Ngoài ra còn có những cuốn như Trung Quốc điêu bản nguyên lưu khảo 中国雕 版源流考 Khảo về nguồn gốc và diễn biến của ván khắc ở Trung Quốc của Tôn Dục Tu 孙毓修 chẳng hạn, cuốn này đã khảo chứng
Trang 1TỔNG THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG THẾ KỈ XX VỀ VĂN BẢN HỌC
TỔNG THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU
TRONG THẾ KỈ XX VỀ VĂN BẢN HỌC
TÀO CHI () - TƯ MÃ TRIỀU QUÂN ()
ăn bản học là ngành khoa học vừa
lâu đời lại vừa non trẻ, ngành khoa
học này đã trải qua nhiều biến động
trong thế kỉ XX, vượt qua một chặng
đường dài và gập ghềnh Chúng ta tiến
hành nhìn lại và tổng kết về những
nghiên cứu trong thế kỉ XX về văn bản
học, đây là một việc rất có ý nghĩa
1 Văn bản học trong nửa đầu thế
kỉ XX
Lấy thời điểm thành lập nhà nước
Trung Quốc mới làm cột mốc, có thể
chia việc nghiên cứu trong thế kỉ XX về
văn bản học thành hai thời kì Trong nửa
đầu thế kỉ XX, xã hội có nhiều biến
động, chiến tranh liên miên Nhưng, do
kĩ thuật ấn loát cơ khí thời cận đại (bao
gồm in nổi 凸版, in phẳng 平版, in chìm
凹版) truyền vào Trung Quốc, nên đã
nâng cao rất nhiều hiệu suất chế tác sách
vở, các loại văn bản sách vở cũng tăng
mạnh, từ đó thúc đẩy sự phát triển của
nghiên cứu văn bản học
1.1 Trước tác văn bản học
Lịch sử văn bản học Trung Quốc tuy
có thể truy nguyên sớm nhất đến thời
Tiên Tần, nhưng việc xuất hiện các
chuyên luận về văn bản học lại là sự kiện của giai đoạn đầu thế kỉ XX Nhìn
chung người ta cho rằng, cuốn Thư lâm
thanh thoại 书林清话 (Lời thanh nhàn
trong rừng sách) của Diệp Đức Huy 叶德辉 là chuyên luận sớm nhất về văn bản học Diệp Đức Huy (1864-1927) tên
tự là Hoán Bân 焕彬, hiệu là Trực Sơn
直山 và Hề Viên 郋园, người huyện Trường Sa 长沙 tỉnh Hồ Nam 湖南 Họ Diệp học thức hơn người, ham thích lưu trữ, hiệu khám, và xuất bản cổ thư, ông là nhà tàng thư và nhà văn bản học trứ danh vào giai đoạn cuối thời Thanh đầu thời
Dân Quốc Thư lâm thanh thoại được
viết vào những năm cuối thời Thanh, được khắc năm 1919 Cuốn sách này đã bàn luận toàn diện về nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực văn bản học, như: tri thức cơ bản về văn bản học; chế độ thư tịch các đời; việc sao chép sách, khắc sách, và giám định văn bản qua các đời Trên cơ
sở sử liệu vô cùng bao quát, xen kẽ là những khảo biện [trình bày] tương đối mạch lạc, cuốn sách đã có ý nghĩa khai
V
() GS., Tiến sĩ;
() PGS.TS Đại học Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc.
Trang 2TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (87) - 2008 TÀO CHI - TƯ MÃ TRIỀU QUÂN
sáng trong lịch sử văn bản học(1) Ngoài
Thư lâm thanh thoại, Diệp Đức Huy còn
viết Tứ khố toàn thư bản bản khảo 四库
全书版本考 (Khảo về văn bản bộ Tứ
khố toàn thư), Hề Viên độc thư chí 郋园
读书志 (Ghi chép của Hề Viên khi đọc
sách), Tàng thư thập ước 藏 书 十 约
(Mười nguyên tắc trong việc lưu trữ
sách vở)…
Cuốn Bản bản thông nghĩa 版本通
义 (Luận giải các vấn đề văn bản học)
của Tiền Cơ Bác 钱() là một chuyên
luận văn bản học tiếp sau Thư lâm thanh
thoại, cuốn sách này viết năm 1930 và
được Thương vụ ấn thư quán ở Thượng
Hải xuất bản năm 1933 Toàn sách chia
làm bốn phần: Nguyên thủy đệ nhất 原
始第一 ghi chép về văn bản từ thời
thượng cổ đến thời Ngũ Đại; “Lịch sử đệ
nhị” 历史第二 ghi chép việc diên cách
văn bản các thời Tống Nguyên Minh
Thanh; Độc bản đệ tam 读本第三 ghi
chép về các thiện bản của các thư tịch
quan trọng trong tứ bộ [kinh, sử, tử, tập];
Dư kí đệ tứ 余记第四 ghi chép hỗn tạp
về những điều tâm đắc trong nghiên cứu
văn bản, vạch ra đường lối nghiên cứu(2)
Ngoài ra còn có những cuốn như Trung
Quốc điêu bản nguyên lưu khảo 中国雕
版源流考 (Khảo về nguồn gốc và diễn
biến của ván khắc ở Trung Quốc) của
Tôn Dục Tu 孙毓修 chẳng hạn, cuốn
này đã khảo chứng về nguồn gốc và diễn
biến của các bản khắc, chú trọng khảo
Trong nửa đầu thế kỉ XX, người ta
đã biên soạn nhiều bộ mục lục văn bản 版本目录 của các thư viện và nhà tàng thư, các mục lục văn bản này đã tập hợp những thành quả to lớn của việc giám định văn bản cổ tịch Những bộ [mục lục văn bản] có quy mô lớn phải kể đến
Nghệ Phong tàng thư kí 艺风藏书记, Nghệ Phong tàng thư tục kí 艺风藏书续
记, Nghệ phong tàng thư tái tục kí 艺风 藏书再续记, Giang Nam đồ thư quán
thiện bản thư mục 江南图书馆善本书
目(Thư mục các thiện bản trong Thư
viện Giang Nam), Thanh Học Bộ đồ thư
quán thiện bản thư mục 清学部图书馆
善本书目 (Thư mục các thiện bản trong Thư viện Bộ Học đời Thanh) đều của Mâu Thuyên Tôn 缪荃孙 [hiệu là Nghệ
Phong]; Cố cung sở tàng điện bản thư
mục 故宫所藏殿本书目 (Thư mục văn
bản sách trong cung điện lưu trữ tại Cố cung) do Bảo tàng Cố cung 故宫)物院
soạn; Cố cung thiện bản thư mục 故宫
善本书目 (Thư mục các thiện bản trong
Cố cung) của Trương Doãn Lượng 张允
亮; Văn Lộc đường phỏng thư kí 文禄堂
访书记 (Ghi chép trong lần thăm sách tại Văn Lộc đường) của Vương Văn
Tiến 王文进; Bắc Bình đồ thư quán
Trang 3TỔNG THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG THẾ KỈ XX VỀ VĂN BẢN HỌC
chép ngẫu nhiên về việc buôn bán sách)
và phần Tục biên 续编 của Tôn Điện
Khởi 孙殿起…
Cùng với quá trình truyền nhập và
phổ biến của kĩ thuật chụp ảnh phương
Tây, sau bản khắc Lưu chân phả 留真谱
(Sách về kĩ thuật chụp ảnh) của Dương
Thủ Kính 杨守敬, trong nửa đầu thế kỉ
XX, người ta đã sử dụng kĩ thuật chế
bản bằng ảnh chụp để in không ít thư
ảnh thiện bản 善本书影 (ảnh chụp các
sách thiện bản), ví dụ như Thiết Cầm
Đồng Kiếm lâu Tống Kim Nguyên bản
thư ảnh 铁 琴 铜 剑 楼 宋 金 元 本 书 影
(Thư ảnh các văn bản đời Tống- Kim-
Nguyên lưu trữ trong lầu Thiết Cầm
Đồng Kiếm) của Cù Khải Giáp 瞿启甲;
Cố cung thiện bản thư ảnh sơ biên 故宫
善本书影初编 (Sơ bộ biên soạn thư ảnh
các thiện bản tại Cố cung) của Trương
Doãn Lượng 张允亮; Bát Sơn thư ảnh
钵山书 影 (Thư ảnh tại Bát Sơn) của
Liễu Di Trưng 柳 诒 徵 ; Gia Nghiệp
đường thiện bản thư ảnh 嘉业堂善本书
影 (Thư ảnh các thiện bản tại Gia Nghiệp
đường) của Lưu Thừa Cán 刘 承 干 ;
Trùng chỉnh Nội các đại khố tàn bản thư
ảnh 重整内阁大库残本书影 (Thư ảnh
các văn bản tàn khuyết trong kho lớn
của Nội các - Bản đã chỉnh lí lại) do
phòng Văn hiến của Thư viện Cố cung
biên soạn; Văn Lộc đường thư ảnh 文禄
堂书 影 (Thư ảnh tại Văn Lộc đường)
của Vương Văn Tiến 王 文 进 ; Thiệp
Viên sở kiến Tống bản thư ảnh 涉园所
见宋版书影 (Thư ảnh các văn bản đời
Tống mà Đào Thiệp Viên đã xem) của
Đào Tương 陶湘; Minh đại bản bản đồ
lục sơ biên 明代版本图录初编 (Sơ bộ
biên soạn thư ảnh các văn bản đời Minh)
do Cố Đình Long 顾廷龙 và Phan Cảnh Trịnh 潘景郑 cùng soạn… Trong các
sách này, cuốn Minh đại bản bản đồ lục
sơ biên đã bắt đầu chuyển hướng sự chú
ý từ văn bản đời Tống - Nguyên sang văn bản đời Minh, vượt xa những trước tác văn bản học còn lại về tầm nhìn xa
và độ uyên bác Về việc mở rộng lĩnh vực nghiên cứu văn bản học, cuốn sách này đã thay đổi thói “nịnh Tống” 佞宋 vẫn quen thuộc bấy nay, tạo nên ảnh hưởng tích cực(4) Những lời đề 题 (lời tựa) lời bạt 跋 của các danh gia là kết
tinh việc khảo đính của các nhà văn bản học về văn bản cổ tịch, có giá trị hết sức mẫu mực cho đời sau giám định văn bản Trong nửa đầu thế kỉ XX có một số cuốn
sách tập hợp các lời đề lời bạt như: Sĩ Lễ
Cư tàng thư đề bạt tục lục 士礼居藏书
题跋续录 (Ghi thêm về lời đề lời bạt
cho tàng thư Sĩ Lễ Cư), Nhiêu Phố tàng
cho lầu Hồng Vũ) đều do Mâu Thuyên
Tôn tập hợp; Nhiêu Phố tàng thư đề chí
tục lục 荛圃藏书题识续录 (Viết tiếp về
các ghi chép về các lời đề cho tàng thư
Nhiêu Phố), Nhiêu Phố tàng thư đề chí
tái tục lục 荛圃藏书题识再续录 (Lại
viết tiếp về các ghi chép về các lời đề
cho tàng thư Nhiêu Phố), Tư Thích trai
thư bạt 思适斋书跋 (Lời bạt cho sách tại
thư phòng Tư Thích) đều do Vương Đại
Long 王大隆 tập hợp; Đại Vân thư khố
Trang 4TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (87) - 2008 TÀO CHI - TƯ MÃ TRIỀU QUÂN
tàng thư đề chí 大云书库藏书题识 (Ghi
chép các lời đề cho các sách trong kho sách
Đại Vân) của La Kế Tổ 罗继祖…
1.3 Các nhà văn bản học
Nửa đầu thế kỉ XX đã xuất hiện rất
nhiều nhà văn bản học như: Mâu
Thuyên Tôn 缪荃孙, Diệp Đức Huy 叶
德辉, Vương Quốc Duy 王国维, Lỗ Tấn
phần lớn đều là bậc đại sư quốc học,
thành tựu học thuật của họ không thể
tách rời với văn bản học Vương Quốc
Duy soạn Ngũ Đại Lưỡng Tống giám
bản khảo 五代两宋监本考 (Khảo về
các bản ở trường Giám đời Ngũ Đại và
Lưỡng Tống), Lưỡng Chiết cổ san bản
giản 木简 khai quật trong sa mạc [ở Đôn
Hoàng]), Tống Nguyên thích tạng san
齐伋ở Ngô Hưng đời Minh); Hồ Thích
sử dụng các loại văn bản để nghiên cứu
Thuỷ kinh chú 水经注… Sau đây chủ
yếu giới thiệu thành tựu về mặt văn bản
học của Lỗ Tấn, Phó Tăng Tương, Trương
Nguyên Tế, Vương Trọng Dân
Lỗ Tấn (1881-1936), tên thật là Chu Thụ Nhân 周树人, tự là Dự Tài 豫才, người huyện Thiệu Hưng 绍兴 tỉnh Chiết Giang 浙江, ông là nhà văn và nhà tư tưởng trứ danh Ông rất ham thích cổ tịch, có nhiều nghiên cứu về nguyên lưu văn bản và giám định văn bản cổ tịch
Khi sưu tập Cổ tiểu thuyết câu trầm 古
小说钩沉 (Tìm tòi trong tiểu thuyết cổ),
Hậu Hán thư 后汉书 của Tạ Thẩm 谢沈, Vân Cốc tạp kí 云谷杂记 (Tạp kí ở Vân
Cốc), Chí lâm 志林 (Ghi chép tản mạn),
Phạm tử Kế Nhiên 范子计然 (Truyện về
Phạm Lãi 范蠡 và thầy học là Kế Nhiên),
Đường Tống truyền kì tập 唐宋传奇集…
và hiệu đính Kê Khang tập 嵇康集, Lỗ
Tấn tỏ ra tinh thông về văn bản, thể hiện một nền tảng văn bản học vững chắc Lưu giữ rất nhiều sách vở, việc xuất bản được duy trì liên tục, có thực tiễn chỉnh
lí cổ tịch, những điều này đã tạo nên tên tuổi của nhà văn bản học Lỗ Tấn(5) Phó Tăng Tương (1872-1949), tự là Nguyên Thúc 沅叔, người huyện Giang
An 江安 tỉnh Tứ Xuyên 四川, ông là nhà giáo dục và nhà văn bản học nổi tiếng Các tác phẩm quan trọng gồm:
Song Giám lâu thiện bản thư mục 双鉴
楼善本书目 (Thư mục các thiện bản tại
lầu Song Giám), Tàng Viên quần thư đề
kí 藏园群书题记 (Lời đề kí cho các
sách của Tàng Viên cư sĩ [Phó Tăng
Tương]) Tàng Viên quần thư kinh nhãn
lục 藏园群书经眼录 (Ghi chép về những
sách vở mà Tàng Viên cư sĩ đã xem)… Ông ham thích việc hiệu đính thư tịch chẳng khác gì trời lạnh cần áo, khi đói thèm ăn, không ngày nào bỏ bễ, phương pháp chủ yếu để ông giám định văn bản
Trang 5TỔNG THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG THẾ KỈ XX VỀ VĂN BẢN HỌC
là hiệu khám sự dị đồng về văn tự Việc
khảo chứng văn bản ở nhiều thiên chương
trong Tàng Viên quần thư đề kí có liên
quan đến hiệu đính thư tịch Cả đời ông
hiệu đính được hơn 1600 quyển sách,
giám định hơn 4500 cổ tịch
Trương Nguyên Tế (1867-1959), tự
là Tiểu Trai 筱斋, hiệu là Cúc Sinh 菊生,
người huyện Hải Diêm 海盐 tỉnh Chiết
Giang Ông là người đặt nền móng cho
Thương Vụ ấn thư quán 商务印书馆
(Nhà in Thương vụ), là nhà xuất bản và
nhà văn bản học lừng danh, có viết Hiệu
sử tùy bút 校史随笔 (Tùy bút khi hiệu
đính sách lịch sử)… Thiệp Viên tự bạt
tập lục 涉园序跋集录 (Sưu tập các lời
tựa bạt cho sách trong tàng thư Thiệp
Viên) là bộ vựng biên các bài tựa bài bạt
của ông, mỗi bài tựa bài bạt của ông đều
cho thấy sự tinh thâm về khảo chứng
văn bản Trong quá trình chọn bản nền
cho bộ Tứ bộ tùng san 四部丛刊 và
Bách nạp bản Nhị thập tứ sử 百衲本二
十 四 史 , ông đã hao tâm tổn huyết,
không quản khó khăn, đóng góp một
lượng lớn các thư ảnh thiện bản cổ tịch
cho hậu thế
Vương Trọng Dân (1903-1975), tự
là Hữu Tam 友三, hiệu là Lãnh Lư chủ
nhân 冷 庐 主 人 (Người chủ căn nhà
lạnh), người huyện Cao Dương 高 阳
tỉnh Hà Bắc 河北, ông là nhà mục lục
học và nhà văn bản học nổi tiếng, có viết:
Lão tử khảo 老子考, Đôn Hoàng cổ tịch
tự lục 敦煌古籍叙录 (Ghi chép về cổ
tịch ở Đôn Hoàng), Trung Quốc thiện
bản thư đề yếu 中国善本书提要 (Tóm
tắt các sách thiện bản của Trung Quốc)
Trung Quốc thiện bản thư đề yếu đã ghi
chép về hơn 4300 thiện bản cổ tịch mà
ông đích thân giám định, phương pháp giám định của ông đã đạt đến độ thành thục, có giá trị quan trọng trong lịch sử ngành văn bản học(6)
Một điều đáng chú ý là, khoảng những năm 1930, Bắc Kinh đồ thư quán 北京图书馆 (Thư viện Bắc Kinh) từng
là cái nôi sản sinh ra các nhà văn bản học Khi ấy Vương Trọng Dân, Hướng Đạt, Triệu Vạn Lí, Tạ Quốc Trinh 谢国
桢, Tôn Khải Đệ 孙楷第, Trương Tú Dân 张秀民… đều hội tụ tại Bắc Kinh
đồ thư quán Trong khuôn viên kì diệu này, họ sớm tối cùng nhau nghiên cứu văn bản, về sau đều thành những học giả nổi tiếng về văn bản học Giai thoại về rừng sách này sẽ mãi mãi được lịch sử ghi nhận
1.4 Bình giá việc nghiên cứu văn bản học
Trong nửa đầu thế kỉ XX, mặc dù việc nghiên cứu văn bản học đã gặt hái được những thành tựu kể trên, nhưng nói tóm lại, vấn đề lí luận văn bản học vẫn là một khoảng trống Dù trong điều
kiện thời bấy giờ, sự xuất hiện của Thư
lâm thanh thoại là hết sức đáng quý,
nhưng đó rốt cục cũng chỉ là việc sắp xếp và chất đống sử liệu, bởi còn thiếu màu sắc lí luận Một số nhà văn bản học
tự nhận trách nhiệm biên soạn mục lục văn bản, hao phí nhiều năm tuổi trẻ, nhưng chưa thận trọng ngồi lại để coi văn bản học là một ngành khoa học để nghiên cứu và tổng kết Đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng chỉ để lại toàn các mục lục văn bản dưới dạng sổ ghi chép Nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng này là: mãi đến nửa đầu thế kỉ XX, văn
Trang 6TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (87) - 2008 TÀO CHI - TƯ MÃ TRIỀU QUÂN
bản học vẫn tồn tại phụ thuộc vào mục
lục học và hiệu khám học mà chưa trở
thành một ngành khoa học độc lập
2 Văn bản học trong nửa sau thế
kỉ XX
Nửa sau thế kỉ XX cũng là 50 năm
sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa Trong 50 năm này, việc
nghiên cứu văn bản học đã tiến những
bước dài Xét một cách cụ thể có thể
chia thành ba giai đoạn
2.1 Giai đoạn thứ nhất (1949-1965)
Năm 1949 thành lập nước Trung
Quốc mới, mọi việc vừa mới bắt đầu,
nước Cộng hòa mới này còn chưa tìm ra
nhiều nhân lực, vật lực, và kinh phí để
theo đuổi công tác nghiên cứu văn bản
cổ tịch Cho dù như vậy, nghiên cứu văn
bản học vẫn đạt được một số thành tích
nhất định
2.1.1 Trước tác văn bản học
Văn bản học giai đoạn này có các
trước tác như Cổ tịch bản bản thiển
thuyết 古籍版本浅说 (Lạm bàn về văn
bản cổ tịch) của Trần Quốc Khánh 陈国
庆, Cổ thư bản bản thường đàm 古书版
本常谈 (Thường thức về văn bản cổ thư)
của Mao Xuân Tường 毛春翔, Trung
Quốc ấn loát thuật đích phát minh cập
kì ảnh hưởng 中国印刷术的发明及其影
响 (Việc phát minh kĩ thuật ấn loát của
Trung Quốc và ảnh hưởng của kĩ thuật
ấy) của Trương Tú Dân 张秀民 Cuốn
Cổ tịch bản bản thiển thuyết đã giải
thích rõ ràng và ngắn gọn về hơn 220
thuật ngữ văn bản học, có tác dụng nhất
định trong việc phổ cập thường thức về
văn bản học cũng như thúc đẩy việc quy
phạm hoá thuật ngữ văn bản học(7)
Cuốn Cổ thư bản bản thường đàm là sự
tổng kết kinh nghiệm của tác giả qua nhiều năm theo đuổi công tác chỉnh lí cổ tịch trong thư viện, toàn sách có câu chữ ngắn gọn, chú trọng bàn về các vấn đề nguyên lưu của văn bản cổ tịch và việc giám định văn bản cổ tịch(8) Cuốn Trung
Quốc ấn loát thuật đích phát minh cập kì ảnh hưởng có nội dung chia làm hai
phần: Phần thứ nhất tìm hiểu khởi nguyên của kĩ thuật ấn loát, đề xuất quan niệm kĩ thuật ấn loát bắt đầu từ những năm niên hiệu Trinh Quán 贞观 thời Đường; Phần thứ hai bàn về ảnh hưởng của kĩ thuật ấn loát Trung Quốc tới châu
Á, châu Phi, và châu Âu Cuốn sách này
có hai giá trị: một là nó đặt dấu mốc cho thấy việc nghiên cứu nguồn gốc và diễn biến của phương thức chế tác sách vở đã
có bước đột phá quan trọng; hai là đã chứng minh một cách tỉ mỉ rằng phát minh về kĩ thuật ấn loát là của Trung Quốc, đây là một phát minh cực kì quan trọng Trước đó đã có cuốn sách tương
tự là Trung Quốc ấn loát thuật đích phát
minh hoà tha đích Tây truyền 中国印刷
术的发明和它的西传 (Sự phát minh kĩ thuật ấn loát của Trung Quốc và quá trình truyền bá sang phương Tây của kĩ
thuật này) [tên sách tiếng Anh là The
Invention of Printing in China and Its Spread Westward] của học giả người Mĩ
làThomas Francis Carter, cuốn sách này
đã trưng dẫn một lượng lớn văn hiến của Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, bàn luận ngắn gọn nhưng toàn diện về việc phát minh ra kĩ thuật ấn loát và quá trình truyền bá của kĩ thuật này tới khắp các
Trang 7TỔNG THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG THẾ KỈ XX VỀ VĂN BẢN HỌC
nơi trên thế giới(9) Ở nhiều phương diện,
cuốn sách của Trương Tú Dân có thể bổ
sung cho những mặt khuyết thiếu trong
cuốn sách của Carter
2.1.2 Mục lục văn bản và vựng biên
thư bạt (các lời bạt cho sách)
Ngoài các trước tác văn bản học,
giai đoạn này còn biên soạn và in ấn một
lượng lớn các mục lục văn bản, như Bắc
Kinh đồ thư quán thiện bản thư mục 北
京图书馆善本书目 (Mục lục thiện bản
tại Thư viện Bắc Kinh), Bắc Kinh đại
học đồ thư quán thiện bản thư mục 北京
大学图书馆善本书目(Mục lục thiện
bản tại Thư viện Đại học Bắc Kinh),
Thượng Hải đồ thư quán thiện bản thư
mục 上 海 图 书 馆 善 本 书 目 (Mục lục
thiện bản tại Thư viện Thượng Hải),
Phúc Đán đại học đồ thư quán thiện bản
thư mục 复旦 大 学图书 馆 善本 书 目
(Mục lục thiện bản tại Thư viện Đại học
Phúc Đán), Nam Kinh đại học đồ thư
quán thiện bản thư mục 南京大学图书
馆善本书目 (Mục lục thiện bản tại Thư
viện Đại học Nam Kinh), Vũ Hán đại
học đồ thư quán tàng thiện bản thư mục
武汉大学图书馆藏善本书目(Mục lục
thiện bản lưu trữ tại Thư viện Đại học
Vũ Hán), Quảng Đông Trung Sơn đồ
thư quán tàng thiện bản thư mục 广东中
山图书馆藏善本书目(Mục lục thiện
bản lưu trữ lại Thư viện Trung Sơn ở
Quảng Đông), Thiên Tân thị Nhân Dân
đồ thư quán thiện bản thư mục 天津市
人民图书馆善本书目(Mục lục thiện
bản tại Thư viện Nhân Dân thành phố
Thiên Tân), Tăng đính Tứ khố giản minh
mục lục tiêu chú 增订四库简明目录标
注 (Biên soạn bổ sung mục lục ngắn gọn
có chú thích cho bộ Tứ khố toàn thư),
Trung Quốc địa phương chí tổng lục 中
国 地 方 志 综 录 (Tổng mục lục địa
phương chí Trung Quốc), Trung Quốc
tùng thư chí tổng lục 中国丛书志综录
(Tổng mục lục tùng thư chí Trung
Quốc)… Trong đó cuốn Tăng đính Tứ
khố giản minh mục lục tiêu chú vốn là
cuốn Tứ khố giản minh mục lục tiêu chú
四库简明目录标注 (Mục lục ngắn gọn
có chú thích cho bộ Tứ khố toàn thư), là
mục lục văn bản các sách được thu thập
trong bộ Tứ khố toàn thư 四库全书, [bộ
mục lục này] do Thiệu Ý Thìn 邵懿辰 người đời Thanh soạn, khắc in lưu hành năm thứ 3 niên hiệu Tuyên Thống 宣统 (năm 1911) Sau đó trải qua sự phê chú của các danh gia như Mâu Thuyên Tôn
và Vương Ý Vinh 王懿荣, lại được bổ sung bởi Thiệu Chương 邵章 (cháu của Thiệu Ý Thìn) và Thiệu Hữu Thành 邵
友诚 (chắt của Thiệu Ý Thìn), năm 1959 được Trung Hoa thư cục đổi thành tên
mới [Tăng đính Tứ khố giản minh mục
lục tiêu chú] để ấn hành
Trung Quốc địa phương chí tổng lục
là một bộ mục lục các văn bản địa phương chí, được nhà phương chí học nổi tiếng Trung Quốc là Chu Sĩ Gia 朱士嘉 biên soạn, Thương Vụ ấn thư
quán xuất bản năm 1958 Cuốn Trung
Quốc tùng thư tổng lục do Thượng Hải
đồ thư quán biên soạn, là một bộ mục lục văn bản quy mô lớn, thu thập tổng cộng 2797 bộ tùng thư, phụ thêm các
phần Tử mục thư danh sách dẫn 子目书
名索引 (Sách dẫn cho các sách thuộc bộ
Tử), Tử mục trước giả sách dẫn 子目著
者索引 (Sách dẫn cho các tác giả sách
Trang 8TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (87) - 2008 TÀO CHI - TƯ MÃ TRIỀU QUÂN
thuộc bộ Tử) và Toàn quốc chủ yếu đồ
thư quán thu tàng tình huống biểu 全国
主要图书馆收藏情况表 (Bảng tổng
quát tình hình lưu trữ tại các thư viện
lớn trên toàn quốc), vô cùng tiện dụng(10)
Các bộ sưu tập lời đề lời bạt của danh
gia cho cổ tịch được xuất bản thời kì này
có cuốn Quyển Am thư bạt 卷庵书跋 do
Cố Đình Long 顾廷龙 sưu tập, Diệp
Cảnh Quỳ 叶景葵 soạn; Cấp Cổ các thư
bạt 汲古阁书跋 (Các bài bạt cho sách ở
gác Cấp Cổ) do Phan Cảnh Trịnh 潘景
郑 hiệu đính, Mao Tấn 毛晋 soạn…
Năm 1960, Bắc Kinh đồ thư quán
biên soạn Trung Quốc bản khắc đồ lục
中国版刻图录 (Ghi chép về sách vở
tranh ảnh khắc in của Trung Quốc), đây
là bộ vựng biên thư ảnh thiện bản có quy
mô lớn chưa từng có, thu thập 550 thiện
bản cổ tịch, 724 tranh Nội dung của
cuốn sách chia thành 3 loại lớn là văn
bản khắc in, văn bản in chữ rời, tranh vẽ;
quyển đầu có một bài tựa lược thuật lịch
sử việc khắc ván gỗ tại Trung Quốc(11)
Cuốn sách này tuy đã chú ý đến những
khắc bản thời Minh - Thanh vốn được
lưu hành nhiều nhất trong xã hội, nhưng
còn xa mới có thể coi là đủ
2.1.3 Bình giá việc nghiên cứu văn
bản học
Lâu nay người ta đã có một vài ấn
tượng như sau: văn bản học là việc của
một số ít người, chẳng liên quan gì đến
mình; văn bản học tức là nghiên cứu văn
bản đời Tống - Nguyên, nếu không có
văn bản đời Tống - Nguyên thì đừng làm
văn bản học nữa; văn bản học là một
môn “huyền học” 玄学, chỉ có thể dùng
ý mà lĩnh hội chứ không thể dùng lời để
truyền đạt Tại sao lại xuất hiện tình hình ấy ? Nguyên nhân chủ yếu là do việc nghiên cứu lí luận văn bản học bị ngưng trệ nghiêm trọng Mặc dù hoạt động thực tiễn về văn bản học chưa từng ngừng nghỉ, nhưng mãi đến trước cuộc Đại cách mạng văn hoá vẫn chưa có cuốn sách nào trình bày về lí luận văn bản học Trong lĩnh vực nghiên cứu nguyên lưu của văn bản, dù không thể
phủ định công lao của cuốn Trung Quốc
ấn loát thuật đích phát minh cập kì ảnh hưởng, nhưng nó cũng có những thiếu
sót rõ ràng: một là phương pháp nghiên cứu còn đơn giản, thậm chí chỉ cần nhặt được dăm câu ba điều là đã vội vàng đi đến kết luận; hai là lẫn lộn giữa thời gian phát minh và thời gian lưu hành phổ biến của kĩ thuật ấn loát
2.2 Giai đoạn thứ hai (1966-1977)
Cách mạng văn hóa nổ ra năm 1966, gần như tất cả các hoạt động học thuật
và nghiên cứu khoa học đều bị đình trệ, nghiên cứu văn bản học cũng không thoát khỏi kiếp nạn đó Không chỉ có thế, một lượng lớn các văn bản cổ tịch bị coi
là “hàng đen” của chủ nghĩa phong kiến nên đã bị thiêu hủy không thương tiếc, đây cũng là một tổn thất to lớn cho việc nghiên cứu văn bản học Song, đầu những năm 1970, các nhà khảo cổ học
đã lần lượt khai quật được hàng loạt trúc
giản 竹简 (văn tự khắc trên thẻ tre trúc)
và bạch thư 帛书 (văn tự viết trên lụa)
tại núi Ngân Tước 银雀山 huyện Lâm Nghi 临沂 tỉnh Sơn Đông 山东, ở sườn núi Hạn Than 旱滩坡 huyện Vũ Uy 武
威 tỉnh Cam Túc 甘 肃 , và làng Mã Vương Đôi 马王堆 ở thành phố Trường
Trang 9TỔNG THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG THẾ KỈ XX VỀ VĂN BẢN HỌC
Sa 长沙 [tỉnh Hồ Nam], như các bản
trúc giản thời Tây Hán là Tôn tử binh
pháp 孙子兵法 và Tôn Tẫn binh pháp
孙膑兵法 ở núi Ngân Tước; các trúc
giản về y học đời Hán ở Vũ Uy, Cam
Túc; các bản bạch thư nhóm A (Giáp) và
nhóm B (Ất) của sách Lão tử 老 子 ,
Chiến Quốc tung hoành gia thư 战国纵
横家书 (Sách của Tung hoành gia thời
Chiến Quốc), và Trị pháp 治法 (Phép cai
trị)…; cung cấp tài liệu cho việc nghiên
cứu văn bản học, tạo điều kiện hết sức
thuận lợi cho việc nghiên cứu chế độ
“giản sách” 简策 và bạch thư đời Hán
2.3 Giai đoạn thứ ba (1978-1998)
Năm 1978 là thời điểm kết thúc 10
năm bão táp, dẹp loạn để trở lại yên bình,
nhiều điều trước đây bị phế bỏ thì nay
đã hưng khởi trở lại, việc nghiên cứu
văn bản học đã bay cao và vươn xa,
khiến người ta phải thán phục
2.3.1 Trước tác văn bản học mọc
lên như rừng
Kể từ năm 1978, rất nhiều chuyên
khảo văn bản học, mục lục, sách dẫn và
thư ảnh văn bản đã được xuất bản Về
chuyên khảo văn bản học có: Ngô Tắc
Ngu 吴则虞 với Bản bản thông luận 版
本通论 (đăng liên tục trên Tứ Xuyên đồ
thư quán học báo các năm 1978, 1979);
Ngụy Ẩn Nho 魏隐儒 với Trung Quốc
cổ tịch ấn loát sử 中国古籍 印刷史
(Lịch sử ấn loát cổ tịch Trung Quốc) và
Cổ tịch bản bản giám định tùng đàm 古
籍版本鉴定丛谈 (Bàn về việc giám
định văn bản cổ tịch, Ấn loát công
nghiệp xuất bản xã, 1984); Khâu Lăng
邱 陵 với Thư tịch trang tránh nghệ
thuật giản sử 书籍装帧艺术简史 (Lược
sử nghệ thuật trang trí tranh trong thư tịch, Hắc Long Giang nhân dân xuất bản
xã, 1984); Cù Miện Lương 瞿冕良 với
Bản khắc chất nghi 版刻质疑 (Các vấn
đề nghi ngờ về việc khắc ván, Tề Lỗ thư
xã, 1987); Đái Nam Hải 戴南海 với Bản
bản học khái luận 版本学概论 (Ba Thục
thư xã, 1989); Trương Tú Dân với Trung
Quốc ấn loát sử 中国印刷史 (Lịch sử
ấn loát ở Trung Quốc, Thượng Hải Nhân dân xuất bản xã, 1989), Nghiêm Tá Chi
严佐之 với Cổ tịch bản bản học khái
luận 古籍版本学概论 (Thượng Hải Hoa
Đông sư phạm đại học xuất bản xã,
1989); Lí Trí Trung 李致忠 với Lịch đại
khắc thư khảo thuật 历 代 刻 书 考 述
(Khảo thuật về sách khắc in qua các đời,
Ba Thục thư xã, 1990) và Cổ thư bản
bản học khái luận 古 书 版 本 学概 论
(Thư mục văn hiến xuất bản xã, 1990);
Trần Hoành Thiên 陈宏天 với Cổ tịch
bản bản khái yếu 古籍版本概要 (Liêu
Ninh giáo dục xuất bản xã, 1991); Trình Thiên Phàm 程千帆 và Từ Hữu Phú 徐
有富 với Hiệu thù quảng nghĩa- Bản
bản biên 校雠广义·版本编 (Các vấn
đề của hiệu thù học - Vấn đề văn bản, Tề
Lỗ thư xã, 1991); Tào Chi 曹之 với
Trung Quốc cổ tịch bản bản học 中国古
籍版本学 (Vũ Hán đại học xuất bản xã,
1992) và Trung Quốc ấn loát thuật đích
khởi nguyên 中国印刷术的起源 (Khởi
nguyên của kĩ thuật ấn loát Trung Quốc,
Vũ Hán đại học xuất bản xã, 1994);
Diêu Bá Nhạc 姚伯岳 với Bản bản học
版本学 (Bắc Kinh đại học xuất bản xã,
1993); Lư Hiền Trung 卢贤中 với Cổ
đại khắc thư dữ cổ tịch bản bản 古代刻
书与古籍版本 (Sách khắc in thời cổ và
Trang 10TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (87) - 2008 TÀO CHI - TƯ MÃ TRIỀU QUÂN
văn bản cổ tịch, An Huy đại học xuất
bản xã, 1995); Trương Chí Cường 张志
强 với Giang Tô đồ thư ấn loát sử 江苏
图书印刷史 (Lịch sử ấn loát đồ thư
(tranh và sách) ở Giang Tô, Giang Tô
nhân dân xuất bản xã, 1995); Nhóm Tạ
Thủy Thuận 谢水顺 với Phúc Kiến cổ
đại khắc thư 福建古代刻书 (Sách khắc
in thời xưa ở Phúc Kiến, Phúc Kiến
nhân dân xuất bản xã, 1997)… Về mục
đời Minh, Quảng Lăng cổ tịch khắc ấn
xã, 1983); Trung Quốc địa phương chí
liên hợp mục lục 中国地方志联合目录
(Mục lục tổng hợp về tài liệu địa
phương chí Trung Quốc, Trung Hoa thư
cục, 1985); Dương Thằng Tín 杨绳信
biên soạn Trung Quốc bản khắc tổng lục
中国版刻综录 (Tổng mục lục khắc ván
Trung Quốc, Thiểm Tây nhân dân xuất
bản xã, 1987); Trung Quốc khoa học
viện thư quán tàng Trung văn cổ tịch
thiện bản thư mục 中国科学院图书馆
藏中文古籍善本书目(Thư mục thiện
bản cổ tịch Trung văn lưu trữ tại thư
viện Viện Hàn lâm khoa học Xã hội
Trung Quốc, Khoa học xuất bản xã,
1994); Hồ Nam tỉnh cổ tịch thiện bản
thư mục 湖 南 省 古 籍 善 本 书 目 (Thư
mục thiện bản cổ tịch tỉnh Hồ Nam,
Nhạc Lộc thư xã, 1998); Vương Triệu
Văn 王肇文 biên soạn Cổ tịch Tống
Nguyên san công tính danh sách dẫn 古
籍宋元刊工姓名索引 (Bảng tra tên họ các thợ khắc ván thời Tống - Nguyên, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1990);
Nhóm La Vĩ Quốc 罗伟国 biên soạn Cổ
tịch bản bản đề kí sách dẫn 古籍版本题
记索引 (Bảng tra các lời đề và kí trong văn bản cổ tịch, Thượng Hải thư điếm, 1991); Lí Quốc Khánh 李国庆 biên soạn
Minh đại san công tính danh sách dẫn
明代刊工姓名索引 (Bảng tra tên họ thợ khắc ván đời Minh, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1998); Thượng Hải đồ thư quán 上海图书馆 (Thư viện Thượng
Hải) biên soạn Thiện bản thư ảnh 善本
书影 (Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1978); Hoàng Thường 黄裳 biên soạn
Thanh đại bản khắc nhất ngung 清代版
刻一隅 (Sưu tập một phần ván khắc đời Thanh, Tề Lỗ thư xã, 1992); Nhóm Hoàng Vĩnh Niên 黄 永 年 biên soạn
Thanh đại bản bản đồ lục 清代版本图
录 (Mục lục có kèm ảnh chụp các văn bản đời Thanh, Chiết Giang nhân dân xuất bản xã, 1997)… Ngoài ra, ở Đài Loan thời kì này cũng xuất bản không
ít trước tác văn bản học, trong đó có Lí
Thanh Chí 李清志 Đồ thư bản bản
giám định nghiên cứu 图书版本鉴定
研究 (Giám định và nghiên cứu văn bản đồ thư, Đài Loan văn sử triết xuất bản xã, 1980); Khuất Vạn Lí 屈万里
và Peter Chang 昌彼得 viết Đồ thư
bản bản học yếu lược 图书版本学要略
(Khái lược văn bản học đồ thư, Đài Loan Trung Quốc văn hóa Đại học xuất bản bộ, 1989)… Theo thống kê chưa đầy đủ, trong thời kì này [1978-1998], các tạp chí trên toàn quốc đã đăng tải 2005 bài nghiên cứu về vấn đề
Trang 11TỔNG THUẬT NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG THẾ KỈ XX VỀ VĂN BẢN HỌC
văn bản học, nhiều gấp 15 lần so với
giai đoạn 1900-1977
2.3.2 Nghiên cứu về lí luận cơ sở
của văn bản học
Lí luận cơ sở của văn bản học là trụ
cột nâng đỡ ngành khoa học này Ý thức
được tính trọng yếu của vấn đề trên,
nhiều nhà nghiên cứu đã công bố không
ít các bài tranh luận trên các tạp chí
Trong giai đoạn này có 185 bài nghiên
cứu về lí luận cơ sở của văn bản học,
trong đó có thể kể đến: Lư Trung Nhạc
卢中岳 với Bản bản học nghiên cứu
mạn nghị 版本学研究漫议 (Lạm bàn về
việc nghiên cứu văn bản học); Lí Trí
Trung 李致忠 với Luận cổ thư bản bản
khảo biện ‘版本’ 考辨 (Khảo biện về
thuật ngữ ‘văn bản’); Vương Quốc
Cường 王国强 với Quan vu Trung Quốc
cổ tịch bản bản học cơ bản lí luận
nghiên cứu hiện trạng thuật bình 关于
中国古籍版本学(本理论研究现状述
评 (Thuật bình về hiện trạng nghiên cứu
lí luận cơ bản của ngành văn bản học cổ
tịch Trung Quốc); Chu Thiết Cường 周
铁强 với Cận niên lai cổ tịch bản bản
học lí luận nghiên cứu thuật bình 近年
来古籍版本学理论研究述评 (Thuật
bình việc nghiên cứu lí luận văn bản học
trong những năm gần đây); Thạch Hồng
Vận 石洪运 với Bản bản học cơ sở lí
luận nghiên cứu thuật bình 版本学(础
理论研究述评 (Thuật bình việc nghiên
cứu lí luận cơ sở của ngành văn bản học)… Không ít chuyên luận văn bản học cũng bắt đầu chú ý đến nghiên cứu
lí luận, như các cuốn Cổ thư bản bản
học khái luận [Lí Trí Trung, 1990] và Bản bản học khái luận [Đái Nam Hải,
1989] đã thảo luận về khái niệm “văn bản học” và mối quan hệ của nó với các
ngành khoa học khác; cuốn Trung Quốc
cổ tịch bản bản học [Tào Chi, 1992] thì
trình bày một cách khá toàn diện về rất nhiều vấn đề lí luận văn bản học cổ tịch, bao gồm định nghĩa, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của văn bản học cổ tịch, mối quan hệ với các khoa học khác, cũng như ý nghĩa của ngành văn bản học cổ tịch
2.3.3 Nghiên cứu về lịch sử văn bản học Không có ngày xưa thì cũng không
có ngày nay, vậy nên văn bản học đương đại cần phải tiếp thu thành quả nghiên cứu văn bản học cổ đại Trong giai đoạn này có 32 bài nghiên cứu về lịch sử văn bản học, trong đó có: Hồ Đạo Tĩnh 胡道静 với
Tòng Hoàng Nhiêu Phố đáo Trương Cúc Lão - nhất bách ngũ thập niên bản bản học đích túng thâm tiến trình 从黄荛圃
到张菊老- 150 年版本学的纵深进程 (Từ Hoàng Nhiêu Phố đến Trương Cúc Lão - tiến trình phát triển văn bản học
qua 150 năm); Nghiêm Tá Chi với Hoàng
Phi Liệt bản bản học tư tưởng biện tích
黄丕烈版本学思想辨析 (Biện giải và phân tích tư tưởng văn bản học của Hoàng Phi Liệt); Vương Hạo 王皓 với
Tống đại bản bản học thành tựu quản khuy 宋代版本学成就管窥 (Nhìn lại
thành tựu văn bản học đời Tống); Lưu
Trang 12TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (87) - 2008 TÀO CHI - TƯ MÃ TRIỀU QUÂN
Quốc Quân 刘国珺 với Quan vu ngã
quốc cổ tịch bản bản học lịch sử giai
đoạn hoạch phân đích tư khảo 关于我国
古籍版本学历史阶段划分的思考 (Suy
nghĩ về mốc phân đoạn lịch sử văn bản
học cổ tịch Trung Quốc)… Cuốn chuyên
luận Cổ thư bản bản học khái luận [Lí
Trí Trung, 1990] đã trình bày về sự khởi
nguyên và phát triển của văn bản học
Cuốn Trung Quốc cổ tịch bản bản học
[Tào Chi, 1992] đã dành hẳn dung lượng
một chương trình bày về lịch sử nảy sinh,
phát triển và hưng thịnh của văn bản học,
giới thiệu các nhà văn bản học các đời và
tác phẩm của họ, phác thảo lịch sử phát
triển của ngành văn bản học
2.3.4 Nghiên cứu về nguyên lưu của
văn bản
Nguyên lưu (nguồn gốc và quá trình
thay đổi) của văn bản là một trong
những nội dung trọng yếu trong nghiên
cứu văn bản học, đây cũng là đề tài nóng
hổi trong nghiên cứu văn bản học giai
đoạn này, với tổng cộng 1441 công trình
nghiên cứu, trong đó phải kể đến: Lí Trí
Trung với Minh đại khắc thư thuật lược
明代刻书述略 (Lược thuật về sách khắc
in đời Minh); Tào Chi với Minh đại
Phiên Vương khắc thư khảo 明代藩王
刻书考 (Khảo về sách khắc in của Phiên
Vương đời Minh); Kim Lương Niên
金良年 với Thanh đại Vũ Anh điện khắc
thư thuật lược 清代武英殿刻书述略
(Lược thuật về sách khắc in ở điện Vũ
Anh đời Thanh); Tiếu Đông Phát 肖东发
với Kiến Dương Dư thị khắc thư khảo
lược 建阳余氏刻书考略 (Lược khảo về
sách khắc in của họ Dư ở Kiến Dương)…
Các chuyên khảo Trung Quốc cổ tịch ấn
loát sử [Ngụy Ẩn Nho, 1984]; Lịch đại khắc thư khảo thuật [Lí Trí Trung,
1990]; và Phúc Kiến cổ đại khắc thư [Tạ
Thủy Thuận, 1997]… đã trình bày một cách hệ thống và toàn diện về lịch sử sách khắc in các đời Các học giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu nguyên lưu của các sách chép tay, khởi nguyên của
kĩ thuật ấn loát, khảo đính nguyên lưu văn bản của một cuốn sách cụ thể, [ở các lĩnh vực này] đã có những đột phá mới
Cuốn Trung Quốc cổ tịch bản bản học
[Tào Chi, 1992] đã trình bày tỉ mỉ về lịch sử phát sinh phát triển của sách chép tay, đây vẫn là khởi đầu cho lịch sử
văn bản học Cuốn Trung Quốc ấn loát
thuật đích khởi nguyên [Tào Chi, 1994]
thì lấy tư tưởng chỉ đạo từ quan điểm
mở rộng về lịch sử ấn loát để chứng minh một cách toàn diện và liên ngành tính về “quan điểm đầu thời Đường” 唐初说, cải chính rất nhiều quan điểm
tưởng đúng mà sai Ngoài ra cuốn Chỉ
hoà ấn loát 纸和印刷 (Giấy và việc ấn
loát) của học giả người Mĩ gốc Hoa là Tiền Tồn Huấn 钱存训 cũng là một tác phẩm quan trọng nghiên cứu về khởi nguyên của kĩ thuật ấn loát, trong đó trưng dẫn hơn 2000 loại văn hiến cổ kim, đại diện cho thành tựu mới nhất trong nghiên cứu ở nước ngoài về cùng vấn đề, cuốn sách này đã được đưa vào quyển
Năm của bộ Science and Civilization in China (Khoa học và văn minh Trung
Quốc [tên tiếng Trung Quốc là Trung
Quốc khoa học kĩ thuật sử 中国科学技
术史]) của học giả người Anh là Joseph