu chữ Hán, Nôm, Quốc ngữ),” Tạp chí Ngôn ngữ, số 6/2011, tr 46-55
Trang 88
12 Văn Chấn Hanh 文震亨, 長物志圖說 ,濟南︰山東畫報出版社,2004
13 Trung Hoa y thư tập thành – Tổng hợp loại 5 中华医书集成: 综合类 5 , 北京: